1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thien tay in van quan district langson province case studies

114 1 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thêm ‘Tay ở Văn Quan, Lạng Sơn (Qua nghiên cứu trường hợp bà Then Hoàng Thị Bỡnh)
Tác giả Nguyễn Thị Huệ
Người hướng dẫn G8.TS Nguyễn Đức Tờn
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Việt Nam học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó có cộng dang ‘fay, Ning ma cộng đồng các dân tộc anh em hiểu thêm về những người làm Then và vai trẻ của họ đổi với cộng đồng từ đó có thể có một cái nhin khách quan đổi với họ,

Trang 1

LOT CAM ON

Sau một thời gian học lập nghiên cửu, tôi đã hoàn luận văn Thạcsï Việt Nam học với dé tai: Them ‘Tay ở Văn Quan, Lạng Sơn (Qua nghiên cứu trường hợp bà Then Hoàng Thị Bình) Dễ hoàn thành luận văn này , tôi đã nhận được sự

thưởng dẫn, giúp đỡ quý báu của cáo thấy cô, các bọn và những người dân nơi địa ban tôi nghiên cứu Với lòng kinh trọng vả biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tố lới cảm ơn chân thành tới:

G8.TS Nguyễn Đức Tên, người thây đáng kinh đã hết lòng giúp đỡ —, dạy báo, động viên và tạo mợi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quả trình học tậ p và hoàn thành luận văn

Ba Thon Hoàng Thị Bình và các Then, Mo khác ở Văn Quan, các cán bộ huyện Văn Quan, cán bộ xã Dại An, thị trắn Van Quan, đã cung cấp những tài liệu quý báu giúp tôi hoàn thành luân văn này Đặc biệt, tôi muốn bảy sự câm on

sâu sắc lới gia đình ba Hoang Thi Binh da lao moi diểu kiện vật chải, tĩnh thân cũng

như giúp đỡ tôi trong quả trình thực địa

Xin cam ơn Ban lánh đạo, các cân bộ Viện Việt Nam học & Khoa học phát

triển ĐHQG Hà Nội đã tạo mọi diễu kiện thuận lợi gỉ úp dỡ tôi trong quá trình học

tập và hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn gia đình , cơ quan, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên,

giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này,

Hà Nội, ngày 23 thàng 11 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huệ

Trang 2

2 Lịch sử vấn đề sưu tâm, nghiên cứu Then

3 Mục đích và rhiệm vụ nghiên cứu

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5 Lỷ thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chuong t: TONG QUAN VE VUNG THEN TAY V4

LANG SON

1.1 Khái quát về địa bản nghiên cứu

1.1.1 Khải lược về điều kiện tư nhiên và kinh tế - xã hồi

1.1.2 Lịch sử huyện Văn Quan

1.1.3 Khái quát đời sảng văn hóa tín ngưỡng của người Tày Van

Quan

1.2 Một số vẫn đề cơ sử lý luận

1.2.1 Khải niệm tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng của người Tây

1.2.2 Khải niệm vùng văn hóa và vùng thể loại văn hóa dân gian

1.2.3 Khái niệm Shaman va thay Shaman

1.2.4 Then và một số khái niệm có liên quan

Chương 2: THÊ GIỚI ĐỜI SÔNG CỦA THEN TRONG XÃ

HỘI TẢY Ở VĂN QUAN, LẠNG SƠN

(QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BÀ THEN HOÀNG THỊ BÌNH)

2.1 Quả trình trở thành Theu của Người được chọn

2.1.1 Tiểu sử đời sống của người được chọn

3.1.3 Những lác động của yếu tố tâm sinh lý tới quá trình trở thánh

Then

3.1.3 Yêu tổ xã hội với những tác động tới việc trở thành Then

2,2 Đời sống Đạo của Then

Trang 3

2.2.1, Hoe nghé va cap bing sic

2.2.2 Điện thản

2.2.3 Vật thiếng của Lhen

3.2.4 Những mỏi quan hệ nghề nghiệp và kiêng ky

2.3 Cuộc sống đời thường của Then

2.3.1, Dai sống thường nhật

2.3.2 Các môi quan hệ xã hội

2.3.3 Một số kiếng ky trong cuộc sống thường ngày của Then

Chương 3: GIÁ TRỊ VÀ SỨC SÓNG CỦA THEN TRONG XÃ

HOI TAY VAN QUAN, LANG SON HIEN NAY

3.1 Gia tri cia Then trong đời sống cộng đồng Tảy, Lạng Sơn

3.1.1 Then — một người nghệ sĩ đân gian

3.1.2 Giả trị tôn giáo, tin ngưỡng của Then

3.1.3 Vai trò trị liệu của Then trong cộng đồng

3.2 Then và xã hội Tả,

đương dại

3.3 Suy nghĩ về sức sống của những người làm Then trong xã hội

Tày Văn Quan hiện nay

Trang 4

MOD:

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Mo — Then — Pụt — Tảo — Phủ Thuỷ là những hiện tượng điển hình trong đời

sống từa ngưởng của một số dồng bảo dân tộc thiểu số vùng nủi phía bắc dặc biết là cộng đồng Tây — Nũng Những hiện tượng này xuất hiện, tổn tại và bén rễ trong đời sống cư đân Tày — Nùng từ rỗi lâu và nó trở thành một sinh hoại văn hóa không thé thiểu Then là một đề tài được khá nhiều nhà nghiền cửu quan tâm tùn hiểu ớ những,

góc độ khác nhau Trước đây, trong khoảng thời gian trước Cách mạng tháng Tám cho tới những năm 8O của thể kỹ X%, Then được khai thác chủ yếu ở khia cạnh

nghệ thuật diễn xướng, từ lời ca, nhịp hảt đến cây đản tính Các yêu tổ mang tinh chất tín ngưỡng tên giáo trong Then hâu như không được đẻ cập đến bởi trong giai đoạn này, khi mới giải phỏng cả nước lo xây dựng kiến đuết đất nước, công cuộc

‘bai trừ tệ nạn mê tia đị đoan điễn ra một cách gay gắt, các sinh hoạt văn hóa Then, Tào, Lên đẳng đếu bị cảm đoán triệt đề Từ những năm 90 alia thé ky KX trô về

dây, Then được đông đão các nhà nghiên cứu quan lâm, khai thác đặc biệt dưới góc

độ văn hỏa từì ngưỡng, Những nghiên cửu mới vẻ Then đã mang lại một cải nhin

khác về hiện tượng - sinh hoại văn hóa tín ngưỡng độc đáo này Trong rmột đề lái

nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng Tàảy — Nùng, nhà nghiên cửu văn hóa Ngô Đúc

'Thính khẳng định Then /ä một ứn ngưỡng thuộc dòng Shaman giáo Từ luận điểm nay rất nhiều nhà nghiên cứu khác đã khai thác sâu hơn ở góc độ tin ngưỡng, tôn giáo của Then Kguyển Thị Yên trong 7#en 7ảy, đã tìm hiểu nghỉ lễ diễn xướng,

Then cấp sắc ở Quảng Uyên, Cao Bằng; Doàn Thị Tuyền trong luận văn tốt nghiệp

ngành Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, đã tìm hiếu

‘Then như một thử Đạo trong đời sống của nguời Tây, Lạng Sơn Tuy nhiên, chúng,

tôi nhận thay chwa có công trình nào đi sâu tìm hiển cụ thể đời sảng và những vẫn

để xoay quanh đời sống thường nhật cũng như đồi sống Đạo của các ông/bà Then ama trong sinh hoạt văn hỏa tín ngưỡng nảy họ chính lá lĩnh hồn, là đại diện tiêu biểu nhất.

Trang 5

1.2 Lầu nay trong nghiên cửu một hiện tượng văn hóa nảo đó, phương pháp chủ yếu của cáo nhà nghiên cửu là quan sát, phỏng vẫn, điều tra sẻ hiệu, ghỉ chép, tất

cũ những gì liên quan tới nó rồi khái quát lên một vẫn để hay rút ra các kết luận về

hiện tượng dó Việc xem xét, nghiền cứu vân dễ từ một trường hợp cụ thể, khai thác tất cả thông tin, đặc tính của một con người cụ thể đề họ tự nói lên tiếng nói của ban thân, bảy tô những suy nghĩ, quan điểm hay ý tướng, nhân sinh: quan của chính bản than minh lả một phương pháp còn chưa được phố biển Bằng phương, pháp nghiên ctu trong hop (case studies) hay nghién cuw tiếu sử bản thần /ÿ@ siay) [O1],

Tigười ka đựa trên câu chuyện về don người nảo đó dé ta hiểu được một hiện tượng,

văn hóa, một vẫn để văn hóa của một cộng đồng người hay thậm chí lả cả một giai đoạn văn hóa Bởi mỗi con người sống trong cộng đồng, họ đều chịu những ảnh hưởng, tác động, chỉ phối lừ chính xã hội mà họ sống, số phân họ gắn bó chặt chữ

và lệ thuộc vào cộng đồng nơi người ta sinh sông Nên cá nhân được xem xét là một

cá nhân điễn hình thì những đặc trưng văn hóa của cộng đẳng được biếu hiện ô ho

càng rõ nét nên chúng ta có khái niệm “văn hóa cá nhậu” To vậy, trong nghiên cứu

'Then một hiện tượng điển hình của người Tày Lạng Sơn nói riêng va Việt Bắc nói chưng, chúng tôi đã mạnh đạn sử đụng phương pháp nay dé co thé qua đó làm nồi

bật những đặc trung riêng có của vùng Then Tây Lạng Sơn từ một góc nhìn khác,

góc nhin cúa chính những người thực hảnh nghĩ lễ - ông/ bả Then,

1.3, Đồng thời, trong quá trình thực hiện để tải chúng tôi luôn mang một thắc mắc Tại sao Then Tày trải qua rất nhiều biến thiên trong lịch sứ vẫn tôn tại trong cuộc

là những người không thể thiểu trong cộng đồng rước khi đi đâu, làm gì người ta đến hỏi thay Mo, thdy Then; nhà có người ôm, mời thây Then đẻn làm lễ, cúng ông,

bà tổ tiên cũng mời thấy Then, nhà có cười hỏi, lạng ma cũng không thể thiểu thầy

Trang 6

then Dường như nếu cuộc sống của họ không cỏ những thấy Then sẽ trở nên rất bất ôn Lấy những người làm Then, họ là ai lo là người như thể nào mới có thể trở thành then? Vi tri va vai trò của họ đối với cộng đẳng và trong cộng đồng ra sao? Tử những thắc mắc nảy, tôi muốn tim hiểu rõ hơn vẻ những người làm

‘ng

Sng déng khang chỉ

then, căn nguyên họ trở thành then va tit cả những vấn đẻ liên quan tới cuộc

thường nhật cũng như việc làm nghề của họ Qua đó có

cộng dang ‘fay, Ning ma cộng đồng các dân tộc anh em hiểu thêm về những người

làm Then và vai trẻ của họ đổi với cộng đồng từ đó có thể có một cái nhin khách

quan đổi với họ, đồng thời có thể thông cảm và phá bỏ sự kỳ thị

Sau một thời gian dài chiến tranh, nay cùng với sự phát triên ca nên kinh tế

thị trường là quá trình phục hẻi những giá trị tôn giáo, văn hóa tín ngưỡng, sinh

hoạt đân gián cỗ truyền với ý thức lim về nguồn cội bân sốc văn hóa Đây là một thực tế sống động đang diễn ra mạnh mê trong cộng đồng 54 dân tộc anh em Diễu

xảy đòi hái cân có những nghiên cửu bắt kịp với đòng sự kiên đang diễn ra hiện nay

trong đời sống cửa cộng dằng các dân tộc thiểu số, trong đó có hoại động nghĩ lễ

'Then trong cộng đồng dân tộc Táy ở Lạng Sơn một tính vùng biên xa xôi

Với tôi cả những lý do trên chimg t5i di chon dé Lai “Them Tay i Văn

Quan, Lạng Sơn” (Qua nghiên cứu trường hợp bà Then Hoàng Thi Binh) lam dé

tai luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

2 Lịch sử vấn để sưu tâm, nghiên cứu Then

- Hat Then là một dễ tải dược quan tâm tử khả sởm và được nghiên cửu đưới nhiều góc độ khác nhau Có thể chỉa lịch sử vấn để nghiên cứu Then thành các giai đoạn

như sau

+ Giai đoạn trước năm 1945

Thai ky này hàu như không cỏ các công trình, sưu tâm, nghiên cứu trực tiếp

vé Then Tuy nhiên cũng có bai bài thuyết trình về Đạo giáo và phép thuật Phù

'Thúy của người Tay của Nguyễn Văn Liuyên, được giới thiệu ở Pháp năm 1939, Dó

là bài

điện thà Lão Tứ ở người Tày"" và bài “Một đạng ma thuật ở miễn thượng

đu Bắc Kỳ” Mặc đù chưa việt thành vấn bản nhìng hai bài nghiên ủu này đã cho

Trang 7

thay ngay tit mia diu thé ky XX, học giả Việt Nam đã có sự nhận diện và tiếp cận tượng đổi có hiệu qúa trong việc thm hiểu tôn giáo tín ngưỡng của người lầy,

