Với chức năng, nhiệm vụ đào tạo các chức danh tư pháp, Học viện Tư pháp cần triển khai đồng bộ các dự án ứng dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và hỗ trợ công tác quản lý, điều h
Trang 1Chủ nhiệm đề án: PGS.TS Phan Hữu Thư Thư ký đề án: ThS Trương Thế Côn
ThS Trần Minh Tiến Hoàng Thế Đức Nguyễn Tuấn Long
8218
Hà Nội - 2010
Trang 2BÁO CÁO TỔNG THUẬT ĐỀ ÁN
“XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC BIỆN PHÁP ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC PHỤC VỤ CHIẾN LƯỢC CẢI CÁCH TƯ PHÁP”
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
I SỰ CẦN THIẾT TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN 5
1.1 Vai trò của CNTT 5
1.2 Thực trạng áp dụng CNTT trong đào tạo cán bộ tư pháp 10
1.3 Đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp và yêu cầu ứng dụng CNTT nâng cao chất lượng đào tạo độ ngũ cán bộ tư pháp phục vụ chiến lược cải cách tư pháp 14
1.3.1 Đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp 14
1.3.2 Ứng dụng CNTT trong đào tạo các chức danh tư pháp 17
II QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC ỨNG DỤNG CNTT TRONG ĐÀO TẠO CÁC CHỨC DANH TƯ PHÁP 19
2.1 Quan điểm chỉ đạo 19
2.2 Mục tiêu 19
2.2.1 Mục tiêu tổng quát 19
2.2.2 Mục tiêu cụ thể 20
2.3 Nguyên tắc 21
III HỆ THỐNG CÁC BIỆN PHÁP ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN 23
3.1 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng quản lý điều hành 25
3.1.1 Áp dụng phần mềm văn phòng điện tử 25
3.1.2 Áp dụng Phần mềm quản lý đào tạo 35
3.1.3 Áp dụng phần mềm quản lý cán bộ 37
3.2 Nhóm giải pháp hỗ trợ giảng dạy 40
3.2.1 Áp dụng hệ thống đào tạo trực tuyến e-learning (e-learning System) 40
3.2.2 Ứng dụng CNTT trong giảng dạy 45
3.3 Nhóm giải pháp công cụ hỗ trợ học viên 45
3.3.1 Xây dựng CD-Rom tài liệu giảng dạy và học tập 45
3.3.2 Xây dựng kho cơ sở dữ liệu về đào tạo các chức danh tư pháp 51
3.3.3 Xây dựng thư viện điện tử và lien kết với các thư viện của các cơ sở đào tạo pháp luật khác 52
Trang 33.3.4 Nâng cấp website phục vụ cung cấp thông tin và dịch vụ
hành chính công 54
3.4 Nhóm giải pháp hỗ trợ khai thác sử dụng CNTT 55
3.4.1 Xây dựng hệ thống mạng ổn định, hiệu quả 55
3.4.2 Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giảng viên trong việc ứng dụng CNTT 57
3.4.3 Xây dựng các quy định, chính sách 58
IV TỔ CHỨC THỰC HIỆN 59
4.1 Quản lý Đề án 59
4.2 Triển khai thực hiện 59
4.3 Lộ trình và kinh phí thực hiện Đề án 60
Trang 4MỞ ĐẦU
Công nghệ thông tin (CNTT ) và ứng dụng CNTT được coi là
là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững đất nước Đảng và Nhà nước ta đã sớm xác định vai trò then chốt của cách mạng khoa học và kỹ thuật Trong thời gian qua, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, nhiều Văn bản quan trọng
về định hướng chiến lược và cơ chế, chính sách phát triển CNTT đã được ban hành: Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị
về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT; Luật CNTT ngày 29 tháng 6 năm 2006; Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ quy định về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước…và nhiều chính sách cụ thể khác về phát triển ứng dụng CNTT
Nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và đặc biệt là sự cố gắng của đội ngũ cán bộ khoa học và CNTT, hoạt động ứng dụng CNTT
đã có bước chuyển biến, đạt được một số tiến bộ và kết quả nhất định, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng của đất nước
Tuy nhiên, hoạt động ứng dụng CNTT của nước ta nói chung
và đặc biệt là trong hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp nói riêng hiện nay vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhất là trong xu thế hội nhập kinh tế quốc
tế và sự phát triển kinh tế tri thức trên thế giới Hoạt động ứng dụng CNTT và đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho ứng dụng CNTT trong đào tạo các chức danh tư pháp chưa đồng bộ, còn phân tán, do đó chưa hỗ trợ nhiều cho hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp
Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam về Chiến lược cải cách tư pháp
đến năm 2020đã chỉ ra các nhiệm vụ đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo
Trang 5đức trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và Xây dựng Học viện Tư pháp thành Trung tâm lớn về đào tạo cán bộ tư pháp Triển khai thực hiện Nghị
quyết số 49-NQ/TW Bộ Tư pháp đã xây dựng nhiều giải pháp tưng cường năng lực cho Học viện Tư pháp Một trong những giải pháp đó
là tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp
Mục tiêu của Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT đến năm 2020 là tạo lập được môi trường mạng rộng khắp phục vụ đa số các hoạt động của các cơ quan Chính phủ; Cán bộ công chức có thói quen làm việc mọi lúc mọi nơi dựa trên nhiều phương tiện khác nhau; Các dịch vụ hành chính công đưcợ cung cấp trực tuyến hướng tới nhu cầu của người dân và phục vụ người dân mọi lúc, mọi nơi Như vậy, để đạt được mục tiên trên (trên bình diện công tác đào tạo các chức danh tư pháp) cần phải nghiên cứu có hệ thống và ứng dụng mạnh mẽ CNTT, tạo bước chuyển biến căn bản trong việc nâng cao chất lượng đào tạo các chức danh tư pháp đáp ứng yêu cầu về nguồn nhân lực phục vụ Chiến lược cải cách tư pháp
Trang 6I SỰ CẦN THIẾT TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN
1.1 Vai trò của CNTT
Với sự ra đời của máy tính cùng nhiều thành tựu đột phá khác trong công nghệ sinh học, khoa học vật liệu vào những thập kỷ cuối thế kỷ 20 đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại,
mà đặc trưng nổi bật của nó là cách mạng tri thức và cách mạng thông tin Tác động của nó đến mọi mặt đời sống xã hội loài người
còn mạnh mẽ, sâu sắc hơn nhiều so với các bước ngoặt lịch sử trước đây; máy móc không chỉ nhân lên sức mạnh cơ bắp mà còn thay thế lao động trí óc của con người, nhân lên sức mạnh trí tuệ con người, trở thành người bạn đồng hành đắc lực của con người Nền kinh tế
công nghiệp đang chuyển sang nền kinh tế tri thức; nhiều biến động
to lớn, sâu sắc trong mọi mặt của đời sống xã hội loài người đang
diễn ra Hiện nay CNTT đang hội tụ với công nghệ sinh học, công nghệ nano và trở thành infornautic - đó là nền tảng của hệ thống
công nghệ hiện đại của thế kỷ 21, hứa hẹn những bước đột phá to lớn trong quá trình phát triển xã hội loài người
Thông tin có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xã hội loài người Trong xã hội nông nghiệp và công nghiệp, thông tin chưa nhiều, chưa được coi là cấp thiết nhất Ngày nay, thông tin ngày càng trở nên có ý nghĩa quyết định, là một nhu cầu cơ bản của con người,
là tài nguyên quan trọng nhất của nền kinh tế và của xã hội Mức độ tăng trưởng của lượng thông tin thể hiện trình độ phát triển cao của một xã hội Ở những nước phát triển nhất hoạt động xử lý thông tin
là hoạt động chủ yếu nhất, tạo ra khoảng 45% GDP Chính vì vậy
CNTT được coi là mũi nhọn đột phá đưa loài người vào nền kinh tế
tri thức Theo UNESCO, CNTT là hệ thống các tri thức và phương
pháp khoa học, các kỹ thuật, công cụ và phương tiện hiện đại, các giải pháp công nghệ, được sử dụng để thu thập, lưu trữ, xử lý, sản xuất, xuất bản, phát hành và truyền thông tin nhằm giúp con người nhận thức, tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tài nguyên thông tin vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người Như vậy
Trang 7CNTT gắn liền với truyền thông và do đó người ta thường dùng cụm
