1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thien Tay in Van Quan district, Langson province (case studies: Mrs. Hoang Thi Binh) : Luận văn ThS. Khu vực học: 60 31 60

116 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 3,85 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mo – Then – Pụt – Tào – Phù Thuỷ là những hiện tượng điển hình trong đời sống tín ngưỡng của một số đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc đặc biệt là cộng đồng Tày – Nùng.. Điề

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

VIỆN VIỆT NAM HỌC & KHOA HỌC PHÁT TRIỂN

-

NGUYỄN THỊ HUỆ

THEN TÀY Ở VĂN QUAN LẠNG SƠN

(QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BÀ THEN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn Then Tày ở Văn Quan, Lạng Sơn (Qua nghiên

cứu trường hợp bà Then Hoàng Thị Bình) là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,

không sao chép của ai Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình khác Nội dung luận văn có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang website theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn Nếu sai, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huệ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau một thời gian học tập , nghiên cứu , tôi đã hoàn luâ ̣n văn Thạc sĩ Việt

Nam học với đề tài: Then Tày ở Văn Quan, Lạng Sơn (Qua nghiên cứu trường

hợp bà Then Hoàng Thị Bình) Để hoàn thành luận văn này , tôi đã nhâ ̣n được sự

hướng dẫn, giúp đỡ quý báu của các thầy cô , các bạn và những người dân nơi địa bàn tôi nghiên cứu Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin được bày tỏ lới cảm ơn chân thành tới:

GS.TS Nguyễn Đức Tồn, người thầy đáng kính đã hết lòng giúp đỡ , dạy

bảo, đô ̣ng viên và ta ̣o mo ̣i điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi cho tôi trong suốt quá trình ho ̣c tâ ̣p và hoàn thành luận văn

Bà Then Hoàng Thị Bình và các Then, Mo khác ở Văn Quan, các cán bộ huyện Văn Quan, cán bộ xã Đại An, thị trấn Văn Quan,… đã cung cấp những tài liệu quý báu giúp tôi hoàn thành luân văn này Đặc biệt, tôi muốn bày sự cảm ơn sâu sắc tới gia đình bà Hoàng Thị Bình đã tạo mọi điều kiện vật chất, tinh thần cũng như giúp đỡ tôi trong quá trình thực địa

Xin cảm ơn Ban lãnh đạo, các cán bộ Viện Việt Nam học & Khoa học phát triển, ĐHQG Hà Nội đã ta ̣o mo ̣i điều kiê ̣n thuâ ̣n lợi gi úp đỡ tôi trong quá trình học

tâ ̣p và hoàn thành luâ ̣n văn

Xin cảm ơn gia đình , cơ quan, bạn bè và đồng nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Hà Nội, ngày 23 tháng 11 năm 2011

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Huệ

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ……… 3

1 Lý do chọn đề tài 3

2 Lịch sử vấn đề sưu tầm, nghiên cứu Then……… 5

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu……… 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 9

5 Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu……… 10

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG THEN TÀY VĂN QUAN, LẠNG SƠN 11 1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu……… 11

1.1.1 Khái lược về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội………… 11

1.1.2 Lịch sử huyện Văn Quan……… 16

1.1.3 Khái quát đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Tày Văn Quan………

19 1.2 Một số vấn đề cơ sở lý luận……… 23

1.2.1 Khái niệm tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng của người Tày… 23

1.2.2 Khái niệm vùng văn hóa và vùng thể loại văn hóa dân gian… 25 1.2.3 Khái niệm Shaman và thầy Shaman……… 26

1.2.4 Then và một số khái niệm có liên quan……… 28

Chương 2: THẾ GIỚI ĐỜI SỐNG CỦA THEN TRONG XÃ HỘI TÀY Ở VĂN QUAN, LẠNG SƠN (QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BÀ THEN HOÀNG THỊ BÌNH) 34 2.1 Quá trình trở thành Then của Người được chọn……… 34

2.1.1 Tiểu sử đời sống của người được chọn……… 34

2.1.2 Những tác động của yếu tố tâm sinh lý tới quá trình trở thành Then………

41 2.1.3 Yếu tố xã hội với những tác động tới việc trở thành Then… 49

2.2 Đời sống Đạo của Then……… 51

Trang 5

2.2.1 Học nghề và cấp bằng sắc……… 51

2.2.2 Điện thần……… 56

2.2.3 Vật thiêng của Then……… 59

2.2.4 Những mối quan hệ nghề nghiệp và kiêng kỵ……… 64

2.3 Cuộc sống đời thường của Then……… 69

2.3.1 Đời sống thường nhật……… 69

2.3.2 Các mối quan hệ xã hội……… 71

2.3.3 Một số kiêng kỵ trong cuộc sống thường ngày của Then…… 72

2.3.4 Thu nhập của Then……… 74

Chương 3: GIÁ TRỊ VÀ SỨC SỐNG CỦA THEN TRONG XÃ HỘI TÀY VĂN QUAN, LẠNG SƠN HIỆN NAY 77 3.1 Gía trị của Then trong đời sống cộng đồng Tày, Lạng Sơn 77 3.1.1 Then – một người nghệ sĩ dân gian……… 77

3.1.2 Giá trị tôn giáo, tín ngưỡng của Then……… 81

3.1.3 Vai trò trị liệu của Then trong cộng đồng……… 84

3.2 Then và xã hội Tày đương đại……… 88

3.3 Suy nghĩ về sức sống của những người làm Then trong xã hội Tày Văn Quan hiện nay………

91

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Mo – Then – Pụt – Tào – Phù Thuỷ là những hiện tượng điển hình trong đời

sống tín ngưỡng của một số đồng bào dân tộc thiểu số vùng núi phía bắc đặc biệt là cộng đồng Tày – Nùng Những hiện tượng này xuất hiện, tồn tại và bén rễ trong đời sống cư dân Tày – Nùng từ rất lâu và nó trở thành một sinh hoạt văn hóa không thể thiếu Then là một đề tài được khá nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu ở những góc độ khác nhau Trước đây, trong khoảng thời gian trước Cách mạng tháng Tám cho tới những năm 80 của thế kỷ XX, Then được khai thác chủ yếu ở khía cạnh nghệ thuật diễn xướng, từ lời ca, nhịp hát đến cây đàn tính Các yếu tố mang tính chất tín ngưỡng tôn giáo trong Then hầu như không được đề cập đến bởi trong giai đoạn này, khi mới giải phóng cả nước lo xây dựng kiến thiết đất nước, công cuộc bài trừ tệ nạn mê tín dị đoan diễn ra một cách gay gắt, các sinh hoạt văn hóa Then, Tào, Lên đồng đều bị cấm đoán triệt để Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở về đây, Then được đông đảo các nhà nghiên cứu quan tâm, khai thác đặc biệt dưới góc

độ văn hóa tín ngưỡng Những nghiên cứu mới về Then đã mang lại một cái nhìn khác về hiện tượng - sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng độc đáo này Trong một đề tài nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng Tày – Nùng, nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức

Thinh khẳng định Then là một tín ngưỡng thuộc dòng Shaman giáo Từ luận điểm

này rất nhiều nhà nghiên cứu khác đã khai thác sâu hơn ở góc độ tín ngưỡng, tôn

giáo của Then Nguyễn Thị Yên trong Then Tày, đã tìm hiểu nghi lễ diễn xướng

Then cấp sắc ở Quảng Uyên, Cao Bằng; Đoàn Thị Tuyến trong luận văn tốt nghiệp ngành Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, đã tìm hiểu Then như một thứ Đạo trong đời sống của người Tày, Lạng Sơn Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu cụ thể đời sống và những vấn

đề xoay quanh đời sống thường nhật cũng như đời sống Đạo của các ông/bà Then

mà trong sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng này họ chính là linh hồn, là đại diện tiêu biểu nhất

Trang 7

1.2 Lâu nay trong nghiên cứu một hiện tượng văn hóa nào đó, phương pháp chủ

yếu của các nhà nghiên cứu là quan sát, phỏng vấn, điều tra số liệu, ghi chép,… tất

cả những gì liên quan tới nó rồi khái quát lên một vấn đề hay rút ra các kết luận về hiện tượng đó Việc xem xét, nghiên cứu vấn đề từ một trường hợp cụ thể, khai thác tất cả thông tin, đặc tính của một con người cụ thể để họ tự nói lên tiếng nói của bản thân, bày tỏ những suy nghĩ, quan điểm hay ý tưởng, nhân sinh quan của chính bản thân mình là một phương pháp còn chưa được phổ biến Bằng phương pháp nghiên

cứu trường hợp (case studies) hay nghiên cứu tiểu sử bản thân (life story) [21],

người ta dựa trên câu chuyện về con người nào đó để ta hiểu được một hiện tượng văn hóa, một vấn đề văn hóa của một cộng đồng người hay thậm chí là cả một giai đoạn văn hóa Bởi mỗi con người sống trong cộng đồng, họ đều chịu những ảnh hưởng, tác động, chi phối từ chính xã hội mà họ sống; số phận họ gắn bó chặt chẽ

và lệ thuộc vào cộng đồng nơi người ta sinh sống Nếu cá nhân được xem xét là một

cá nhân điển hình thì những đặc trưng văn hóa của cộng đồng được biểu hiện ở họ càng rõ nét nên chúng ta có khái niệm “văn hóa cá nhân” Do vậy, trong nghiên cứu Then – một hiện tượng điển hình của người Tày Lạng Sơn nói riêng và Việt Bắc nói chung, chúng tôi đã mạnh dạn sử dụng phương pháp này để có thể qua đó làm nổi bật những đặc trưng riêng có của vùng Then Tày Lạng Sơn từ một góc nhìn khác, góc nhìn của chính những người thực hành nghi lễ - ông/ bà Then

1.3 Đồng thời, trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi luôn mang một thắc mắc:

Tại sao Then Tày trải qua rất nhiều biến thiên trong lịch sử vẫn tồn tại trong cuộc sống hiện đại? Tại sao rất nhiều văn hóa mới du nhập mà then Tày vẫn không mất đi? Tại sao chính quyền đã có những biện pháp cấm hành nghề then, cấm tham gia

lễ then trong một thời gian dài mà then không hề mai một mà vẫn luôn tồn tại trong cộng đồng cư dân Tày trên khắp mọi miền tổ quốc? Đi đến nhiều vùng đặc biệt

trong quá trình khảo sát tại Văn Quan, tôi nhận ra rằng, với họ thầy Mo, thầy Then

là những người không thể thiếu trong cộng đồng Trước khi đi đâu, làm gì người ta đến hỏi thầy Mo, thầy Then; nhà có người ốm, mời thầy Then đến làm lễ; cúng ông

bà tổ tiên cũng mời thầy Then, nhà có cưới hỏi, tang ma cũng không thể thiếu thầy