+ Giải ñagn san Cách mạng thẳng Tám 1945

Từ 1943 đến 1900: La gàai đoạn thể hiện những bước dị dâu tiên về việc sưu

tim nghiên cứu Then Nhung trong giai đoạn này Then chủ yếu được khai thác dưới

Năm 1978, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc cho ra mắt độc giả cuốn sách

vấn đề về Then Uiệt Bắc” Dây là cuỗn sách lần đầu tiên khảo sát về Then

TNgoài ra, một số bài viết về giá trị văn học của lời bát then, giá trị lời ca của

Then cũng được đăng trên các tạp chỉ,

Năm 1984, hai tác giả Là Văn Thu va Lã Văn Lô cho xuất bản cuén “Van

hóa Tay Nàng”, trong đỏ có đành một số trang nói về người làm nghề

ứng bài trong đỏ có Then Qua dỏ cũng, nêu ra được những đặc diễm cơ bản của Then, nghề làm Then và hiện tượng xuất nhập hồn trong Then Có thê nói tuy chưa thật đầy đủ nhưng đây là một công trình đã để cap dén van để cốt lõi của Then là nghề làm

‘Then và bán chất tin ngưỡng của Then mà trước đỏ hầu như không có công tinh xảo đề cập đến [39]

Từ sau 1990 đến nay:

những thành tựu trong sưu tằm và giới thiệu văn băn Then “Khám hải” - Vượt

Tệc sưu lầm nghiên cứu Then có nhiều khởi sắc với

biến cha Vi Héng [19], “Then Bach diéu” của nhóm tác giả Hoàng Tuần Cư, Vì

Quốc Đình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc |4J, “Bộ Then ai bach” cia Tue Van Pao

Trang 8

127] và các bản sưu tầm các khúc hát Then Nhìn chúng ở giai doan này, việc sưu tầm Then tương đối phong phú song vẫn không khác trước là mây Hầu hết vẫn

đừng lại ở dạng sưu lầm, dịch chứ chưa có sự lý giải nên những người không am

hiểu về Then sé khong nim bat được nội dung vấn đề khi dọc các tác phẩm này

Thư vậy, trong suốt nữa thẻ kỷ, các công trình về Then mới chỉ đừng lại ở

phạm vì sưu tâm, mô tả dưới góc độ, văn học, nghệ thuội mà chưa hể có sự quan

tâm thích đáng tới vấn để cốt lồi trong ‘Then _ đó là vẫn để tồn giáo, tin ngưỡng,

Dén cudi nhiing nim 90 cita thé ky XX, cac công trình nghiền cứu vé Then

‘bat đầu đi vào hướng nghiên cứu bản chal (én giáo, các nghỉ lẽ trong Then Điều

xảy thê hiện rõ trong cáo công trình của nhỏm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cửu Văn hóa Dân gian

Năm 1998, tại Hội thâo Quốc tế Việt Nem học lân thé I, tác giả Nguyễn Thị

Tiên với tham luận “Người điễn xướng Then: nghệ nhân hát dan ca và thấp Shaman”, la bai viét dau tién khang định rằng người diễn xưởng Then, không chí là xuột nghệ nhân hat din ca wa con la mél thay cúng, điển mà các nhà nghiền cứu

trước đầy chưa làm rõ.[1 8]

GS.TS Ngô Đúc Thịnh với bài “Then — mội hình thức Shaman giáo của dan

tậc Tày ở Việt Nam”, dã khải quát dược những van dé co ban liên quan dén Then

xnột cách có hệ thông như: 'Then trong hệ thông tín ngưỡng dân gian của người Tay; nguồn gốc và ban chất của Theu, Tín ngưỡng Theu sự sân sinh và tích hợp các giá

trị văn hóa [35]

Năm 1997, tác già Nguyễn Thị Yên, đã hoàn thành công trình nghiên cứu

“Lễ hội Nàng Hai của người Tây, Cao Bằng", là một hình thức lễ hội Shaman của người Tày, có nhiều điểm tương đồng với Then Liếp đó, năm 2090, tác giá Nguyễn Thị Yên đã hoàn thành đề tài nghiên củu cấp viện “fñien cẩp sắc của người Tày

qua khảo sát tại luyện Quảng Hòa tĩnh Cuo Bằng” Từ những nghiên cửu này tác

giả Nguyễn Thị Yên đã cho xuất bán những công trình có giá trị về hen cứng như

Trang 9

Put, Ning” (2006), “Vin hỏa Tin ngưỡng Tủy, Nùng " (2008) |44J Đây là những công trình nghiên cứu về Than và Tín ngưỡng dân gian Lày, Núng được đánh giá cao Hon thé, gác công Irình nảy cũng đã đề cập một cách sâu sắc, khat thác được cac gia tri văn hỏa tồn giáo, tin ngưỡng trong ‘Then cia người Tảy, đặc biệt là ở

ving Then Cao Băng Trong cuốn Then Tây, tác giả đã đi sâu vào nghỉ lễ cấp sắc

amdtughi 1é liêu biểu trong Then va lý giải dược ý nghĩa làm lình và cáo giá trị cũng

như vai trỏ của Theu đối với dân tộc ‘Tay & Cao Bang noi riéng và dân tộc Tày ở Việt Nam nói chung Qua tác phẩm này tác giả cũng đã bước đâu so sánh nghỉ lễ Then của nguời Tày với nghỉ lễ lên đẳng của người Kinh đặt dưới hệ quy chiếu là

tình thái Sharnan giáo

Ngoài ra, cũng cá khá nhiều các khỏa luận tốt nghiệp Đại học, các hiện văn,

luận án nghiên cúu về Then

Có thể thấy trong hơn nữa thẻ kỷ phát triển, các công trình Then đã có những, bước phát triển vượt bậc về hình thức cũng như về chất lượng Các công trình trghiên cứu Then ương giai đoạn hiên nay đã chú ý nhiều đến khai thác các giá trị tôn giáo, tin ngưỡng, lý giải các hiện tượng thân bị trong các nghĩ lễ Song trong các

công trình hiện nay, phạm vị nghiên cứu Then mới chỉ đừng lại rong một số vững,

như Vùng Then Tày ở Cao Đăng mà chủ yêu là Then nam miễn Đóng Cao Bằng,

Công trình “7hen Tiáy” nghiên cứu vừng Then náy đã được xuất bản Ngoài ra, các vùng Then khác như Bắc Kạn, Lang Son, cũng đóng vai tò khá quan wong trong ving Then Tay Việt Bắc nhưng vẫn chưa dược quan tâm khai thác thích dâng Có chăng chỉ dừng lại ở những bài nghiên cửu nhỏ lẻ trên các tạp chí hay các khóa huận, luận văn Đoàn Thi Tuyến với luận văn tốt nghiệp đại học khoa Lịch Sử, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội “Đạo Then trong đời sống tâm linh cửa nguoi Tay — Ning” [29] va bai “Căn nguyên trỏ thành Then trong xã hội Tay, Nùng, Uăn Quan, Lạng Sơn" [30], đã có những đóng góp raới mẻ trong việc tim

hiểu đời sống và thể giới tâm linh của người lim Then Song tac giá lại khảo sát trên phạm vi rộng với cả hai đối tượng thây Then người Tày và Nùng,

Trang 10

Như vậy, nghiên cứu Then như một loại bình tôn giáo, tin ngưỡng thuộc

dòng Shaman giáo vẫn là một hương đi lớn trong nghiên cửu Then đương đại

Trong luận văn này chủng tôi hướng tới đối tượng nghiêu cứu là những người làm

‘Then dé qua do thay ré hon những, đặc trưng, giả trị và xu hưởng, biến dỗi của Then Tây ỏ Văn Quan, Lạng Sơn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiền cứu

- Mục đích đầu tiên luận văn muốn hướng tới là mang lại một cải nhìn khách quan về sinh hoạt tín ngưỡng Then Tày và đời sông của những ông/bà Then Dẳng, thời cất nghữa về căn nguyên cho việc trở thành Then trong xã hội Tày, Lang Son

- Mục địch thứ hai là thông qua phương pháp nghiên cứu trường hợp chọn

mẫu và nghiên cứu tiểu sử bản thân mội nhân vật tiêu biển trong đối sánh với những Trgười cũng mẫu, chúng lôi muốn rút ra một vài kết luận để người đọc có thể hiểu hơn về những đặc trung, giá trị của Then và những hiện tình về vùng Then Tây ở

‘Van Quan, Lang Son

~ Mục đích lâu đải luận văn muốn huớng lới là nghiên cứu toàn bộ vùng

‘Then Tay Lang Son trong tương quan so sinh với các vùng then khác như Cao Bang, Bac Kan va Then Tay tại những vùng kinh tế mới Đồng thời, chúng tôi

anuéa dat Then Tay trong hệ quy chiếu là hệ thống tín ngưỡng thuộc dong Shaman

giáo của Việt Nam để tiên hảnh so sánh, rút ra những đặc trung riêng có của loại Tỉnh sinh hoại lín ngưỡng này,

4, Đi lượng và phạm vỉ nghiên cứu

- Dối tượng nghiên cứu:

¡ Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiện tượng Then Tây

+ Chọn mẫu tiêu biểu để nghiên cứu là bá 'Then Hoàng Thị Bình và một số 'Then khảo ở huyện Văn Quan

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về mặt không gian: chủ yếu trên địa bản xã Dai Án, thị trần Văn Quan vả một số

xã khác trong huyện Văn Quan.

Trang 11

+ Pham vi về mặt thời gian Then Tảy trong giai doạn hiển nay có kết hợp với những ghi chép hồi cỏ

5 Lý thuyết và phương pháp nghiên cứn

- Lý thuyết tiếp cận hệ thống

- Lý thuyết không gian văn hỏa

- Lý thuyết nhân loại học lôn giáo

- Phương pháp nghiền cứu trường hợp

- Phương pháp điển đã

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp thu thập và xứ lý tai liệu

10

Trang 12

Chuong 1: TONG QUAN VE VUNG TIEN TAY VAN QUAN, LANG SON

1.1 Khải quát về địa bản nghiên cửu

1.1.1 Khải lược về điều kiện tự nhiên và kinh tẾ - xã hội

&, Điều kiện tự nhiền

* Vị trí địa lệ

Văn Quan ngày nay là một huyện vừng núi tầm ð phía Tây Nam lĩnh Lạng

Sơn, có luyện ly cách thánh phổ Lạng Sơn 45km Huyện có vị trí từ vĩ tuyến 21544 đến 22° vi Bac va 106°24 đên 10643 kinh Đông

Phía Bắc giáp huyện Văn Lãng và huyện Bình Gia, Phia Nam giáp huyện Chỉ Lăng và Hữu Lũng,

Phía Déng giáp thành phổ Lạng Sơn và huyện Cao Lộc,

Pha Tây giáp huyện Bắc Sơn và Binh Gia

Tổng diện tích tự nhiên toán huyện là 55.066,97 ha, bao gồm 23 xã và 1 thị trân [46] Huyện Văn Quan nằm trên vị trí trưng tâm của tỉnh, có bai quốc lộ lớn chạy qua Đó là quốc lộ 1B chạy từ Đông sang Tây, nổi liên với vùng kinh tế mở Dổng Dăng — Lạng Sơn và huyện Bình Gia, Bắc Sơn Cên quốc lộ 279 từ Bắc xuống Nam là tuyên đường giao lưu với Đềng Mô - Chỉ Lăng, các tĩnh miễn xuôi

va vung kinh tê cửa khẩu Na 8ầm — Tan Thanh — Văn I.ãng Với vị trí địa lý như vậy người đân nơi đây có điều kiện thuận lợi đề giaa lưu trao đổi hàng hóa, huôn ban voi các noi khác Đồng thời cũng là vùng trọng lâm từ Bắc xuống Nam, từ