từ CNTT và truyền thông (ICT) để nói đầy đủ các nội dung của
lý, rút ngắn thời gian của các quá trình làm việc
Trong những năm gần đây, CNTT và truyền thông Việt Nam
đã đạt được những tiến bộ đáng kể, nhất là trong lĩnh vực phát triển
hạ tầng viễn thông và Internet Hạ tầng viễn thông và Internet đã bắt đầu thể hiện vai trò là huyết mạch của nền kinh tế, phục vụ tương đối tốt cho sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội, nhìn chung đáp ứng được nhu cầu giao lưu trong nước và quốc tế Công cuộc tin học hoá cải cách hành chính ở Việt Nam đã được thực hiện trong gần
10 năm qua đã thu được những kết quả đáng kể CNTT và viễn thông
đã được ứng dụng rộng rãi và ngày càng sâu trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội Hầu hết các hoạt động kinh tế và xã hội đều dựa trên cơ sở CNTT và thông qua mạng thông tin điện tử, đều được tin học hoá, hay số hoá CNTT không chỉ là một lĩnh vực khoa học công nghệ, một ngành kinh tế - kỹ thuật mà trở thành phương tiện chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, động lực quan trọng cho sự phát triển của tất cả các ngành, các lĩnh vực Thương mại điện tử, chính phủ điện tử, làm việc từ xa, các văn phòng ảo, các tổ chức ảo, chữa bệnh trên mạng (chữa bệnh từ xa), giáo dục từ xa… đang làm thay đổi hết sức sâu sắc cách thức sản
Trang 8xuất kinh doanh, cách thức tổ chức quản lý theo hướng tăng tốc độ, năng suất, chất lượng và hiệu quả Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính
trị (khoá VIII) xác định rằng việc ứng dụng và phát triển CNTT sẽ góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, tạo động lực mạnh mẽ cho công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ hữu hiệu quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng, tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Nhận thức của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và toàn dân về tầm quan trọng của ứng dụng và phát triển CNTT&TT đã được khẳng định và đang ngày càng được nâng cao Với việc kiện toàn Ban Chỉ đạo quốc gia về CNTT, thành lập Bộ Bưu chính, Viễn thông, công tác quản lý nhà nước về CNTT&TT đã được củng cố và hoàn thiện một bước đáng kể Ngay sau khi thành lập, Bộ Bưu chính Viễn thông
đã nhanh chóng triển khai thực hiện một loạt các hoạt động bước đầu
có hiệu quả trong các lĩnh vực quản lý vĩ mô, cải thiện môi trường thể chế và chính sách, hỗ trợ thúc đẩy phát triển, tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác giảm sát, kiểm soát, đánh giá tác động và hiệu quả các hoạt động phát triển và ứng dụng CNTT&TT Nhiều Văn bản cụ thể hoá Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) đã được ban hành (như: Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Chỉ thị số 34/2008/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng hệ thống thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Quyết định
số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010 ) tạo điều kiện và môi trường thúc đẩy phát triển CNTT&TT ngày càng mạnh mẽ Ứng dụng CNTT&TT đang thâm nhập vào các hoạt động sản xuất, cung cấp dịch vụ, điều hành, quản lý, và trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong dây chuyền một số ngành kinh tế trọng yếu của đất nước Mạng
Trang 9thông tin diện rộng của các cơ quan Đảng, Chính phủ, Quốc hội, các
dự án Tin học hoá và ứng dụng CNTT&TT gắn chặt chẽ với các quá trình cải cách hành chính, đổi mới phương thức hoạt động đang được triển khai mạnh mẽ Các cơ quan Thông tin điện tử ngày càng phát triển và có tác dụng ngày càng sâu rộng trong xã hội đang hoạt động ngày càng có hiệu quả, góp phần đáng kể vào công tác quản lý, điều hành
Trong những năm qua, Bộ Tư pháp cũng đã rất quan tâm trong việc đưa ứng dụng CNTT vào phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều
hành của Lãnh đạo Bộ thông qua các việc sau: Cổng thông tin điện tử
Bộ Tư pháp với nhiều Trang thông tin thành phần về các mặt công tác lớn của Bộ được vận hành tại Trung tâm tích hợp và hoạt động
trên Internet tại địa chỉ http://www.moj.gov.vn (từ tháng 3/2005),
thường xuyên được cập nhật, phát triển phục vụ tích cực cho hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ; đồng thời, là nơi cung cấp, cập nhật thông tin giới thiệu về các mặt hoạt động của Bộ và các thông tin chuyên sâu về pháp luật Triển khai thực hiện Quyết định 43/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Cổng thông tin điện tử
Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục được nâng cấp về công nghệ, bổ sung tính
năng, tiện ích; Hệ thống thư điện tử Hiện nay, 100% cán bộ, công
chức, viên chức và các đơn vị thuộc Bộ đã được cung cấp địa chỉ thư điện tử và khoảng 50% thường xuyên sử dụng để gửi, nhận thông tin phục vụ công việc Trong tháng 7/2008, 740 cơ quan Thi hành án sẽ được cung cấp hộp thư điện tử; Lập dự án đưa vào ứng dụng thí điểm
Hệ thống giao ban điện tử đa phương tiện giữa Bộ với các đơn vị
trực thuộc (theo QĐ43) với mục đích thực hiện cải cách hành chính, tăng cường hiệu quả các cuộc họp giữa lãnh đạo Bộ với lãnh đạo đơn
vị trực thuộc Bộ; Tăng cường sự chỉ đạo điều hành của lãnh đạo Bộ đến các đơn vị trực thuộc đảm bảo thông tin nhanh chóng, chính xác, kịp thời phục vụ tổ chức và nhân dân ngày càng tốt hơn; Tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại, ăn ở cho các đại biểu, giảm áp lực giao thông
do đi lại thông qua việc thay thế cách thức tổ chức họp giao ban tập trung một chỗ theo truyền thống; Triển khai đào tạo, tập huấn và đưa
Trang 10vào sử dụng Phần mềm Quản lý Văn bản và điều hành tới các đơn vị
thuộc cơ quan Bộ với mục đích là từng bước tạo thói quen làm việc trong môi trường mạng cho toàn thể cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan Bộ Việc triển khai này cũng tạo tiền đề cho việc hình thành kho dữ liệu chung của Bộ Tư pháp về Văn bản, Hồ sơ công việc, đồng thời cũng cung cấp các công cụ hỗ trợ cho việc theo dõi, quản lý, tra cứu và xử lý các Văn bản, Hồ sơ công việc của Bộ Tư
pháp một cách chính xác, hiệu quả và đảm bảo tính bảo mật Trang thông tin phục vụ điều hành, tác nghiệp được tích hợp với Cổng
thông tin điện tử của Bộ để cung cấp các ý kiến chỉ đạo, lịch làm việc của Lãnh đạo Bộ; cung cấp các Quy chế, Chương trình, Kế hoạch
công tác và các thông tin nội bộ khác Cơ sở dữ liệu về Văn bản quy phạm pháp luật cho phép lưu trữ, tra cứu các Văn bản quy phạm
pháp luật do cơ quan ở Trung ương ban hành từ năm 1945 đến nay và các Văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân một số tỉnh thành phố ban hành từ năm 1976 đến nay (hoặc
từ khi chia tách hoặc sáp nhập tỉnh Về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu về việc tra cứu các Văn bản QPPL, lưu trữ có hệ thống CSDL về pháp luật; Tập trung tương đối đầy đủ các Văn bản QPPL; Công cụ tra cứu
và các tiện ích hoạt động hiệu quả, cho phép tra cứu nhanh chóng, chính xác, cho phép người sử dụng tìm kiếm với nhiều tiêu chí; hàng ngày có khoảng hơn 3.000 lượt người truy cập Triển khai thực hiện Quyết định 43/2008/QĐ-TTg, cùng với việc nâng cấp Cổng thông tin điện tử, Cơ sở dữ liệu cũng sẽ được thay đổi về mặt công nghệ và bổ
sung thêm tính năng mới để đáp ứng nhu cầu cao hơn nữa Cơ sở dữ liệu hướng dẫn nghiệp vụ giúp cán bộ, công chức, viên chức chuyên
sâu hơn nữa công tác chuyên môn của mình, tiếp cận nhanh các chính sách, cơ chế, quy định của các Văn bản quy phạm pháp luật, trao đổi, thảo luận các thông tin nghiệp vụ, từ đó phục vụ công tác chuyên môn được tốt hơn
