Những cơ sở kinh tế này bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương, tạo cơ sở để thu hút đầu tư, là tiền đề cho công nghiệp phát triển với tốc độ cao trong thời gian tới, góp phầ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
DƯƠNG VĂN TUẤN
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Ở TỈNH BẮC GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội - 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
DƯƠNG VĂN TUẤN
PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Ở TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số : 60 31 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHAN HUY ĐƯỜNG
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG, CÁC HÌNH ii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN MỘT TỈNH NÔNG NGHIỆP 9
1.1 CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP 9
1.1.1 Công nghiệp 9
1.1.2 Phát triển công nghiệp 12
1.2 CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở MỘT TỈNH NÔNG NGHIỆP 18
1.2.1 Các điều kiện phát triển công nghiệp 18
1.2.2 Tiêu chí đánh giá phát triển công nghiệp 29
1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ TỈNH VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO TỈNH BẮC GIANG 34
1.3.1 Tỉnh Phú Yên 34
1.3.2 Tỉnh Thừa Thiên - Huế 37
1.3.3 Tỉnh Đồng Nai 40
1.3.4 Bài học kinh nghiệm rút ra cho tỉnh Bắc Giang 41
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC GIANG 43
2.1 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH BẮC GIANG 43
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 43
2.1.2 Các nhân tố kinh tế- xã hội 46
Trang 42.1.3 Cơ chế chính sách và chủ trương phát triển công nghiệp của tỉnh
Bắc Giang 52
2.2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC GIANG TRONG GIAI ĐOẠN 2005- 2010 57
2.2.1 Tốc độ tăng trưởng công nghiệp của tỉnh Bắc Giang 57
2.2.2 Giá trị gia tăng (VA) công nghiệp 60
2.2.3 Năng lực cạnh tranh công nghiệp 61
2.2.4 Chuyển dịch cơ cấu công nghiệp 64
2.2.5 Phát triển các mô hình sản xuất công nghiệp 68
2.3 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC GIANG TRONG THỜI GIAN QUA 72
2.3.1 Kết quả đạt được 72
2.3.2 Hạn chế trong phát triển công nghiệp 73
2.3.3 Nguyên nhân của các hạn chế 74
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾUPHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC GIANG NHỮNG NĂM TỚI 77
3.1 BỐI CẢNH MỚI TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP CỦA BẮC GIANG 77
3.1.1 Bối cảnh quốc tế 77
3.1.2 Trong nước và của tỉnh 81
3.2 QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC GIANG 83
3.2.1 Quan điểm 83
3.2.2 Định hướng phát triển công nghiệp tỉnh Bắc Giang 84
3.3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC GIANG TRONG NHỮNG NĂM TỚI 88
Trang 53.3.1 Thực hiện tốt công tác xây dựng, quản lý và thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp; tập trung đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp ở các địa phương có lợi thế 88 3.3.2 Đẩy mạnh cải cách hành chính; xây dựng, bổ sung các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp 90 3.3.3 Mở rộng các hình thức huy động vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư 92 3.3.4 Tăng cường phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp 94 3.3.5 Khuyến khích chuyển giao và tiếp nhận công nghệ thích hợp 98 3.3.6 Xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng chủ yếu và có chính sách thị trường đúng đắn 99 3.3.7 Đổi mới phương thức quản lý nhà nước để tạo đột phá trong phát triển công nghiệp của Bắc Giang 102 3.3.8 Đẩy mạnh hoạt động bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên, hướng tới nền công nghiệp xanh, bền vững 104 KẾT LUẬN 108 TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
2 CNH, HĐH Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
5 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Trang 72 Bảng: 2.2 Cơ cấu GDP và cơ cấu lao động trên địa bàn tỉnh 49
3 Bảng: 2.3 Cơ cấu nhân lực theo nhóm tuổi 51
8 Hình: 2.1 Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI năm 2011 63
9 Hình: 2.2 Cơ cấu kinh tế tỉnh Bắc Giang năm 2010 65
Trang 8MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn và
có ý nghĩa lịch sử Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế- xã hội và đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH); kinh tế tăng trưởng khá nhanh, bước đầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện; hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường; sức mạnh tổng hợp của đất nước được củng cố; vị thế của nước ta trên trường quốc tế không ngừng được nâng cao
Trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm; điều đó đã được thể hiện rõ trong Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011- 2020 là: “tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển nhanh, bền vững; phát huy sức mạnh toàn dân tộc, xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo định hướng XHCN”
Với đặc điểm nước ta là một nước có nền kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, nông dân chiếm số đông nên để phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, điều đó đòi hỏi sự nỗ lực, cố gắng rất lớn của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương Trong đó phát triển kinh tế- xã hội nói chung cũng như phát triển công nghiệp nói riêng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của mỗi ngành, mỗi địa phương, góp phần vào sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
Là một tỉnh trung du- miền núi, nhưng Bắc Giang có vị trí địa lý khá thuận lợi, nằm trong hành lang phát triển kinh tế Lạng Sơn- Hà Nội- Hải Phòng- Quảng Ninh, cộng với hệ thống giao thông đa dạng, gồm cả đường
bộ, đường sắt và đường sông, tạo điều kiện để Bắc Giang phát huy tiềm năng, lợi thế của địa phương, thu hút đầu tư phát triển kinh tế, văn hoá- xã hội và
Trang 9quốc phòng- an ninh Trong những năm qua, các cấp uỷ Đảng, chính quyền tỉnh Bắc Giang đã luôn coi trọng nhiệm vụ lãnh đạo phát triển kinh tế, trong
đó có công nghiệp, coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
để đẩy nhanh tốc độ CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh
Mặc dù còn nhiều khó khăn, thách thức song Bắc Giang đã đẩy mạnh ứng dụng tiên bộ khoa học công nghệ vào xây dựng và phát triển kinh tế Nhờ vậy, ngành công nghiệp của tỉnh đã đạt được những thành tựu đáng kể Giá trị sản xuất công nghiệp giai đoạn 2005- 2010 tăng nhanh so với giai đoạn 2000 -
2005 Đến nay, trên địa bàn tỉnh đã hình thành một số khu công nghiệp như: Đình Trám, Song Khê- Nội Hoàng, Quang Châu, Vân Trung- Việt Hàn, cụm Công nghiệp ô tô Đồng Vàng, nhà máy Nhiệt điện Sơn Động và 9 cụm công nghiệp ở các huyện, thành phố Bắc Giang Những cơ sở kinh tế này bước đầu đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương, tạo cơ sở để thu hút đầu tư, là tiền
đề cho công nghiệp phát triển với tốc độ cao trong thời gian tới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động khu vực nông nghiệp, nông thôn, đẩy nhanh phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, đến nay, Bắc Giang vẫn
là một tỉnh có nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, cơ cấu lao động vẫn chủ yếu
là nông dân Điểm xuất phát đi lên CNH, HĐH của tỉnh thấp, kinh tế kém phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm, các tiềm năng, nguồn lực và lợi thế cho phát triển kinh tế tuy đã được khai thác nhưng còn nhiều hạn chế Việc phát triển công nghiệp của tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, thách thức Quy mô sản xuất công nghiệp còn nhỏ bé, hiệu quả không cao; sức cạnh tranh của sản phẩm thấp, chưa có sản phẩm mũi nhọn Trình độ sản xuất và năng lực tiếp nhận, chuyển giao công nghệ của doanh nghiệp còn yếu Các doanh nghiệp chưa thật
sự quan tâm đến việc nghiên cứu, cải tiến, đổi mới công nghệ nâng cao giá trị hàng hoá, tăng sức cạnh tranh trên thị trường Tiến độ giải phóng mặt bằng, xây
Trang 10dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp chậm, gặp nhiều khó khăn Số dự án
đã được cấp phép đầu tư nhưng chưa triển khai hoặc triển khai không đúng tiến
độ còn nhiều Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp còn chậm, tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu GDP còn thấp… Đó là những hạn chế cần được quan tâm khắc phục trong thời gian tới