Đông sang Tây thuận lợi cho các luông giao lưu văn hóa giữa các vùng cũng như với khu vực phụ cận

núi đá bị cắt xẻ vô định hình, đọc thung lũng và kho lạch cũng như những triển núi

đất là đát lateriich hóa của múi trẻ được hình thành từ kỹ đệ tứ chủ yếu trên thêm đá

11

Trang 13

bazan rất tết cho trồng trọt và phát triển các loại cây lấy gỗ cây công nghiệp dải ngày đặc biệt là hỏi và cây ăn quả Do vậy má một trong những đặc sản của vừng,

chỉnh là hội, sản phẩm hai Van Quan có lượng Hình dân lớn

Xen kẽ giữa các vùng nui da va nui dất, một số đính núi cao dã tạo cho dịa hình Văn Quan thêm phong phú, đỉnh cao nhất ở Văn Quan là đình Khau Rang, cao

tình kha

768m, tiếp dến là các dịnh Khau Piêu, Khan Đăng, Kbau Thán, Với dị

phức tạp như vậy việc đi lại của nhân dan trong ving gặp khá nhiều khó khăn, thường phải vượt qua nhiều suỏi, lắm đèa như đẻo Lũng Pha, In Lăn, Kéa Đeng, Tuy nhiêu hiện may do kinh tế phát triển và nhà nước cũng có các chính sách hỗ trợ đồng bảo miễn mùi thi điều kiện giao thông trong vúng cũng có nhiều chuyến biển

* Hệ thông sông suối

Sông suối ở Văn Quan lả một bộ phận của sông Kỳ Củng, sông nảy bắt nguồn từ Đình Lập — Lộc Binh qua thành phổ Lạng Sơn vào dia phận Văn Quan và

chiy qua năm xã: Đông Giáp, Khánh Khê, Văn An, Song Giang, Trấn Ninh và tù

đó qua huyện Văn Lãng, Tràng định rồi dé sang Trung Quốc Chỉ lưu của sông Kỳ

Củng ở Văn Quan lá sống Tu Đến (hay còn gọi là Mô Phía hoặc Mö Ta) Sông Tu

Đồn có hai nhánh chính, snột nhánh bắt nguồn từ xã Trị Lễ, Lương Nang, Tủ Xuyên

và một phẫn của xã Liòa I3ình, một nhánh bắt nguồn từ xã Yên Phúc, l3ình Phúc rồi

Tiợp lưu ở xã Đúc Hình chây qua bản Lãi, xã Vĩnh Lại, sông mày gọi là sng Ta Tai

hay sông Lái, rồi dỗ váo sống Kỷ Cùng, ở dịa phận xã Song Giang Ngoài ra gòn có

hệ thống khe suỗi ở khắp cáo xã Mật độ sông suối ở Văn Quan là 0,6 — 1,2

n/m?

Lugng sua trung binh nim 1a 1500nun, tháng 7 thường có lượng mưa cao

nhật 280mm và tháng 12 có lượng mưa thập nhật 21mm Lượng mưa phân bề theo Trủa rõ rệt Mùa ruưa bắt đầu tù tháng 5 dén thang 9 va chiém tới 8⁄4 lượng mưa cả nam, tap trung chủ yếu vào các tháng 6,7,8, Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng,

4 năm sau, với lượng mưa khoảng 20% lượng mưa cả năm Do mưa ít và lại chịu

ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên Văn Quan thường gó sương muồi vào tháng,

12

Trang 14

12 và tháng giêng, Độ ẩm tương dối bình quân năm là 82,5%, cao nhất vào tháng 8

là 86% và thấp nhất là vào tháng 11 khoáng 77%

* Khí hậu

Vẻ mặt diễu kiện khí hậu huyện Văn Quan nói riêng cũng như Lạng, Sơn nói chung đều chịu ảnh hưởng của khí hậu rniên Bắc nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Nhiệt độ không khí trung bình năm là 21,2°C, tháng 6 thường có nhiệt độ cao nhất (trung bình là 28,42C) và thang 1 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 152C

Điều kiện vị trí địa lý và địa hình khí hậu của Văn Quan Lương đổi tiêu biển cho khí hậu khu vực miễn nủi phía Bắc Dịa hình gểm nhiều dang phức tạp tử đổi núi, thung lũng xen kẽ các núi đá, hệ théng sêng vả các khe suối chảy từ trên núi

thuận lợi cho việc cạnh tác nương tẩy vũ ruộng chờ mưa của khu viực nảy VỀ ruặt khi hậu nhìn chung tương đổi thuận lợi, không lạnh quá vào mùa đồng như các khu vực khác của Lạng Sơn và không nóng quá vào mùa hè (ảo cỏ độ cao vừa phải), Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho sự sinh sống cũng như canh tác, phải triển kinh tế của cư dân trong vùng Và một trong những loại cây lâm sắn nỗi tiếng được trồng trên mãnh đải này chính là hỏi Lạng Sơn

Đủ có nhiều tộc người cùng định cư nhưng các tộc người trên địa bàn huyện sinh sống, với nhau hòa bình 1lọ sống xen kế hoặc trong các bán độc lập cạnh nhau hưng giữa họ vẫn có sự giao lưu với nhau cả về mặt kinh tế, kỹ thuật cũng như đời sống linh thần và các sinh hoạt công đồng, đặc biệt là trong chế độ hôn nhân Cư

13

Trang 15

dan trong vùng thực hiện chế độ hôn nhân ngoại tộc và cho phép những người không cùng tộc người cỏ thể kết hôn với nhau l)ây cũng là một điều kiện thuận lợi

để trao đổi văn hỏa giữa các tộc người, đồng thời chế độ hôn nhân này cũng làm giảm sự kỷ thị tộc người trong cùng cộng ding

Đo đặc điểm tụ nhiền của huyện khá phúc tạp, chia cắt nhiều nên đặc điểm đân cư thường có quy mỗ nhỏ (láng, bản), mật độ đân cư thập Dân cư lập phụng, chú yêu theo các trục đường giao thông, thị trấn, thị tứ, ngoài ra trong cáo bắn xa xôi, đân o1 tập trung tụ cư ở các cánh déng để tiện cho việc sản xuất nông nghiệp

Về mặt lao động xã hội trong các ngành kinh tế Văn Quan có tổng hơn 32.106 lao động (2009) chiếm gắn 59,3% tổng số nhân khẩu trong huyện Lao động

có việc làm là 29.837 người, trong đó có tới 87,17% lao động được phân bố trong, các ngành nông - lâm nghiệp Lao động trong huyện chủ yếu là lao động theo mùa

vụ, lao động sau mủa vụ hiện vẫn chưa được bế trí một cách hợp lý do điều kiện kinh tê trong huyền cèn kém phát triển, chưa có sự đa đạng về loại hình ngành nghé (46, 11.29]

Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực Văn Quan còn thấp, số lao động qua dio lao côn rất lam chế, lý lệ lao động có trình đỏ Đại học, cao đẳng chiếm một Lỷ lệ

xất nhỏ trong tổng só lao động Đây là một cân trở không nhỏ cho việc tiếp thu khoa

học kỹ thuật trong sắn xuất, phát triển kinh tế - xã hội

* Kinh lê Căn cử vào đặc diễm tự nhiễn và diễu kiện sắn xuất khác nhau huyện phân ra thành ba tiểu vùng kinh tế chính Dặc điểm kinh tế của Văn Quan là nên kinh tế tự nhiên, tự cập tự túc, châm phát triển Nguồn sống chính của cư đân trong huyện vẫn

là nên kinh tế nông nghiệp lủa nước, một phần lủa nương vả các loại ngô, sẵn, đậu tương Thế mạnh lớn nhất của Văn Quan chính là cây hỏi, đây là nguồn thu chỉnh

ủa nên kinh tế Văn Quan Sâu lượng hồi khô hàng năm khoảng vai tim lan, hoa

hỏi Văn Quan có lượng tĩnh dâu lớn Từ hàng trăm năm nay hổi đã được các gia định đặc biệt chú trong phát triển Theo thông kê năm 2005, diên tích hỏi trên toan

14

Trang 16

huyện là 8.396ha, sản lượng tươi dạt 4.758 tạ, dến năm 2009, điện tích hổi là 8.819ha, sản lượng tươi đạt 5.042 tạ [46, tr 12]

Tỉnh từ năm 2001 — 2010, nên kmh 1ê œ

Văn Quan có nhiều bước phát triển nhanh vả mạnh Với những thuận lợi về vị trí dịa lý lại nằm trên con đường, giao lưu buôn bản gân khu vực cửa khâu nên kinh tẻ cũng có nhiều điều kiện để phát triển Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) huyện Văn Quan thời kỳ 2001-2010 có tốc độ tăng trưởng bình quản hảng năm đạt 10,51% GP bình quân đâu người (914

thục tế) năm 2000 đạt 3,09 triệu đổng/ngườinăm; năm 2005 là 5,18 wigu đông/ngườinăm; năm 2010 là 8,04 triệu đồng/ngườinăm [46, tr 1]

Cơ cầu kinh tế của huyện cũng có những chuyển biến tích cực theo hưởng

công nghiệp hóa - hiện đại hỏa Tỷ trọng các ngành Nông - lâm - ngư nghiệp có xu hướng giểm, ngành công nghiệp - xây đựng, dịch vụ có đấu hiệu tăng

* ¥ #é va gido dục

Công tác chắm sóc sức khỏe của nhân dan được quan tâm và có nhiều hước

tiến bộ, chất lượng khám chữa bệnh từng buớc dược vai thiện, cơ số vật chất phục

vụ nhụ cầu khám chữa bệnh được đầu tư Hiện nay, trên toản huyện cò 20/24 tram y

tế xã, thị tắn có bác sĩ, 24/24 xã đại chuẩn quốc gia về y tế xã, 188/188 thôn có y lế

công đồng, hàng năm có trên 25.000 người nghèo dược cấp thẻ khám chữa bệnh,

146, tr 41]

Tuy hệ thống y 1é công công vẫn còn hạn chế song về cơ bản di dap ing được nhụ cầu khám chữa bệnh của nhân dân Đặc biệt các chương trình Quốc gia về tiêm chủng mở rộng cho bà mẹ, trẻ em và các chương trình quốc gia về phát thuốc mién phi cho người nghẻo đều được triển khai rộng khắp trong nhân dan Bude đâu mạng lưới y tế trong luyện đã được củng cổ vá dẫn dan được kiện toàn Một trong, những hạn chế rât lớn trong hệ thống y tổ các huyện miễn múi nói chung và Văn

ï lành nghề vẫn còn thiểu một

trọng và thứ hai là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật vẫn nghéo nản, lạc hậu, thiểu thôn thuốc men, trang thiết bị xuống cấp nghiêm trọng Do vậy, cân có những lớp

Trang 17

Đổi dưỡng đội ngũ cán bộ y tế và kiện toàn hệ thông cơ cổ vật chất dễ dâm bảo như câu khám chữa bệnh của người dân

Sự nghiệp giáo dục vẫn luôn được coi là quốc sách hàng đầu cña nước la do

vậy việc dầu tư cho giáo dục ở các dia phương ngày cảng dược dây mạnh Hệ thông, giáo dục ở Văn Quan cỏ những bước phát triển nhanh và khá ổn định Về cơ sở

it

chất của ngành giáo dục cĩng được đầu lư xây mới, dội ngũ giáo viên ngày cảng tăng về cả số lượng và chất lượng Cả huyện hiện nay có 60 trường, trong đỏ có 4/60 trường đạt trường chuân Quốc gia (2010), việc vận động trẻ em đi học đứng đệ

tuổi đạt 99.8794, tý lệ học xinh bỏ học ngày cảng giảm Hàng năm có từ ]10 — 120 giáo viên được cử đi học để bải dưỡng, nâng caơ kiến thức nghiệp vụ Công tác xã hội hẻa giáo đục ngày cảng được các cấp lãnh đạo quan tâm, chăm lo [46, tr 41]