Trang 8

then… Dường như, nếu cuộc sống của họ không có những thầy Then sẽ trở nên rất

bất ổn Vậy những người làm Then, họ là ai? Họ là người như thế nào mới có thể

trở thành then? Vị trí và vai trò của họ đối với cộng đồng và trong cộng đồng ra sao? … Từ những thắc mắc này, tôi muốn tìm hiểu rõ hơn về những người làm

then, căn nguyên họ trở thành then và tất cả những vấn đề liên quan tới cuộc sống thường nhật cũng như việc làm nghề của họ Qua đó có thể để cộng đồng không chỉ cộng đồng Tày, Nùng mà cộng đồng các dân tộc anh em hiểu thêm về những người làm Then và vai trò của họ đối với cộng đồng từ đó có thể có một cái nhìn khách quan đối với họ, đồng thời có thể thông cảm và phá bỏ sự kỳ thị

Sau một thời gian dài chiến tranh, nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường là quá trình phục hồi những giá trị tôn giáo, văn hóa tín ngưỡng, sinh hoạt dân gian cổ truyền với ý thức tìm về nguồn cội bản sắc văn hóa Đây là một thực tế sống động đang diễn ra mạnh mẽ trong cộng đồng 54 dân tộc anh em Điều này đòi hỏi cần có những nghiên cứu bắt kịp với dòng sự kiện đang diễn ra hiện nay trong đời sống của cộng đồng các dân tộc thiểu số, trong đó có hoạt động nghi lễ Then trong cộng đồng dân tộc Tày ở Lạng Sơn – một tỉnh vùng biên xa xôi

Với tất cả những lý do trên chúng tôi đã chọn đề tài “Then Tày ở Văn

Quan, Lạng Sơn” (Qua nghiên cứu trường hợp bà Then Hoàng Thị Bình) làm đề

tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học

2 Lịch sử vấn đề sưu tầm, nghiên cứu Then

- Hát Then là một đề tài được quan tâm từ khá sớm và được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Có thể chia lịch sử vấn đề nghiên cứu Then thành các giai đoạn như sau:

+ Giai đoạn trước năm 1945

Thời kỳ này hầu như không có các công trình, sưu tầm, nghiên cứu trực tiếp

về Then Tuy nhiên cũng có hai bài thuyết trình về Đạo giáo và phép thuật Phù Thủy của người Tày của Nguyễn Văn Huyên, được giới thiệu ở Pháp năm 1939 Đó

là bài “Về điện thờ Lão Tử ở người Tày” và bài “Một dạng ma thuật ở miền thượng

du Bắc Kỳ” Mặc dù chưa viết thành văn bản nhưng hai bài nghiên cứu này đã cho

Trang 9

thấy ngay từ nửa đầu thế kỷ XX, học giả Việt Nam đã có sự nhận diện và tiếp cận tượng đối có hiệu qủa trong việc tìm hiểu tôn giáo tín ngưỡng của người Tày

+ Giai đoạn sau Cách mạng tháng Tám 1945

Từ 1945 đến 1990: Là giai đoạn thể hiện những bước đi đầu tiên về việc sưu

tầm nghiên cứu Then Nhưng trong giai đoạn này Then chủ yếu được khai thác dưới

góc độ văn học, nghệ thuật diễn xướng, hát múa Hai tác phẩm Then “Khảm hải”

được trích dịch xuất bản như một tác phẩm văn học cổ của người Tày

Năm 1975, tác giả Dương Kim Bội cho ra mắt cuốn “Lời hát Then” là cuốn

sách lần đầu giới thiệu về lời hát Then dưới dạng nguyên bản tiếng Tày Tuy nhiên, tác phẩm này cũng mới chỉ trích dịch được một phần và chủ yếu là văn bản Then cấp sắc [3]

Năm 1978, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc cho ra mắt độc giả cuốn sách

“Mấy vấn đề về Then Việt Bắc” Đây là cuốn sách lần đầu tiên khảo sát về Then

trên một diện rộng và xem xét Then dưới góc độ là một hình thức diễn xướng dân gian tổng hợp Tuy nhiên, các yếu tố nghi lễ tín ngưỡng trong Then hầu như không được tác giả đề cập một cách thích đáng.[11]

Ngoài ra, một số bài viết về giá trị văn học của lời hát then, giá trị lời ca của Then cũng được đăng trên các tạp chí

Năm 1984, hai tác giả Hà Văn Thư và Lã Văn Lô cho xuất bản cuốn “Văn

hóa Tày Nùng”, trong đó có dành một số trang nói về người làm nghề cúng bái

trong đó có Then Qua đó cũng nêu ra được những đặc điểm cơ bản của Then, nghề làm Then và hiện tượng xuất nhập hồn trong Then Có thể nói tuy chưa thật đầy đủ nhưng đây là một công trình đã đề cập đến vấn đề cốt lõi của Then là nghề làm Then và bản chất tín ngưỡng của Then mà trước đó hầu như không có công trình nào đề cập đến.[39]

Từ sau 1990 đến nay: Việc sưu tầm nghiên cứu Then có nhiều khởi sắc với

những thành tựu trong sưu tầm và giới thiệu văn bản Then “Khảm hải” – Vượt

biển của Vi Hồng [19], “Then Bách điểu” của nhóm tác giả Hoàng Tuấn Cư, Vi

Quốc Đình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc [4], “Bộ Then tứ bách” của Lục Văn Pảo

Trang 10

[27]… và các bản sưu tầm các khúc hát Then Nhìn chung ở giai đoạn này, việc sưu tầm Then tương đối phong phú song vẫn không khác trước là mấy Hầu hết vẫn dừng lại ở dạng sưu tầm, dịch chứ chưa có sự lý giải nên những người không am hiểu về Then sẽ không nắm bắt được nội dung vấn đề khi đọc các tác phẩm này

Như vậy, trong suốt nửa thế kỷ, các công trình về Then mới chỉ dừng lại ở phạm vi sưu tầm, mô tả dưới góc độ, văn học, nghệ thuật mà chưa hề có sự quan tâm thích đáng tới vấn đề cốt lõi trong Then – đó là vấn đề tôn giáo, tín ngưỡng

Đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX, các công trình nghiên cứu về Then bắt đầu đi vào hướng nghiên cứu bản chất tôn giáo, các nghi lễ trong Then Điều này thể hiện rõ trong các công trình của nhóm nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Văn hóa Dân gian

Năm 1998, tại Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ I, tác giả Nguyễn Thị

Hiền với tham luận “Người diễn xướng Then: nghệ nhân hát dân ca và thầy

Shaman”, là bài viết đầu tiên khẳng định rằng người diễn xướng Then, không chỉ là

một nghệ nhân hát dân ca mà còn là một thầy cúng, điều mà các nhà nghiên cứu trước đây chưa làm rõ.[18]

GS.TS Ngô Đức Thịnh với bài “Then – một hình thức Shaman giáo của dân

tộc Tày ở Việt Nam”, đã khái quát được những vấn đề cơ bản liên quan đến Then

một cách có hệ thống như: Then trong hệ thống tín ngưỡng dân gian của người Tày; nguồn gốc và bản chất của Then; Tín ngưỡng Then sự sản sinh và tích hợp các giá trị văn hóa [35]

Năm 1997, tác giả Nguyễn Thị Yên, đã hoàn thành công trình nghiên cứu

“Lễ hội Nàng Hai của người Tày, Cao Bằng”, là một hình thức lễ hội Shaman của

người Tày, có nhiều điểm tương đồng với Then Tiếp đó, năm 2000, tác giả Nguyễn

Thị Yên đã hoàn thành đề tài nghiên cứu cấp viện “Then cấp sắc của người Tày

qua khảo sát tại huyện Quảng Hòa tỉnh Cao Bằng” Từ những nghiên cứu này tác

giả Nguyễn Thị Yên đã cho xuất bản những công trình có giá trị về Then cũng như

các công trình nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng Tày – Nùng Đó là, “Lễ hội Nàng

Hai của người Tày, Cao Bằng” (2003) [42], “Then Tày” (2006) [43], “Lễ cấp sắc

Trang 11

Pụt, Nùng” (2006), “Văn hóa Tín ngưỡng Tày, Nùng” (2008) [44] Đây là những

công trình nghiên cứu về Then và Tín ngưỡng dân gian Tày, Nùng được đánh giá cao Hơn thế, các công trình này cũng đã đề cập một cách sâu sắc, khai thác được các giá trị văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng trong Then của người Tày, đặc biệt là ở

vùng Then Cao Bằng Trong cuốn Then Tày, tác giả đã đi sâu vào nghi lễ cấp sắc

một nghi lễ tiêu biểu trong Then và lý giải được ý nghĩa tâm linh và các giá trị cũng như vai trò của Then đối với dân tộc Tày ở Cao Bằng nói riêng và dân tộc Tày ở Việt Nam nói chung Qua tác phẩm này tác giả cũng đã bước đầu so sánh nghi lễ Then của người Tày với nghi lễ lên đồng của người Kinh đặt dưới hệ quy chiếu là hình thái Shaman giáo

Ngoài ra, cũng có khá nhiều các khóa luận tốt nghiệp Đại học, các luận văn, luận án nghiên cứu về Then

Có thể thấy trong hơn nửa thế kỷ phát triển, các công trình Then đã có những bước phát triển vượt bậc về hình thức cũng như về chất lượng Các công trình nghiên cứu Then trong giai đoạn hiện nay đã chú ý nhiều đến khai thác các giá trị tôn giáo, tín ngưỡng, lý giải các hiện tượng thần bí trong các nghi lễ Song trong các công trình hiện nay, phạm vị nghiên cứu Then mới chỉ dừng lại trong một số vùng như Vùng Then Tày ở Cao Bằng mà chủ yếu là Then nam miền Đông Cao Bằng

Công trình “Then Tày” nghiên cứu vùng Then này đã được xuất bản Ngoài ra, các

vùng Then khác như Bắc Kạn, Lạng Sơn, cũng đóng vai trò khá quan trọng trong vùng Then Tày Việt Bắc nhưng vẫn chưa được quan tâm khai thác thích đáng Có chăng chỉ dừng lại ở những bài nghiên cứu nhỏ lẻ trên các tạp chí hay các khóa luận, luận văn Đoàn Thi Tuyến với luận văn tốt nghiệp đại học khoa Lịch Sử, Đại

học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội “Đạo Then trong đời sống tâm linh của

người Tày – Nùng” [29] và bài “Căn nguyên trở thành Then trong xã hội Tày, Nùng, Văn Quan, Lạng Sơn” [30], đã có những đóng góp mới mẻ trong việc tìm

hiểu đời sống và thế giới tâm linh của người làm Then Song tác giả lại khảo sát trên phạm vi rộng với cả hai đối tượng thầy Then người Tày và Nùng