Trang 111.2 Thực trạng áp dụng CNTT trong đào tạo cán bộ tư pháp
Học viện Tư pháp được Thủ tướng Chính phủ thành lập theo quyết định số 23/2004 QĐ-TTg trên cơ sở Trường Đào tạo các chức danh Tư pháp Ngay từ khi còn là Trường Đào tạo các chức danh Tư pháp, công tác phát triển tin học đã được Lãnh đạo Nhà trường coi trọng và ứng dụng có hiệu quả vào công tác đào tạo của Nhà trường
So với các cơ sở đào tạo pháp luật khác, có thể nói, việc đào tạo nghề luật tại Học viện Tư pháp được sử dụng và ứng dụng những biện pháp CNTT đầu tiên và hiện đại Đã từ lâu các giải pháp ứng dụng CNTT đã được triển khai và thực hiện trong các chương trình đào tạo Sử dụng phần mềm trình chiếu, thiết kế giáo án điện tử, chia sẻ thông tin tư liệu trong nội bộ cán bộ giảng viên, sử dụng phần mềm quản lý thư viện, phần mềm quản lý tài chính, phần mềm quản lý học viên về điểm danh, quản lý điểm thi đánh giá kết quả, sử dụng các tình huống video clips trong các bài giảng, họp trực tuyến qua video conference, sử dụng cổng thông tin điện tử trên website thường xuyên được thực hiện từ rất nhiều khoá đào tạo trước đây Vì thế, hiệu quả các cuộc họp, hệ thống quản lý điểm danh và đánh giá kết quả học tập của học viên; chất lượng các buổi giảng được nâng lên rõ rệt
Có được như vậy là nhờ Học viện Tư pháp đã rất chú trọng đến nền tảng của việc ứng dụng CNTT, như: xây dựng trang tin điện tử trên mạng internet (website) với khá nhiều tiện ích Trên website này, chúng ta có thể đưa lên công bố các học liệu thông tin mở như thông báo lịch học, tuyển sinh; chương trình đào tạo, cung cấp các tài liệu học liệu mở như hồ sơ điện tử, giáo trình điện tử, bài giảng điện tử Website cũng được thiết kế các diễn đàn (forum) để mọi người cùng trao đổi, thảo luận về các vấn đề liên quan; có webmail để các thành viên sử dụng email trao đổi thông tin; có bản tin nội bộ được dành riêng cho nội bộ cán bộ giảng viên của Học viện Tư pháp; có lịch làm việc cho từng thành viên Có thể nói, về cơ bản website này đã đáp ứng được một phần yêu cầu cơ bản, là hạ tầng cần thiết
Trang 12trong việc sử dụng và ứng dụng mạnh mẽ học liệu mở phục vụ cho hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp
Cùng với trang thông tin điện tử trên mạng internet, Học viện
Tư pháp cũng đã trang bị phần mềm quản lý thư viện, cũng đã xây dựng,thiết kế được phần mềm quản lý học viên, thống nhất hoá mã số sinh viên trong quản lý và thư viện Bên cạnh đó các trang thiết bị phục vụ cho nhu cầu ứng dụng tại Học viện Tư pháp cũng được trang
bị khá đầy đủ Hệ thống máy tính, máy chiếu (projector), máy quay, video conference được trang bị khá đầy đủ cho đến từng cán bộ giảng viên, chúng ta cũng đang sử dụng được truyền 8Mb/s đủ để thực hiện các cuộc hội đàm, hội thảo trực tuyến
Đội ngũ giảng viên về cơ bản cũng có trình độ tin học khá cơ bản, có thể sử dụng các chương trình ứng dụng nêu trên và dành cho tin học văn học Hàng năm, Học viện Tư pháp lại có các chương trình bồi dưỡng nâng cao trình độ tin học cho các cán bộ, giảng viên
Nhìn lại quá trình lịch sử và cho đến hiện nay, chúng ta hiện đang áp dụng những biện pháp, giải pháp ứng dụng CNTT sau đây:
- Ứng dụng CNTT vào hoạt động giảng dạy thông qua việc sử dụng phần mềm trình chiếu Power Point, các đoạn video clips tình huống;
- Ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý đào tạo như cấp mã vạch thẻ học viên, điểm danh học viên, quản lý điểm thi
- Ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý thư viện
- Ứng dụng CNTT vào hoạt động kết nối thông tin và đặt viên gạch đầu tiên vào quá trình tạo cơ sở hình thành học liệu mở như đưa đề cương bài giảng, hồ sơ tình huống, phân lịch giảng dạy, các hội thảo, họp trực tuyến thông qua video conference
Từ thực tế ứng dụng các giải pháp ứng dụng CNTT nêu trên, chúng ta có thể rút ra một số đánh giá sau đây:
- Học viện Tư pháp đã rất chú trọng đến vai trò và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo các chức danh tư
Trang 13pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho ngành;
- Học viện Tư pháp đã tiến hành triển khai ứng dụng một số giải pháp, biện pháp ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp;
Tuy nhiên, so với yêu cầu mà nhu cầu đòi hỏi, các giải pháp ứng dụng CNTT tại Học viện Tư pháp còn có những khó khăn nhất định, thể hiện trên những điểm sau đây:
Một là: Các giải pháp ứng dụng CNTT trong hoạt động đào
tạo các chức danh tư pháp còn nghèo nàn và lạc hậu, chưa thực hiện đầy đủ và đồng bộ các giải pháp ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo
- Chưa thực sự xây dựng được hệ thống học liệu mở Hệ thống học liệu mở là hệ thống mà ở đó toàn bộ các tài liệu, thông tin liên quan đến quá trình đào tạo được cung cấp cho mọi đối tượng Chương trình, lịch học, kết quả đánh giá, giáo trình, hồ
sơ tình huống, tài liệu tham khảo, Văn bản pháp luật liên quan, các thông báo trong quá trình đào tạo cần được số hoá để ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, các đối tượng liên quan như giảng viên, học viên, những người quan tâm đến Học viện Tư pháp đều có truy cập để nghiên cứu
- Chưa có hệ thống thư viện điện tử,vì thế giải pháp duy nhất mà các giảng viên, học viên muốn nghiên cứu tìm đọc tài liệu vẫn
là truyền thống, đến thư viện và tra cứu trên cơ sở Văn bản giấy
- Chưa triển khai thực hiện được việc ứng dụng video conference vào trong hoạt động họp tổ bổ môn giữa Hà Nội và
cơ sở Thành phố Hồ Chí Minh, cũng chưa tiến hành các buổi giảng trực tuyến mặc dù đã từng thí điểm
- Chưa có hệ thống intranet để có thể thuận tiện trao đổi thông tin, cung cấp thông tin trong nội bộ cơ sở đào tạo
Trang 14Đây là những vấn đề lớn mà bất cứ cơ sở đào tạo nào nếu muốn phát triển vì chất lượng đều cần chú ý, quan tâm đến các vấn
đề trên Hệ thống học liệu mở, thư viện điện tử, đào tạo trực tuyến và chia sẻ thông tin là tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo của một cơ
sở đào tạo trong kỷ nguyên số
Hai là: Chất lượng của các giải pháp ứng dụng CNTT hiện tại
tại Học viện Tư pháp chưa cao
Mặc dù chúng ta đã có một số giải pháp, biện pháp ứng dụng CNTT song chất lượng và hiệu quả ứng dụng của các giải pháp này không cao Phần mềm thư viện của chúng ta đã quá cũ và lạc hậu Vì thế, chức năng chủ yếu của phần mềm này chỉ để nhằm quản lý tình trạng mượn sách, hồ sơ, tài liệu của học viên, giảng viên Ngay cả việc quản lý này thì chức năng của phần mềm này cũng rất hạn chế, chức năng tìm kiếm phân loại theo các tiêu chí khác nhau khá hạn chế Nhiều nội dung của quản lý thư viện lại không được đề cập trong phần mềm này
Hệ thống trang web của chúng ta được thiết kế rất hẹp Vì thế việc chia sẻ thông tin, đưa các tài liệu cần thiết theo phân tầng cấp bậc rất bị hạn chế, gây khó khăn, cản trở, không thuận tiện trong tìm kiếm, đưa tài liệu, thông tin lên website
Phần mềm quản lý học viên không được xây dựng thống nhất
và có sự tách rời giữa các hoạt động quản lý như quản lý giảng viên, quản lý điểm danh, quản lý kết quả đánh giá học viên Vì thế, người lãnh đạo không được chia sẻ thông tin kịp thời, không thể cập nhật các số liệu hàng ngày mà hoàn toàn phụ thuộc vào báo cáo của cấp dưới Mặc dù có thông tin nhưng thông tin lại bị khoanh vùng trong
bộ phận người quản lý, vì thế người quản lý có thể tự do và tuỳ tiện trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ, từ đó có thể gây ra những vấn đề không khách quan, minh bạch trong hoạt động đào tạo