1.1.2 Lịch sử huyện Văn Quan

‘Van Quan ngày nay là một vùng đất cổ của quốc gia Dại Việt, là một địa ban thuộc vùng văn hóa Bắc Sơn (có niên đại cách ngày nay khoảng 12000 — 7000 xăm) Các nhả khảo cổ đã khai quật được đi lích hang Khòn Kh (thuộc xã Xuân Mai, Văn Quan) đã phát hiện thấy rìu mái lưỡi, gốm, đồ xương, vỏ ốc biển (14, tr 724), điều này chứng Lỗ con người thời bấy giờ mặc dù còn sống trong bang đá,

sống bằng săn bắt, hải lượm nhưng dã biết trông trợt và chắn nuôi Gần dây còn

phat biện được ci tich van hóa mới ở lầa Xã Di tích nảy nằm ngay trong hang đá sau phố Ba Xã, miệng hưng cao 108m so với chân núi, tầng vấn hóa khảo cổ dày

đến 1,3m Ở dây dã từm thấy rìu tứ giác, rìu có vai kich thước nhỏ được mái nhẫn hoàn toàn, có nhiều chiếc đục nhỏ, đài, hình chữ nhật; có những vòng đá lớn dược

mài nhẫn, các hạt chuỗi bằng vô ốc biến Trang tầng văn hóa còn thay những để

gốm cò hoa văn thing; xe chi bing đất nung Đây là dị tích cúa con người thuộc hau kỳ đá mới, nông nghiệp và đỏ gồm đã phát triển, nghé thủ công đặc biệt là nghề

đệt vải đã ra đời

Với những, di chỉ trên chứng tó ngay từ thuở hồng hoang thị ở đây đã tồn tại

sự sống của người Việt cố Những di tích ở Xuân Mai và Ba Xã thuộc địa bản Văn Quan ngày nay lốn tại một tổng văn hóa khảo cổ dây đặn, chứng Lổ sự sống của con

16

Trang 18

người trên mảnh dất này là rất sớm Song vùng đất Văn Quan ngày nay về mặt lịch

sử, địa lý hanh chính cũng có nhiều biển động trong suốt quá trinh dụng nước vả giữa nước từ thời Đại Việt cho tối hiện tại Theo những nguồn sử liệu cho thấy, vùng dat Van Quan ngây nay trải qua một quả trinh lịch sử dài dã có những tên gọi

*khác nhau như liạ Văn, Bội Lan, Văn Lan, Văn Quan, trong đó tên gọi Van Quan

tương đổi ấn định và lâu dải

Dudi thời Bắc thuộc, Văn Quan là đất châu Văn trong danh sách các châu

“Kimi” cba An Nam đồ hộ phủ mà các sách “Việt Sử lược” và “Dại Việt sử ký toàn

thu” đều nhắc đến Cho đến thời kỹ độc lập tự chủ - Đình — Tê — lý vẫn mang lên Châu Văn dựa trên địa giới hành chính thời An Nam đô hộ phú Dến thời Trần chia

thành châu Thượng Văn và Hạ Văn, và Hạ Văn chính là địa bàn của Văn Quan

nigay nay [14]

Theo tài liệu “Thdt téc thd ” — La Van Lé, thoi Ly — Trần — Lê có nhiêu võ quan được triển đình phái lên cai trị chau That Nguyén va châu Văn Lan, rồi lây đó làm đãi thể tập, họ hàng sink sống muốn đời Những động họ thổ ty đã dén va sinh sống ở đất Châu Văn xưa cụ thể như sau:

Vào thời Trân, vua Trần Hiển Tông (1329 - 1341) đã sai quan võ Nguyễn

Công Ngân, quê ở Thiên Lộc, Hà Tĩnh lên trần thú châu Thất Nguyên và Vấn Lan,

Tiếp đó con út ông lả Nguyễn Công Cúc tham gia khối nghĩa Lam Son (thởi Lê)

được phong làm Công than khai quốc Trdn man đại tư mã ngự lâm biên thượng tướng quân và đời đời làm phiên thân (dên thời Nguyễn mới dỗi các “phiên thân” thanh “hd 6”) Ong khéo v4 vé, ty đân khai hoang lập ấp, mở chợ, mở mang văn hóa phát triển cã một vừng That Neuyén — Van Lan [27

Củng với họ Nguyễn Công, họ Hà là một dòng họ thỏ ty lớn ở Văn Quan Họ Tia người gốc Giao Thủy, vào thời Minh con chau đời lên sống ở Ilung Iléa cé

công chống quân xâm lược giữ làng Về sau trong khởi ngiữa Tam Son, ho Hà theo

Lê Thải Tổ dẹp loạn Nông Thiệu Thái, Bế Cận ở Cao lằng được Lê Thai Tổ cho lấy đất Dã Nham, châu Văn Uyên lam thai 4p, sau này cen châu chuyển sang sinh.

Trang 19

sống ở Đông Túc, châu Văn Quan lén dén hang trầm người trở thành một trong, những dòng họ thể ty lớn vào bậc nhất ở Văn Quan

Họ Nông gốc Ai Lao, con chau theo Lê Lợi khởi nghĩa được vưa cho 6 lai

Lạng, Sơn lẫy Châu Văn xã Chỉ Lương làm tịch quán, đời dời làm phiên thân

Ngoài ra các dòng họ thô ty nhu Nguyễn Dinh, Vi, [loang Đức, Ioàng Dinh cũng là những dòng họ đã lừng có

công trấn giữ vùng biêu äi yết hầu của tổ quốc rỗi được phong tước, phong điền và châu Văn trở thành tịch quán ngàn đời của họ

Có thể nói lịch sử của châu Văn hay Văn Lan xưa và Văn Quan ngảy nay có

sự gắn bé chặt chế với các dòng họ thỏ ty ở đây Bởi những đông họ này đã dựng và phat triển mảnh đất này từ địa giới cho tới cơn người và kinh tế xã hội Sự hình thành mảnh đất Văn Quan có từ rất sớm, như chúng †a phân tích thì đâu hiện xuất hiện của cơn người ở đây bắt đầu lừ thòi kỳ Văn hóa Bắc Sơn nhưng cho đến thời

Lê Thái Tổ với sự hình thành cde dang ho thd ty thi dia gidi của châu Văn mới chỉnh thức tốn tại trên địa đồ của Đại Việt, sau này đủ có những thay đối về mặt địa giới hành chính và tên gọi song về cơ bàn Châu Văn vẫn là nên lãng của Văn Quan

ngay nay

Thời Hậu Lê, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) thừa tuyên Lạng Son có

một phủ va bay châu trong do châu Văn Lan (Văn Quan ngày nay) gốm 34 xã, lúc

xảy địa giới của Văn Lan đã được vạch định trên bán đồ Liỏng Dức

Đến thời Nguyễ

„ ly sở huyện Văn Quan đóng tại xã Phủ Nham (may thuộc

Văn An), dén dời vua Tự Đức năm thử 20 (1867) dời về xã Chỉ Quan, năm thứ 25 chuyển vẻ Nả Vài; đến Thành Thai năm thứ 5 (tháng 9-189⁄) lại chuyển vẻ Chỉ Quan làm lmyện ly [14, tr 771-773]

Cương vực huyện Văn Quan thế ký XIX bao gồm một phân đất của huyện 'Văn Quan ngày nay và huyện Bình Gia Theo cudn “Tén lang xd Vigt Nam thé ky

XIX" (Viên nghiên cửu Hán Nôm) châu Văn Quan thuộc phủ Tràng Định gồm 9 tổng, 41 xã và 8 phố khách Những thời gian tiếp sau, địa giới của huyện còn có nhiên biến động khi sát nhập hay chia tách và mỗi thời điểm lại có những tên gọi

kháo nhau |14, tr.772|

18

Trang 20

Dén thang 8 — 1964, dudi chinb thé Viét Nam Dan cha Cong héa, huyén Vin Quan chinh thie được thành lap bao gém toan bộ huyén Diém ile vả 6 xã của

hhuyén Bang Mae

Dia gici cia huyén Van Quan duge én dinh cho dén ngày nay gdm 23 x4, 1 thị trấn và các phổ chợ

Theo số liệu sủa phòng Kế hoạch và đầu tư Huyện, số đân huyện Văn Quan

hiện nay là 54.141 người (2010) Đây lả huyện có it thành phần đân tộc, hai dân tộc Tây Nùng chiếm hơn 90%, còn lại là các dân tộc Kinh, IToa, Thái, Mường cho

đến nay, co cau thành phần đân tộc ở Văn Quan hầu như không có sự biển động lớn Mặc dù xuất xử của mỗi tộc người có thể khác nhau nhưng cáo dân tộc ở Vin Quan có nhiều điểm chưng trong các hình thái sản xuât cũng như sinh hoạt văn hoá

To vậy giữa các lộc người trong vùng không gó sự kỳ thị mà chưng sống hỏn bình,

giao lưu học hỏi vả tiếp thu kinh nghiệm của nhau trong kinh tế cũng như văn hóa

xã hội

1.1.3 Khải quát đời sẵng văn hỏa tín ngưỡng cña người Tùp Văn Quan

a, Quan niệm về linh hén:” khoăn” và “Phí”

Tín ngưỡng, phong tục tập quán là những lĩnh vực rất quan trọng trong đời

sống văn hóa tâm linh của con người, nó có vai trò chỉ phổi dễn tâm tư, tỉnh cảm,

cách suy nghĩ và hanh động của mỗi cá nhân trong cộng đồng mình Không chỉ

trước đây nà thậm chỉ cả ngày may, niềm lin tôn giáo, tín ngưỡng của cơn người lại

ngày càng mạnh mẽ Bởi dừng trước cuộc sóng khó khăn, dừng trước những thám

họa do thiên nhiên hay do chính bản thân con người gáy ra đổi lúc con người buông

tay bắt lực và khi đó niềm tin tôn giảo, tín ngưỡng chính là con đường cứu rỗi họ Đổi với đồng bảo dân tộc thiểu số mà chủng tôi đang đề cập đến là nguời Láy, đời sống tin ngưỡng của họ xua kia cũng như hiện nay vô cửng phong phú, ấy là những, tin ngưỡng dân gian được xây dựng trên quan niém tinh hồn và thuyết vạn vật hít: linh một trong những loại hình tôn giáo vào loại sơ khai nhất của loại người, ra đời trong giai đoạn công xã thị tộc Họ quan niệm người sống thì có “khoăn” (hồn, tỉnh hỗn), người chết thì thành “p£" (ma, thân, quỷ),

19

Trang 21

Neuoi Tay quan niêm, người sống có “ba hồn bảy vía”, diều này giỏng với quan miệm của người Việt (Kinh) Khi sống khoăn (hồn vía) ở trong cơ thé con người, do vậy khi hỗn vía vì lý do nào đỏ lạm thời rời khỏi con người (mất hồn, mất via) hay bị suy yếu, hồn siêu phách lạc người ta phải gọi hồn gợi via trở lại cơ thê Dẻn khi chết, hẻn vía rời khỏi cơ thẻ đến trú ngụ ở một nơi nào đó tùy theo quan tiệm của lừng dân tộc; đói với người Tây khi đó một phan hồn vía của người chết sẽ biến thành “p7” Đỏ là một thể giới siêu nhiên mả bằng trực giác con người không thể nhận buết được Người Tảy quan niệm có nhiều loại #7” khác nhau hu: “Phi Pha” (Ma trời), “Phủ đùt” tua đáU “Phí Siắn” (na núi, “Phú ngược” (tna thuồng luỗng), “Phi đấm" (ma tễ tiên) [35, tr.425]

Và theo quan niệm đân gian thế giới “P/#” cũng được phân thành các lớp

siêu chúng ta không cân thận vô tình “súe pham” tới các Phi, khiến các Phi nỗi giận

thị cũng bị trừng phạt, gầy đau ốm, phải lảm lễ cũng tạ tội

Từ những quan niệm nảy, người Tây đã hình thánh nhiều hình thức tín ngưỡng đân gian với mục đích bảo vệ con người, báo vệ gia đỉnh và làng bản Dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu một số tín ngưỡng cơ bản của người Tây & Vin Quan

8, Déi sing tin gido, tin ngưỡng

Cũng như đồng dao cu dan Tay — Ning ving Déng Bắc, người Tây Lạng Sơn có đời sống tôn giáo, lin ngưỡng phong phú Do nằm dọc khu vực biên giới

20

Trang 22

Việt — Trang, quá trình tụ cư cũng, chứu không ít sự giao lưu với văn hóa Hán, nên ở

khu vực này tổn tại hiện tượng Tam giáo đồng quy Nho Phật Dạo luôn luôn song hành và ảnh hưởng khả nhiều tới đời sống tôn giáo, lín ngưỡng cũng như chỉ phối nhân sinh quan của cư dân trong vùng Người Tảy Lạng Sơn cũng tổn tại quan

niệm đa thản giáo và quan niệm vạn vật hữu linh, do vậy trong cuộc sông họ thờ rất Tihiểu vị thân, nhưng trong đó lín ngưỡng liên quan tới thờ cúng tổ tiên được xem là tin ngưỡng, quan trọng nhất,