Để kinh tế của tỉnh phát triển nhanh thì việc tập trung phát triển công nghiệp cần được quan tâm chỉ đạo nhiều hơn nữa Bởi vậy, việc nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề về lý luận và thực tiễn, đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và đề xuất phương hướng, các giải pháp cho phát triển công nghiệp
là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết
Là một cán bộ của tỉnh Bắc Giang, được học tập, nghiên cứu chuyên sâu về các vấn đề kinh tế chính trị ở Trường Đại học Kinh tế- Đại học Quốc
gia Hà Nội; vì vậy tác giả chọn vấn đề “phát triển công nghiệp ở tỉnh Bắc
Giang” làm đề tài luận văn thạc sỹ, chuyên ngành Kinh tế Chính trị
2- Tình hình nghiên cứu
Phát triển công nghiệp nói chung là một vấn đề lớn, quan trọng, nhất
là trong giai đoạn hiện nay, nên đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, tổng kết thực tiễn Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển công nghiệp ở Việt Nam Tiêu biểu trong số đó là:
Hoàn thiện chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam (năm 2005), do
GS.TS Kenichi Ohno và GS.TS Nguyễn Văn Thường (chủ biên) Trong công trình này các tác giả đã gợi ý thiết kế một chiến lược phát triển công nghiệp toàn diện và hiện thực ở Việt Nam; so sánh chiến lược phát triển công nghiệp của Việt Nam với các nước trong khu vực; nêu lên những kinh nghiệm của các nước ASEAN trong phát triển các ngành công nghiệp điện, điện tử, sản xuất ô
tô, xe máy và một số ngành công nghiệp phụ trợ Trên cơ sở đó, công trình rút
ra những bài học kinh nghiệm bổ ích cho ngành công nghiệp Việt Nam
Trang 11Lựa chọn và thực hiện chính sách phát triển kinh tế ở Việt Nam (năm
1998) của Viện Chiến lược và phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư Công trình này đã giành một phần để phân tích, đánh giá, lựa chọn và đề ra chính sách phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu như công nghiệp điện, điện tử, chế tạo, dệt may; công nghiệp sửa chữa tàu; những ngành công nghiệp nhiều vốn và những ngành công nghiệp non trẻ như công nghiệp ô tô và phụ tùng, thép, lọc hóa dầu, phân bón, xi măng của Việt Nam
Những thành tựu, hạn chế và thách thức của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước ta trong điều kiện toàn cầu hóa của GS.TS Vũ Đình
Cự (Tạp chí Lý luận chính trị, 12/2005) Trong công trình này, tác giả đã nêu lên những đặc điểm của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện toàn cầu hóa; chỉ ra những thành tựu và hạn chế của công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở nước ta sau 20 năm đổi mới, trong đó có phân tích những thành tựu và hạn chế của ngành công nghiệp Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp khắc phục trong thời gian tới
Công nghiệp Việt Nam 20 năm đổi mới: thành tựu và vấn đề đặt ra
của Nguyễn Sinh (Tạp chí Lý luận chính trị, số 12/2005) Trong công trình này tác giả phân tích khá chi tiết những thành tựu đạt được của công nghiệp trong gần 20 năm đổi mới và chỉ rõ 6 vấn đề đặt ra cần giải quyết trong thời gian tới cho ngành công nghiệp Việt Nam
Khả năng cạnh tranh của một số hàng công nghiệp Việt Nam: thực trạng và những vấn đề rút ra của PGS.TS Nguyễn Huy Oánh (Tạp chí Lý
luận chính trị, số 2, 2002) Trong công trình này, tác giả đó đánh giá thực trạng sức cạnh tranh của một số ngành công nghiệp chủ yếu của Việt Nam Theo tác giả thì các ngành công nghiệp của Việt Nam như xi măng, thép, hóa chất, cơ khí, đường, dệt có sức cạnh tranh yếu Riêng da giày và ngành may
có sức cạnh tranh trung bình Từ kết quả nghiên cứu đó, tác giả đề xuất nhiều
Trang 12vấn đề cần giải quyết nhằm nâng cao sức cạnh tranh của ngành công nghiệp Việt Nam, đó là: Đầu tư cho khoa học - công nghệ; nâng cao trình độ tổ chức quản lý sản xuất; đổi mới nhận thức về phát huy mọi thành phần kinh tế để phát triển công nghiệp; đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật; hạn chế chính sách bảo hộ của nhà nước; xử lý tốt tỷ giá đồng tiền Việt Nam với các ngoại tệ mạnh và thực hiện tốt vai trò quản lý của nhà nước đối với ngành công nghiệp
Công nghiệp Việt Nam những năm đổi mới của Nguyễn Hoàng Minh
(Tạp chí Con số và sự kiện, số 9, 2004) Trong công trình này, trước hết tác giả đó phác thảo đôi nét về công nghiệp nước ta trong cơ chế cũ Tiếp theo công trình đi sâu phân tích những thành tựu của công nghiệp Việt Nam những năm đổi mới trong từng thời kỳ kế hoạch từ 1990 đến 2005 Cuối cùng là những nhận xét của tác giả về nguyên nhân đạt được những thành tựu đó
Phát triển công nghiệp Việt Nam: thực trạng và thách thức của Quốc
Trung và Linh Chi (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 294, tháng 11/2002) Công trình phân tích thực trạng sản xuất công nghiệp Việt Nam tế 1996 đến
2002 dưới những khía cạnh như: Tốc độ tăng trưởng; tỷ trọng công nghiệp trong GDP, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong công nghiệp; trình độ công nghệ, trang thiết bị và lao động công nghiệp Các tác giả công trình này đó nêu lên một số chính sách tác động đến phát triển công nghiệp trong thời gian qua Cuối cùng là những tồn tại và thách thức mà ngành công nghiệp Việt Nam phải khắc phục, đó là: hiệu quả sản xuất công nghiệp giảm, trình độ công nghệ, trang thiết bị lạc hậu, chất lượng và năng suất lao động công nghiệp thấp, chi phí dịch vụ hạ tầng cao, hợp tác sản xuất kinh doanh kém hiệu quả và những hạn chế trong cơ chế chính sách hiện hành
Sự phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ của TS Đỗ Đăng Hiếu (Tạp chí Quản lý nhà nước, số 1/2002) Tác giả
Trang 13Đỗ Đăng Hiếu đó đánh giá một số nét tổng quát về tình hình phát triển của ngành công nghiệp Việt Nam trong năm 2001 - 2002 Từ đó tác giả nêu phương hướng và các giải pháp phát triển ngành công nghiệp trong thời gian tới
Giải pháp phát triển công nghiệp chế biến nông sản ở nước ta hiện nay của Nguyễn Quốc Hùng (Tạp chí Ngân hàng, số 9/2002) Công trình này
đánh giá thực trạng công nghiệp chế biến nông sản ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Ngoài những thành tựu chủ yếu, thì công nghiệp chế biến nông sản của nước ta còn nhiều hạn chế Trên cơ sở phân tích nguyên nhân làm cho công nghiệp chế biến nông sản chưa phát huy hết tiềm năng của nó, tác giả nêu lên 10 giải pháp để công nghiệp chế biến nông sản ở Việt Nam có những bước phát triển ổn định và khắc phục những hạn chế trong thời gian qua
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu phát triển công nghiệp dưới những góc độ và phạm vi khác nhau Có thể khái quát các hướng đó nghiên cứu như sau:
Một là, phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng, xu
hướng vận động, phát triển của công nghiệp Việt Nam và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển công nghiệp của cả nước; phân tích mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp, dịch vụ
Hai là, một số công trình đi sâu nghiên cứu những ngành công nghiệp
cụ thể, trong từng thành phần kinh tế cụ thể và ở những địa phương, những vùng cụ thể trong cả nước
Ba là, các công trình khác đề cập đến vai trò quản lý của nhà nước đối
với phát triển công nghiệp địa phương và cả nước
Như vậy, đã có những công trình nghiên cứu về phát triển công nghiệp dưới các góc độ khoa học khác nhau Song đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu tìm ra những giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp
Trang 14của tỉnh Bắc Giang một cách có hệ thống, dưới góc độ kinh tế chính trị trong giai đoạn hiện nay cũng như trong những năm tới
3- Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
* Mục đích:
Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đối với vấn đề phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp của tỉnh để tìm ra những khó khăn, vướng mắc;
đề xuất phương hướng, giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp của tỉnh Bắc Giang trong những năm tới
* Nhiệm vụ:
- Khái quát những đặc điểm cơ bản về lịch sử, địa lý tự nhiên, kinh tế -
xã hội và phân tích các điều kiện phát triển công nghiệp của tỉnh Bắc Giang
- Đánh giá thực trạng phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh; làm rõ những ưu điểm, thành tựu và những hạn chế, yếu kém; chỉ rõ nguyên nhân và
đề xuất các giải pháp khả thi, phù hợp
4- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phát triển công nghiệp của tỉnh Bắc Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu phát triển công nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Thời gian nghiên cứu từ năm 2005 đến 2010, tầm nhìn đến năm 2020
5- Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau: Phương pháp luận duy vật biện chứng, phương pháp trừu tượng hóa khoa học; phương
Trang 15pháp lịch sử, logíc, phân tích tổng hợp; điều tra khảo sát thực tế; thống kê, so sánh, đối chiếu.v.v…
6- Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về phát triển công nghiệp
- Làm rõ những thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt ra cho phát triển công nghiệp ở Bắc Giang hiện nay
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể giúp các cấp, các ngành trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có cái nhìn toàn diện hơn trong công tác xây dựng quy hoạch, cơ chế chính sách và tổ chức quản lý phát triển công nghiệp Trên cơ sở phương hướng, giải pháp mà luận văn đưa ra, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đồng thời phát huy tích cực các thế mạnh của địa phương để thúc đẩy phát triển công nghiệp nhanh và bền vững
7- Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN MỘT TỈNH NÔNG NGHIỆP
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BẮC GIANG Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC GIANG NHỮNG NĂM TỚI
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN MỘT TỈNH NÔNG NGHIỆP
1.1 CÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
1.1.1 Công nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm công nghiệp
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư, công nghiệp là một bộ phận của nền
kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến” cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Đây là hoạt động kinh tế, sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các tiến bộ công nghệ, khoa học và kỹ thuật
Theo Từ điển tiếng Việt, công nghiệp (hoặc kỹ nghệ) là toàn thể những
hoạt động kinh tế nhằm khai thác các tài nguyên và các nguồn năng lượng, và chuyển biến các nguyên liệu - gốc động vật, thực vật hay khoáng vật thành sản phẩm
Từ hai khái niệm trên cho thấy, công nghiệp bao gồm những hoạt động sản xuất, bắt đầu từ hoạt động khai thác tài nguyên thiên nhiên, tách đối tượng lao động ra khỏi thiên nhiên và hoạt động chế biến các tài nguyên có được từ khai thác, làm thay đổi hoàn toàn về chất các nguyên liệu ban đầu, biến chúng thành những sản phẩm tương ứng hoặc nguồn nguyên liệu tiếp theo để sản xuất ra các sản phẩm khác phục vụ nhu cầu đa dạng của con người Ở đây, chúng ta chưa thấy đề cập đến ngành công nghiệp sửa chữa, khôi phục giá trị
sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt; đây là hoạt động không thể thiếu khi đề cập đến công nghiệp, nó xuất hiện sau công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến Chính vì vậy, tác giả đồng quan điểm với các tác giả cuốn “Kinh tế và quản lý công nghiệp” (1997), công nghiệp gồm ba loại hoạt động chủ yếu: Khai thác tài nguyên tạo
Trang 17ra nguồn nguyên liệu nguyên thủy (khoáng sản, động thực vật); sản xuất và chế biến sản phẩm của công nghiệp khai thác và của nông nghiệp thành nhiều loại sản phẩm nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của xã hội; các ngành sửa chữa, khôi phục giá trị sử dụng của sản phẩm được tiêu dùng trong quá trình sản xuất và trong sinh hoạt
Như vậy, công nghiệp khai thác là khởi đầu của toàn bộ quá trình sản xuất công nghiệp, nó tác động vào đối tượng lao động và tách đối tượng này
ra khỏi tự nhiên để làm nguồn đầu vào cho công nghiệp chế biến Tiếp theo
đó, chính công nghiệp chế biến làm biến đối các nguyên liệu ban đầu để chế tạo ra các sản phẩm cuối cùng phục vụ nhu cầu đa dạng của đời sống con người hoặc chế tạo ra các nguyên liệu tiếp theo, là nguồn đầu vào cho các ngành công nghiệp khác Cuối cùng là họat động sửa chữa, nó giúp khôi phục,
kéo dài thời gian sử dụng của các thiết bị, máy móc và sản phẩm
1.1.1.2 Đặc điểm
Công nghiệp là ngành kinh tế chủ lực thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất,
nó có những đặc điểm về kinh tế, kỹ thuật và xã hội
- Đặc điểm kinh tế: công nghiệp là ngành kinh tế chủ lực trong nền
kinh tế quốc dân sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người Theo mức độ phát triển đi lên của nền kinh tế, công nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu nền kinh tế và sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu
- Đặc điểm kỹ thuật: công nghiệp là ngành ứng dụng nhiều tiến bộ khoa
học công nghệ, với nhiều máy móc thiết bị; công nghiệp cũng là ngành sản
xuất ra tư liệu sản xuất cho ngành mình và các ngành khác trong nền kinh tế
- Đặc điểm xã hội: công nghiệp là ngành có mức độ xã hội hóa cao, lực
lượng lao động công nghiệp có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tính tổ chức - kỷ luật cao Công nghiệp càng phát triển, tính chuyên môn hóa cũng sẽ
Trang 18phát triển tương ứng, do vậy tính xã hội hóa và quốc tế hóa trong sản phẩm công nghiệp là phổ biến
1.1.1.3 Phân loại công nghiệp
- Dựa vào công dụng kinh tế của sản phẩm: người ta có thể chia
công nghiệp thành công nghiệp sản xuất tư liệu tiêu dùng và công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất; theo đó có 2 nhóm ngành tương ứng là công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ Đối với các nước đang phát triển, việc phân chia này rất có ý nghĩa đối với việc tính tỷ trọng nhập khẩu tư liệu sản xuất so với tư liệu tiêu dùng và tỷ trọng xuất khẩu so với nhập khẩu, đặc biệt đối với các nền kinh tế theo đuổi chiến lược thay thế hàng nhập khẩu hay sản xuất hàng xuất khẩu
- Dựa vào tính biến đổi của đối tượng lao động: người ta chia công
nghiệp thành công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến Việc phân loại này có ý nghĩa đối với việc phân bổ các ngành công nghiệp; trong điều kiện nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế thì việc giảm tỷ trọng công nghiệp khai thác, ưu tiên phát triển công nghiệp chế biến là điều cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển bền vững
- Dựa vào các đặc điểm kỹ thuật – công nghệ sản xuất: người ta chia
công nghiệp thành những ngành có cùng đặc trưng kỹ thuật – công nghệ, hoặc cùng phương pháp công nghệ, hoặc sản phẩm có công dụng cụ thể tương tự nhau Cách phân chia này có ý nghĩa đối với việc quy hoạch các ngành công nghiệp dưa trên cân đối liên ngành
- Dựa vào quan hệ sở hữu và hình thức tổ chức sản xuất: người ta chia
công nghiệp thành công nghiệp quốc doanh, công nghiệp ngoài quốc doanh, công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Việc phân chia này có ý nghĩa cho việc xây dựng chính sách để phát triển các thành phần kinh tế phù hợp với chiến lược chung của mỗi quốc gia
Trang 19- Dựa vào quy mô doanh nghiệp: người ta chia công nghiệp thành công
nghiệp lớn, công nghiệp vừa và công nghiệp nhỏ Việc phân chia này là cơ sở cho việc hoạch định chính sách và có hình thức quản lý phù hợp nhằm hỗ trợ, phát triển công nghiệp vừa và nhỏ
1.1.2 Phát triển công nghiệp
1.1.2.1 Những xu hướng phát triển công nghiệp ở một tỉnh nông nghiệp
Phát triển công nghiệp là tất yếu trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá với xu thế chung mang tính phổ biến là: khi giá lao động rẻ và tài nguyên phong phú thì các ngành sử dụng nhiều lao động và khai thác tài nguyên sẽ phát triển; khi trình độ công nghệ và lao động được nâng lên, các ngành có hàm lượng công nghệ và vốn cao sẽ phát triển Tuy vậy, để thúc đẩy tiến trình phát triển đúng hướng và hiệu quả, cần xác định rõ những xu hướng phát triển cụ thể trong từng giai đoạn phát triển của công nghiệp Ở một tỉnh nông nghiệp còn nhiều hạn chế, xu hướng phát triển công nghiệp chủ yếu là:
Thứ nhất, khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp,
trong đó có các ngành nghề thủ công truyền thống ở nông thôn, chủ yếu phục
vụ nhu cầu tại chỗ và phục vụ chế biến sản phẩm của nông nghiệp Đây là những ngành nghề truyền thống vốn có, sản phẩm được sản xuất ra phục vụ thiết thực cho sản xuất và đời sống của dân cư; chi phí đầu tư không lớn, kỹ thuật chủ yếu là thủ công nên có khả năng thu hút nhiều lao động, giải quyết việc làm, sớm tăng thu nhập cho dân cư