Chất lượng các buổi trình chiếu để giảng bài, các buổi họp truyền hình trực tuyến chưa cao do hạ tầng kỹ thuật còn yếu, nhiều trang thiết bị
Trang 15Ba là: chưa có sự kết nối của việc ứng dụng các giải pháp
CNTT với nhau Các giải pháp hiện nay đang áp dụng hoàn toàn tách rời nhau, thiếu đồng bộ, không có sự kết nối, liên kết với nhau, vì thế tạo nên tình trạng bờ vùng bờ thửa trong từng hoạt động đào tạo; đồng thời nếu muốn tạo nên hệ thống cơ sở dữ liệu chung của các lĩnh vực lại đòi hỏi nguồn nhân lực rất lớn và chi phí thời gian rất nhiều
1.3 Đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp và yêu cầu ứng dụng CNTT nâng cao chất lượng đào tạo độ ngũ cán bộ tư pháp phục
vụ chiến lược cải cách tư pháp
1.3.1 Đào tạo đội ngũ cán bộ tư pháp
một mục tiêu lớn của Đảng và Nhà nước ta Cải cách tư pháp đã trở thành một nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trong đó xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh và đổi mới công tác đào tạo cán bộ tư pháp là những nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược quyết định sự thành công của sự nghiệp cải cách tư pháp
Mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh, đủ về số lượng, giỏi về kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, có phẩm chất đạo đức trong sáng đã được đề cập trong nhiều Văn bản của Đảng và Nhà nước thời gian qua Nghị quyết hội nghị lần thứ 07 Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá
VIII khẳng định "Củng cố, kiện toàn bộ máy các cơ quan tư pháp xây dựng một đội ngũ thẩm phán, thư ký Toà án, chấp hành viên, công chứng viên, giám định viên, luật sư có phẩm chất chính trị và đạo đức, chí công vô tư, có nghiệp vụ vững vàng, bảo đảm cho bộ máy trong sạch, vững mạnh" Nghị quyết số 08-NQ/TW chỉ đạo cụ thể việc ˝Rà soát lại đội ngũ cán bộ tư pháp để xây dựng đội ngũ cán
bộ tư pháp trong sạch vững mạnh Nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức và nghề nghiệp chuyên môn của cán bộ tư pháp " Sau hơn
ba năm thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, công cuộc cải cách tư pháp đã và đang được tiến hành với một quyết tâm cao, có sự chỉ đạo
Trang 16thống nhất và đạt được những kết quả nhất định: tạo ra sự biến tích cực trong tổ chức và hoạt động; chất lượng hoạt động của cán bộ tư pháp đã được nâng lên một bước đáng kể Tuy vậy, những chuyển biến này vẫn chưa đáp ứng được các đòi hỏi và yêu cầu Chính vì vậy, ngày 02 tháng 6 năm 2005, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW
về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Đánh giá về những
tồn tại và hạn chế của đội ngũ cán bộ tư pháp, Nghị quyết đã chỉ rõ:
"Đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp
vụ và bản lĩnh chính trị của một bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí một số cán bộ sa sút về phẩm chất đạo đức và trách nhiệm nghề nghiệp" Trên cơ sở đó, Nghị quyết đã đề ra mục tiêu: "Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao
và cụ thể hoá tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ; tiến tới thực hiện chế độ thi tuyển đối với một số chức danh"
Khi đặt ra các nhiệm vụ để phát triển hệ thống đào tạo nguồn nhân lực làm công tác pháp luật, Kế hoạch thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 (giai đoạn 2007 - 2012) số 900/UBTVQH11 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 21/3/2007 cũng khẳng định sự cần thiết phải: “Đẩy mạnh giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên và học viên dưới nhiều hình thức khác nhau, bảo đảm để khi trở thành thẩm phán, kiểm sát viên, luật
sư, các chức danh tư pháp khác, họ là người có đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp phù hợp với yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”
Trên cơ sở mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ
tư pháp trong sạch vững mạnh, Nghị quyết 49-NQ/TW đã chỉ ra các
nhiệm vụ cụ thể "Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cử nhân luật, đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ
tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập
Trang 17nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất đạo đức trong sạch, vững mạnh, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” Kế hoạch 900/UBTVQH11 tiếp tục nhấn mạnh: “Đổi
mới mục tiêu, nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo cán bộ pháp luật, đặc biệt là cán bộ tư pháp và cán bộ pháp chế các bộ, ngành” Và một trong các giải pháp thực hiện được mục tiêu trên,
Nghị quyết 49-NQ/TW đã đặt ra nhiệm vụ: Xây dựng Học viện Tư pháp thành Trung tâm lớn về đào tạo cán bộ tư pháp
Học viện Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp được Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định thành lập ngày 25/02/2004 trên cơ sở Trường Đào tạo các chức danh tư pháp Theo Quyết định số 23/2004/QĐ-TTg, Học viện Tư pháp là cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học trực thuộc Bộ Tư pháp có chức năng, có nhiệm vụ đào tạo nghiệp vụ thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư, chấp hành viên, công chứng viên và các chức danh tư pháp khác Đặc thù trong hoạt động đào tạo của Học viện Tư pháp là nhằm trang bị kỹ năng nghề nghiệp và rèn luyện đạo đức nghề nghiệp cho các cán bộ tư pháp Mục tiêu của quá trình đào tạo tại Học viện là tạo ra một đội ngũ cán bộ tư pháp có phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh chính trị, am hiểu pháp luật, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ ngang tầm với yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp Để cập nhật kiến thức pháp luật và đào tạo chuyên môn nghiệp
vụ cho học viên có chức danh tư pháp, Học viện thực hiện phương pháp dạy học: Không giảng lý thuyết thuần tuý mà chỉ cập nhật kiến thức mới; Sử dụng hồ sơ thực tế (sau khi đã được lựa chọn và biên tập lại cho phù hợp với yêu cầu dạy và học); Học viên học bài thông qua nhiều hình thức phong phú, sinh động như diễn án, toạ đàm, thực hành tại Trung tâm thực hành nghề luật, làm bài thi ; Rèn luyện các
kỹ năng hành nghề cho học viên bằng thi hùng biện, viết tiểu luận, soạn thảo Văn bản
Đó chính là phương pháp đào tạo tích cực trong tư duy giáo
dục hiện đại Thể hiện phương pháp này đối với người học là: Nghe:
nghe giảng bài, nghe tranh luận, thảo luận; Nhìn: xem thảo luận các
Trang 18đoạn phim ngắn, các đoạn video minh hoạ, các bộ phim về phiên toà, điều tra, bào chữa; Nói: đối thoại trực tiếp với giáo viên, với đồng nghiệp trên lớp, tham gia thi hùng biện, diễn án, hội thảo; Viết: làm các bài thi, viết tiểu luận, viết bài bào chữa, bản án và các Văn bản tố tụng; Thực hành: đóng vai các chức danh tư pháp trong các phiên toà giả định, tư vấn trực tiếp cho khách hàng tại Trung tâm thực hành nghề luật Để là đòn bẩy cho các phương pháp trên, Học viện Tư pháp đã sử dụng song giảng (một giảng viên lý thuyết và một giảng viên thực hành cùng giảng); giảng bằng phiếu kỹ thuật, giảng dạy thông qua hồ sơ và giải quyết tình huống và sử dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy
1.3.2 Ứng dụng CNTT trong đào tạo các chức danh tư pháp
Chủ trương của Đảng, Nhà nước ta phấn đấu đưa CNTT đạt trình độ tiên tiến trong khu vực với các yêu cầu: CNTT được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực nhằm tạo một bước chuyển biến mạnh mẽ về năng suất, chất lượng, hiệu quả trên các lĩnh vực hoạt động, thúc đẩy nhanh phát triển kinh tế; CNTT trở thành ngành kinh