* Tin ngưỡng liên quan tới việc thờ cúng trong gia đình, gia lộc

Thờ cúng lỗ tiên (Đảm) là bình thức tín ngưỡng quan trọng nhàt của người Tày Bàn thờ Lỗ tiên (Chỏong cai) đặt ngay gian giữa, nơi linh thiêng nhất của ngồi nhà Người Tay thờ linh hỗn của những người thuộc 4 đời trên mình: Ky, cụ, ông ba, cha

xuẹ Bốn đời này thờ chúng trong một bản thờ, tuy nhiên đời thủ 4 — đời Ky, theo

quan niệm của người Tày sẽ biến thành vị thần coi gia súc trong gia đỉnh vả được

thờ ở bản thờ đặt ngoài trời, thường cúng vào địp tết Nguyên đán

Thờ Phật Bà Quan Ẩn: cing chung trong bàn thờ tỗ tiên nhường ở ngăn phía trên (bản thờ của người Táy có hai ngắn, ngăn trên thờ Quan Âm, ngăn dười thờ tô

tiên)

Thi Ba Mu (Mé Bijooc) hay con gọi là Hơa Vương Thánh Mẫu là vị thân

chuyên trồng coi việc sinh nố, nuôi dạy và bảo vệ trẻ con Liàn thờ Mẻ lijose có tơi đất chúng trên bàn thờ tổ tiên (Chàong cai) cô nơi đặt riêng nơi buồng ngũ của phụ nữ

Thờ Táo Quân: thân bếp là vị thần trông coi việc bếp mặc, nhà cửa và gia

súc Bản thờ được đặt ở cạnh bếp [5, tr 426-427]

* The Thé thân, Thành Hoàng

Thờ Thổ thân: là vị thần bản mệnh của bản mường, thờ cúng ở miễu (/hó)

21

Trang 23

Ngoài ra có nơi còn có định thờ Thành Hoàng, vị thân trồng coi việc trồng, trọt và chăn nuôi gia súc, đôi khi Thành LIoảng cờn được coi đồng nhất với Thần xông, thường mỡ hội vào cịp rằm tháng giếng, còn gọi là lễ hội Tông tông Ngoài lễ Lông tổng, người Tày còn có nhiều nghị lễ liên quan tới canh tác nông nghiệp: nghỉ

_Dạo giáo từ các khu vực lân cận mã tiêu biểu là sự ánh hướng của văn hỏa Kinh vá

văn hóa Nam Trung Hoa Trong đỏ có thể nhận thây những ảnh hưởng không nhà của Đạo giáo Trung Họa lên lại dưới đạng Đạo giáo dân gian, với quan niệm: về thế giới ba tầng: Thiên đình — Trần gian — Âm phủ Cùng với đó là hệ thông các vị thần Đạo giáo thế hiện rõ qua tranh thờ của người Tây — ranh Tam Thanh kết quả của

lê là Đạo giáo đã hình thành

sự hỗn dung tín ngưỡng bản dịa và Tam Giáo, mã cụ th

trong đời sống tâm linh của người Lày một sẻ tin ngưỡng đặc thủ: hen, Tào, Phù thủy Đó là loại hình tín ngưỡng của các thầy cúng, do các thầy cúng tiễn hành nghĩ

lễ và hệ thống thây cúng Then, Tao, Mo nay tham gia vao hau hết các nghi lễ của

người Tày từ thờ củng trong gia đỉnh cho tới cộng đồng Trong các loại hình tin ngưỡng mày thì Then được cơi là loại hình tiêu biểu nhất trong đời sống của cư đân

‘Tay Vay Then la gi? ‘Thay Then 1a người như thế nảo? Lại sao người Tày lại cần có thầy Then trong cộng đồng của của mình? Chúng ta sẽ lần lượt giải quyết những, câu hôi này trong các phân tiếp theo

©, Đời sống văn hóa văn nghệ, lễ hội

Then 14 mét loai hình tên giáo tín ngưỡng đồng thời cũng là một loại hình

y đản tỉnh, bởi vậy hình ảnh cô gái Lày bên cây đán tính được xem như một dấu hiệu

nhận biết vẻ đân tộc Tày Cùng với Then là cáo loại hình hát đối đáp, giao duyên

đâm cá truyền thông của người Tày — Nông, nhạc cụ chủ yếu được sử đụng là

2

Trang 24

ahu Shi, Sluon, được nam nữ thanh niên hát đối đáp với nhau trong địp dầu xuân

để tổ tỉnh; trong cáo lễ hội không bao giờ thiếu lọai hình ca hát dân gian này

Tễ hội của các dân tộc thường bãi nguằn từ những hoại động đời thưởng nhất

là những hoạt động kinh tế và tước mơ về một cuộc sống tốt dẹp hơn

Trong vùng Văn Quan, Lạng Sơn có nhiều lễ hội khác nhau Nếu lầy mục

tiêu lễ hội mà xem xét, có thể chữa lễ hội thành những loại hình chính sau: Tết năm

mới, 3/3, 5/5, rằm tháng bấy, lễ hội cầu mùa, lễ câu an, lễ cầu tự

Tết năm mới là ngày hội lớn nhật của đồng bảo trong năm Trong dip Tét Trâm tới, đẳng bào có lễ đựng cây riêu và hạ cây riểu

Tháng 3 âm lịch tết Thanh rninh là dịp để mọi thành viên trong gia đình đi

†ảo mộ, đây là một hoạt động thể hiện quan hệ dòng họ mật thiết Lễ vật tảo mộ là

gà và các loại xôi đa sắc

Tết xá tội vong nhân tỏ chức vào 14⁄7 âm lịch hàng năm xuất phát tử quan niệm của đồng bào: hương hồn người đã mắt can được con cháu cúng thường xuyên nhưng một số vong hén không được thờ cúng đến nơi đến chấn Những vong hồn

đó sẽ được thở cúng vào dịp 14/7 Lễ vật đặc trung lá bánh pếng đái

Tễ hội lùng tùng hay lồng tổng là lễ hội cầu mùa phổ biến trong vũng,

thường tổ chúc vào màu xuân,

Lễ cầu an thường được tổ chúc ở quy mô từng gia đỉnh xuất phát từ mong, Tnuốn: cũng cô sự bình yên, mạnh khôe của mọi người trong gia đình và để gia đình làm ăn được tin tỏi, chân mudi phat triển hơn Và các Then luôn luỏn là những, người thực hiện các nghỉ lễ này

1.2 Một số vẫn để cơ sử lý luận

1.21 Khải niệm tín ngưỡng, văn hóa tin ngưỡng của người Tây

“Khi niệm tín ngưỡng

Cơ sở của mọi Lôn giáo hay tín ngưỡng đều dựa trên niềm li cửa cơn người vào cải gì đỏ thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên hay nói một cách khác đó là niềm tin,

sự ngưỡng vọng vào “cái đhiêng", cái thiêng ở đầy được hiểu là đối lập với cái

gó thé cham vao Nicin tin vào

trần tục, những thứ tiện hữu mà 1a có thể nhìn thả

23

Trang 25

cái thiêng thuộc vé ban chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng loài người Tại sao ngay ở thời kỳ mông muội, sóng kiểu bay đản con người đã biết chôn người chết kèm Hieo những đỏ tùy táng để trong rauốn người chết có một cuộc sống đây

đủ saư khi sang, một thể giới hoán toàn xa lạ? Niém tin ngây thơ về một thể giới siêu nhiên khác thế giới hiện hữu vến năm trong bản chất sâu sa nhất của con người va

nó là nhân tổ cơ bản tạo rên (hế giới (Âm lình của con người, nỗ cũng tôn trả độc lập trong đời sống của son người như mọi thành tổ khác như đời sống vat chat, sinh hoạt,

Nguyễn Đăng Duy cũng có một khái riệm rất cự thể, rõ rằng về Tín ngưỡng

*fin ngưỡng là một cách từ thực tỄ cuộc sống, cộng đồng, con người ÿ thức

về một dang thân linh nào đó, rồi cộng đẳng con người ấy tin theo, tôn thờ lễ bái, cẩu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành mội nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy” [5]

Ngô Đức Thịnh cho răng niêm tin, sự ngưỡng vọng vào cái thiêng, cái siêu nhiên luôn thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tổ eơ bản tạo nên dời sống tâm linh của con người Do vậy, ?ín ngưỡng được xem là một hình thức thể hiện mềm tin vào cải thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người nào đó ở một

trình độ phát triển xẽ hội cụ thê |36, tr, 17]

Da phần các nhả nghiên cửu khi để cập tới khải niệm tin ngưỡng đều cho rằng đó là một hình thái văn hóa dựa trên quan niệm về xự tốn lại của một (hé giới siêu nhiền đối lập và quan hệ chặt chế vời thê giới trần tục qua các hình thức thông quan của con người với thần lình TỪn ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào cái

thiêng

Khải niệm văn húu tin ngưỡng cũa người Tàp

Theo nhém nghiên cứu của Nguyễn Thị Yên trong cuỗn Tín ngưỡng đân

gian Tày — Nùng cho rằng: "ăn hóa lín ngưỡng đâm gian Tày — Nùng được hợp thành bối các hình thúc cúng bái dân gian với các tên gợi như Tòo, Mo, Then, Put, Slién, mà chủ thể là những thầy cúng kiêm nghệ nhân có các tên gọi liên quan Từ những hình tháo xinh hoạt tín ngưỡng dân gian này để làm nây sinh những giá iri

24

Trang 26

văn hỏa nghệ thuật của người Tày — Nùng như: ngữ vẫn dân gian, nghệ thuật biểu

diễn, nghệ thuật tạo hình, phong tục tập quản, ” [44, tr 97 98]

Những khái niệm về tín ngưỡng, văn hóa lin ngưỡng và văn hóa lín ngưỡng

của người Tây Nùng được xem lả những khái niệm ¡mang tính công cụ dé nghiên

cứu về văn hóa tín ngưỡng Tày nói chung và tín ngưỡng Then, nghệ nhân Then nói riéng,

1.22 Khải niệm ving vin héu va ving thé logi vin héu dan gian

Theo nha nghiên cứu văn hóa Ngô Dức Thịnh trong cudn Vain ñóa vững và

phân vùng văn hóa ông cho rằng: Uùng văn hóa là mội vùng lãnh thô có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, cứ dân sinh sống ở đó từ lâu đã có những mỗi quan hệ nguồn gắc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phái triển kinh

tế - xã hội, giữu họ đã diễn ta những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại nên rong vùng đã hình thành những đặc trưng chưng, thể hiện trong sinh boạt văn hóa vật

chất và tình thân của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác [33]

Vùng văn hóa hình thành én tai va phat triển chịu lác động của nhiều nhân

tổ tự nhiên, xã hội, lịch sứ, tộc người, ngôn ngữ và đặc biệt lá sự giao lưu văn hoa

nén trong một vững văn hóa không nhài thiết chỉ có một tộc người ginh sống mà có

thể có nhiều tộc người ngược lại một tộc người có thể có mặt ở nhiễu vùng vẫn

hóa Những biểu hiện của vùng văn hỏa mang tính đa vẻ, thể hiện trên mọi khia cạnh đời sống vật chất cũng như tĩnh thầu của công đồng đân cư, trong đó đặc trưng hon cá là những lối sống, nếp sống, phong tục, nghị lễ, tíì ngưỡng, lễ hội; các hoạt động văn hóa văn nghệ nhất là nghệ thuật dân gian, Tắt nhiên không phải vùng

văn hỏa nào cũng mang những đặc trưng chung mà trong một vừng văn hóa bao giờ

cũng có đặc trưng chủ đạo mang tỉnh trội và nó sẽ định hỉnh nên bản sắc văn hóa

vũng Ví như tộc người Tây ở Lạng Sơn cũng mang những đặc trưng văn hẻa tộc

TRRƯỜI char ¢: ¢ dia ban khdc nhu Cao Bang, Bac Kan, Ha

Trang 27

Ving thé loai van hoa là một không gian địa lý nhất dịnh mà ở đó từng thé

) bidu

biện lính tương đồng thông nhất của mành thông qua nội dụng, kết câu, các xóc thái

loại văn hóa truyền thông (huyền tuoyết, sử thủ, dân ca, sân khấu, âm nhạc,

biêu hiện, phương thức lưu truyền [33, tr 84 85]