Trang 12

Như vậy, nghiên cứu Then như một loại hình tôn giáo, tín ngưỡng thuộc dòng Shaman giáo vẫn là một hướng đi lớn trong nghiên cứu Then đương đại Trong luận văn này chúng tôi hướng tới đối tượng nghiên cứu là những người làm Then để qua đó thấy rõ hơn những đặc trưng, giá trị và xu hướng biến đổi của Then Tày ở Văn Quan, Lạng Sơn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích đầu tiên luận văn muốn hướng tới là mang lại một cái nhìn khách quan về sinh hoạt tín ngưỡng Then Tày và đời sống của những ông/bà Then Đồng thời cắt nghĩa về căn nguyên cho việc trở thành Then trong xã hội Tày, Lạng Sơn

- Mục đích thứ hai là thông qua phương pháp nghiên cứu trường hợp – chọn mẫu và nghiên cứu tiểu sử bản thân một nhân vật tiêu biểu trong đối sánh với những người cùng mẫu, chúng tôi muốn rút ra một vài kết luận để người đọc có thể hiểu hơn về những đặc trưng, giá trị của Then và những hiện tình về vùng Then Tày ở Văn Quan, Lạng Sơn

- Mục đích lâu dài luận văn muốn hướng tới là nghiên cứu toàn bộ vùng Then Tày Lạng Sơn trong tương quan so sánh với các vùng then khác như Cao Bằng, Bắc Kạn và Then Tày tại những vùng kinh tế mới Đồng thời, chúng tôi muốn đặt Then Tày trong hệ quy chiếu là hệ thống tín ngưỡng thuộc dòng Shaman giáo của Việt Nam để tiến hành so sánh, rút ra những đặc trưng riêng có của loại hình sinh hoạt tín ngưỡng này

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

+ Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiện tượng Then Tày

+ Chọn mẫu tiêu biểu để nghiên cứu là bà Then Hoàng Thị Bình và một số Then khác ở huyện Văn Quan

- Phạm vi nghiên cứu

+ Về mặt không gian: chủ yếu trên địa bàn xã Đại An, thị trấn Văn Quan và một số

xã khác trong huyện Văn Quan

Trang 13

+ Phạm vi về mặt thời gian: Then Tày trong giai đoạn hiện nay có kết hợp với những ghi chép hồi cố

5 Lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

- Lý thuyết tiếp cận hệ thống

- Lý thuyết không gian văn hóa

- Lý thuyết nhân loại học tôn giáo

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp

- Phương pháp điền dã

- Phương pháp so sánh đối chiếu

- Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu

Trang 14

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ VÙNG THEN TÀY VĂN QUAN, LẠNG SƠN 1.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.1.1 Khái lược về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội

a, Điều kiện tự nhiên

* Vị trí địa lý

Văn Quan ngày nay là một huyện vùng núi nằm ở phía Tây Nam tỉnh Lạng Sơn, có huyện lỵ cách thành phố Lạng Sơn 45km Huyện có vị trí từ vĩ tuyến 210

44 đến 220 vĩ Bắc và 106024 đến 106043 kinh Đông

Phía Bắc giáp huyện Văn Lãng và huyện Bình Gia, Phía Nam giáp huyện Chi Lăng và Hữu Lũng

Phía Đông giáp thành phố Lạng Sơn và huyện Cao Lộc,

Phía Tây giáp huyện Bắc Sơn và Bình Gia

Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 55.066,97 ha, bao gồm 23 xã và 1 thị trấn [46] Huyện Văn Quan nằm trên vị trí trung tâm của tỉnh, có hai quốc lộ lớn chạy qua Đó là quốc lộ 1B chạy từ Đông sang Tây, nối liền với vùng kinh tế mở Đồng Đăng – Lạng Sơn và huyện Bình Gia, Bắc Sơn Còn quốc lộ 279 từ Bắc xuống Nam là tuyến đường giao lưu với Đồng Mỏ - Chi Lăng, các tỉnh miền xuôi

và vùng kinh tế cửa khẩu Na Sầm – Tân Thanh – Văn Lãng Với vị trí địa lý như vậy người dân nơi đây có điều kiện thuận lợi để giao lưu trao đổi hàng hóa, buôn bán với các nơi khác Đồng thời cũng là vùng trọng tâm từ Bắc xuống Nam, từ Đông sang Tây thuận lợi cho các luồng giao lưu văn hóa giữa các vùng cũng như với khu vực phụ cận

* Địa hình và khí hậu

Văn Quan là một huyện thuộc vùng giữa của Lạng Sơn, địa hình phức tạp, núi đất và núi đá vôi xen kẽ, có những thung lũng thuận lợi cho việc làm ruộng và nương rẫy Huyện có độ cao 400m so với mực nước biển, thấp dần từ Tây Nam xuống Đông Bắc Núi đá tập trung chủ yếu ở phía Tây của huyện Địa hình vùng núi đá bị cắt xẻ vô định hình, dọc thung lũng và khe lạch cũng như những triền núi đất là đất lateritich hóa của núi trẻ được hình thành từ kỷ đệ tứ chủ yếu trên thềm đá

Trang 15

bazan rất tốt cho trồng trọt và phát triển các loại cây lấy gỗ, cây công nghiệp dài ngày đặc biệt là hồi và cây ăn quả Do vậy mà một trong những đặc sản của vùng chính là hồi, sản phẩm hồi Văn Quan có lượng tinh dầu lớn

Xen kẽ giữa các vùng núi đá và núi đất, một số đỉnh núi cao đã tạo cho địa hình Văn Quan thêm phong phú, đỉnh cao nhất ở Văn Quan là đỉnh Khau Ràng, cao 768m, tiếp đến là các đỉnh Khau Piêu, Khau Đăng, Khau Thán,… Với địa hình khá phức tạp như vậy việc đi lại của nhân dân trong vùng gặp khá nhiều khó khăn, thường phải vượt qua nhiều suối, lắm đèo như đèo Lũng Pha, Hin Lăn, Kéo Đeng,… Tuy nhiên hiện nay do kinh tế phát triển và nhà nước cũng có các chính sách hỗ trợ đồng bào miền núi thì điều kiện giao thông trong vùng cũng có nhiều chuyển biển

* Hệ thống sông suối

Sông suối ở Văn Quan là một bộ phận của sông Kỳ Cùng, sông này bắt nguồn từ Đình Lập – Lộc Bình qua thành phố Lạng Sơn vào địa phận Văn Quan và chảy qua năm xã: Đông Giáp, Khánh Khê, Văn An, Song Giang, Trấn Ninh và từ

đó qua huyện Văn Lãng, Tràng định rồi đổ sang Trung Quốc Chi lưu của sông Kỳ Cùng ở Văn Quan là sông Tu Đồn (hay còn gọi là Mỏ Phia hoặc Mỏ Pia) Sông Tu Đồn có hai nhánh chính, một nhánh bắt nguồn từ xã Tri Lễ, Lương Năng, Tú Xuyên

và một phần của xã Hòa Bình; một nhánh bắt nguồn từ xã Yên Phúc, Bình Phúc rồi hợp lưu ở xã Đức Hinh chảy qua bản Lải, xã Vĩnh Lại, sông này gọi là sông Tà Lải hay sông Lải, rồi đổ vào sông Kỳ Cùng ở địa phận xã Song Giang Ngoài ra còn có

hệ thống khe suối ở khắp các xã… Mật độ sông suối ở Văn Quan là 0,6 – 1,2 km/km2

Lượng mưa trung bình năm là 1500mm, tháng 7 thường có lượng mưa cao nhất 280mm và tháng 12 có lượng mưa thấp nhất 24mm Lượng mưa phân bố theo mùa rõ rệt Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 và chiếm tới 8% lượng mưa cả năm, tập trung chủ yếu vào các tháng 6,7,8 Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng

4 năm sau, với lượng mưa khoảng 20% lượng mưa cả năm Do mưa ít và lại chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc nên Văn Quan thường có sương muối vào tháng

Trang 16

12 và tháng giêng Độ ẩm tương đối bình quân năm là 82,5%, cao nhất vào tháng 8

là 86% và thấp nhất là vào tháng 11 khoảng 77%

* Khí hậu

Về mặt điều kiện khí hậu huyện Văn Quan nói riêng cũng như Lạng Sơn nói chung đều chịu ảnh hưởng của khí hậu miền Bắc nhiệt đới gió mùa, có một mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều Nhiệt độ không khí trung bình năm là 21,20C, tháng 6 thường có nhiệt độ cao nhất (trung bình là 28,40C) và tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất khoảng 150

C

Điều kiện vị trí địa lý và địa hình khí hậu của Văn Quan tương đối tiêu biểu cho khí hậu khu vực miền núi phía Bắc Địa hình gồm nhiều dạng phức tạp từ đồi núi, thung lũng xen kẽ các núi đá, hệ thống sông và các khe suối chảy từ trên núi thuận lợi cho việc canh tác nương rẫy và ruộng chờ mưa của khu vực này Về mặt khí hậu nhìn chung tương đối thuận lợi, không lạnh quá vào mùa đông như các khu vực khác của Lạng Sơn và không nóng quá vào mùa hè (do có độ cao vừa phải) Đây là những điều kiện rất thuận lợi cho sự sinh sống cũng như canh tác, phát triển kinh tế của cư dân trong vùng Và một trong những loại cây lâm sản nổi tiếng được trồng trên mảnh đất này chính là hồi Lạng Sơn

Dù có nhiều tộc người cùng định cư nhưng các tộc người trên địa bàn huyện sinh sống với nhau hòa bình Họ sống xen kẽ hoặc trong các bản độc lập cạnh nhau nhưng giữa họ vẫn có sự giao lưu với nhau cả về mặt kinh tế, kỹ thuật cũng như đời sống tinh thần và các sinh hoạt cộng đồng, đặc biệt là trong chế độ hôn nhân Cư

Trang 17

dân trong vùng thực hiện chế độ hôn nhân ngoại tộc và cho phép những người không cùng tộc người có thể kết hôn với nhau Đây cũng là một điều kiện thuận lợi

để trao đổi văn hóa giữa các tộc người, đồng thời chế độ hôn nhân này cũng làm giảm sự kỳ thị tộc người trong cùng cộng đồng

Do đặc điểm tự nhiên của huyện khá phức tạp, chia cắt nhiều nên đặc điểm dân cư thường có quy mô nhỏ (làng, bản), mật độ dân cư thấp Dân cư tập chung chủ yếu theo các trục đường giao thông, thị trấn, thị tứ,… ngoài ra trong các bản xa xôi, dân cư tập trung tụ cư ở các cánh đồng để tiện cho việc sản xuất nông nghiệp

Về mặt lao động xã hội trong các ngành kinh tế Văn Quan có tổng hơn 32.106 lao động (2009) chiếm gần 59,3% tổng số nhân khẩu trong huyện Lao động

có việc làm là 29.837 người, trong đó có tới 87,47% lao động được phân bố trong các ngành nông - lâm nghiệp Lao động trong huyện chủ yếu là lao động theo mùa

vụ, lao động sau mùa vụ hiện vẫn chưa được bố trí một cách hợp lý do điều kiện kinh tế trong huyện còn kém phát triển, chưa có sự đa dạng về loại hình ngành nghề [46, tr.29]