tế mũi nhọn có đóng góp quan trọng cho tăng trưởng GDP của cả nước
Sớm nhận thức được vai trò to lớn của CNTT và đứng trước sự phát triển như vũ bão của CNTT, ngày 17/10/2000 Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số: 58-CT/TW về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT trong đó có đoạn viết “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác Giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ sở giáo dục và đào tạo” Các
cơ quan Nhà nước trong phạm vi điều chỉnh cũng đa ban hành nhiều Văn bản về tăng cường ứng dụng CNTT như: Nghị định 64/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 của Chính phủ về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước; Nghị định số 102/2009/NĐ-
CP ngày 6/11/2009 của Chính phủ về quản lý đầu tư ứng dụng CNTT
Trang 19sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển CNTT và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực CNTT đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Quyết định số 48/2009/QĐ-TTg ngày 31/03/2009 về việc ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009 – 2010;; Quyết định số 1605/QĐ-TTg ngày 27/8/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai
đoạn 2011-2015; Thông tư số 07/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010
quy định về sử dụng thư điện tử và trang tin điện tử trong các cơ sở giáo dục đại học; Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 22 tháng 09 năm
2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT và truyền thông”; Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ GDĐT về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn 2008-2012; Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo dục
Triển khai thực hiện ứng dụng CNTT, các bộ, ngành, địa phương đã xây dựng và ứng dụng công nghệ tin học vào công tác quản lý, điều hành của mình Bộ Tư pháp cũng đã triển khai nhiều dự
án áp dụng CNTT như: Xây dựng cổng thông tin điều hành và hàng loạt các phần mềm hỗ trợ hoạt động quản lý điều hành
Với chức năng, nhiệm vụ đào tạo các chức danh tư pháp, Học viện Tư pháp cần triển khai đồng bộ các dự án ứng dụng CNTT nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và hỗ trợ công tác quản lý, điều hành một cách có hiệu quả, nhằm tin học hoá các hoạt động quản lý, điều hành trong hoạt động đào tạo của Học viện Tư pháp đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ chiến lược cải cách tư pháp
Trang 20II QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU, NGUYÊN TẮC ỨNG DỤNG CNTT TRONG ĐÀO TẠO CÁC CHỨC DANH TƯ PHÁP
2.1 Quan điểm chỉ đạo
Nâng cao năng lực quản lý, điều hành trong hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp Đảm bảo các thông tin chỉ đạo, điều hành trong hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp được thực hiện thông qua môi trường mạng; cán bộ, công chức phải sử dụng thành thạo phần mềm ứng dụng quản lý Văn bản và điều hành trên môi trường mạng và sử dụng thư điện tử trong hoạt động chuyên môn, giảm thiểu việc sử dụng giấy tờ, in ấn tài liệu; sử dụng các hình thức truyền thông cơ bản như thư điện tử, điện thoại, fax, hội nghị và họp trên môi trường mạng, đưa thông tin lên trang thông tin điện tử để trao đổi thông tin ở khoảng cách xa
Nâng cao chất lượng giảng dạy bằng các phương tiện truyền thông đa phương tiện, như: thiết kế giáo trình, giáo án điện tử; giảng dạy bằng hình ảnh, video-clip, video bài học mẫu; giảng dạy trực tuyến…; sử dụng máy chiếu, máy tính bảng, các phần mềm hỗ trợ trong giảng dạy
Đảm bảo phục vụ học viên một cách tốt nhất với các dịch vụ cung cấp thông tin, cung cấp tài liệu giảng dạy và học tập trên môi trường mạng; Hỗ trợ học viên được trao đổi chuyên môn trên môi trường mạng
Ứng dụng CNTT trên cơ sở hạ tầng CNTT hiện có, có thể tích hợp và sử dụng hệ thống CNTT của Bộ Tư pháp và các cơ quan hữu quan, bảo đảm tiết kiệm chi phí và đáp ứng được yêu cầu đồng bộ hoá cơ sở dự liệu
2.2 Mục tiêu
2.2.1 Mục tiêu tổng quát
- Phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng CNTT đảm bảo cho các hoạt động ứng dụng CNTT trong các hoạt động đào tạo các
Trang 21chức danh tư pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý điều hành, nâng cao hiệu quả, giảm chi phí hoạt động và không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo các chức danh tư pháp phục vụ chiến lược cải cách tư pháp;
- Tạo môi trường cung cấp và trao đổi thông tin, cung cấp dịch
vụ công trực tuyến mức độ cao, trên diện rộng cho người học, tạo sự minh bạch trong hoạt động đào tạo các chức danh tư pháp, phục vụ và đáp ứng nhu cầu của học viên;
- Phát triển và hoàn thiện các hệ thống cơ sở dữ liệu về đào tạo các chức danh tư pháp, bảo đảm tính cấu trúc, hệ thống, tạo môi trường làm việc điện tử rộng khắp giữa các cơ quan quản
lý, cơ sở đào tạo, cơ quan sử dụng lao động, cán bộ, giảng viên
và học viên
2.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống mạng LAN/WAN của Học viện Tư pháp với hệ thống sever và các phần mềm ứng dụng, bảo đảm thực hiện được các dịch vụ quan trọng trong mô hình làm việc trên mạng máy tính, phân chia quyền truy cập thông tin, đảm bảo tính bảo mật trong môi trường chia sẻ trên mạng
sẽ được thực hiện tối ưu nhất;
- Xây dựng các phần mềm ứng dụng vào các hoạt động quản lý, điều hành áp dụng có hiệu quả vào các hoạt động của Học viện
Tư pháp; Thống nhất và tin học hoá các quy trình hoạt động tác nghiệp, các hình thức tiếp nhận, lưu trữ, phổ cập, trao đổi, tìm kiếm, xử lý thông tin, giải quyết công việc trong Học viện Tư pháp để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác điều hành của lãnh đạo, các hoạt động tác nghiệp của cán bộ, công chức;
- Tạo môi trường cung cấp và trao đổi thông tin trên mạng Internet, giúp cán bộ, giảng viên quản lý các hoạt động đào tạo một cách khoa học; trợ giúp Lãnh đạo Học viện Tư pháp nhanh
Trang 22chóng nắm được thông tin về kế hoạch thực hiện, thông tin về cán bộ, nghiên cứu khoa học, tài chính, sinh viên; giúp giảng viên xem lịch giảng dạy, giúp học viên đăng ký lớp học tín chỉ, xem kết quả học tập; tạo môi trường để giảng viên, học viên có thể cung cấp giáo trình, tài liệu học tập; trao đổi thông tin và các dịch vụ công trực tuyến phục vụ cho công tác đào tạo;
- Thiết lập kho cơ sở dữ liệu về đào tạo chức danh tư pháp đáp ứng yêu cầu lưu trữ và tìm kiếm thông tin về đào tạo chức danh
tư pháp, như: thông tin về học viên, giảng viên, thông tin về văn bằng, chứng chỉ đào tạo, thông tin về thông tin về giáo trình, hồ sơ tình huống, tài liệu giảng dạy, thông tin về các đề tài và công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến đào tạo các chức danh tư pháp…;
- Tịc hợp và đồng bộ thư viện điện tử của Học viện Tư pháp với các thư viện về pháp luật trong nước; mở rộng các hình thức cung cấp thông tin thư viện, như: xây dựng các CD tài liệu, từng bước cung cấp các tài liệu số hoá lên mạng Internet nhằm tạo điệu kiện tói đa cho người học đáp ứng yêu cầu tra cứu của giảng viên và học viên;
- Thay đổi tư duy về phương pháp đào tạo thông qua ứng dụng những thành tựu CNTT vào hoạt động giảng, như: sử dụng những thiết bị truyền thông đa phương tiện; thiết kế bài giảng sống động với âm thanh, hình ảnh, video-clip làm cho học sinh
dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý
- Tạo môi trường làm việc thân thiện, thu hẹp khoảng cách giữa
giảng viên và học viên thông qua môi trường mạng