Trong sự phản loại của mình Ngồ Dúức Thịnh đã phâm thành các vùng thể loại như sau: Ưùng truyền thuyết và nghỉ lễ; Lùng dân ca âm nhạc; lùng lín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội Và trong tài liệu này ông đã xếp Vùng, Then Việt Bắc nằm trong, vùng tin ngưỡng, nghỉ lễ và lễ hội Then vừa là tín ngưởng thờ tổ nghề Then, vừa là tin ngưỡng chữa bệnh, cầu may, trừ tà, sự giao tiếp của các Gng/ba Then với thân linh cing là một hiện tượng tích hợp nhiều giá trị văn hỏa, tín ngưỡng lo vậy, Then là một hiện trong tín ngưỡng không thể thiểu trang công đồng Tày Và trang,

nghiên cứu này chúng tôi muốn tìm những đặc trưng riêng biệt mang tính trội của ving Then Tay Lang Son trong toan thé vung Then Việt Dắc [33, tr 396]

1.23 Khdi niém Shaman va thay Shaman

Theo nhà tổn giáo học người Nga XA Tocarev, Shaman gido la md bình thái tôn giáo mang tỉnh phổ biển của xã hội loài người, củng với Naguan giáo, Hội kăn, thờ thân bộ lạc, sửng bái thũ lĩnh là các hình thái tốn giáo đặc trưng vào thời kỳ

thịnh hành của chế độ bỏ lạc, Shaman giáo dạt tới độ cực thịnh trong thời kỳ này và

trở thánh hình thái xã hội thống trị và rồi nó cũng suy vong củng với sự tan rã của chế độ bộ lạc Tuy nhiên, những dấu ấn của loại hình tôn giáo cỗ xưa này vẫn tên tại trong nhiều xã hội va van có những tác động nhát định tới dời sống của con người hiện đại Khái niệm Shaman giáo gắn bỏ chặt chẽ với các thầy pháp Shaman, +hông giếng như các loai hình tôn giảo trước nó như Vật linh giáo, bái vật giáo, thờ củng tổ tiên con người có thể trực tiếp thông quan với thân linh, trong Shaman giáo, can người phải thông qua các thấy Shaman đề liên hệ với thành than Thay

Shaman theo quan niệm dân gian là những người có khả năng phù pháp tự đưa minh vao trang thái ngây ngất để có thể thông quan với thần lĩnh [28]

Tiện nay, nội hàm của thuật ngữ Shaman vẫn đang được nhiều nhà nghiên cứu tranh luận Lic dau ngudi ta cho ring Shaman chi bao hàm hiện tượng xuất hồn

26

Trang 28

của cdc thay Shaman di dén thé gidi thần linh nhưng sau này nhiều người cho rằng, Shaman bao hàm cã hiện tượng xuất hồn và nhập hồn

- Xuất hến mình để nhập siêu linh khảc, biện tượng nay chú yếu có ở các lễ

hội do những người không chuyên thực biện Trong chu trình này, người ngồi đồng

xã hội của các nhà nước Châu Á từ những thời kỳ cổ xưa và qua suốt cả thể kỹ 20 Trong những xã hội nay, những người hành nghề tôn giao như vậy (bẩy pháp Shaman) đã chịu đụng sự ngược đãi, dẻ bïu về mặt trí tuệ và đàn áp trục xuất hơn nhiều so với thây pháp Shaman của các xã hồi hải lượm, săn bắn hoặc chăn nuôi, v

v |47J

Trang 29

Nhu vay, tir thé ky XX cho dén nay khai niém vé Shaman va thay Shaman vẫn không ngừng được các nhà nghiên cứu quan tâm Và các thay phdp Shaman được xern như những người hành nghề tôn giáo bằng cách xuất nhập hén minh dé liên hệ với thể giới siêu linh Dủ trong nhiều thời kỳ, ở nhiều xã hội, các thiy Shaman bị coi thường, đẻ bịu song họ vẫn tồn tại một sức háp dẫn, lôi cuốn lạ kỳ và

đổi khi họ còn mang những xử rưệnh quan trọng đổ cứu chuộc nhiều thân phận

1.24 Then và một số khi niệm cả liền quan

“Trên các phương tiện thông tin đại chứng và theo cách hiểu sơ bộ của đông đão quần chúng, thuật ngữ Tien thường được liểu là một làn điệu dân ga của người

‘Tay, Nùng, Song cách hiểu này mới chỉ phản anh được một khia cạnh nhỏ của 7hen

mà chưa phản ảnh được đây đủ và đúng bản chất của sinh hoạt nảy Trên thực tê

cũng như qua các nghiên củu khoa học thì thuật ngữ Then ngoài cách hiểu là một

làn điệu đân ca nó còn được dùng để chỉ một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, một tiết văn hóa tâm linh của công đẳng Tày, Nừng,

Khái niềm về Then liên tay cũng chua thực sự lả một khải riệm thông nhất

mà thiên theo từng hướng nghiên cứu, mỗi nhá nghiền cửu có một quan niệm riêng Trước hết chúng ta tìm hiển thuật ngữ Then, trên thực tế thuật ngữ Then bắt nguồn

†ừ dâu cũng tôn tại nhiều quan diễm, Theo da số thì thuật ngữ 7hen bắt nguồn từ âm

Ilan — Việt: Thiền (2), túc Then được biến âm từ Thiền có nghĩa là trời, mường 'Then chinh lá mường Trời Thiên định Bởi theo quan niệm của người Tảy, thế giới

có 3 tâng: Thiên đình — Trần gian — Âm phú và mường Trời hay Thiên đình là noi

mà họ vô cùng tôn kính, đó là nơi trủ ngụ của các thần lĩnh, những người thuộc thế

giới siêu nhiên, những người có khả năng nghe dược lời cầu nguyện của họ, ban cho

họ sức khöe, tải lộc, may mắn, Có lẽ vậy mà Then trong quan niệm của người

Tây Nông để chỉ một thế giới thần thánh, siên linh

Và cach hiểu thứ hai cho ring ven nghĩa là 7iên - Siiên Tiên là những người ở trên mường Trời - lực lượng siều nhiên, thân thánh, những người giữ vai trò thông linh giữa thể giới Irần tục với các thần lĩnh Với cách hiểu này, nhiều người

28

Trang 30

dua ra giả thuyết rằng Then bắt nguồn từ tía ngường SHên của những bà Sliên người Nửừng, Tuy nhiên, Sliên thiên về hoạt động bói toán, làm các lễ cúng nhỏ

Trong nghiên cứu về Then trong cuốn “Then Tay”, TS Neuyén Thị Yên, dã liệt kê ra Ø cách viết khác nhau của Then dựa theo tải liệu về Ném ‘Tay cửa nhả nghiên cứu Triều Ấn Cơ bản tất cả các cách viết Then, Pụt theo Triển Ân tuy tùy tiện, lộn xôn nhưng chí đọc ra là then hoặc Pụt⁄ Pụt điều đỏ chứng tỏ mỗi quan hệ gân gi giữa Then và Pụt Diễn đáng chú ÿ là trong 9 cách viết Ther/ Pụt nói trên có tới 6 chữ lây chit X (Thiên) để biểu thị Then về mặt ý nghĩa là “trời” và 7 chữ (nhân) để bổ sung cho ý nghĩa người của nhà trời Xét về ngít nghĩa, chữ ,⁄ (Thiên 'Then) lả từ mượn ý của chữ Llán chỉ trời đẳng thân linh tối cao mà các cứ đân ‘Tay

— Thái nói chưng đều thờ phụng Có lế chữ Then là xuất phát từ tục thời Trời (pha)

của các đân tốc nhóm này, sau khi ãnh hưởng của văn hóa Hán, họ đã mượn chữ Thiên/ Trời là một mỹ từ để tôn xưng Trời (pha) và để thờ phụng bởi chữ Hán thường bao giờ cũng mang nghĩa trang trọng [43, tr 54]

Từ hiện tượng như trên cỏ thẻ giải thích tên gọi Then la bắt nguồn từ tín ngưỡng thờ Trời (pha) của cư đân Tày — Thái nói chưng, Do ảnh hưởng bởi sự giao

Tau van héa Him — Tay — Kinh nên người Tây không còn giữ dược nhiều yếu tổ bản

địa như người Thái Tây Bắc nhưng Then vẫn được họ lưu giữ lại để chí một hoạt

động văn hóa tín ngưỡng liên quan đến tực thờ trời mang tính bản địa của cộng, đồng Then được giữ lại dễ chỉ những người thây củng có khả nắng làm mỏi giới liên hệ giữa cối đất và cối trời, giữa cối trần tụe vá cối siêu nhiên

Có lẽ trong cơm mắt của người Tây, Nùng cũng như các đầu tộc khác buy còn tốn tại nhiều cách hiểu khác nhau vẻ ban chất của Then song phản lớn mọi nguời đêu cho rằng trong Then điều quan trọng nhất chính là những thây Then - người tiến hank nghi 18, 14 lình hỗn của nghỉ lễ then: Họ dược cho là người đặc biệt giữ vai tra trung gian giữa thực và hư; giữa thế giới thần linh va thế giới con người; giữa thế giới hữu hình và thế giới siêu linh Then là người có khả năng giao tiếp với các lục

29

Trang 31

lượng siêu nhiền vả thông qua các thân Linh sẽ giúp con người thực hiện được nguyện vọng của ho Then chính là một thầy Sbaman do vậy cũng như trinh tự công, việc của các thảy pháp Shaman, trình tự công vi

giao tiếp với thân linh của Then

có hai cách là Then dùng tiếng dan, hát, xóc nhạc đẻ dưa hỗn minh (xuất bốn) chủ

du lên xứ sở thắn tiên cầu xin Ngọc Iioàng Thượng đế, các thánh thân ban lộc; cách thứ hai là thính câu thần linh nhập vào mình Trong hai cách thì cách thử nhất được các thầy then sử dụng nhiều hơn, còn cách thử hai là cách thức hành nghề chủ yêu của các ông đồng, bả đồng người Việt trong nghỉ lễ lên đồng,

Như vậy có thể xem Then là một loại hình ti ngưỡng dân gian cũa người

Tày thuộc dòng Shaman giáo mà ở đó những người làm Then thông qua hiện tượng

xuất hỗn và nhập hin dé giao tiếp với thế giới thần linh, cầu mong thân linh đáp

ứng nguyện vọng của mình và những người tham dự lễ,

* Các loại nghĩ lễ Then

Ông ‘Then, bả 'Then có thể thực hiện nhiều loại nghị lễ khác nhau, trong đỏ mỗi loại nghỉ lễ lại đáp ứng những nhu câu khác nhau của đời sẻng trần tục như bói

toán, chữa bệnh, cầu yên, giải hạn, Trong cuốn “Ađấy vấn đề về Then Vidi Bac”

tác giã Nông Văn Hoàn da chia Then gém các loại nghỉ lễ như sau:

~ Then kỳ yêt/cầu yên

~ Then chữa bệnh

- Then bói toán

- Then tổng Hễn

- Then cau mia, cau dao, diét ting

~ Thơn chúc tung (lam nha, sinh con, cưới hội, chúc tho, )

- Then cập sắc [11]

Tác giả Nguyễn Thị Yên trong công trinh “7hen Tây” của mình đã chia nghỉ

lễ Then thành bên loa chính căn cứ theo tình thức điễn xưởng:

30

Trang 32

~ Then bói (bói chữ bệnh, bói tinh yéu, )

~ Then giải hạn, cầu yên (cầu rể va phù hộ cho trẻ nhỏ; then giải hạn, nói số

cho người già; gọi vía lạc; cầu tự, Then chữa bệnh, ) Các loại Then này thường

điễn ra vào đầu năm, mùa xuân

- hen chúc tụng (mừng nhà mới, cưới hỏi, thăng quan, ) loai then nay it

tính nghỉ lễ hon ma nang vé vui chơi, chúc tụng vưi vẻ

âu Then (hội Then mà Liều biểu là Then cáp sắc) loại Then này thường tổ chức 6 chinh nha Then dé dàng cúng tố nghẻ Then vào địp thường kỳ hang nim va

đặc biệt là Then cấp sắc, tăng sắc cho những người làm Then [43, tr 74]