Nhìn chung, chất lượng nguồn nhân lực Văn Quan còn thấp, số lao động qua đào tạo còn rất hạn chế, tỷ lệ lao động có trình độ Đại học, cao đẳng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số lao động Đây là một cản trở không nhỏ cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật trong sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội

* Kinh tế

Căn cứ vào đặc điểm tự nhiên và điều kiện sản xuất khác nhau huyện phân ra thành ba tiểu vùng kinh tế chính Đặc điểm kinh tế của Văn Quan là nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc, chậm phát triển Nguồn sống chính của cư dân trong huyện vẫn

là nền kinh tế nông nghiệp lúa nước, một phần lúa nương và các loại ngô, sắn, đậu tương Thế mạnh lớn nhất của Văn Quan chính là cây hồi, đây là nguồn thu chính của nền kinh tế Văn Quan Sản lượng hồi khô hàng năm khoảng vài trăm tấn, hoa hồi Văn Quan có lượng tinh dầu lớn Từ hàng trăm năm nay hồi đã được các gia đình đặc biệt chú trọng phát triển Theo thống kê năm 2005, diện tích hồi trên toàn

Trang 18

huyện là 8.396ha, sản lượng tươi đạt 4.758 tạ, đến năm 2009, diện tích hồi là 8.819ha, sản lượng tươi đạt 5.042 tạ [46, tr 12]

Tính từ năm 2001 – 2010, nền kinh tế của Văn Quan có nhiều bước phát triển nhanh và mạnh Với những thuận lợi về vị trí địa lý lại nằm trên con đường giao lưu buôn bán gần khu vực cửa khẩu nên kinh tế cũng có nhiều điều kiện để phát triển Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) huyện Văn Quan thời kỳ 2001-2010 có tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 10,51% GDP bình quân đầu người (giá thực tế) năm 2000 đạt 3,09 triệu đồng/người/năm; năm 2005 là 5,18 triệu đồng/người/năm; năm 2010 là 8,04 triệu đồng/người/năm [46, tr 12]

Cơ cấu kinh tế của huyện cũng có những chuyển biến tích cực theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa Tỷ trọng các ngành Nông - lâm - ngư nghiệp có xu hướng giảm, ngành công nghiệp - xây dựng, dịch vụ có dấu hiệu tăng

* Y tế và giáo dục

Công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân được quan tâm và có nhiều bước tiến bộ, chất lượng khám chữa bệnh từng bước được cải thiện, cơ sở vật chất phục

vụ nhu cầu khám chữa bệnh được đầu tư Hiện nay, trên toàn huyện có 20/24 trạm y

tế xã, thị trấn có bác sĩ, 24/24 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã, 188/188 thôn có y tế cộng đồng, hàng năm có trên 25.000 người nghèo được cấp thẻ khám chữa bệnh [46, tr 41]

Tuy hệ thống y tế công cộng vẫn còn hạn chế song về cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu khám chữa bênh của nhân dân Đặc biệt các chương trình Quốc gia về tiêm chủng mở rộng cho bà mẹ, trẻ em và các chương trình quốc gia về phát thuốc miễn phí cho người nghèo đều được triển khai rộng khắp trong nhân dân Bước đầu mạng lưới y tế trong huyện đã được củng cố và dần dần được kiện toàn Một trong những hạn chế rất lớn trong hệ thống y tế các huyện miền núi nói chung và Văn Quan nói riêng đó là đội ngũ y bác sĩ lành nghề vẫn còn thiếu một cách nghiêm trọng và thứ hai là hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật vẫn nghèo nàn, lạc hậu, thiếu thốn thuốc men, trang thiết bị xuống cấp nghiêm trọng Do vậy, cần có những lớp

Trang 19

bồi dưỡng đội ngũ cán bộ y tế và kiện toàn hệ thống cơ cở vật chất để đảm bảo nhu cầu khám chữa bệnh của người dân

Sự nghiệp giáo dục vẫn luôn được coi là quốc sách hàng đầu của nước ta do vậy việc đầu tư cho giáo dục ở các địa phương ngày càng được đẩy mạnh Hệ thống giáo dục ở Văn Quan có những bước phát triển nhanh và khá ổn định Về cơ sở vật chất của ngành giáo dục cũng được đầu tư xây mới, đội ngũ giáo viên ngày càng tăng về cả số lượng và chất lượng Cả huyện hiện nay có 60 trường, trong đó có 4/60 trường đạt trường chuẩn Quốc gia (2010), việc vận động trẻ em đi học đúng độ tuổi đạt 99,87%, tỷ lệ học sinh bỏ học ngày càng giảm Hàng năm có từ 110 – 120 giáo viên được cử đi học để bồi dưỡng, nâng cao kiến thức nghiệp vụ Công tác xã hội hóa giáo dục ngày càng được các cấp lãnh đạo quan tâm, chăm lo [46, tr 41]

1.1.2 Lịch sử huyện Văn Quan

Văn Quan ngày nay là một vùng đất cổ của quốc gia Đại Việt, là một địa bàn thuộc vùng văn hóa Bắc Sơn (có niên đại cách ngày nay khoảng 12000 – 7000 năm) Các nhà khảo cổ đã khai quật được di tích hang Khòn Khẻ (thuộc xã Xuân Mai, Văn Quan) đã phát hiện thấy rìu mài lưỡi, gốm, đồ xương, vỏ ốc biển (14, tr 774), điều này chứng tỏ con người thời bấy giờ mặc dù còn sống trong hang đá, sống bằng săn bắt, hái lượm nhưng đã biết trồng trọt và chăn nuôi Gần đây còn phát hiện được di tích văn hóa mới ở Ba Xã Di tích này nằm ngay trong hang đá sau phố Ba Xã, miệng hang cao 108m so với chân núi, tầng văn hóa khảo cổ dày đến 1,3m Ở đây đã tìm thấy rìu tứ giác, rìu có vai kích thước nhỏ được mài nhẵn hoàn toàn; có nhiều chiếc đục nhỏ, dài, hình chữ nhật; có những vòng đá lớn được mài nhẵn, các hạt chuỗi bằng vỏ ốc biển,… Trong tầng văn hóa còn thấy những đồ gốm có hoa văn thứng; xe chỉ bằng đất nung Đây là di tích của con người thuộc hậu kỳ đá mới, nông nghiệp và đồ gốm đã phát triển, nghề thủ công đặc biệt là nghề dệt vải đã ra đời

Với những di chỉ trên chứng tỏ ngay từ thuở hồng hoang thì ở đây đã tồn tại

sự sống của người Việt cổ Những di tích ở Xuân Mai và Ba Xã thuộc địa bàn Văn Quan ngày nay tồn tại một tầng văn hóa khảo cổ dày dặn, chứng tỏ sự sống của con

Trang 20

người trên mảnh đất này là rất sớm Song vùng đất Văn Quan ngày nay về mặt lịch

sử, địa lý hành chính cũng có nhiều biến động trong suốt quá trình dựng nước và giữa nước từ thời Đại Việt cho tới hiện tại Theo những nguồn sử liệu cho thấy, vùng đất Văn Quan ngày nay trải qua một quá trình lịch sử dài đã có những tên gọi khác nhau như Hạ Văn, Bội Lan, Văn Lan, Văn Quan,… trong đó tên gọi Văn Quan tương đối ổn định và lâu dài

Dưới thời Bắc thuộc, Văn Quan là đất châu Văn trong danh sách các châu

“Kimi” của An Nam đô hộ phủ mà các sách “Việt Sử lược” và “Đại Việt sử ký toàn

thư” đều nhắc đến Cho đến thời kỳ độc lập tự chủ - Đinh – Lê – Lý vẫn mang tên Châu Văn dựa trên địa giới hành chính thời An Nam đô hộ phủ Đến thời Trần chia thành châu Thượng Văn và Hạ Văn; và Hạ Văn chính là địa bàn của Văn Quan ngày nay [14]

Theo tài liệu “Thất tộc thổ ty” – Lã Văn Lô, thời Lý – Trần – Lê có nhiều võ

quan được triều đình phái lên cai trị châu Thất Nguyên và châu Văn Lan, rồi lấy đó làm đất thế tập, họ hàng sinh sống muôn đời Những dòng họ thổ ty đã đến và sinh sống ở đất Châu Văn xưa cụ thể như sau:

Vào thời Trần, vua Trần Hiến Tông (1329 - 1341) đã sai quan võ Nguyễn Công Ngân, quê ở Thiên Lộc, Hà Tĩnh lên trấn thủ châu Thất Nguyên và Văn Lan Tiếp đó con út ông là Nguyễn Công Các tham gia khởi nghĩa Lam Sơn (thời Lê)

được phong làm Công thần khai quốc Trấn man đại tư mã ngự lâm biên thượng

tướng quân và đời đời làm phiên thần (đến thời Nguyễn mới đổi các “phiên thần”

thành “thổ ty”) Ông khéo vỗ về, tụ dân khai hoang lập ấp, mở chợ, mở mang văn

hóa phát triển cả một vùng Thất Nguyên – Văn Lan [22]

Cùng với họ Nguyễn Công, họ Hà là một dòng họ thổ ty lớn ở Văn Quan Họ

Hà người gốc Giao Thủy, vào thời Minh con cháu dời lên sống ở Hưng Hóa có công chống quân xâm lược giữ làng Về sau trong khởi nghĩa Lam Sơn, họ Hà theo

Lê Thái Tổ dẹp loạn Nông Thiệu Thái, Bế Cận ở Cao Bằng được Lê Thái Tổ cho lấy đất Dã Nham, châu Văn Uyên làm thái ấp, sau này con cháu chuyển sang sinh

Trang 21

sống ở Đông Túc, châu Văn Quan lên đến hàng trăm người trở thành một trong những dòng họ thổ ty lớn vào bậc nhất ở Văn Quan

Họ Nông gốc Ai Lao, con cháu theo Lê Lợi khởi nghĩa được vua cho ở lại Lạng Sơn lấy Châu Văn xã Chi Lương làm tịch quán, đời đời làm phiên thần

Ngoài ra các dòng họ thổ ty như Nguyễn Đình, Vi, Hoàng Đức, Hoàng Đình cũng là những dòng họ đã từng có công trấn giữ vùng biên ải yết hầu của tổ quốc rồi được phong tước, phong điền và châu Văn trở thành tịch quán ngàn đời của họ

Có thể nói lịch sử của châu Văn hay Văn Lan xưa và Văn Quan ngày nay có

sự gắn bó chặt chẽ với các dòng họ thổ ty ở đây Bởi những dòng họ này đã dựng và phát triển mảnh đất này từ địa giới cho tới con người và kinh tế xã hội Sự hình thành mảnh đất Văn Quan có từ rất sớm, như chúng ta phân tích thì dấu hiệu xuất hiện của con người ở đây bắt đầu từ thời kỳ Văn hóa Bắc Sơn nhưng cho đến thời