Trang 23lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trong lĩnh vực CNTT và truyền thông, song cần có những đột phá trong phát triển với những mục tiêu cao hơn, tốc độ nhanh hơn
- Phát triển hợp lý cả chiều rộng và chiều sâu, số lượng và chất lượng trên cơ sở phát huy nội lực, sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, tận dụng tri thức và các nguồn lực quốc tế
- Bảo đảm tương thích về công nghệ trong hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước, tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn
kỹ thuật quy định bảo đảm sự tương thích, thông suốt và an toàn giữa cơ quan quản lý, các cơ sở đào tạo pháp luật, trung cấp luật và đào tạo các chức danh tư pháp trong quá trình chia
sẻ, trao đổi thông tin
- Có kế hoạch với mục đích sử dụng rõ ràng, nội dung phù hợp, chính xác, kịp thời, hiệu quả; hạn chế tối đa việc thu thập lại cùng một nguồn dữ liệu; tận dụng nguồn dữ liệu sẵn có; ưu tiên mục tiêu sử dụng dài hạn; ưu tiên dữ liệu có thể dùng cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau
- Quy định rõ các điều kiện truy nhập, cập nhật dữ liệu và bảo đảm việc quản lý, truy nhập, cập nhật và tìm kiếm dữ liệu dễ dàng; áp dụng các mức bảo vệ phù hợp theo đúng phân loại thông tin; quy định rõ các điều kiện duy trì dữ liệu bao gồm cả việc thay đổi, huỷ bỏ dữ liệu Thường xuyên đánh giá các điều kiện bảo đảm an toàn cho dữ liệu
- Bảo đảm truy nhập thông tin và khai thác dịch vụ hành chính công tạo các điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân dễ dàng truy nhập thông tin và dịch vụ hành chính công trên môi trường mạng
Trang 24III HỆ THỐNG CÁC BIỆN PHÁP ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
Như trên đã đề cập, CNTT có thể được ứng dụng đến mọi vấn
đề, mọi lĩnh vực của đời sống xã hội kể cả hoạt động đào tạo Hoạt động đào tạo có thể được hiểu theo hai nghĩa khác nhau
Ở nghĩa hẹp, hoạt động đào tạo chỉ nhằm đến hoạt động giảng
dạy và học tập của học viên Vì thế, việc ứng dụng CNTT nếu có cũng chỉ liên quan 2 quá trình này Trong 2 hoạt động này, việc ứng dụng CNTT có thể được sử dụng trong các mặt sau đây:
Đối với giảng viên
- Quản lý hồ sơ giảng viên;
- Quản lý giảng viên như phân công và theo dõi lịch giảng, quản
lý giờ giảng;
- Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập;
- Xây dựng và ứng dụng các bài giảng điện tử, giáo án điện tử, giáo trình điện tử;
- Xây dựng các video clips ứng dụng trong các tình huống nghiên cứu, tình huống giảng dạy;
- Giảng bài trực tuyến thông qua skype hoặc video conference;
- Tiến hành các cuộc hội thảo, họp, thảo luận tổ, tổng kết rút kinh nghiệm trực tuyến
Đối với học viên
- Quản lý điểm danh, hồ sơ học viên, cấp mã số thẻ học viên;
- Quản lý kết quả học tập của học viên;
- Quản lý lịch học của học viên;
- Quản lý việc mượn, đọc giáo trình tài liệu (thư viện)
Ở nghĩa rộng, hoạt động đào tạo bao gồm tổng thể tất cả các
hoạt động liên quan đến quá trình đào tạo, có nghĩa rằng trực tiếp hay gián tiếp đều liên quan đến quá trình giảng dạy và học tập của học
Trang 25viên Với quan niệm như vậy, việc ứng dụng CNTT vào hoạt động đào tạo có thể triển khai trên mọi mặt hoạt động của cơ sở đào tạo như: Quản
lý chương trình đào tạo; lập
kế hoạch giảng dạy, học tập, đánh giá kết quả học tập (thời khoá biểu); quản lý tài nguyên như thư viện; hỗ trợ hoạt động quản lý điều hành; quản lý văn thư lưu trữ; quản
lý tài chính; quản lý hành chính và nhân sự; quản lý cơ sở vật chất: Quản lý phòng học, trang thiết bị phục vụ đào tạo
Các phân hệ này có thể được chuẩn hoá theo qui trình riêng và các ứng dụng có thể chạy trên các CSDL cục bộ (ví dụ như chương trình quản lý tài chính có thể có CSDL riêng về quá trình nộp học phí của học viên và chạy trên máy của phòng tài vụ) Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là các ứng dụng này phải được tích hợp trong một hệ thống nhất có thể trao đổi thông tin với nhau (ví dụ như CSDL về việc nộp học phí của học viên phải được chia sẻ cho ứng dụng của phân hệ đào tạo để biết lên lịch học hay thi) để cùng cung cấp thông tin cho lãnh đạo quản lý Phân hệ điểm danh sẽ phải được liên kết, kết nối với phân hệ quản lý hành chính để lãnh đạo có thể nắm bắt được tình hình, kết nối với giảng dạy để có thể xác định những ai đủ điều kiện dự thi học phần, tốt nghiệp
Như vậy, các biện pháp ứng dụng CNTT trong hoạt động đào tạo là rất đa dạng và phong phú Song, trong phạm vi giới hạn nhất của hoạt động đào tạo, theo tinh thần chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Công văn số 9886/BGDĐT –CNTT ngày 11 tháng 11 năm 2009, việc ứng dụng CNTT tại các cơ sở đào tạo có những giải
pháp sau đây:
Trang 263.1 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng quản lý điều hành
Mục tiêu: (i) Thống nhất và tin học hoá các quy trình hoạt động
tác nghiệp, các hình thức tiếp nhận, lưu trữ, phổ cập, trao đổi, tìm kiếm, xử lý thông tin, giải quyết công việc trong các CQNN để nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác điều hành của lãnh đạo, các hoạt động tác nghiệp của cán bộ, công chức; (ii) Xây dựng hệ thống các kho Văn bản điện tử, khắc phục một cách cơ bản tình trạng cát cứ thông tin, cung cấp thông tin về Văn bản phục vụ yêu cầu của lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn một cách thuận tiện, chính xác, đầy đủ và kịp thời; (iii) Nâng cao trình độ ứng dụng và sử dụng các công cụ CNTT, từng bước tạo ra thói quen làm việc trong môi trường mạng và sử dụng thông tin điện tử, bên cạnh đó nâng cao trình độ quản lý, góp phần tạo thay đổi đột phá trong các quy trình
xử lý thông tin, giải quyết công việc của cán bộ, công chức với sự hỗ trợ hiệu quả của các phần mềm hoạt động trên mạng, từng bước góp phần thực hiện cải cách hành chính; (iv) Quản lý toàn bộ các Văn bản của cơ quan bao gồm các Văn bản đến, Văn bản đi, Văn bản nội
bộ, Văn bản dự thảo, thực hiện gửi và nhận Văn bản với các cơ quan, tổ chức, cá nhân bên trong và bên ngoài thông qua môi trường mạng; (v) Quản lý toàn bộ các dữ liệu phát sinh trong quá trình luân chuyển và xử lý Văn bản bao gồm các phiếu giao việc, phiếu trình, phiếu xử lý, các ý kiến trao đổi góp ý trong quá trình xử lý Văn bản trên hệ thống mạng (vi) Tạo lập và quản lý các hồ sơ xử lý Văn bản, thiết lập luồng xử lý để có thể theo dõi vết xử lý Văn bản, lưu lại toàn bộ quá trình xử lý cũng như hồi báo của Văn bản trên hệ thống
Trang 27mạng; (vii) Tạo lập và quản lý các loại báo cáo về các tình hình luân chuyển, quản lý và xử lý, theo dõi xử lý Văn bản, kết xuất các thông tin tổng hợp nhằm phục vụ kịp thời công tác điều hành, tác nghiệp của lãnh đạo cũng như của các cán bộ trong cơ quan; (viii) Chuẩn hóa, tạo lập và lưu trữ các thông tin danh mục nhằm quản lý các đối tượng tham gia vào hệ thống, trợ giúp việc nhập Văn bản và hỗ trợ việc phân xử lý các loại Văn bản theo thẩm quyền giải quyết
Yêu cầu chức năng: Yêu cầu chức năng của hệ thống Văn bản
và điều hành là danh sách các chức năng tối thiểu mà hệ thống Văn bản và điều hành cần có để thực hiện được các mục tiêu ở trên, cụ thể bao gồm:
1 Quản trị danh
mục Cho phép tạo lập, quản lý các danh mục cho người sử dụng, ví dụ danh mục sổ
Văn bản, Hồ sơ công việc, danh mục loại Văn bản, lĩnh vực, cơ quan, phòng ban, chức danh và các danh mục khác
Trang 28STT Tên chức năng Mô tả chi tiết
theo các trạng thái:
- Văn bản trong hạn đã xử lý
- Văn bản trong hạn đang xử lý
- Văn bản trong hạn chưa xử lý
- Văn bản quá hạn đã xử lý