* Lệ thẳng thần linh trong Then

Hệ thống diện thần trong Then là một thế giới da thản, cỏ chịu ảnh hướng, khả rõ nét từ thân linh Tam giáo của Trung Iĩoa Thẻ giới thân linh trong Then bao gồm than tinh ở mặt đất, trên trỏi và dưới đất (âm phủ) Trong đó thần ở trên trời được coi là có nhiều quyển năng hơn cá đặ biệt là vị thân đứng đầu mường, Trời Ngọc Hoàng Theo quan niệm dân gian thì những thân linh ở trên trời có khả năng,

chủ phôi toàn bộ cuộc sóng của thẻ giới muôn loài dưới mặt dật, họ có thể ban cuộc

sống bình yên hay những bắt hạnh cho muôn loài LIệ thống thần lĩnh trong Then nói riêng và cửa cộng đông Tây Lạng Sem nói chưng (như đã phân tích trong phân trên) đều có nguẫn gốc từ tín ngưỡng đa thân của các cư đâu nông nghiệp nhưng đã được bao phủ bằng một lớp vỏ của các vị thần Tam giáo Tin ngưỡng thờ Trời, Dất được biến thành tín ngưỡng thờ vi thần có tên goi la Ngoc Hoang, hay các tín

ngưỡng thờ ma sông, ma suối, trưa bếp thủ biến thành tín ngưỡng thờ Long Vương,

Thổ Công, Táo Quân,

Trong Then cấp sắc ở Văn Quan cụ thể Then phải vượi qua Iất cả Ï1 cửa ải

di, con trong các

mới tới được của Ngọc Hoàng, thân linh tối cao cai trị mường |

loại Then khác thì chủ nhà muốn hỏi việc gì Then sẽ đến của đó đề xin và một trong,

31

Trang 33

những cửa không thể thiếu trong hau hết các nghị lễ Then là cửa Thể Công, cửa 'Thành LIoàng, cứa Táo Quản, cửa Tổ tiên

1) Tu Thổ Công (của Thỏ Công)

2) Tu Thanh Vàng (của Thành Hoang) 3) Tu Téo Quân (cửa Táo Quân)

4) Tu Dẫm (của Tế tiên)

5) Tu Pháp (cửa Pháp Sư) 6) Tu Tưởng (của Tưởng) 7) Tàng Queng Quý (Đường Ve Sầu)

8) Tu Cap Kính (cửa đo những người lâm Then nhưng không thành nghề cai

git)

9) Tu Vữ Khuông, Vỡ Khắo (cửa ông Khuông, ông Khắc) 10) Kham hai (vượt biển)

11) Tu Vita (otra Neoe Hoang) [29, tr 40]

Mỗi lần thực hiện cuộc hành trinh Then dùng lời hát, đệm với tiéng dan tinh

để điễn tá một cưộo hành trinh đây khỏ khăn, vất và, phải vượt qưa những cửa ải

thậm chỉ phải chiến dâu dễ vượt qua Nhưng qua do thay sy dan cai hai hoa, giao

hm van héa nhuan nhuyền giữa Kinh — Tày — Ilán, tạo nên cho hệ thông văn hỏa tin ngưng Tảy mà tiêu biểu là Then một màu sắc vừa đân đã, vui nhộn vừa quy cũ,

trang nghiêm

Tiểu kết chương 01

Huyện Văn Quan được xem là một vùng tương đối khó khăn ở Lạng Sơn,

song tại đây lại lưu giữ được nhiều gia tri van hóa truyền thông tiêu biển của cư dân Tày Ngay từ những ngày đầu người Tày sinh sống lại đây cho tới bây giờ, các nghĩ

18, lễ hội, phong tục tập quản của thôn bản vẫn được báo tổn, phát huy Then có thể coi là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biếu, đặc trưng nhất trong vùng cửng

32

Trang 34

với số lượng các thay Then, Mo, Tao con tuong déi dây đủ Họ chính là những, người báo hộ cho đời sống của cộng đồng láng bản, lả người không thẻ thiểu trong, các hoạL động lu ngưỡng của rnỗi gia đình cũng như của cã công đồng Người ta cần sự có mặt của Then trong những lẽ lởn như Lỏng tổng, cầu mùa, cho dến việc ma chay, hiểu hi, tần gia, mừng thọ, đầy tháng, trong các gia đình Hơn nữa Then con dược cơi như thấy thuốc chữa bệnh cứa cả làng, Then là chỗ dụa tiủt thân khi gia đình gặp chuyện không may, là nơi người ta chia sẻ niềm vui khi cỏ chuyện mime Cé thé coi không gian didn ra hoạt động nghỉ lễ Then chỉnh là “khổng gin

cộng câm và cộng mệnh” (chữ thường dùng của G5 Ngõ Đức Thnh) của con người

và của bản làng người Tảy Irong nghiên cứu này, chúng tôi để cập tới Then là một

loại hình tin ngưỡng dân gian của người Tày thuộc đòng Shaman giáo ; các thay

Then chính lá các thẩy pháp Shaman

33

Trang 35

Chuong 2: TID GIGI DOI SONG CUA TIIEN TRONG XA IIOI TAY

O VAN QUAN, LANG SON

(QUA NGHIEN CUU TRUONG HOP BA THEN HOANG TH] BINH)

Người làm Then trong xã hội Tay bao gồm cả nam và nữ, theo như điều tra của chủng tôi tại Văn Quan, Lạng Sơn thi số người làm Then có tới 91% là nữ, còn lại là nam giới thể nhưng dỏng Then nam thường thiên theo cách hành nghề của Tảo (đôi khi có sử dụng sách cúng) Giữa déng Then Nam/Then tậc (Theo cách gọi của người Tày ö Văn Quan, khác với cach got Then nam của người Tây Cao Bằng —

‘Then Giang) và Then nữ có những khác biệt nhất định song yêu cầu bắt buộc là những người làm Then phải biết chơi đàn tính, nhảy múa và hất Đề có thể trỏ thành

“Người được chọn” cân có rất nhiều yêu tô từ yêu tô di truyền, căn số, yếu Lỗ tâm: sinh lý đến các tác nhân xã hội ví như: căn then (mửng bang), vên then (tấn then) và phải có niêm tin đổi với việc trở thành Then của Xgười được chọn Trong chương,

xảy chúng tôi sẽ để cập đến cần nguyễn Irở thành Then trong xã hội Tày, Văn Quan, quả trình học nghề Then vả đời sống thường nhật cũng như đời sống đạo của Then (thông qua nghiên cứu chính từ trường hop ba Then Hoang Thi Binh dit trong méi quan hệ với một số Then khác ở Văn Quan) Qua dó có thể mang dến znột cách nhìn toàn diện về quá trình trở thánh Then cũng như đời sống của Then những người được xem là đại điện cho thần linh trong xã hội Tay, những người chăm lo phần hồn và mang đến cho cộng đồng niềm vui cũng nÌư sự bình an

2.1 Quả trình trở thành Then của Agười được chọn

3.1.1 Tiêu sử dời sông cũa người dược chọn

a Giá lình xuất thân

Sống trong cộng đồng Then cũng như bao nhiêu người khác, họ có thể xuất thân từ nông đân, công nhân, viên chức, họ cfng cỏ một gia đình bình thường với

cha mue, vợ chống và cơn cái Đây là diều đầu tiên chúng la nhận định về Then, họ

34

Trang 36

không phải là những con người “khác thường” mà họ cũng có một cuộc sống bình thường như mọi người trong cộng đồng Lio cũng lao động và có nghề nghiệp chứ không phải chỉ sống dựa vào nghề thấy cúng hay nói một cách khác họ không phải những người thực hành tin ngưỡng chuyên nghiệp (fớv những người chỉ sống bằng nguồn thu duy nhất có được nừ nghề cúng, bói) Dời sống của họ là đời sống của những người thực hành tín ngưỡng không chuyên, vừa là đời sống của người thường vừa là đời sống của người chăm lo sinh hoạt tín ngưỡng cho cộng đồng

Trường bop Then Bình — đối Lượng mà chứng tôi chọn làm mẫu nghiên cứu chính xuất thân trong một gia đình trí thúc hiểm hoi của dân tộc Tây, có nhiều người học rộng, được trọng vọng ở trọng vùng Anh chị em bả đều làm nhả nước, chỉ gái bà côn là Tiến sĩ Bà oững được gia đình cho đi học, bọc hốt lớp 7 (ương dương, Tốt nghiệp cap II bay gid) sau đỏ, bà đi học nghề thuốc rồi làm công tác phục vụ kháng chiến, đến năm 1974 ba làm cán bộ phụ nữ xã Đại An và năm 2000 thì về hưu

Gia đình chẳng bả cũng là gia đỉnh khá giả, có học thức trong vùng, Bà lầy chống khi côn rất trẻ nhưng luôn phải sông cảnh một mình nuôi con vì chẳng ba

làm giáo viên, được phân công làm việc xa nhả nên thi thoáng mới vẻ thăm gia

đình Những khi con ổm bả luôn phải tự minh chăm sóc con cái, làm việc đẳng áng, lại công tác ở xã niên rãi vật vâ Bà sinh được 7 người con nhưng hai người đã mất, riăm người con của bà hiện giỏ đều thành đạt, ba cô con gái làm giáo viên, anh con

trai thứ bai Trưởng Đài Phát thanh — Truyền hinh huyện còn anh con trai út làm

công tác ở thôn đề có điều kiện chim le cha me, rudng vườn, cả gia đình bà đêu là Đăng viễn gương mẫu

Có thể nói gia đình bà cũng như gia đình nhà chẳng đếu có những điều kiện kinh tế tốt, lại dẫu là người Nhà nước, có trình độ học vẫn, dược cập nhật và hiểu biết đầy đủ các thông tin, chỉ thị của Dãng và Nhà nước nên việc bà đến với Then

hoàn toàn không phải do mê tin, dị đoan hay thiế 1 biét mà đây là một việc vạn bất đắc dĩ Có một thời gian Đăng vả Nhà nước ta làm rất nghiêm túc công tác

Trang 37

chống mê tin đị doan, bởi toán, bửa phép, khi đó các hoat déng tin nguéng va những người hảnh nghẻ tôn giáo đều không dâm hoạt động công khai Là một can

bộ phụ nữ xã hơn ai hết bà Bình hiểu rất rõ những điều đó nên trong suy nghĩ của bà

cũng như gia dinh không bao giờ nghĩ dến chuyện sẽ lâm Then Khi chủng tôi hỏi

gia đình bả và nhà chồng có ai làm Then không? Dà nói: Bà nội chồng bà trước kia

âm chí khí đã nhận thải

cũng bị bắt làm Then, bà cụ luôn trôn dễ không phải làm, 0

mẹ, đến nhà thấy mẹ học mà bà vẫn trấn về nhưng ba van bj bat lam, ba lam Then được hơn 10 năm thì qua đời Hà nội của chông bà Bình bị bắt Then cũng tương đồi nuộn, có lẽ vậy nên đến lượt bà Bình tuổi vào nghề Then của bá cũng khá muộn (xem phin Lita tudi và giới tính),