Lê Thái Tổ với sự hình thành các dòng họ thổ ty thì địa giới của châu Văn mới

chính thức tồn tại trên địa đồ của Đại Việt, sau này dù có những thay đổi về mặt địa giới hành chính và tên gọi song về cơ bản Châu Văn vẫn là nền tảng của Văn Quan ngày nay

Thời Hậu Lê, niên hiệu Hồng Đức thứ 21 (1490) thừa tuyên Lạng Sơn có một phủ và bảy châu trong đó châu Văn Lan (Văn Quan ngày nay) gồm 34 xã, lúc này địa giới của Văn Lan đã được vạch định trên bản đồ Hồng Đức

Đến thời Nguyễn, lỵ sở huyện Văn Quan đóng tại xã Phú Nham (nay thuộc Văn An), đến đời vua Tự Đức năm thứ 20 (1867) dời về xã Chi Quan, năm thứ 25 chuyển về Nà Vài; đến Thành Thái năm thứ 5 (tháng 9-1894) lại chuyển về Chi Quan làm huyện lỵ [14, tr 771-773]

Cương vực huyện Văn Quan thế kỷ XIX bao gồm một phần đất của huyện

Văn Quan ngày nay và huyện Bình Gia Theo cuốn “Tên làng xã Việt Nam thế kỷ

XIX” (Viện nghiên cứu Hán Nôm) châu Văn Quan thuộc phủ Tràng Định gồm 9

tổng, 41 xã và 8 phố khách Những thời gian tiếp sau, địa giới của huyện còn có nhiều biến động khi sát nhập hay chia tách và mỗi thời điểm lại có những tên gọi khác nhau [14, tr.772]

Trang 22

Đến tháng 8 – 1964, dưới chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, huyện Văn Quan chính thức được thành lập bao gồm toàn bộ huyện Điềm He và 6 xã của huyện Bằng Mạc

Địa giới của huyện Văn Quan được ổn định cho đến ngày nay gồm 23 xã, 1 thị trấn và các phố chợ

Theo số liệu của phòng Kế hoạch và đầu tư huyện, số dân huyện Văn Quan hiện nay là 54.141 người (2010) Đây là huyện có ít thành phần dân tộc, hai dân tộc Tày Nùng chiếm hơn 90%, còn lại là các dân tộc Kinh, Hoa, Thái, Mường… cho đến nay, cơ cấu thành phần dân tộc ở Văn Quan hầu như không có sự biến động lớn Mặc dù xuất xứ của mỗi tộc người có thể khác nhau nhưng các dân tộc ở Văn Quan có nhiều điểm chung trong các hình thái sản xuất cũng như sinh hoạt văn hoá

Do vậy giữa các tộc người trong vùng không có sự kỳ thị mà chung sống hòa bình, giao lưu học hỏi và tiếp thu kinh nghiệm của nhau trong kinh tế cũng như văn hóa

xã hội

1.1.3 Khái quát đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Tày Văn Quan

a, Quan niệm về linh hồn:” Khoăn” và “Phi”

Tín ngưỡng, phong tục tập quán là những lĩnh vực rất quan trọng trong đời sống văn hóa tâm linh của con người, nó có vai trò chi phối đến tâm tư, tình cảm, cách suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân trong cộng đồng mình Không chỉ trước đây mà thậm chí cả ngày nay, niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng của con người lại ngày càng mạnh mẽ Bởi đứng trước cuộc sống khó khăn, đứng trước những thảm họa do thiên nhiên hay do chính bản thân con người gây ra đôi lúc con người buông tay bất lực và khi đó niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng chính là con đường cứu rỗi họ Đối với đồng bào dân tộc thiểu số mà chúng tôi đang đề cập đến là người Tày, đời sống tín ngưỡng của họ xưa kia cũng như hiện nay vô cùng phong phú, ấy là những tín ngưỡng dân gian được xây dựng trên quan niệm linh hồn và thuyết vạn vật hữu linh – một trong những loại hình tôn giáo vào loại sơ khai nhất của loài người, ra

đời trong giai đoạn công xã thị tộc Họ quan niệm người sống thì có “khoăn” (hồn, linh hồn), người chết thì thành “phi” (ma, thần, quỷ)

Trang 23

Người Tày quan niệm, người sống có “ba hồn bảy vía”, điều này giống với

quan niệm của người Việt (Kinh) Khi sống khoăn (hồn vía) ở trong cơ thể con

người, do vậy khi hồn vía vì lý do nào đó tạm thời rời khỏi con người (mất hồn, mất vía) hay bị suy yếu, hồn siêu phách lạc người ta phải gọi hồn gọi vía trở lại cơ thể Đến khi chết, hồn vía rời khỏi cơ thể đến trú ngụ ở một nơi nào đó tùy theo quan niệm của từng dân tộc; đối với người Tày khi đó một phần hồn vía của người

chết sẽ biến thành “phi” Đó là một thế giới siêu nhiên mà bằng trực giác con người không thể nhận biết được Người Tày quan niệm có nhiều loại “Phi” khác nhau như: “Phi Phạ” (Ma trời), “Phi đin” (ma đất) “Phi Slấn” (ma núi), “Phi ngược” (ma thuồng luồng), “Phi đẳm” (ma tổ tiên)…[35, tr.425]

Và theo quan niệm dân gian thế giới “Phi” cũng được phân thành các lớp

khác nhau:

- Các loại Phi trên trời bao gồm: Thần, Tiên, Then, Tổ tiên, Pựt,… các loại

Phi này đều có nơi thờ cúng ở dưới trần gian trong mỗi gia đình, làng bản

- Các loại Phi ở mặt đất như: Phi rừng, phi núi, phi sông, phi đất, phi thuồng

luồng,… theo quan niệm dân gian các phi này trú ngụ ở những hòn đá lớn, vũng nước, sông, suối, cây cổ thụ,… thông thường các Phi này không làm hại ai nhưng nếu chúng ta không cẩn thận vô tình “xúc phạm” tới các Phi, khiến các Phi nổi giận thì cũng bị trừng phạt, gây đau ốm, phải làm lễ cúng tạ tội

- Các Phi ở dưới mặt đất, nơi đó là âm phủ mường ma/ mường phi là nơi trú

ngụ của linh hồn người chết, nhất là những người chết dữ, những cô hồn không được thờ cúng, thường gây ra bệnh tật cho con người, do vậy nếu bị mắc bệnh do các phi này gây ra phải nhờ tới thầy cúng/ thầy Then cúng giải bệnh

Từ những quan niệm này, người Tày đã hình thành nhiều hình thức tín ngưỡng dân gian với mục đích bảo vệ con người, bảo vệ gia đình và làng bản Dưới đây chúng tôi sẽ giới thiệu một số tín ngưỡng cơ bản của người Tày ở Văn Quan

b, Đời sống tôn giáo, tín ngưỡng

Cũng như đông đảo cư dân Tày – Nùng vùng Đông Bắc, người Tày Lạng Sơn có đời sống tôn giáo, tín ngưỡng phong phú Do nằm dọc khu vực biên giới

Trang 24

Việt – Trung, quá trình tụ cư cũng chịu không ít sự giao lưu với văn hóa Hán, nên ở khu vực này tồn tại hiện tượng Tam giáo đồng quy Nho – Phật – Đạo luôn luôn song hành và ảnh hưởng khá nhiều tới đời sống tôn giáo, tín ngưỡng cũng như chi phối nhân sinh quan của cư dân trong vùng Người Tày Lạng Sơn cũng tồn tại quan niệm đa thần giáo và quan niệm vạn vật hữu linh, do vậy trong cuộc sống họ thờ rất nhiều vị thần, nhưng trong đó tín ngưỡng liên quan tới thờ cúng tổ tiên được xem là tín ngưỡng quan trọng nhất

* Tín ngưỡng liên quan tới việc thờ cúng trong gia đình, gia tộc

Thờ cúng tổ tiên (Đẳm) là hình thức tín ngưỡng quan trọng nhất của người Tày Bàn

thờ Tổ tiên (Chòong cai) đặt ngay gian giữa, nơi linh thiêng nhất của ngôi nhà

Người Tày thờ linh hồn của những người thuộc 4 đời trên mình: Kỵ, cụ, ông bà, cha

mẹ Bốn đời này thờ chung trong một bàn thờ, tuy nhiên đời thứ 4 – đời Kỵ, theo quan niệm của người Tày sẽ biến thành vị thần coi gia súc trong gia đình và được thờ ở bàn thờ đặt ngoài trời, thường cúng vào dịp tết Nguyên đán

Thờ Phật Bà Quan Âm: cùng chung trong bàn thờ tổ tiên nhưng ở ngăn phía

trên (bàn thờ của người Tày có hai ngăn, ngăn trên thờ Quan Âm, ngăn dười thờ tổ tiên)

Thờ Bà Mụ (Mẻ Bijooc) hay còn gọi là Hoa Vương Thánh Mẫu là vị thần

chuyên trông coi việc sinh nở, nuôi dạy và bảo vệ trẻ con Bàn thờ Mẻ Bijooc có

nơi đặt chung trên bàn thờ tổ tiên (Chòong cai) có nơi đặt riêng nơi buồng ngủ của

phụ nữ

Thờ Táo Quân: thần bếp là vị thần trông coi việc bếp núc, nhà cửa và gia

súc Bàn thờ được đặt ở cạnh bếp [35, tr 426-427]

* Thờ Thổ thần, Thành Hoàng

Thờ Thổ thần: là vị thần bản mệnh của bản mường, thờ cúng ở miếu (thó)

Hàng năm vào dịp Tết nguyên đán, lễ cầu yên, rằm tháng 7,… cả làng mang lễ vật

ra miếu để cúng thổ thần cầu mong sự bình an, mong sự phù hộ, che chở của thổ

thần cho cả cộng đồng Ở Văn Quan, hầu như mỗi xã đều có một ngôi miếu – thó

thờ thổ thần

Trang 25

Ngoài ra có nơi còn có đình thờ Thành Hoàng, vị thần trông coi việc trồng trọt và chăn nuôi gia súc, đôi khi Thành Hoàng còn được coi đồng nhất với Thần nông, thường mở hội vào dịp rằm tháng giêng, còn gọi là lễ hội Lồng tồng Ngoài lễ Lồng tồng, người Tày còn có nhiều nghi lễ liên quan tới canh tác nông nghiệp/ nghi

lễ nông nghiệp… tất cả tạo nên một hệ thống nghi lễ phong phú, độc đáo và thể hiện sâu sắc niềm tin thơ ngây của đồng bào vào những đấng siêu nhiên tồn tại vô hình trong cộng đồng