- Văn bản quá hạn đang xử lý
- Văn bản quá hạn chưa xử lý
- Tạo lập dự thảo Văn bản đi
- Chỉnh sửa dự thảo Văn bản đi
- Thẩm tra Văn bản đi
- Tra cứu, tìm kiếm dự thảo Văn bản
đi
- Cho phép ghi vết xử lý Văn bản
- Và các chức năng khác 3.2 Quản lý quá
- Tra cứu, tìm kiếm Văn bản đi
4 Quản lý giao
việc
Trang 29STT Tên chức năng Mô tả chi tiết
4.1 Tạo công việc
và giao việc Thực hiện theo quy trình điện tử đã được phê duyệt trong thiết kế
trạng xử lý
công việc
Cho phép Lãnh đạo theo dõi tình trạng xử
lý công việc theo 4 trạng thái sau:
- Công việc trong hạn đang xử lý
- Công việc trong hạn chưa phân xử
lý
- Công việc quá hạn đã phân xử lý
- Công việc quá hạn chưa phân xử lý Cho phép lưu lại toàn bộ các thông tin trao đổi giữa các thành viên liên quan đến công việc trong quá trình xử lý
5 Quản lý Văn
bản nội bộ
Quản lý Văn bản nội bộ thực hiện các chức năng:
- Tạo lập Văn bản nội bộ
- Chỉnh sửa, xóa Văn bản nội bộ
- Chuyển Văn thư cấp số/ hoặc trực tiếp chuyển sang các đơn vị cần thống báo, cần xin ý kiến
- Tra cứu, tìm kiếm Văn bản nội bộ
- Lập thư mục lưu Hồ sơ công việc
- Sửa/xóa thư mục lưu Hồ sơ công việc
- Phân quyền thư mục Hồ sơ công việc 6.2 Quản lý Hồ sơ
công việc Quản lý Hồ sơ công việc bao gồm: - Tạo lập Hồ sơ công việc: HS xử lý
Văn bản, HS giải quyết công việc,
HS soạn thảo Văn bản, HS Văn bản liên quan, HS theo dõi hồi báo, …
Trang 30STT Tên chức năng Mô tả chi tiết
- Sửa/xóa Hồ sơ công việc
- Phân quyền Hồ sơ công việc
- Gắn/bỏ các tài liệu trong HS
- Cập nhật kết quả xử lý Hồ sơ công việc
- Theo thời gian
- Theo đơn vị/ theo cá nhân
Yêu cầu tính năng kỹ thuật: (i) Nguyên tắc xây dựng phải đảm
bảo khách quan, hướng tới một hệ thống mở; đảm bảo khả năng kế thừa, tích hợp và liên thông giữa các sản phẩm phần mềm quản lý Văn bản và điều hành điện tử; đảm bảo khả năng nâng cấp của hệ thống sau này; phù hợp với Văn bản pháp quy về quản lý văn thư, lưu trữ, định hướng quy trình quản lý chất lượng ISO 9001:2000 theo Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước (ii)Yêu cầu tính năng kỹ thuật đáp ứng là những yêu cầu và điều kiện cần thiết để hệ thống Văn bản và điều hành có thể thực hiện được yêu cầu chức năng trong mục 2 và đảm bảo khả năng triển khai hệ thống Văn bản và điều hành Yêu cầu kỹ thuật đáp ứng được chia thành 2 nhóm: yêu cầu về tính năng kỹ thuật cần có và yêu cầu tính năng kỹ thuật nên có (xem bảng sau)
Danh sách các tính năng kỹ thuật cần có
Trang 31STT Nội dung yêu cầu
Yêu cầu chung
1 Phải tuân thủ các yêu cầu quy định pháp luật hiện
hành về văn thư, lưu trữ; phù hợp các yêu cầu về quy trình nghiệp vụ trên thực tế (định hướng áp dụng quy trình cải cách hành chính theo ISO 9001:2000)
Văn bản đi, đến và nội bộ
3 Phải có kiến trúc, thiết kế mở để dễ dàng nâng cấp
đáp ứng sự mở rộng về quy mô của tổ chức, công việc, dẫn tới mở rộng mức độ nghiệp vụ, số lượng người tham gia hệ thống, dung lượng lưu trữ dữ liệu
thống đảm bảo tuân thủ các nguyên tắc bảo mật và
an toàn dữ liệu, chống được sự thâm nhập trái phép vào hệ thống
5 Hệ thống được thiết kế, xây dựng và triển khai phải
tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật về kết nối hệ thống, tích hợp dữ liệu, đặc tả dữ liệu và truy xuất thông tin quy định tại quyết định số 19/2008/QĐ-BTTTT, 20/2008/QĐ-BTTTT
Yêu cầu kỹ thuật
mạng có phân vùng bảo mật nhiều lớp, có khả năng tích hợp và xác thực thông qua các hệ thống danh bạ điện tử như AD, LDAP
diện rộng, tối thiểu đáp ứng với các hạ tầng đường truyền khác nhau như Dial-up
Trang 32STT Nội dung yêu cầu
theo mô hình máy chủ ứng dụng và máy chủ cơ sở
dữ liệu
mở rộng thêm các điểm kết nối vào hệ thống để gửi nhận Văn bản dễ dàng và nhanh chóng mà không làm ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống
hình máy chủ chính và máy chủ sao lưu (mô hình hệ thống cluster) để đảm bảo cơ chế cân bằng tải, sao lưu dữ liệu tức thời giữa các máy chủ chính và máy chủ sao lưu
11 Có công cụ để sao lưu dữ liệu định kỳ và đột xuất
12 Có cơ chế phục hồi dữ liệu khi hệ thống gặp sự cố
Yêu cầu về lưu trữ dữ liệu
lượng lớn, tính ổn định cao
nhau như dữ liệu có cấu trúc, dữ liệu phi cấu trúc được lưu trữ dưới dạng tệp gắn kèm (dữ liệu tệp Văn bản, dữ liệu phim, ảnh, âm thanh)
search) trong toàn bộ các CSDL
Khuyến nghị cả trong các tệp đính kèm toàn bộ nội dung Văn bản
Yêu cầu về an toàn, bảo mật
Trang 33STT Nội dung yêu cầu
nhiều mức: mức mạng, mức xác thực người sử dụng
và mức CSDL
Yêu cầu về giao diện
Bố cục giao diện hợp lý giúp cho các thao tác nhập
và tra cứu dữ liệu nhanh và thuận tiện
phú, đầy đủ, và được bố trí hợp lý trên giao diện đáp ứng phục vụ tất cả các nhu cầu quản lý và xử lý Văn bản của cơ quan
20 Với mỗi người dùng sẽ hiển thị các chức năng tương
ứng với phần việc chuyên trách của mình, giúp người dùng sử dụng dễ dàng và hiệu quả Ngoài ra còn có các chức năng nhắc việc cần làm tương ứng với nhiệm vụ của mỗi đối tượng khi đăng nhập vào
hệ thống
Yêu cầu về trao đổi và tích hợp
hệ thống thông tin khác và chấp nhận đầu vào từ các
hệ thống thông tin khác theo chuẩn XML để phục vụ quá trình trao đổi thông tin
Danh sách các tính năng kỹ thuật nên có
STT Nội dung yêu cầu
Yêu cầu kỹ thuật
môi trường hệ điều hành nền cơ bản như hệ điều hành MS Windows Server, Linux,…
Trang 34STT Nội dung yêu cầu
mềm và các CSDL trên máy chủ Người dùng truy cập và khai thác phần mềm thông qua các trình duyệt web
3 Tương thích với các trình duyệt Web thông dụng
khi trao đổi dữ liệu giữa các điểm trong hệ thống và giữa hệ thống với các hệ thống thông tin khác trên mạng diện rộng, chuẩn mã hóa trên đường truyền căn cứ theo quyết định số 19/2008/QĐ-BTTTT, 20/2008/QĐ-BTTTT
nhập của người sử dụng theo phiên làm việc để phục
vụ công tác chuẩn đoán và sửa chữa lỗi khi hệ thống gặp sự cố bất thường
Yêu cầu về lưu trữ dữ liệu
gian để giảm tải dung lượng, tuy nhiên vẫn đảm bảo
cơ chế tìm kiếm, tra cứu dữ liệu thông suốt trên toàn
bộ các CSDL
Yêu cầu về an toàn, bảo mật
7 Hệ thống phải đáp ứng khả năng bảo mật tại mức
chứng thực của các máy chủ trong hệ thống
CSDL hoặc thư mục, được mã hóa và phân quyền truy cập chặt chẽ
Yêu cầu về giao diện
9 Có cung cấp tối đa các loại dữ liệu danh mục, hỗ trợ
Trang 35STT Nội dung yêu cầu
cho các thao tác nhập liệu và tìm kiếm dữ liệu nhanh
và chính xác Tự động hóa tối đa các quá trình thao tác với dữ liệu
Yêu cầu về trao đổi và tích hợp
phục vụ công tác lập báo cáo theo quy định hiện hành, theo quy định nội bộ của cơ quan, đồng thời cung cấp dữ liệu theo các khuôn dạng thống nhất phục vụ quy trình trao đổi thông tin với các hệ thống khác
Cấu trúc dữ liệu của tệp XML được xác định tùy thuộc vào nhu cầu trao đổi thông tin của các hệ thống
Thủ tục trao đổi thông tin giữa hệ thống quản lý Văn bản và điều hành với các hệ thống thông tin khác cần
có sự thỏa thuận và thống nhất trước khi tiến hành kết nối các hệ thống
Ví dụ: khuôn dạng để trao đổi với các hệ thống khác
có cấu trúc như sau: Thông tin gốc, các thông tin dạng tệp và thông tin quản lý được đóng thành gói,
có thể ở dạng zip hoặc gzip (theo quy định tại Quyết định 19/2008/QĐ-BTTTT, 20/2008/QĐ-BTTTT); Sử dụng các giao thức trao đổi bên ngoài như S/MINE (theo quy định tại Quyết định 19/2008/QĐ-BTTTT, 20/2008/QĐ-BTTTT) để truyền dữ liệu tới hệ thống khác; Và ngược lại
Triển khai: Hiện nay, Cục CNTT Bộ Tư pháp đã triển khai áp
dụng Hệ thống phần mềm quản lý Văn bản và điều hành Dự án được triển khai đến các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp Phần mềm này có các chức năng đáp ứng được các yêu cầu trên Học viện Tư pháp cần