Khôi phục và phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp theo hướng tăng cường việc dạy nghề, truyền nghề, hình thành và mở rộng các làng nghề, xã nghề, vùng nghề; đồng thời từng bước hiện đại hoá kỹ thuật thủ công, công nghệ truyền thống theo hướng vừa tinh xảo, vừa hiện đại; duy trì
và phát triển các đặc sản truyền thống địa phương
Trang 20Thứ hai, phát triển công nghiệp khai thác và chế biến các nguồn tài
nguyên sẵn có tại địa phương, bao gồm công nghiệp chế biến sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp và khai thác tài nguyên thiên nhiên
Các xí nghiệp chế biến sản phẩm nông nghiệp chủ yếu có quy mô vừa và nhỏ, được đặt ngay tại vùng nguyên liệu, tận dụng nguồn nguyên liệu tại địa phương Các sản phẩm từ nông, lâm, ngư nghiệp được chế biến không chỉ nhằm tiện ích trong bảo quản và vận chuyển, tiêu dùng mà còn làm tăng giá trị sản phẩm, qua đó kích thích phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá Tài nguyên thiên nhiên là những nguồn lực sẵn có tại địa phương, được thiên nhiên ban tặng cho con người Việc khai thác, chế biến và sử dụng hợp
lý nguồn tài nguyên thiên nhiên tạo nguồn lực quan trọng cho phát triển, giải quyết việc làm, tạo nguồn thu cho ngân sách
Thứ ba, phát triển các ngành công nghiệp trực tiếp phục vụ phát triển
nông nghiệp, nông thôn, bao gồm các ngành sản xuất các loại tư liệu sản xuất thông thường và sửa chữa tư liệu sản xuất phục vụ nhu cầu địa phương
Cùng với quá trình cơ giới hoá nông nghiệp và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, nhu cầu trang bị các loại tư liệu sản xuất từ kim loại và sữa chữa máy móc, thiết bị tăng lên nhanh chóng Tuy không hình thành các trung tâm lớn nhưng ở quy mô toàn tỉnh nhưng ngành công nghiệp sửa chữa tư liệu sản xuất vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn
Thứ tư, phát triển các ngành sản xuất vật liệu xây dựng trên cơ sở khai
thác nguồn nguyên liệu sẵn có, phục vụ nhu cầu xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội và nhu cầu xây dựng của các tầng lớp nhân dân ở địa phương
Thứ năm, hình thành và phát triển các cơ sở công nghiệp gia công hoặc
các cơ sở vệ tinh cho các doanh nghiệp, tập đoàn công nghiệp lớn ở trong và ngoài nước Đây là hướng phát triển nhằm giải quyết vấn đề lao động chưa có việc làm của địa phương; đồng thời tranh thủ vốn, kỹ thuật - công nghệ tiên
Trang 21tiến, kinh nghiệm tổ chức quản lý và đào tạo nghề cho người lao động, chuẩn
bị tiền đề cho việc hình thành và phát triển các ngành công nghiệp mới và hiện đại trong tương lai
Thứ sáu, phát triển công nghiệp trên cơ sở huy động mọi nguồn lực của
toàn xã hội, bao gồm các cơ sở sản xuất thuộc mọi thành phần kinh tế, được triển khai theo nhiều quy mô, nhiều trình độ khác nhau, từ kỹ thuật thô sơ đến hiện đại; vừa đi ngay vào hiện đại đồng thời vừa tận dụng những cơ sở hiện
có Vì vậy, sản phẩm của công nghiệp ở địa phương phong phú cả về mẫu mã, chủng loại và chất lượng
Thứ bảy, cũng như toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung, công
nghiệp ở địa phương có tính chất động, luôn có sự vận động và chuyển hoá Trình độ phát triển công nghiệp sẽ được nâng cao dần cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Trình độ phát triển kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ tăng lên, làm chuyển hoá các vùng kém phát triển thành các khu đô thị, các trung tâm công nghiệp Đến lúc đó, các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ và vốn đầu tư cao sẽ phát triển, làm thay đổi cơ cấu công nghiệp ở địa phương Như vậy, phát triển công nghiệp địa phương với mục tiêu xa hơn là để chuyển biến các khu vực kém phát triển trở thành các khu vực có trình độ phát triển cao, cùng cả nước thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.1.2.2 Nguyên tắc phát triển công nghiệp của một tỉnh nông nghiệp
Phát triển công nghiệp của một địa phương phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Một là, đảm bảo kết hợp giữa sử dụng tài nguyên với bảo vệ môi
trường tự nhiên Phát triển công nghiệp là quá trình khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên để biến chúng thành những sản phẩm phục vụ tiêu dùng
và xuất khẩu Việc quy hoạch các vùng nguyên liệu, có kế hoạch khai thác
Trang 22nguyên liệu tại chỗ sẽ giúp cho quá trình phát triển công nghiệp của một địa phương được bền vững, đồng thời bảo vệ được tài nguyên môi trường phục
vụ nhu cầu phát triển lâu dài của công nghiệp và bảo vệ môi trường sống Trong quá trình phát triển công nghiệp, cần chú ý các nguồn nguyên liệu tái chế làm nguồn nguyên liệu đầu vào cho các ngành công nghiệp
Hai là, tổ chức sản xuất các ngành công nghiệp phải theo hướng kết
hợp phát triển chuyên môn hóa với tổng hợp trên nền tảng hợp tác quy mô lãnh thổ Phát triển công nghiệp phải chú ý các ngành công nghiệp chủ lực, có thế mạnh, có giá trị gia tăng cao để làm đầu tàu thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp khác Tuy nhiên, việc phát triển các ngành công nghiệp theo chuyên môn sâu cũng phải chú ý đến sự phát triển của các ngành công nghiệp khác trên địa bàn nhằm phát huy tối đa tiềm năng của địa phương, đồng thời tạo
sự liên kết, khai thác tối đa tiềm năng, tránh lãng phí tài nguyên Việc liên kết giữa các ngành theo chuyên môn sâu và các ngành khác trên cùng địa bàn và giữa các địa bàn trong vùng là vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình hoạch định và điều hành phát triển công nghiệp của một địa phương
Bà là, sự phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật của mỗi địa phương là
điều kiện để phát triển công nghiệp của địa phương đó Tập trung đầu tư phát triển hệ thống giao thông một cách đồng bộ từ hệ thống đường sá, cầu cống đến bến bãi và các công trình phụ trợ khác; phát triển mạng lưới cung cấp điện, nước đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp trên địa bàn; đồng thời đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng bưu chính viễn thông đủ sức đáp ứng yêu cầu phát triển công nghiệp và dân sinh
1.1.2.3 Vai trò của phát triển công nghiệp đối với một tỉnh nông nghiệp
Phát triển công nghiệp tại địa phương có vai trò quan trọng, là hợp phần của công nghiệp của mỗi quốc gia Cho dù có nhiều cách tiếp cận và nhận định khác nhau về phát triển công nghiệp tại địa phương, trên cơ sở các xu
Trang 23hướng phát triển công nghiệp đã nêu trên, luận văn xác định vai trò phát triển công nghiệp tại một tỉnh nông nghiệp là:
Một là, thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp ở mức cao, có chất lượng,
nâng cao tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế Phát triển mạnh các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, đồng thời chú trọng phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp nhỏ và vừa với ngành nghề đa dạng, vừa phát triển các ngành sử dụng nhiều lao động, vừa đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực có công nghệ hiện đại, công nghệ cao, chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế nội
bộ công nghiệp theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp chế tạo, chủ yếu là các ngành chế biến, sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu
Hai là, công nghiệp phát triển thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát
triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công nghiệp phát triển trước hết sẽ mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng cho dân cư hoạt động trong ngành công nghiệp, vừa chế biến các sản phẩm của nông nghiệp để nâng cao giá trị của sản phẩm nông nghiệp, qua đó nâng cao khả năng tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp không chỉ ở thị trường trong nước mà còn mở rộng tiêu thụ ở thị trường nước ngoài Mặt khác, công nghiệp cung cấp các yếu tố “đầu vào” cần thiết để nâng cao trình
độ công nghệ sản xuất nông nghiệp, nhờ đó, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành và nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, tăng năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp
Ba là, công nghiệp phát triển góp phần quan trọng vào vấn đề giải quyết
việc làm, thực hiện xoá đói giảm nghèo Sự phát triển của công nghiệp là điều kiện để thu hút lao động dư thừa trong nông nghiệp vào các ngành công nghiệp