Có thể nói những tín ngưỡng nêu trên đều có gốc rễ từ tín ngưỡng bản địa, tuy nhiên cũng không hề khó khăn để nhận ra dấu ấn của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo từ các khu vực lân cận mà tiêu biểu là sự ảnh hưởng của văn hóa Kinh và văn hóa Nam Trung Hoa Trong đó có thể nhận thấy những ảnh hưởng không nhỏ của Đạo giáo Trung Hoa tồn tại dưới dạng Đạo giáo dân gian, với quan niệm về thế giới ba tầng: Thiên đình – Trần gian – Âm phủ Cùng với đó là hệ thống các vị thần Đạo giáo thể hiện rõ qua tranh thờ của người Tày – tranh Tam Thanh,… kết quả của

sự hỗn dung tín ngưỡng bản địa và Tam Giáo, mà cụ thể là Đạo giáo đã hình thành trong đời sống tâm linh của người Tày một số tín ngưỡng đặc thù: Then, Tào, Phù thủy Đó là loại hình tín ngưỡng của các thầy cúng, do các thầy cúng tiến hành nghi

lễ và hệ thống thầy cúng Then, Tào, Mo … này tham gia vào hầu hết các nghi lễ của người Tày từ thờ cúng trong gia đình cho tới cộng đồng Trong các loại hình tín ngưỡng này thì Then được coi là loại hình tiêu biểu nhất trong đời sống của cư dân Tày Vậy Then là gì? Thầy Then là người như thế nào? Tại sao người Tày lại cần có thầy Then trong cộng đồng của của mình? Chúng ta sẽ lần lượt giải quyết những câu hỏi này trong các phần tiếp theo

c, Đời sống văn hóa văn nghệ, lễ hội

Then là một loại hình tôn giáo tín ngưỡng đồng thời cũng là một loại hình dân ca truyền thống của người Tày – Nùng, nhạc cụ chủ yếu được sử dụng là cây đàn tính, bởi vậy hình ảnh cô gái Tày bên cây đàn tính được xem như một dấu hiệu nhận biết về dân tộc Tày Cùng với Then là các loại hình hát đối đáp, giao duyên

Trang 26

như Sli, Slượn,… được nam nữ thanh niên hát đối đáp với nhau trong dịp đầu xuân

để tỏ tình; trong các lễ hội không bao giờ thiếu lọai hình ca hát dân gian này

Lễ hội của các dân tộc thường bắt nguồn từ những hoạt động đời thường nhất

là những hoạt động kinh tế và ước mơ về một cuộc sống tốt đẹp hơn

Trong vùng Văn Quan, Lạng Sơn có nhiều lễ hội khác nhau Nếu lấy mục tiêu lễ hội mà xem xét, có thể chia lễ hội thành những loại hình chính sau: Tết năm mới, 3/3, 5/5, rằm tháng bảy, lễ hội cầu mùa, lễ cầu an, lễ cầu tự

Tết năm mới là ngày hội lớn nhất của đồng bào trong năm Trong dịp Tết năm mới, đồng bào có lễ dựng cây nêu và hạ cây nêu

Tháng 3 âm lịch – tết Thanh minh là dịp để mọi thành viên trong gia đình đi tảo mộ, đây là một hoạt động thể hiện quan hệ dòng họ mật thiết Lễ vật tảo mộ là

gà và các loại xôi đa sắc

Tết xá tội vong nhân tổ chức vào 14/7 âm lịch hàng năm xuất phát từ quan niệm của đồng bào: hương hồn người đã mất cần được con cháu cúng thường xuyên nhưng một số vong hồn không được thờ cúng đến nơi đến chốn Những vong hồn

đó sẽ được thờ cúng vào dịp 14/7 Lễ vật đặc trưng là bánh pẻng tải

Lễ hội lùng tùng hay lồng tồng là lễ hội cầu mùa phổ biến trong vùng, thường tổ chức vào màu xuân

Lễ cầu an thường được tổ chức ở quy mô từng gia đình xuất phát từ mong muốn củng cố sự bình yên, mạnh khỏe của mọi người trong gia đình và để gia đình làm ăn được tấn tới, chăn nuôi phát triển hơn Và các Then luôn luôn là những người thực hiện các nghi lễ này

1.2 Một số vấn đề cơ sở lý luận

1.2.1 Khái niệm tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng của người Tày

Khái niệm tín ngưỡng

Cơ sở của mọi tôn giáo hay tín ngưỡng đều dựa trên niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên hay nói một cách khác đó là niềm tin,

sự ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, cái thiêng ở đây được hiểu là đối lập với cái

trần tục, những thứ hiện hữu mà ta có thể nhìn thấy, có thể chạm vào Niềm tin vào

Trang 27

cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó ra đời và tồn tại cùng loài người Tại

sao ngay ở thời kỳ mông muội, sống kiểu bầy đàn con người đã biết chôn người chết kèm theo những đồ tùy táng để mong muốn người chết có một cuộc sống đầy

đủ sau khi sang một thế giới hoàn toàn xa lạ? Niềm tin ngây thơ về một thế giới siêu nhiên khác thế giới hiện hữu vốn nằm trong bản chất sâu sa nhất của con người và

nó là nhân tố cơ bản tạo nên thế giới tâm linh của con người, nó cũng tồn tại độc lập

trong đời sống của con người như mọi thành tố khác như đời sống vật chất, sinh hoạt,…

Nguyễn Đăng Duy cũng có một khái niệm rất cụ thể, rõ ràng về Tín ngưỡng:

“Tín ngưỡng là một cách từ thực tế cuộc sống, cộng đồng, con người ý thức

về một dạng thần linh nào đó, rồi cộng đồng con người ấy tin theo, tôn thờ lễ bái, cầu mong cho hiện thực cuộc sống, gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin

thiêng liêng ấy” [5]

Ngô Đức Thịnh cho rằng niềm tin, sự ngưỡng vọng vào cái thiêng, cái siêu nhiên luôn thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống

tâm linh của con người Do vậy, Tín ngưỡng được xem là một hình thức thể hiện

niềm tin vào cái thiêng liêng của con người, của một cộng đồng người nào đó ở một trình độ phát triển xã hội cụ thể [36, tr 17]

Đa phần các nhà nghiên cứu khi đề cập tới khái niệm tín ngưỡng đều cho

rằng đó là một hình thái văn hóa dựa trên quan niệm về sự tồn tại của một thế giới

siêu nhiên đối lập và quan hệ chặt chẽ với thể giới trần tục qua các hình thức thông quan của con người với thần linh Tín ngưỡng là niềm tin, sự ngưỡng vọng vào cái thiêng

Khái niệm văn hóa tín ngưỡng của người Tày

Theo nhóm nghiên cứu của Nguyễn Thị Yên trong cuốn Tín ngưỡng dân

gian Tày – Nùng cho rằng: “Văn hóa tín ngưỡng dân gian Tày – Nùng được hợp thành bởi các hình thức cúng bái dân gian với các tên gọi như Tào, Mo, Then, Pụt, Sliên,… mà chủ thể là những thầy cúng kiêm nghệ nhân có các tên gọi liên quan Từ những hình thức sinh hoạt tín ngưỡng dân gian này đã làm nảy sinh những giá trị

Trang 28

văn hóa nghệ thuật của người Tày – Nùng như: ngữ văn dân gian, nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật tạo hình, phong tục tập quán,…” [44, tr 97 – 98]

Những khái niệm về tín ngưỡng, văn hóa tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng của người Tày – Nùng được xem là những khái niệm mang tính công cụ để nghiên cứu về văn hóa tín ngưỡng Tày nói chung và tín ngưỡng Then, nghệ nhân Then nói riêng

1.2.2 Khái niệm vùng văn hóa và vùng thể loại văn hóa dân gian

Theo nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh trong cuốn Văn hóa vùng và

phân vùng văn hóa ông cho rằng: Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặt hoàn cảnh tự nhiên, cư dân sinh sống ở đó từ lâu đã có những mối quan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ phát triển kinh

tế - xã hội, giữa họ đã diễn ta những giao lưu, ảnh hưởng văn hóa qua lại nên trong vùng đã hình thành những đặc trưng chung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác [33]

Vùng văn hóa hình thành tồn tại và phát triển chịu tác động của nhiều nhân

tố tự nhiên, xã hội, lịch sử, tộc người, ngôn ngữ và đặc biệt là sự giao lưu văn hoá nên trong một vùng văn hóa không nhất thiết chỉ có một tộc người sinh sống mà có thể có nhiều tộc người, ngược lại một tộc người có thể có mặt ở nhiều vùng văn hóa Những biểu hiện của vùng văn hóa mang tinh đa vẻ, thể hiện trên mọi khía cạnh đời sống vật chất cũng như tinh thần của cộng đồng dân cư, trong đó đặc trưng hơn cả là những lối sống, nếp sống, phong tục, nghi lễ, tín ngưỡng, lễ hội; các hoạt động văn hóa văn nghệ nhất là nghệ thuật dân gian,… Tất nhiên không phải vùng văn hóa nào cũng mang những đặc trưng chung mà trong một vùng văn hóa bao giờ cũng có đặc trưng chủ đạo mang tính trội và nó sẽ định hình nên bản sắc văn hóa vùng Ví như tộc người Tày ở Lạng Sơn cũng mang những đặc trưng văn hóa tộc người như các tộc người Tày ở các địa bàn khác như Cao Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang,… tuy nhiên do điều kiện lịch sử, xã hội mỗi vùng khác nhau nên văn hóa tộc người Tày Lạng Sơn cũng mang những điều khác biệt Và ở mỗi vùng văn hóa thông thường lại tồn tại một vùng thể loại văn hóa nào đó

Trang 29

Vùng thể lọai văn hóa là một không gian địa lý nhất định mà ở đó từng thể loại văn hóa truyền thống (truyền thuyết, sử thi, dân ca, sân khấy, âm nhạc,…) biểu hiện tính tương đồng thống nhất của mình thông qua nội dung, kết cấu, các sắc thái biểu hiện, phương thức lưu truyền [33, tr 84 – 85]

Trong sự phân loại của mình Ngô Đức Thịnh đã phân thành các vùng thể loại

như sau: Vùng truyền thuyết và nghi lễ; Vùng dân ca âm nhạc; Vùng tín ngưỡng,

nghi lễ và lễ hội Và trong tài liệu này ông đã xếp Vùng Then Việt Bắc nằm trong

vùng tín ngưỡng, nghi lễ và lễ hội Then vừa là tín ngưỡng thờ tổ nghề Then, vừa là tín ngưỡng chữa bệnh, cầu may, trừ tà, sự giao tiếp của các ông/bà Then với thần linh cũng là một hiện tượng tích hợp nhiều giá trị văn hóa, tín ngưỡng Do vậy, Then là một hiện tượng tín ngưỡng không thể thiếu trong cộng đồng Tày Và trong nghiên cứu này chúng tôi muốn tìm những đặc trưng riêng biệt mang tính trội của vùng Then Tày Lạng Sơn trong toàn thể vùng Then Việt Bắc [33, tr 396]