Nhu vay, co thé dé dàng nhậu thấy, bà Bình sinh ra trong ruột gia đình bình thường, kinh tế khả giã, có học vẫn trong xã hội và hoàn toàn không có người làm Then Vì vậy, không xảy ra khả năng bà bị tế tiền nhà minh bat Then va cig không đến với nghệ Then bằng sự thiếu hiểu biết Tuy nhiên, gia đỉnh tổ tiên nhà chẳng lại

có tấn Then và bà dã bị bắt Then trong một trạng, thái hoàn toàn thụ động, không có chuẩn bị trước, không hề mong muốn

b, Học vẫn, nghề nghiệp

Néu thay Tào người Ning được công đồng tôn trọng và cơi là những nhà trí

thức nhân dân tới kiện thúc Hắn học sâu rộng, hành nghề theo sách vỡ bài bản thì

cáo Then người Tày có phần mang tính dân gian hơn Then hành nghề không dựa theo sách climg ma chủ yếu là học thuộc lòng và đuợc sự hỗ be hoàn hao tir am

nhạc (đàn tính và xác nhạc), ca từ (lời hát (hen), làn điệu Những người làm Then

đa phân không cỏ kiến thức cao như Tào, hen gần gũi và dân đã hơn, họ chủ yếu chữ dùng lại ở trinh độ biết đọc và viết tiếng phổ thông Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ, Then làm việc trong cơ quan nhá nước thì cỏ học van cao hơn

như truờng hợp Then Binh ching ta dang khao cứu hay những người làm Then là

tam giới thường chịu ãnh hướng của Tào nên cũng có một số ít học nghề từ thây

"tảo và hành nghệ theo sách cúng,

36

Trang 38

Song, xét chung ong mắt bằng trình dộ học vẫn của người Tày ở Văn Quan thì những người làm Then không có trình độ học vấn cao bi đa phân họ xuất thân

từ nông dân Then không phối người hành nghề chuyên nghiệp do vậy bên cạnh nghề Then họ vấn lao động sản xuất phục vụ cho cuộc sống của minh Đối với những Then xuất thân từ nông đân đối với việc trỏ thành Người được chọn thì sự xáo lrộn nghề nghiệp không quá lớn Ngoài những ngày làm lễ dịnh kỳ hay bal thường, họ vẫn có thể lao động binh thường, sự kết hợp giữa Then và nghề chính của những người này không này sinh nhiều xung đột, thâm chí làm Then còn là một

cách giúp họ tăng thêm thu nhập cho cuộc sống gia đình Còn đổi với những người

đang công tac tại các cơ quan nhà nước thì việc trở thành Xgưởi được chọn là một

vấn để vô cửng nghiêm trọng, nó ánh hưởng trực tiếp tới nghề nghiệp va danh du

gia họ

BA Hoang Thị Bình khi là Người được chon, da đã về hưu nhưng gia định đều là Đăng viên, các con còn đang công lắc, nên mợi người trong gia đình đền không đỏng ý cho bà kể nghiệp Then của Tổ tiên Con dường dến với nghề Then của bà vô cùng khó khăn và bị ngăn trở từ nhiễu phía

Cũng giống bả Bình chị Hoàng Thị H ở Văn Quan, làm công, nhân tại nhả

máy xí măng, chị “căm ghét” việc phải trở thành Then Chị đã tuyên bố “thở chất chú không chịu làm then”"

Trong, hoàn cảnh này bà Bình và đa phân những người công tác tại co quan nhà nước hay làm ở các công ty đều không ruuốn mình trở thành Then Bởi họ biết uếu làm nghề này họ sẽ phải từ bỏ công việc hiện tại đẻ tuân thco sự sắp đặt của ma Then, bi troi bude trong những khuôn phép, những kiếng ky hợp pháp bay bất hợp pháp của nghề nghiệp va xã hội Những quy định gắt gao về giờ giấc, công việc và trách nhiệm khi lâm tại các cơ quan nhà nước khiến họ không thể vừa làm Then vừa hoàn thành sông việc Như trường hợp bả Bình, mãi sau này khi đã nghỉ hưu (65 tuổi) bà mới đi tới quyết định sẽ làm Then Có thé da đã nghỉ công tác; do căn then

Trang 39

vẫn luôn tồn tại và thôi thúc bà, cũng có thể do sự biểu thuận muốn làm tròn bổn phận với gia đỉnh chẳng bả làm lễ cấp sắc và chính thức làm 'Then vào năm 2000,

Nếu xét trên phương điện nghề nghiệp có thé dé dang nhận thay tủy theo trinh độ cao thấp má quyết định làm nghề của họ là khác nhau Những người nông, đân dễ dang chấp nhận việc mình trở thành Vgưởi được chọn và sẵn sàng trở thành

‘Then, trong khi đỏ những người có trình độ eao hơn vả công tác tại các cơ quan nhà trước, các công ty, xí nghiệp thì khó khăn hơn trong việc đi tới quyết định làm nghề,

đa phần họ không muốn mà đo bị bắt buộc phải làm khủ phải chịu cảnh bị cơ day Điều dé che thay di Then giữ một vai trở không thể thiếu trong dời sóng tâm linh của cộng đồng Tày Văn Quan song nó vẫn phải chịu những ảnh nhin không thiện

câm từ chính những người trong cuộc và từ công đồng trình,

© Lửa tuôi và giới tình

Cũng giỏng như nhiều hình thải Shaman khác, lứa tuổi vào nghẻ của thầy Shaman là không cổ định, họ có thẻ trỏ thành người được chọn vào bất kỳ thời điểm nao trong cuộc đời của họ Có những người vào nghề từ rất sớm như một số trường, hop sau ma chúng tôi điểu ta được tì Văn Quan Then Lẫn 4 Na Banh, xd Xuân Mai trở thành người được chọn khi mới 12 tuổi, Then Bước ở Vĩnh Lại (19 tuổi); time cũng có trường hợp trở thành người được chọn khi bước sang tuổi trung niên

hu Then Hiển ở Kéo Còi, Tràng Sơn (40 tuổi) và dặc biệt còn có trưởng hợp trỏ thành người được chọn khi đã bước vào tuổi giả như bà Then Ioàng Thị Hình, năm

65 tuổi bà mới làm lễ cấp sắc

Việc tại sao lại có sự khảo biệt rất lớn về lửa tuổi vào nghề nảy được giải thích chủ yếu đựa trên căn số và vấn Then Những người nay duoc ma Then chon bat ‘Then vao thời diễm nao thi sé vào nghề ở lửa tuổi dó, Những người nào có căn Then (mình bang) mà không chịu ra làm nghệ sẽ bị rơi vào trạng thái cơ day hay Thánh đày Biêu hiện cũa cơ đây chính là bị ôm đau, bệnh tật, không thế chứa trị nổi dù có đúng Đông hay Tây y và họ chỉ có thể khôi khi họ chính thúc làm lễ cấp

38

Trang 40

sắc đẻ gia nhập vào thể giới Then Do vậy, đôi khi đó là con đường duy nhất dé khỏi bệnh nên da không muốn họ vẫn phải làm lễ cấp sắc Ngoài ra còn có một cách giải thích dựa trên vấn Then (lan then), đỗi với những người được lựa chọn thuộc về dòng hợ có tấn then phụ thuộc vào số lượng âm binh của những người lắm Then từ thé hệ trước để lại đông hay ít Nếu số lượng âm bình quá đông và không có ai trong họ kế nghiệp làm then thì tổ tiên sẽ chọn một người thích hợp trong số đông cơn cháu Và chắc chắn người được chọn sẽ phải thỏa mãn những yêu cầu bắt buộc của một người làm Then Còn đổi với những người được chọn không thuộc vé dang,

ho 6 tấn then thi sir lua chon nay hoàn toàn do ngẫu nhiên Trơng một thời điểm tảo đó, anh ta hoặc chị ta đi ngang qua ngồi miếu, gốc cây, và tình cờ bị một mna then không ai thử cúng bắt trở thành Then dé din đắt chúng đi ấn hương ăn hoa

Mặc dù trong Then, việc một nguời có zmỉnh bang và tấn Then bị bắt trở thành người được chọn không phụ thuộc vào lứa tuổi nhưng theo điều tra của chúng, tôi thì lửa tuổi cũng có những ảnh hưởng nhật định đến tương lai nghề nghiệp của

ho Theo ý kiên của người dân bản dịa chủ yếu thiên vẻ hai quan niệm: Một bên cho rầng những người trẻ tuổi, nhất là chưa lập gia đình có nhiều cơ hội phát triển nghề nghiệp hơu bởi theo ho những người trẻ thường sảng đ, học nhanh hơn, thông xanh bơn người cao tuổi Một số ý kiến lại cho rằng tuổi cao không, lảm giảm khả tàng hành nghệ của họ ma quan trong nhật là số lượng âm binh mà họ sở hữu

Theo chủng tôi nhận thấy tuổi tác của Then không quyết định khá năng nghệ nghiện và cơ hội nghệ nghiệp của Then Nhiều Then cao tuối nhưng có căn cao vén đây, hót hay, đàn giỏi, được cộng đồng kinh trọng và được mời tham dự nhiều lễ

‘Then lon Song vẫn dễ tuổi tác không, phải không anh hưởng tới thời gian hành nạ hề của Then Đối với Then Bình trở thành Then khi đã cao tuổi (65 tuổi), chắc chăn quảng Hời gian hành nghề của Then Bình sẽ ngắn hơn nhiều số vai Then Lan (và

nghệ khi 12 tuổi) Hơn nữa, tuổi cao sẽ gặp khó khăn vẻ vẫn để sức khỏe, không thể

đi làm Then ở quá xa và trong một thời gian đài được

39

Ngày đăng: 31/05/2025, 13:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dao Duy Anh (2006), Việt Nam vấn hóa sử cương, Tảxb Văn hóa théng tin, ITA Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam vấn hóa sử cương
Tác giả: Dao Duy Anh
Nhà XB: Tảxb Văn hóa théng tin
Năm: 2006
2. Toan Anh (1997), Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam (quyên thượng), Nxb TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ tín ngưỡng Việt Nam (quyên thượng)
Tác giả: Toan Anh
Nhà XB: Nxb TP Hồ Chí Minh
Năm: 1997
3. Dương Kim Bội (1975), Lời hát Then, Số Văn hóa thông tìn Việt Bắc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lời hát Then
Tác giả: Dương Kim Bội
Nhà XB: Số Văn hóa thông tìn Việt Bắc
Năm: 1975
4. Hoảng Tuần Cư, Vĩ Quốc Dinh, Nông Van Tu, Hoang Hac (1994), Then Bach điều, Mxb Van hòa đân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Then Bach điều
Tác giả: Hoảng Tuần Cư, Vĩ Quốc Dinh, Nông Van Tu, Hoang Hac
Nhà XB: Mxb Van hòa đân tộc
Năm: 1994
5. Trần Mạnh Cường (1999), Nhận xét đặc điểm biển dội ý thức của trạng thái lên đông & các lễ hội vùng Nam Định, luận văn thạo sĩ chuyên ngành tâm thầnhọc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận xét đặc điểm biển dội ý thức của trạng thái lên đông & các lễ hội vùng Nam Định
Tác giả: Trần Mạnh Cường
Nhà XB: luận văn thạo sĩ chuyên ngành tâm thầnhọc
Năm: 1999
6. Chu Xuân Diễn (2007), Ajghiên cứu văn héa dân gian, phương pháp, lịch sử, thể loại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ajghiên cứu văn héa dân gian, phương pháp, lịch sử, thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diễn
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
7. Nguyễn Đăng Duy (2008), Văn hóa tâm linh, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa tâm linh
Tác giả: Nguyễn Đăng Duy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2008
8. Nguyễn lỏng Dương (2004), Tân giáo trong mỗi quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tân giáo trong mỗi quan hệ văn hóa và phát triển ở Việt Nan
Tác giả: Nguyễn lỏng Dương
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2004
9. Cao Huy Đình (1976), Từn biểu tiễn trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từn biểu tiễn trình văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Cao Huy Đình
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1976
10. Chủ Xuân Giao (2000) Đời sống, vưi trò và bân chit cia thay Tao người Nùng An qua trường hợp bản Phía Chang, Luận văn Thao sĩ Văn hỏa dân gian, Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống, vưi trò và bân chit cia thay Tao người Nùng An qua trường hợp bản Phía Chang
Tác giả: Chủ Xuân Giao
Nhà XB: Viện Nghiên cứu Văn hóa Dân gian
Năm: 2000
11. Nhiều lác giả (1978), Máy vấn đà về Then Việt BẮc, Nxh Văn hoa. din tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Máy vấn đà về Then Việt BẮc
Tác giả: Nhiều lác giả
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc
Năm: 1978
12. Nhiều tác giả (1992), Các đân c Tàp, Nùng ở Việt Nan, Viện Dân tộc học,à NộiViện Khoa học xã hội Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các đân c Tàp, Nùng ở Việt Nan
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Viện Dân tộc học
Năm: 1992
14. Nhiều tác giả (1999), Địa chi Lang Sen, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa chi Lang Sen
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
15. Diêu Chu Huy (1996), Vu thude than bí, bản địch Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vu thude than bí
Tác giả: Diêu Chu Huy
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1996
16. Nguyễn Chí Huyện (chủ biên), Hoảng Hoa Toản, Lương Văn Bão (2000), Nguồn gốc lịch sử tộc người vững biên giới phía Bắc Liệt Nam, Nxb Văn hòa dân.tộc, Hà Nội.tệt Nam một sinh hoạt văn hóa tâm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn gốc lịch sử tộc người vững biên giới phía Bắc Liệt Nam
Tác giả: Nguyễn Chí Huyện, Hoảng Hoa Toản, Lương Văn Bão
Nhà XB: Nxb Văn hòa dân.tộc
Năm: 2000
13. Nhiễu tác giá, Văn hóa tuyên thông Tày Nang (1993), Nxb Văn hỏa dân tộc, Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w