và gián tiếp tạo thêm việc làm mới ở các ngành có liên quan, thực hiện tổ chức
và phân công lại lao động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn
Nông thôn nước ta hiện nay đang đứng trước những yêu cầu kinh tế -
Trang 24xã hội bức thiết cần giải quyết, đó là: sự hạn chế về đất đai canh tác, năng suất cây trồng vật nuôi có giới hạn, giá cả nông sản thấp, sự dư thừa lao động Để phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn cần có một chương trình và giải pháp đồng bộ: vừa phải duy trì tăng trưởng nông nghiệp trong điều kiện giới hạn về đất đai, tài nguyên; đồng thời phải giảm bớt lao động nông nghiệp để tạo điều kiện tăng năng suất lao động nông nghiệp Để giải quyết vấn đề này, phát triển công nghiệp là giải pháp chủ đạo
Bốn là, phát triển công nghiệp hợp lý trên mỗi vùng lãnh thổ, mỗi địa
phương sẽ tạo điều kiện khai thác có hiệu quả các nguồn lực, lợi thế của mỗi vùng lãnh thổ, đảm bảo sự phát triển cân bằng, hợp lý giữa các vùng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư, làm giảm sự phát triển chênh lệch giữa các vùng, miền; qua đó hạn chế di dân đến các đô thị lớn gây nên tình trạng quá tải về dân số, về cơ sở hạ tầng, tắc nghẽn giao thông, ô nhiễm môi trường, các tệ nạn xã hội phát sinh không kiểm soát được gây mất ổn định xã hội
Năm là, công nghiệp phát triển thúc đẩy mở rộng quy mô thị trường,
đa dạng hoá mặt hàng xuất nhập khẩu, mở rộng hợp tác và liên kết quốc tế Song song với quá trình phát triển công nghiệp, đời sống kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu tiêu dùng trong sinh hoạt và sản xuất ngày càng phong phú, đa dạng Để đáp ứng nhu cầu của xã hội, ngoài việc tăng cường phát triển sản xuất trong nước, cần phải đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu Việc gia tăng xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khẩu đòi hỏi đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, đặc biệt là các sản phẩm công nghiệp chế biến, phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh theo hướng chuyển dần từ các ngành có giá trị thấp sang các ngành có giá trị gia tăng cao; qua đó mở rộng hợp tác, kiên kết kinh tế khu vực và quốc tế
Sáu là, công nghiệp phát triển đóng góp quan trọng và bền vững vào
Trang 25tích luỹ của nền kinh tế trên các mặt: vốn, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực và những nhân tố cơ bản khác Công nghiệp là ngành có năng suất lao động và giá trị gia tăng cao nên công nghiệp phát triển sẽ tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước, tăng tích luỹ cho các doanh nghiệp, tăng thu nhập cho nhân dân, tạo điều kiện tăng đầu tư, đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh
tế Công nghiệp phát triển còn làm tăng năng lực khoa học - công nghệ của đất nước; đồng thời vừa là yêu cầu đòi hỏi, vừa tạo môi trường rèn luyện, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lực lao động của đất nước
Bảy là, phát triển công nghiệp trên các vùng, miền gắn liền với quá
trình phân bố lực lượng sản xuất, tăng cường tích tụ, tập trung sản xuất theo lãnh thổ, làm cơ sở cho quá trình hình thành các đô thị nhỏ và giảm sự khác biệt về trình độ phát triển, sự phân hoá xã hội và các tác động tiêu cực khác
Với lợi thế về chi phí lao động, đất đai so với các thành phố, các tỉnh nông nghiệp có nhiều tiềm năng trở thành địa điểm lựa chọn của các nhà đầu
tư trong và ngoài nước Vốn đầu tư từ nước ngoài và từ các thành phố trung tâm đổ đến, tạo ra quá trình công nghiệp hoá lan toả, hình thành các khu đô thị mới gắn với các khu công nghiệp tập trung, thúc đẩy tiến trình chuyển đổi
cơ cấu kinh tế từ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp
1.2 CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP Ở MỘT TỈNH NÔNG NGHIỆP
1.2.1 Các điều kiện phát triển công nghiệp
1.2.1.1 Quy hoạch phát triển công nghiệp
Đây là nội dung rất quan trọng định hướng cho toàn bộ quá trình phát
triển công nghiệp, phát triển kinh tế của một quốc gia, một địa phương, cũng như quyết định quá trình quản lý nhà nước đối với công nghiệp Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp phải dựa trên chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia hay địa phương, quy hoạch phát
Trang 26triển ngành, trên cơ sở tiềm năng và các điều kiện khác của từng quốc gia hay địa phương nhằm đạt đến mục tiêu khai thác hợp lý tiềm năng phục vụ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống dân cư và đảm bảo an ninh quốc phòng
Vai trò định hướng của quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp được thực hiện thông qua các chiến lược, quy hoạch, chính sách quốc gia, vùng, ngành hay các chương trình, dự án, đề án, kế hoạch của từng địa phương Các hình thức này được chọn lựa triển khai một cách hợp lý ở cấp độ quốc gia, ngành hay địa phương; chúng có mối liên hệ với nhau, tác động lẫn nhau, trong đó chiến lược và chính sách có vị trí quan trọng nhất, chiến lược
có tính ổn định tương đối, chính sách là bộ phận năng động hơn
1.2.1.2 Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho phát triển công nghiệp
Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội có vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội của đất nước, thể hiện ở hai nội dung: một là, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã
hội đảm bảo những điều kiện vật chất thuận lợi nhất để các cơ sở sản xuất và dịch vụ hoạt động có hiệu quả Một hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại, đồng bộ sẽ tạo điều kiện rút ngắn chu kỳ sản xuất và lưu thông sản phẩm, giảm bớt chi phí sản xuất và góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho các sản phẩm hàng
hoá có sức cạnh tranh hơn; hai là, xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc
dân, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như là hệ thống huyết mạch của nền kinh tế,
có nhiệm vụ thực hiện những mối liên hệ giữa các bộ phận và các vùng của nền kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng những tiềm năng của đất nước,
mở rộng quan hệ quốc tế, tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội rộng khắp vùng lãnh thổ, giảm bớt sự khác biệt về dân trí, mức sống giữa các vùng
Như vậy, sự phát triển của hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội là điều kiện tiền đề cho phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia cũng như của từng địa phương, từng vùng lãnh thổ Xét trên bình diện tác động đến sự phát triển công nghiệp, vai trò của một số ngành, lĩnh vực cơ bản trong hệ thống cơ
Trang 27sở hạ tầng được thể hiện cụ thể:
+ Hệ thống giao thông vận tải là huyết mạch của nền kinh tế, không những trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, mà còn có tác dụng mở đường, là khâu đột phá để thực hiện phân bố lại lực lượng sản xuất xã hội, là nhân tố quyết định mở mang giao lưu hàng hoá giữa các vùng trong nước và với thị trường thế giới
+ Hệ thống năng lượng là yếu tố không thể thiếu được đối với bất cứ ngành kinh tế nào Đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia là yếu tố quan trọng đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững Vì vậy, phát triển năng lượng phải đi trước một bước
+ Hệ thống cấp nước rất cần thiết cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến thực phẩm Nếu không có các giải pháp đồng bộ để bảo vệ, khai thác hợp lý nguồn nước sẽ không thể đáp ứng nhu cầu nước sạch cho các đô thị, khu dân cư và cho phát triển công nghiệp
+ Hệ thống các ngành dịch vụ đóng vai trò duy trì và hỗ trợ các ngành sản xuất bằng cách cung cấp các dịch vụ đầu vào Sẽ không có một nền sản xuất công nghiệp cạnh tranh nếu các dịch vụ đầu vào yếu kém Mặt khác, các ngành dịch vụ phát triển tạo điều kiện cải thiện đời sống, nâng cao trình độ dân trí qua đó tạo điều kiện thu hút nguồn nhân lực có chất lượng cho phát triển Vì thế, hệ thống các ngành dịch vụ cần phải đi trước, trong đó cần chú trọng phát triển các ngành dịch vụ cơ bản, phục vụ nhu cầu thiết yếu cho phát triển (thương nghiệp, khách sạn, thông tin liên lạc, kho bãi, tài chính, tín dụng, dịch vụ tư vấn, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, thể dục thể thao, hoạt động cứu trợ xã hội )
Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, vùng lãnh thổ là điều kiện không thể thiếu cho sự phát triển bền vững, có hiệu quả của công nghiệp nói chung, tổ chức sản xuất công nghiệp trên vùng lãnh thổ nói
Trang 28riêng Sự hình thành và phát triển công nghiệp của mỗi vùng lại thúc đẩy sự phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội Trong mối quan hệ này, cơ
sở hạ tầng kinh tế - xã hội phải đi trước một bước Vì vậy, việc nâng cấp và phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội được coi là một trong những nhiệm
vụ hàng đầu của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.2.1.3 Môi trường chính trị - xã hội, pháp lý, cơ chế chính sách kinh tế của Nhà nước và địa phương
Khả năng thu hút vốn đầu tư phát triển của các địa phương đối với các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, tài chính có ý nghĩa là một lợi thế so sánh khi thu hút đầu tư Các yếu tố chính trị - xã hội, pháp lý, cơ chế chính sách của nhà nước lại có tác động rất lớn đến khả năng thu hút vốn đầu tư của các địa phương
- Môi trường chính trị - xã hội có ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lợi của nhà đầu tư Bất kỳ lý do nào có ảnh hưởng xấu đến mục tiêu sinh lợi hoặc
có khả năng gây rủi ro đều ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư Các nhà đầu tư coi yếu tố ổn định về chính trị - xã hội là một trong những yếu
tố hàng đầu Do đó, đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội thì mới thu hút được các nhà đầu tư, tăng vốn cho đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển ổn định với tốc độ cao
- Môi trường pháp lý và cơ chế chính sách là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hút vốn đầu tư, vì thế nó được các nhà đầu tư quan tâm đặc biệt Hệ thống luật pháp bao gồm các văn bản pháp luật, các quy định, các văn bản quản lý hoạt động đầu tư, khuyến khích đầu tư phản ánh môi trường đầu tư của đất nước Hệ thống pháp luật có thể tạo thuận lợi hoặc làm hạn chế hoạt động đầu tư của các chủ thể kinh tế Vì vậy, để tăng cường
Trang 29thu hút đầu tư, cần có một cơ chế pháp lý rõ ràng, mềm dẻo, tạo thuận lợi cho đầu tư và sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp
Thủ tục hành chính là tất cả những thủ tục cơ bản mà nhà đầu tư cần phải thực hiện để được quyền đầu tư, bao gồm các thủ tục xét duyệt cấp giấy chứng nhận đầu tư, đăng ký kinh doanh, các thủ tục về đất đai, thẩm định dự án Những thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp cùng với bộ máy hành chính quan liêu, cồng kềnh là trở ngại lớn, cản trở nhà đầu tư và làm tê liệt mọi lợi thế về môi trường đầu tư Vì vậy, thủ tục hành chính là một vấn đề cần quan tâm điều chỉnh cho phù hợp tình hình mới nhằm thu hút đầu tư
Trong giai đoạn hiện nay, mặc dù các quốc gia trên thế giới có những chế độ chính trị khác nhau, nhưng hầu hết các nước đều có điểm chung là thực hiện nền kinh tế hàng hoá với cơ chế thị trường, đồng thời ngày càng coi trọng vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của nhà nước Mọi thành công trong phát triển kinh tế đều không thể thiếu được hoạt động trợ giúp của nhà nước Do đó, nếu nhà nước thiếu thiện chí hoặc yếu kém trong quản lý kinh tế
sẽ kìm hãm sự phát triển
Ở nước ta hiện nay, khi cơ chế thị trường chưa hoàn thiện, các loại thị trường mới hình thành và vẫn còn sơ khai, thì nhà nước còn phải làm các công việc đáng ra là của thị trường, vẫn thực thi không ít các biện pháp hành chính trong việc huy động và phân bổ các nguồn lực Để phát huy vai trò của mình trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nhà nước cần chú ý làm thật tốt những công việc sau:
- Tạo lập môi trường chính trị - xã hội ổn định, hoạch định và thực hiện
có hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, tạo lập môi trường pháp
lý lành mạnh và ổn định cho phát triển kinh tế
- Xây dựng thể chế hành chính hữu hiệu, đảm bảo cung ứng dịch vụ công tốt nhất cho các hoạt động kinh tế - xã hội Muốn vậy, nhà nước phải
Trang 30thực hiện cải cách hành chính theo hướng tinh gọn, hoạt động có hiệu quả
- Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển nguồn nhân lực, đầu tư cho giáo dục và đào tạo, coi đây là quốc sách hàng đầu, thực hiện đào tạo đi liền với sử dụng nguồn nhân lực được đào tạo; xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển khoa học - công nghệ, y tế, các chương trình khai thác
và bảo vệ tài nguyên, môi trường
- Huy động và phân bổ hợp lý các nguồn lực quốc gia Đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển
- Thực hiện chức năng kiểm tra, kiểm soát nhằm thiết lập kỷ cương, trật
tự trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng vi phạm pháp luật, sai phạm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích nhân dân, góp phần tăng trưởng kinh tế và từng bước thực hiện công bằng xã hội
Thực hiện sự phân cấp quản lý, nhà nước Trung ương thực hiện xây dựng hệ thống pháp luật và cơ chế chính sách, đảm bảo ổn định môi trường chính trị - xã hội, môi trường pháp lý trên phạm vi quốc gia; các cấp chính quyền địa phương chịu trách nhiệm thực thi và vận dụng sáng tạo các chính sách của nhà nước Trung ương bằng các cơ chế chính sách riêng trong khuôn khổ pháp luật cho phép ở phạm vi địa phương
Hoạt động của chính quyền địa phương có thể tác động tích cực đến phát triển công nghiệp nếu có những chính sách hỗ trợ thực sự có hiệu quả Công nghiệp trong điều kiện của một tỉnh nông nghiệp còn hạn chế về nhiều mặt muốn phát triển được, nhất thiết phải có sự hỗ trợ thiết thực của nhà nước ở địa phương Do đó, sự năng động của chính quyền địa phương có tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung cũng như lĩnh vực thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp nói riêng của địa phương
1.2.1.4 Chuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ
Khoa học-công nghệ phát triển với sự ra đời của các công nghệ mới đã
Trang 31làm cho nền kinh tế chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu, tức là thực hiện tăng trưởng kinh tế dựa trên cơ sở nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào Vì vậy, khoa học - công nghệ là phương tiện
để chuyển nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và nền kinh
tế tri thức, phát triển nhanh các ngành công nghệ cao và sử dụng nhiều lao động trí tuệ
Việc áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất tạo ra nhiều loại sản phẩm mới, quy mô sản xuất được mở rộng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của hàng hoá tăng lên, từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Tác động của tiến bộ khoa học - công nghệ là vô cùng to lớn, có thể có những bước tiến có tính đột biến làm thay đổi toàn bộ nền sản xuất xã hội nói chung cũng như sản xuất công nghiệp nói riêng Đối với công nghiệp, khoa học - công nghệ tác động trên 2 góc độ: tiến bộ khoa học - công nghệ trong nội bộ ngành công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ trong các ngành khác
- Tiến bộ khoa học - công nghệ trong nội bộ ngành công nghiệp tạo ra
sự phát triển mới hiệu quả cao Tiến bộ của khoa học - công nghệ trong khai thác tài nguyên sẽ nâng cao khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả kinh tế cao những nguồn tài nguyên của đất nước; tiến bộ trong ngành chế biến tạo điều kiện phát triển các ngành công nghiệp ở nhiều vùng lãnh thổ trước đây không có điều kiện phát triển hoặc không tận dụng được nguồn tài nguyên
- Tiến bộ khoa học - công nghệ trong các ngành khác tạo tiền đề cho phát triển và phân bố công nghiệp Có thể thấy rõ điều này trong những bước phát triển vượt bậc về phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng và trong sản xuất nông nghiệp Với công nghệ mới, hệ thống giao thông và phương tiện vận tải
đã có bước phát triển nhanh chóng, cùng với hệ thống thông tin liên lạc rộng khắp và tiện dụng đã đem đến cơ hội đầu tư sản xuất kinh doanh cho nhiều nơi trước đây rất khó khăn Công nghệ sinh học, công nghệ mới trong nông
Trang 32nghiệp đã tạo điều kiện phát triển những vùng nguyên liệu nông, lâm, thuỷ sản mới đủ lớn cho khai thác và chế biến công nghiệp
Việc phát triển tiềm lực kỹ thuật - công nghệ được thông qua dưới nhiều hình thức: nghiên cứu sáng tạo công nghệ và thực hiện tiếp nhận, ứng dụng công nghệ Trong điều kiện địa phương năng lực hạn chế, không có các