Trang 36phối hợp với Cục CNTT để triển khai có hiệu quả phần mềm vào hoạt động quản lý điều hành tại Học viện Tư pháp
3.1.2 Áp dụng Phần mềm quản lý đào tạo
Phần mềm quản lý đào tạo là hệ thống chương trình được xây dựng trên mô hình client-server, cho phép quản lý tập trung tất cả các
dữ liệu liên quan đến hoạt động đào tạo của Học viện; Phần mềm có chức năng phân cấp cho phép tất cả các bộ phận, đối tượng trong học viện từ giáo viên, các cán bộ quản lý của các phòng ban, ban giám đốc Học viện đều có thể tham gia vào công tác xử lý, quản lý, khai thác dữ liệu đào tạo một cách hiệu quả nhất
Mục tiêu: Thực hiện việc quản lý một cách khoa học thông qua
công nghệ tin học; giảm thiểu thời gian làm việc của người lao động với sự hỗ trợ của hệ thống máy tính đã được lấp trình đúng yếu cầu Toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của các cán bộ sẽ được tự động hoá tối
đa và tích hợp trong một hệ thống thống nhất có thể trao đổi tương tác và hỗ trợ lẫn nhau, tạo ra một quy trình nghiệp vụ chuẩn của một khối quản lý, điều hành và tác nghiệp, tạo nên môi trường lao động
khoa học và hiện đại tiến tới hoà nhập vào hệ thống thông tin của toàn Học viện; Việc xây dựng hệ thống phần mềm Quản lý đào tạo là một phần quan trọng tạo cơ sở nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo
Trang 37và hỗ trợ một cách tốt nhất trong công tác quản lý, điều hành nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo
Yêu cầu: Phần mềm được xây dựng theo đúng các quy chế về
tổ chức tuyển sinh, đào tạo, kiểm tra, thi, tính điểm TBCHT, xét khen thưởng kỷ luật và công nhận tốt nghiệp Phần mềm được thiết kế mềm dẻo để dễ dàng sửa đổi các quy tắc tính điểm, xét khen thưởng,
kỷ luật, xét tốt nghiệp phù hợp với sự thay đổi của Học viện và quy định của các cơ quan quản lý Chương trình được xây dựng trên mô hình client-server, phần mềm cho phép quản lý tập trung tất cả các
dữ liệu liên quan đến hoạt động đào tạo của Học viện, của các phòng ban chức năng, giúp có được cái nhìn tổng thể về tình hình quản lý đào tạo, chất lượng đào tạo, và tình hình vi phạm kỷ luật trong phạm
vi toàn Học viện, trong nhiều năm học; Lớp giao diện đảm bảo hoạt động tương tác giữa người sử dụng với hệ thống thông tin, cung cấp giao diện chung cho các ứng dụng được phát triển tại lớp ứng dụng, chuẩn hoá giao diện cho toàn bộ hệ thống, phương tiện để nhập và xuất thông tin vào/ra khỏi hệ thống, tạo môi trường làm việc dễ dàng, hiệu quả cho người sử dụng
Các chức năng cơ bản: Phần mềm bám sát các quy trình
nghiệp vụ của các phòng, ban chức năng liên quan đến hoạt động quản lý đào tạo, tự động hoá và đơn giản hoá các quy trình nghiệp vụ nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầu quản lý Đáp ứng đầy đủ các yêu cầu tìm kiếm, thống kê, tổng hợp hồ sơ học viên, điểm thi các học phần,
vi phạm kỷ luật Nhanh chóng kết xuất ra các loại báo cáo khác nhau phục vụ cho công tác quản lý Các chức năng chính trong hệ thống quản lý học viên như: Phân hệ quản lý tuyển sinh (Quản lý hồ
sơ tuyển sinh, Xây dựng hệ thống hỗ trợ quản lý thi tuyển sinh);Phân
hệ quản lý học viên (Quản lý Lý lịch học viên; Quản lý khen thưởng,
kỷ luật; Tổ chức thi; Tổng hợp điểm các học phần theo kỳ, năm, toàn khoá học; Xét học viên tốt nghiệp và cấp chứng chỉ cho học viên; Quản lý nội, ngoại trú, thông tin nơi ở của học viên; Tìm kiếm thông tin của học viên; Quản lý học viên thôi, ngừng học, xét học tiếp; Xây dựng các báo cáo); Phân hệ Lập kế hoạch và xây dựng thời khoá biểu
Trang 38(Quản lý chương trình đào tạo khung; Nội dung đào tạo trong toàn khoá học ở mỗi hệ đào tạo của từng ngành đào tạo được thể hiện thành chương trình đào tạo; Cơ cấu môn học, thời gian đào tạo của môn học phục vụ cho việc theo dõi tiến độ giảng dạy của giáo viên sau này; Ký hiệu môn, tên môn học, số tiết, số đơn vị học trình Trên
cơ sở đó theo dõi tiến độ thực hiện kế hoạch đào tạo; Tiến độ thực hiện kế hoạch đào tạo tại bất kỳ thời điểm nào đó; Xem được thời điểm hiện tại những giáo viên nào đang dạy và dạy ở lớp nào; Kiểm tra xem giáo viên có dạy đúng tiến độ hay không; Có khả năng giúp cán bộ lập lịch nhanh chóng để xây dựng kế hoạch học tập của toàn Học viện trong một học kỳ hoặc cả năm học); Quản lý phòng học để
có thể nắm rõ được số lượng các phòng học để có thể bố trí phòng học một cách hợp lý Quản lý thông tin về học phí và phụ cấp giảng dạy như: Quản lý thu học phí, lệ phí thi cử, các khoản thu khác của nhà trường đối với học viên; thống kê toàn bộ giờ dạy của từng giáo viên trong toàn bộ học kỳ, hoặc tính đến một thời điểm nào đó; Thống kê giờ dạy toàn bộ môn; Quản lý giờ giảng dạy của giáo viên theo định mức, tính tiền vượt giờ so với định mức
sách ngạch công chức…
Phần mềm phải bảo đảm cho phép nhập và xử lý các thông tin
về lý lịch bản thân, hình ảnh và các hoạt động của cán bộ, công chức, giảng viên như: lý lịch công chức; chế độ lao động, ngạch lương và phụ cấp, bảo hiểm, khen thưởng, kỷ luật, quá trình đào tạo, bồi
Trang 39dưỡng, công tác của bản thân cán bộ, giảng viên, quá trình nghiên cứu khoa học, nhận xét cán bộ, giảng viên hàng năm, thuyên chuyển cán bộ, giảng viên…
Người sử dụng có thể khai thác thông tin của cán bộ, giảng viên liên quan đến đơn vị mình hoặc các cá nhân khác thông qua hệ thống quản lý khi người quản trị cho phép;
Quản lý các thông tin cơ bản về mỗi cán bộ, giảng viên trong Học viện Cung cấp thông tin nền cho các phân hệ khác trong hệ thống
3.1.4 Sử dụng có hiệu quả thiết bị truyền hình
Hội nghị truyền hình (họp, hội thảo, giảng dạy, tổ chức tập huấn, bồi dưỡng, hội giảng, trao đổi kinh nghiệm trực tuyến) là một
giải pháp cung cấp khả năng giao tiếp giữa các cá nhân hoặc nhóm người từ nhiều điểm khác nhau, qua âm thanh, hình ảnh và dữ liệu thời gian thực, thông qua mạng IP (Intranet, Internet,…) hay ISDN Hội nghị truyền hình cho phép trình chiếu, hiển thị các bảng biểu, tài liệu bằng cách kết nối hệ thống với thiết bị đầu vào (máy tính xách tay, máy tính để bàn, điện thoại di động, bảng trắng kỹ thuật số) và đầu ra (màn hình, loa )
Hội nghị truyền hình đáp ứng nhu cầu trao đổi thông tin đồng thời giữa hai hay nhiều địa điểm cách xa nhau Những lợi ích cơ bản khi sử dụng giải pháp này là: giảm thời gian và chi phí đi lại, sinh hoạt; lưu lại nội dung cuộc họp; tận dụng được các cơ sở hạ tầng mạng khác nhau; thông tin liên tục và toàn cầu; mang lại khả năng ứng biến tức thời
Trang 40Việc triển khai giải pháp hội nghị truyền hình cũng đơn giản vì
có thể triển khai ở các nơi có hạ tầng mạng Giải pháp này được kết cấu đơn giản, gọn nhẹ và tận dụng được phần lớn các thiết bị văn phòng Hội nghị truyền hình có thể được ứng dụng cho các mục đích: họp giữa các văn phòng cơ quan; trình diễn, giới thiệu sản phẩm mới
từ xa quản lý, điều khiển trong các khu trường sở bị phân tách về không gian; đào tạo nội bộ, liên kết giáo dục, đào tạo từ xa
Cần tiếp tủ nâng cấp hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến
và tăng cường sử dụng, cụ thể như:
- Tăng cường sử dụng thiết bị truyền hình trực tuyến trong các cuộc họp, giao ban, hội nghị để Cơ sở của Học viện Tư pháp tại thành phố Hồ Chí Minh được tham dự;
- Áp dụng thiết bị họp trực tuyến trong các cuộc họp chuyên môn của tổ giảng viên;
- Áp dụng thiết bị họp trực tuyến trong các cuộc đối thoại với học viên cả hai miền Nam, Bắc…