cơ sở nghiên cứu khoa học đủ sức thực hiện các sáng tạo công nghệ, thì thực hiện chuyển giao, tiếp nhận và ứng dụng công nghệ là con đường chủ yếu để đổi mới công nghệ Các kênh tiếp nhận kỹ thuật công nghệ mới gồm:
- Kỹ thuật - công nghệ được chuyển giao “trọn gói” dưới hình thức đầu
tư trực tiếp Loại chuyển dịch này luôn đi kèm với với quá trình đầu tư của các doanh nghiệp
- Kỹ thuật - công nghệ được chuyển giao dưới hình thức mua bán, trao đổi trên thị trường Loại chuyển dịch này mang tính chất bộ phận, hay từng nhóm công nghệ - kỹ thuật ở một khâu nào đó trong dây chuyền công nghệ
- Kỹ thuật - công nghệ được chuyển giao dưới hình thức trao đổi thông tin, đào tạo và huấn luyện cán bộ khoa học, nhân viên kỹ thuật, công nhân lành nghề
- Ngoài các kênh chuyển giao kỹ thuật - công nghệ trên, cần khuyến khích người lao động phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật - công nghệ, qua đó làm tăng giá trị công nghệ được chuyển giao và góp phần tăng năng lực phát triển kỹ thuật - công nghệ của địa phương
Thực hiện chuyển giao và tiếp nhận công nghệ làm cho nền kinh tế vận động theo xu hướng giảm dần các yếu tố lạc hậu cổ truyền và tăng dần các yếu tố hiện đại, là con đường mở ra khả năng có thể đi nhanh vào hiện đại hoá Song để đạt được điều đó, cần phải có chiến lược chuẩn bị nền tảng kỹ thuật để tiếp nhận các kênh chuyển giao kỹ thuật - công nghệ, trong đó chú trọng nâng cao trình độ dân trí, đào tạo cán bộ kỹ thuật - công nghệ, công
Trang 33nhân lành nghề đủ sức tiếp nhận và ứng dụng thành thạo kỹ thuật - công nghệ hiện đại được chuyển giao
1.2.1.5 Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên
- Về vị trí địa lý: Vị trí địa lý là một nguồn lực quan trọng để định
hướng phát triển các ngành, vùng kinh tế của từng địa phương cũng như của toàn bộ nền kinh tế của một quốc gia Nếu có vị trí địa lý thuận lợi như ở đầu mối giao thông, đầu mối giao lưu kinh tế quốc tế, gần các trung tâm phát triển, sẽ là lợi thế tạo khả năng cạnh tranh trong phát triển kinh tế, phát triển công nghiệp
- Về tài nguyên thiên nhiên: Tài nguyên thiên nhiên là một trong các
nguồn lực cơ bản của quá trình sản xuất, song chúng chỉ có thể trở thành yếu
tố của sản xuất khi được khai thác và sử dụng có hiệu quả Các loại tài nguyên thiên nhiên cơ bản cho phát triển công nghiệp bao gồm: đất đai, khoáng sản, tài nguyên sinh vật, tài nguyên nước
1.2.1.6 Nguồn lực lao động và vốn đầu tư
* Nguồn lực lao động được xem xét dưới hai góc độ là số lượng và chất lượng lao động Trong đó, yếu tố chất lượng lao động quyết định năng suất lao động Người lao động có trình độ văn hoá, khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, trình độ tay nghề cao và sức khoẻ tốt sẽ làm việc có năng suất cao, mang lại lợi ích kinh tế nhiều cho xã hội và cho bản thân họ Chất lượng lao động có thể nâng cao bằng giáo dục, đào tạo và rèn luyện sức khoẻ
Vai trò của nguồn lực lao động thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau:
- Nguồn lực lao động là nhân tố quyết định việc tổ chức sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác Nguồn lực lao động là nhân tố quyết định việc tái tạo, sử dụng, phát triển các nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, vốn và khoa học - công nghệ Trong nền kinh tế công nghiệp và nền kinh tế tri thức, nguồn lực lao động chất lượng cao là nhân tố quyết định
Trang 34- Nguồn lực lao động là một bộ phận của các yếu tố “đầu vào” trong quá trình sản xuất Chi phí lao động, mức tiền công thể hiện sự cấu thành của nguồn lực lao động trong hàng hoá, dịch vụ Như vậy, chi phí nguồn lực lao động trở thành nhân tố cấu thành mức tăng trưởng của nền kinh tế
- Là bộ phận cấu thành của dân số, nguồn lực lao động tham gia tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ xã hội, trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh
tế Như vậy, điểm khác biệt cơ bản giữa nguồn lực lao động với các nguồn lực khác là vừa tham gia tạo cung, tạo cầu của nền kinh tế, vừa trực tiếp điều tiết quan hệ đó gắn với các thể chế kinh tế - xã hội do con người tạo nên
Nền kinh tế càng phát triển cao thì nguồn lực lao động càng phải nâng cao chất lượng và nó buộc người lao động phải tự hoàn thiện mình Mỗi bước phát triển của nền kinh tế, sẽ tạo khả năng tốt hơn cho phát triển nguồn lực lao động, đồng thời cũng đòi hỏi mức độ cao hơn của nguồn lực lao động trong việc tổ chức sử dụng các nguồn lực, tổ chức và vận hành nền kinh tế
Như vậy, nguồn lực lao động không chỉ đơn thuần là một trong những nguồn lực sản xuất, mà nó còn là nguồn lực có khả năng quyết định việc tổ chức, sử dụng các nguồn lực khác, là chủ thể tích cực của tất cả các hoạt động sản xuất và hoạt động thị trường Trong khi các nguồn lực tự nhiên chỉ tồn tại dưới dạng tiềm năng, nếu không được con người khai thác thì sẽ trở thành vô dụng, còn nguồn lực lao động có khả năng phát hiện, khơi dậy và cải biến các nguồn lực tự nhiên và xã hội khác
Thực tế cho thấy, có nhiều quốc gia nghèo tài nguyên nhưng kinh tế rất phát triển nhờ có đội ngũ lao động có học thức, có trình độ chuyên môn và tay nghề cao, được tổ chức và khuyến khích, được tạo động lực đúng lúc Vì thế,
để phát huy nguồn lực con người, ngoài việc tăng cường giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ, cần phải có chính sách tạo động lực vật chất và tinh thần làm cho con người có tinh thần hăng say, phấn khởi, tự giác, sáng tạo và có
Trang 35trách nhiệm, nhờ đó mà công việc được hoàn thành với năng suất, chất lượng
và hiệu quả cao Ngược lại, khi con người chán nản, mọi hoạt động sản xuất - kinh doanh bị đình trệ, nền kinh tế lâm vào khó khăn, trì trệ
* Vốn đầu tư
Trong nền kinh tế kém phát triển, sản xuất mang nặng tính tự nhiên, tự cấp tự túc, nguồn lực lao động với trình độ thủ công và nguồn lực đất đai giữ vai trò hàng đầu Trong nền kinh tế thị trường với sự phát triển mạnh của công nghiệp và dịch vụ, vốn đầu tư trở thành nguồn lực cơ bản nhất, đặc biệt đối với sự phát triển của ngành công nghiệp, bởi vì:
- Có vốn, sẽ có điều kiện đầu tư mạnh mẽ cho việc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực trình độ cao, đáp ứng được những đòi hỏi khắt khe của nền sản xuất có kỹ thuật và công nghệ hiện đại
- Có vốn, mới có điều kiện đầu tư cho việc nghiên cứu, tạo ra các kỹ thuật - công nghệ mới hiện đại; hoặc là đầu tư để nhập khẩu các công nghệ đó nhằm làm cho nền kinh tế phát triển nhanh, tạo ra nhiều sản phẩm tốt, có sức cạnh tranh cao trên thị trường
- Có vốn, mới có điều kiện để xây dựng và hiện đại hoá nhanh hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội; xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị cho sản xuất
- Có vốn, mới có điều kiện chuyển dịch cơ cấu các ngành, các lĩnh vực kinh doanh một cách nhanh chóng theo hướng hiệu quả và phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Để xem xét tác động của vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế, có thể
sử dụng mô hình Harrod-Domar Theo mô hình này, vai trò của vốn đầu tư đối với tăng trưởng kinh tế được thể hiện bởi hàm sản xuất giản đơn:
g = s/k hoặc k = s/g
Trong đó, g: tỷ lệ tăng trưởng của sản lượng đầu ra
Trang 36s: tỷ lệ tiết kiệm so với sản lượng đầu ra
k: hệ số gia tăng vốn so với đầu ra (hệ số ICOR)
Quan hệ g = s/k diễn đạt mối quan hệ: tỷ lệ tăng trưởng của nền kinh tế được quyết định bởi tỷ lệ tiết kiệm (s) và hệ số gia tăng vốn so với đầu ra (k) của nền kinh tế Do đó, để tăng trưởng, nền kinh tế phải tiết kiệm và đầu tư một tỷ lệ nhất định so với GDP Nền kinh tế có khả năng tiết kiệm và đầu tư càng cao sẽ tăng trưởng càng nhanh
Nhưng tỷ lệ tăng trưởng thực tế còn phụ thuộc cả vào hiệu suất của đầu
tư, tức là mức sản lượng tăng thêm có được từ một đơn vị đầu tư tăng thêm, được tính bằng 1/k Trong thực tế, hệ số k không cố định mà có xu hướng ngày càng tăng lên, nghĩa là xu hướng đầu tư ngày càng nhiều vốn hơn Vì vậy, để giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, cần đảm bảo sao cho hệ số k tăng chậm, trong khi vẫn gia tăng được tỷ lệ tiết kiệm và đầu tư
Hệ số ICOR phụ thuộc vào nhiều yếu tố, thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách Kinh nghiệm cho thấy, hệ số ICOR phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế, hiệu quả đầu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ
và hiệu quả của các chính sách kinh tế của nhà nước nói chung Hệ số ICOR trong ngành nông nghiệp thường cao hơn trong ngành công nghiệp và thương mại-dịch vụ, do khu vực nông nghiệp bị hạn chế về đất đai, khả năng sinh học Vì vậy, để đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, tất yếu phải tăng cường đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ
1.2.2 Tiêu chí đánh giá phát triển công nghiệp
1.2.2.1 Đóng góp của công nghiệp trong GDP không ngừng tăng lên, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Sự phát triển của ngành công nghiệp trước hết làm tăng nhanh tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp trong GDP Công nghiệp thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa Đặc biệt là công nghiệp chế biến phải góp phần nâng cao giá trị sản xuất của những sản phẩm do nông nghiệp
Trang 37tạo ra Công nghiệp cung ứng máy móc, thiết bị, vật tư, trang bị cơ sở vật chất
kỹ thuật hiện đại phục vụ sản xuất nông nghiệp, từ đó làm cho năng suất lao động nông nghiệp tăng lên Khi năng suất lao động nông nghiệp tăng lên, giá trị các tư liệu sinh hoạt cần thiết giảm xuống, làm giảm chi phí sản xuất nói chung, trong đó có chi phí sản xuất công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, từ đó lại thúc đẩy công nghiệp phát triển
Công nghiệp phát triển phải tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của dịch vụ, thúc đẩy quá trình hiện đại hoá ngành dịch vụ Công nghiệp càng phát triển càng đòi hỏi những ngành dịch vụ chất lượng cao như dịch vụ tư vấn khoa học - kỹ thuật, dịch vụ tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
1.2.2.2 Quy mô và tốc độ phát triển công nghiệp, sự gia tăng giá trị gia tăng (VA) và năng lực cạnh tranh công nghiệp
Trong quá trình phát triển của công ngiệp thì quy mô và tốc độ phát triển của công nghiệp không ngừng tăng lên Để đánh giá quy mô của công nghiệp người ta sử dụng các chỉ tiêu cụ thể như: giá trị tổng sản lượng, giá trị gia tăng hàng năm, số lượng lao động trong công nghiệp Để đánh giá tốc độ tăng trưởng hằng năm của công nghiệp người ta sử dụng các chỉ tiêu: tốc độ tăng giá trị tổng sản lượng công nghiệp và tốc độ tăng GDP công nghiệp Trong quá trình phát triển của công nghiệp thì các chỉ tiêu này phải được duy trì ở tốc độ cao Nhưng khi công nghiệp đã phát triển, nghĩa là giá trị tổng sản lượng và GDP công nghiệp lớn thì việc tạo ra được 1% giá trị gia tăng sẽ khó khăn hơn
VA công nghiệp là chỉ tiêu đang rất được quan tâm, đặc biệt là ngành công nghiệp Phần lớn các ngành công nghiệp Việt Nam hiện nay chưa đạt được yêu cầu đối với chỉ số VA, trong khi chỉ số GO liên lục tăng với tốc
độ gia tăng khá nhanh, điển hình là nhóm ngành công nghiệp thâm dụng lao động như dệt may, da giày Là ngành có giá trị sản xuất công nghiệp lớn, tốc độ tăng trưởng cao, kinh ngạch xuất khẩu đứng thứ 10 trong 153 nước
Trang 38xuất khẩu dệt may nhưng chỉ số VA rất thấp, đáng cảnh báo hơn, vài năm vừa qua chỉ số VA/GO có xu hướng giảm dần Năng lực cạnh tranh của công nghiệp thể hiện ở năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm công nghiệp và tác động của công nghiệp đối với năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ
1.2.2.3 Cơ cấu công nghiệp chuyển đổi theo hướng hiện đại hoá
* Chuyển đổi cơ cấu ngành
Chuyển đổi cơ cấu ngành công nghiệp biểu hiện dưới mặt lượng là sự thay đổi mối tương quan tỉ lệ của mỗi phân ngành trong công nghiệp Sự thay đổi đó biểu hiện ở một trong hai yếu tố: Số lượng ngành thay đổi hoặc mối tương quan tốc độ phát triển giữa các ngành có sự thay đổi Về mặt chất sự chuyển đổi cơ cấu ngành thể hiện ở sự thay đổi phương án bố trí các ngành trong chiến lược phát triển và vị trí từng phân ngành trong cơ cấu làm thay đổi tính cân đối cũ để chuyển sang một trạng thái cân đối mới ở trình độ cao hơn
* Chuyển đổi cơ cấu theo thành phần kinh tế
Không có một lí thuyết chung đánh giá sự chuyển đổi cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế trong quá trình phát triển công nghiệp, bởi xác định cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế bị phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố chủ quan Tuy nhiên ở nước ta trong quá trình phát triển công nghiệp thì cơ cấu công nghiệp theo thành phần kinh tế cần được chuyển đổi theo hướng tăng cường vị trí, vai trò của khu vực phi quốc doanh Thực tế cho thấy trong những năm qua khu vực kinh tế quốc doanh ở trong tình trạng trì trệ kém phát triển và đã bộc lộ nhiều hạn chế về công nghệ, trình độ quản lí, trình độ lao động và “sức ỳ” trong khu vực quốc doanh là rất lớn Như vậy tăng cường vị trí vai trò của khu vực ngoài quốc doanh trong quá trình phát triển là biểu hiện của sự chuyển đổi cơ cấu theo thành phần kinh tế trong quá trình phát triển công nghiệp
Trang 39* Tổ chức sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ
Tổ chức sản xuất công nghiệp theo lãnh thổ là sự phân công sản xuất sản phẩm giữa các vùng lãnh thổ để hình thành phương án sản xuất sản phẩm
và bố trí các đơn vị sản xuất, các tổng hợp thể sản xuất trên phạm vi không gian lãnh thổ Trên cơ sở nhận thức, vận dụng các quy luật tự nhiên, kinh tế
xã hội nhất định Tổ chức sản xuất theo lãnh thổ là một hoạt động nhằm xác định phương án cơ cấu sản xuất theo ngành trên mỗi vùng lãnh thổ kết hợp giữa chuyên môn hoá với đa dạng hoá các ngành sản xuất trên mỗi vùng lãnh thổ trên cơ sở phát huy lợi thế của mỗi vùng để định hướng chuyên môn hoá sản xuất giữa các vùng, nhờ đó nâng cao trình độ sản xuất giữa các đơn vị lãnh thổ trên vùng và giữa các vùng trong quá trình phát triển
1.2.2.4 Mức độ tập trung hoá các nguồn lực trong công nghiệp và phát triển các mô hình sản xuất
Sự ra đời và phát triển của các ngành sản xuất vật chất gắn liền với quá trình phân công lao động xã hội và tiến bộ khoa học công nghệ Trong quá trình ấy trình độ tập trung hoá sản xuất của chúng cũng không ngừng được nâng cao Thực chất của tập trung hoá sản xuất là quá trình tập trung lao động
và các yếu tố vật chất vào một ngành chuyên môn hoá nhờ đã làm tăng GDP của ngành Mức độ tập trung hoá được xác định như sau:
Trong đó: k là mức độ tập trung hoá
GDPi là GDP ngành i
GDPtn là GDP toàn ngành công nghiệp
Li là lao động ngành i
Ltn là lao động toàn ngành công nghiệp
Công thức này cho ta cách tính mức độ tập trung hoá của công nghiệp Mức độ tập trung hoá của ngành càng cao thể hiện ngành đó càng phát triển
Trang 401.2.2.5 Sự phát triển của một số ngành sản phẩm công nghiệp chủ yếu
Sẽ là nhầm lẫn khi nói rằng để phát triển công nghiệp chúng ta tiến hành đầu tư phát triển tất cả các ngành sản phẩm công nghiệp Điều này là không thể thực hiện được với các quốc gia đang phát triển và đồng thời cũng không đúng dưới cả góc độ lí thuyết vì chúng ta luôn luôn giải bài toán kinh
tế trong điều kiện khan hiếm nguồn lực Chính vì vậy việc hình thành lên một
số sản phẩm công nghiệp chủ yếu làm mũi nhọn cho sự phát triển chung của toàn ngành công nghiệp là đúng đắn và cần thiết Trên cơ sở tất cả các lợi thế
so sánh, căn cứ vào nhu cầu thị trường và căn cứ vào chiến lược phát triển của công nghiệp thì trên mỗi vùng và trên toàn bộ lãnh thổ sẽ hình thành lên các sản phẩm chủ lực cho mình Sự hình thành lên các sản phẩm chủ lực sẽ giải quyết được bài toán khan hiếm về nguồn lực và đồng thời sẽ tạo ra sự phát triển chung cho toàn ngành công nghiệp cũng như sự phát triển của nền kinh
tế và đây là một tiêu chí để đánh giá sự phát triển chung của công nghiệp
1.2.2.6 Mức độ khai thác tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường
Tăng trưởng công nghiệp cùng việc tổ chức sản xuất của con người luôn gắn liền với việc khai thác các nguồn tài nguyên và môi trường thiên nhiên để sản xuất Tăng trưởng kinh tế và sử dụng tài nguyên môi trường
có quan hệ với nhau và được xem xét qua rất nhiều chỉ tiêu, trong đó có các chỉ tiêu như: nhịp độ tăng trưởng GO cả nước và VA của các ngành trong tương quan so sánh với mức độ cạn kiệt tài nguyên và tình hình ô nhiễm môi trường Thông thường khi đánh giá mức độ gây ô nhiễm môi trường của các ngành công nghiệp, người ta sẽ lựa chọn một số tiêu chí như: chất thải rắn, chất thải lỏng, chất thải khí, tiếng ồn…