1.2.3 Khái niệm Shaman và thầy Shaman

Theo nhà tôn giáo học người Nga X.A Tocarev, Shaman giáo là một hình thái tôn giáo mang tính phổ biến của xã hội loài người, cùng với Naguan giáo, Hội kín, thờ thần bộ lạc, sùng bái thủ lĩnh là các hình thái tôn giáo đặc trưng vào thời kỳ thịnh hành của chế độ bộ lạc Shaman giáo đạt tới độ cực thịnh trong thời kỳ này và trở thành hình thái xã hội thống trị và rồi nó cũng suy vong cùng với sự tan rã của chế độ bộ lạc Tuy nhiên, những dấu ấn của loại hình tôn giáo cổ xưa này vẫn tồn tại trong nhiều xã hội và vẫn có những tác động nhất định tới đời sống của con người hiện đại Khái niệm Shaman giáo gắn bó chặt chẽ với các thầy pháp Shaman; không giống như các loại hình tôn giáo trước nó như Vật linh giáo, bái vật giáo, thờ cúng tổ tiên… con người có thể trực tiếp thông quan với thần linh; trong Shaman

giáo, con người phải thông qua các thầy Shaman để liên hệ với thánh thần Thầy

Shaman theo quan niệm dân gian là những người có khả năng phù phép tự đưa

mình vào trạng thái ngây ngất để có thể thông quan với thần linh [28]

Hiện nay, nội hàm của thuật ngữ Shaman vẫn đang được nhiều nhà nghiên

cứu tranh luận Lúc đầu người ta cho rằng Shaman chỉ bao hàm hiện tượng xuất hồn

Trang 30

của các thầy Shaman đi đến thế giới thần linh nhưng sau này nhiều người cho rằng

Shaman bao hàm cả hiện tượng xuất hồn và nhập hồn

Xuất hồn: là quá trình hồn của các thầy Shaman (thầy Then) thoát khỏi thân

xác để đi giao tiếp với thần linh hay linh hồn của những người đã chết [37, tr 99]

Nhập hồn: là quá trình linh hồn của thần linh nhập vào các thầy Shaman,

hiện diện trước người trần và thỏa mãn những cầu xin của người trần

Trong Shaman giáo của người Tày hội tụ cả hai yếu tố xuất hồn và nhập hồn,

biểu hiện ở những khía cạnh sau:

- Xuất hồn mình để nhập siêu linh khác, hiện tượng này chủ yếu có ở các lễ hội do những người không chuyên thực hiện Trong chu trình này, người ngồi đồng được tác động để xuất hồn mình ra để nhập hồn siêu linh; siêu linh mượn xác người ngồi đồng để giao lưu với mọi người; kết thúc trò chơi hoặc lễ hội sẽ có hiện tượng xuất hồn siêu linh để nhập lại hồn người ngồi đồng

- Xuất, nhập hồn tổ sư đi hành lễ

- Tự động xuất, nhập hồn mình, hiện tượng này phổ biến ở các thầy Then [43, tr 80 - 81]

Trong bài viết Khi nào Kut giống lên đồng, của nhà nghiên cứu Laurel

Kendall, Bào tàng Lịch sử Tự nhiên, Hoa Kỳ, bà cũng đề cập tới khái niệm Shaman

và thầy Shaman Bà cũng đồng tình với nhiều nhà dân tộc học cho rằng khái niệm

thầy Shaman để chỉ những người hành nghề tôn giáo, những người tiếp xúc với thế

giới tâm linh Và những người hành nghề như thầy pháp đã được mô tả ở rất nhiều

xã hội của các nhà nước Châu Á từ những thời kỳ cổ xưa và qua suốt cả thế kỷ 20

Trong những xã hội này, những người hành nghề tôn giáo như vậy (thầy pháp

Shaman) đã chịu đựng sự ngược đãi, dè bỉu về mặt trí tuệ và đàn áp trục xuất hơn

nhiều so với thầy pháp Shaman của các xã hội hái lượm, săn bắn hoặc chăn nuôi, v v… [47]

Trang 31

Như vậy, từ thế kỷ XX cho đến nay khái niệm về Shaman và thầy Shaman vẫn không ngừng được các nhà nghiên cứu quan tâm Và các thầy pháp Shaman

được xem như những người hành nghề tôn giáo bằng cách xuất/ nhập hồn mình để liên hệ với thế giới siêu linh Dù trong nhiều thời kỳ, ở nhiều xã hội, các thầy Shaman bị coi thường, dè bỉu song họ vẫn tồn tại một sức hấp dẫn, lôi cuốn lạ kỳ và đôi khi họ còn mang những xứ mệnh quan trọng để cứu chuộc nhiều thân phận

1.2.4 Then và một số khái niệm có liên quan

Trên các phương tiện thông tin đại chúng và theo cách hiểu sơ bộ của đông

đảo quần chúng, thuật ngữ Then thường được hiểu là một làn điệu dân ca của người Tày, Nùng Song cách hiểu này mới chỉ phản ánh được một khía cạnh nhỏ của Then

mà chưa phản ánh được đầy đủ và đúng bản chất của sinh hoạt này Trên thực tế

cũng như qua các nghiên cứu khoa học thì thuật ngữ Then ngoài cách hiểu là một

làn điệu dân ca nó còn được dùng để chỉ một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, một nét văn hóa tâm linh của cộng đồng Tày, Nùng

Khái niệm về Then hiện nay cũng chưa thực sự là một khái niệm thống nhất

mà thiên theo từng hướng nghiên cứu, mỗi nhà nghiên cứu có một quan niệm riêng Trước hết chúng ta tìm hiểu thuật ngữ Then, trên thực tế thuật ngữ Then bắt nguồn

từ đâu cũng tồn tại nhiều quan điểm Theo đa số thì thuật ngữ Then bắt nguồn từ âm Hán – Việt: Thiên (天) , tức Then được biến âm từ Thiên có nghĩa là trời, mường

Then chính là mường Trời/ Thiên đình Bởi theo quan niệm của người Tày, thế giới

có 3 tầng: Thiên đình – Trần gian – Âm phủ và mường Trời hay Thiên đình là nơi

mà họ vô cùng tôn kính, đó là nơi trú ngụ của các thần linh, những người thuộc thế giới siêu nhiên, những người có khả năng nghe được lời cầu nguyện của họ, ban cho

họ sức khỏe, tài lộc, may mắn,… Có lẽ vậy mà Then trong quan niệm của người Tày Nùng để chỉ một thế giới thần thánh, siêu linh

Và cách hiểu thứ hai cho rằng Then nghĩa là Tiên – Sliên Tiên là những

người ở trên mường Trời - lực lượng siêu nhiên, thần thánh, những người giữ vai trò thông linh giữa thế giới trần tục với các thần linh Với cách hiểu này, nhiều người

Trang 32

đưa ra giả thuyết rằng Then bắt nguồn từ tín ngưỡng Sliên của những bà Sliên người Nùng Tuy nhiên, Sliên thiên về hoạt động bói toán, làm các lễ cúng nhỏ

Trong nghiên cứu về Then trong cuốn “Then Tày”, TS Nguyễn Thị Yên, đã

liệt kê ra 9 cách viết khác nhau của Then dựa theo tài liệu về Nôm Tày của nhà nghiên cứu Triều Ân Cơ bản tất cả các cách viết Then, Pụt theo Triều Ân tuy tùy tiện, lộn xộn nhưng chỉ đọc ra là Then hoặc Pựt/ Pụt điều đó chứng tỏ mối quan hệ gần gũi giữa Then và Pụt Điều đáng chú ý là trong 9 cách viết Then/ Pụt nói trên có tới 6 chữ lấy chữ 天 (Thiên) để biểu thị Then về mặt ý nghĩa là “trời” và 7 chữ (nhân) để bổ sung cho ý nghĩa người của nhà trời Xét về ngữ nghĩa, chữ 天 (Thiên – Then) là từ mượn ý của chữ Hán chỉ trời đấng thần linh tối cao mà các cư dân Tày

– Thái nói chung đều thờ phụng Có lẽ chữ Then là xuất phát từ tục thời Trời (phạ)

của các dân tộc nhóm này, sau khi ảnh hưởng của văn hóa Hán, họ đã mượn chữ

Thiên/ Trời là một mỹ từ để tôn xưng Trời (phạ) và để thờ phụng bởi chữ Hán

thường bao giờ cũng mang nghĩa trang trọng [43, tr 54]

Từ hiện tượng như trên có thể giải thích tên gọi Then là bắt nguồn từ tín

ngưỡng thờ Trời (phạ) của cư dân Tày – Thái nói chung Do ảnh hưởng bởi sự giao

lưu văn hóa Hán – Tày – Kinh nên người Tày không còn giữ được nhiều yếu tố bản địa như người Thái Tây Bắc nhưng Then vẫn được họ lưu giữ lại để chỉ một hoạt động văn hóa tín ngưỡng liên quan đến tục thờ trời mang tính bản địa của cộng đồng Then được giữ lại để chỉ những người thầy cúng có khả năng làm môi giới liên hệ giữa cõi đất và cõi trời, giữa cõi trần tục và cõi siêu nhiên

Có lẽ trong con mắt của người Tày, Nùng cũng như các dân tộc khác tuy còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về bản chất của Then song phần lớn mọi người đều cho rằng trong Then điều quan trọng nhất chính là những thầy Then - người tiến hành nghi lễ, là linh hồn của nghi lễ then Họ được cho là người đặc biệt giữ vai trò trung gian giữa thực và hư; giữa thế giới thần linh và thế giới con người; giữa thế giới hữu hình và thế giới siêu linh Then là người có khả năng giao tiếp với các lực

Trang 33

lượng siêu nhiên và thông qua các thần linh sẽ giúp con người thực hiện được nguyện vọng của họ Then chính là một thầy Shaman do vậy cũng như trình tự công việc của các thầy pháp Shaman, trình tự công việc giao tiếp với thần linh của Then

có hai cách là Then dùng tiếng đàn, hát, xóc nhạc để đưa hồn mình (xuất hồn) chu

du lên xứ sở thần tiên cầu xin Ngọc Hoàng Thượng đế, các thánh thần ban lộc; cách thứ hai là thỉnh cầu thần linh nhập vào mình Trong hai cách thì cách thứ nhất được các thầy then sử dụng nhiều hơn; còn cách thứ hai là cách thức hành nghề chủ yếu của các ông đồng, bà đồng người Việt trong nghi lễ lên đồng

Như vậy có thể xem Then là một loại hình tín ngưỡng dân gian của người

Tày thuộc dòng Shaman giáo mà ở đó những người làm Then thông qua hiện tượng xuất hồn và nhập hồn để giao tiếp với thế giới thần linh, cầu mong thần linh đáp ứng nguyện vọng của mình và những người tham dự lễ

* Các loại nghi lễ Then

Ông Then, bà Then có thể thực hiện nhiều loại nghi lễ khác nhau, trong đó mỗi loại nghi lễ lại đáp ứng những nhu cầu khác nhau của đời sống trần tục như bói

toán, chữa bệnh, cầu yên, giải hạn,… Trong cuốn “Mấy vấn đề về Then Việt Bắc”

tác giả Nông Văn Hoàn đã chia Then gồm các loại nghi lễ như sau:

- Then kỳ yên/cầu yên

- Then chữa bệnh

- Then bói toán

- Then tống tiễn

- Then cầu mùa, cầu đảo, diệt trùng

- Then chúc tụng (làm nhà, sinh con, cưới hỏi, chúc thọ,…)

- Then cấp sắc [11]

Tác giả Nguyễn Thị Yên trong công trình “Then Tày” của mình đã chia nghi

lễ Then thành bốn lọai chính căn cứ theo hình thức diễn xướng:

Trang 34

- Then bói (bói chữ bệnh, bói tình yêu,…)

- Then giải hạn, cầu yên (cầu mẻ va phù hộ cho trẻ nhỏ; then giải hạn, nối số

cho người già; gọi vía lạc; cầu tự; Then chữa bệnh,…) Các loại Then này thường diễn ra vào đầu năm, mùa xuân

- Then chúc tụng (mừng nhà mới; cưới hỏi; thăng quan,…) loại then này ít tính nghi lễ hơn mà nặng về vui chơi, chúc tụng vui vẻ

- Lẩu Then (hội Then mà tiêu biểu là Then cấp sắc) loại Then này thường tổ chức ở chính nhà Then để dâng cúng tổ nghề Then vào dịp thường kỳ hàng năm và đặc biệt là Then cấp sắc, tăng sắc cho những người làm Then [43, tr 74]

* Hệ thống thần linh trong Then

Hệ thống điện thần trong Then là một thế giới đa thần, có chịu ảnh hưởng khá rõ nét từ thần linh Tam giáo của Trung Hoa Thế giới thần linh trong Then bao gồm thần linh ở mặt đất, trên trời và dưới đất (âm phủ) Trong đó thần ở trên trời được coi là có nhiều quyền năng hơn cả đặ biệt là vị thần đứng đầu mường Trời – Ngọc Hoàng Theo quan niệm dân gian thì những thần linh ở trên trời có khả năng chi phối toàn bộ cuộc sống của thế giới muôn loài dưới mặt đất, họ có thể ban cuộc sống bình yên hay những bất hạnh cho muôn loài Hệ thống thần linh trong Then nói riêng và của cộng đồng Tày Lạng Sơn nói chung (như đã phân tích trong phần trên) đều có nguồn gốc từ tín ngưỡng đa thần của các cư dân nông nghiệp nhưng đã được bao phủ bằng một lớp vỏ của các vị thần Tam giáo Tín ngưỡng thờ Trời, Đất được biến thành tín ngưỡng thờ vị thần có tên gọi là Ngọc Hoàng, hay các tín ngưỡng thờ ma sông, ma suối, ma bếp thì biến thành tín ngưỡng thờ Long Vương, Thổ Công, Táo Quân,…

Trong Then cấp sắc ở Văn Quan cụ thể Then phải vượt qua tất cả 11 cửa ải mới tới được của Ngọc Hoàng – thần linh tối cao cai trị mường Trời; còn trong các loại Then khác thì chủ nhà muốn hỏi việc gì Then sẽ đến cửa đó để xin và một trong

Trang 35

những cửa không thể thiếu trong hầu hết các nghi lễ Then là cửa Thổ Công, cửa Thành Hoàng, cửa Táo Quân, cửa Tổ tiên

1) Tu Thổ Công (cửa Thổ Công)

2) Tu Thành Vàng (cửa Thành Hoàng)

3) Tu Táo Quân (cửa Táo Quân)

4) Tu Đẳm (cửa Tổ tiên)

5) Tu Pháp (cửa Pháp Sư)

6) Tu Tưởng (cửa Tướng)

7) Tàng Queng Quý (Đường Ve Sầu)

8) Tu Cắp Kính (cửa do những người làm Then nhưng không thành nghề cai giữ)

9) Tu Vở Khuông, Vở Khắc (cửa ông Khuông, ông Khắc)

10) Khảm hải (vượt biển)

11) Tu Vùa (cửa Ngọc Hoàng) [29, tr 40]

Mỗi lần thực hiện cuộc hành trình Then dùng lời hát, đệm với tiếng đàn tính

để diễn tả một cuộc hành trình đầy khó khăn, vất vả, phải vượt qua những cửa ải thậm chí phải chiến đấu để vượt qua Nhưng qua đó thấy sự đan cài hài hòa, giao lưu văn hóa nhuần nhuyễn giữa Kinh – Tày – Hán, tạo nên cho hệ thống văn hóa tín ngưỡng Tày mà tiêu biểu là Then một màu sắc vừa dân dã, vui nhộn vừa quy củ, trang nghiêm

Tiểu kết chương 01

Huyện Văn Quan được xem là một vùng tương đối khó khăn ở Lạng Sơn, song tại đây lại lưu giữ được nhiều giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của cư dân Tày Ngay từ những ngày đầu người Tày sinh sống tại đây cho tới bây giờ, các nghi

lễ, lễ hội, phong tục tập quán của thôn bản vẫn được bảo tồn, phát huy Then có thể coi là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu, đặc trưng nhất trong vùng cùng

Trang 36

với số lượng các thầy Then, Mo, Tào còn tương đối đầy đủ Họ chính là những người bảo hộ cho đời sống của cộng đồng làng bản, là người không thể thiểu trong các hoạt động tín ngưỡng của mỗi gia đình cũng như của cả cộng đồng Người ta cần sự có mặt của Then trong những lễ lớn như Lồng tồng, cầu mùa,… cho đến việc ma chay, hiếu hỉ, tân gia, mừng thọ, đầy tháng,… trong các gia đình Hơn nữa Then còn được coi như thầy thuốc chữa bệnh của cả làng, Then là chỗ dựa tinh thần khi gia đình gặp chuyện không may, là nơi người ta chia sẻ niềm vui khi có chuyện

mừng Có thể coi không gian diễn ra hoạt động nghi lễ Then chính là “không gian

cộng cảm và cộng mệnh” (chữ thường dùng của GS Ngô Đức Thịnh) của con người

và của bản làng người Tày Trong nghiên cứu này, chúng tôi đề cập tới Then là một loại hình tín ngưỡng dân gian của người Tày thuộc dòng Shaman giáo ; các thầy Then chính là các thầy pháp Shaman

Trang 37

Chương 2: THẾ GIỚI ĐỜI SỐNG CỦA THEN TRONG XÃ HỘI TÀY

Ở VĂN QUAN, LẠNG SƠN

(QUA NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP BÀ THEN HOÀNG THỊ BÌNH)

Người làm Then trong xã hội Tày bao gồm cả nam và nữ, theo như điều tra của chúng tôi tại Văn Quan, Lạng Sơn thì số người làm Then có tới 91% là nữ, còn lại là nam giới thế nhưng dòng Then nam thường thiên theo cách hành nghề của Tào (đôi khi có sử dụng sách cúng) Giữa dòng Then Nam/Then tậc (Theo cách gọi của người Tày ở Văn Quan, khác với cách gọi Then nam của người Tày Cao Bằng – Then Giàng) và Then nữ có những khác biệt nhất định song yêu cầu bắt buộc là những người làm Then phải biết chơi đàn tính, nhảy múa và hát Để có thể trở thành

“Người được chọn” cần có rất nhiều yếu tố từ yếu tố di truyền, căn số, yếu tố tâm

sinh lý đến các tác nhân xã hội ví như: căn then (mỉng bang), vốn then (tẩn then) và phải có niềm tin đối với việc trở thành Then của Người được chọn Trong chương

này chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đề căn nguyên trở thành Then trong xã hội Tày, Văn Quan, quá trình học nghề Then và đời sống thường nhật cũng như đời sống đạo của Then (thông qua nghiên cứu chính từ trường hợp bà Then Hoàng Thị Bình đặt trong mối quan hệ với một số Then khác ở Văn Quan) Qua đó có thể mang đến một cách nhìn toàn diện về quá trình trở thành Then cũng như đời sống của Then – những người được xem là đại diện cho thần linh trong xã hội Tày, những người chăm lo phần hồn và mang đến cho cộng đồng niềm vui cũng như sự bình an

2.1 Quá trình trở thành Then của Người được chọn

2.1.1 Tiểu sử đời sống của người được chọn

a Gia đình xuất thân

Sống trong cộng đồng Then cũng như bao nhiêu người khác, họ có thể xuất thân từ nông dân, công nhân, viên chức,… họ cũng có một gia đình bình thường với cha mẹ, vợ chồng và con cái Đây là điều đầu tiên chúng ta nhận định về Then, họ

Trang 38

không phải là những con người “khác thường” mà họ cũng có một cuộc sống bình thường như mọi người trong cộng đồng Họ cũng lao động và có nghề nghiệp chứ không phải chỉ sống dựa vào nghề thầy cúng hay nói một cách khác họ không phải

những người thực hành tín ngưỡng chuyên nghiệp (tức những người chỉ sống bằng

nguồn thu duy nhất có được từ nghề cúng, bói) Đời sống của họ là đời sống của

những người thực hành tín ngưỡng không chuyên, vừa là đời sống của người

thường vừa là đời sống của người chăm lo sinh hoạt tín ngưỡng cho cộng đồng

Trường hợp Then Bình – đối tượng mà chúng tôi chọn làm mẫu nghiên cứu chính xuất thân trong một gia đình trí thức hiếm hoi của dân tộc Tày, có nhiều người học rộng, được trọng vọng ở trong vùng Anh chị em bà đều làm nhà nước, chị gái bà còn là Tiến sĩ Bà cũng được gia đình cho đi học, học hết lớp 7 (tương đương Tốt nghiệp cấp II bây giờ) sau đó, bà đi học nghề thuốc rồi làm công tác phục vụ kháng chiến, đến năm 1974 bà làm cán bộ phụ nữ xã Đại An và năm 2000 thì về hưu

Gia đình chồng bà cũng là gia đình khá giả, có học thức trong vùng Bà lấy chồng khi còn rất trẻ nhưng luôn phải sống cảnh một mình nuôi con vì chồng bà làm giáo viên, được phân công làm việc xa nhà nên thi thoảng mới về thăm gia đình Những khi con ốm bà luôn phải tự mình chăm sóc con cái, làm việc đồng áng lại công tác ở xã nên rất vất vả Bà sinh được 7 người con nhưng hai người đã mất, năm người con của bà hiện giờ đều thành đạt, ba cô con gái làm giáo viên, anh con trai thứ hai Trưởng Đài Phát thanh – Truyền hình huyện còn anh con trai út làm công tác ở thôn để có điều kiện chăm lo cha mẹ, ruộng vườn, cả gia đình bà đều là Đảng viên gương mẫu

Có thể nói gia đình bà cũng như gia đình nhà chồng đều có những điều kiện kinh tế tốt, lại đều là người Nhà nước, có trình độ học vấn, được cập nhật và hiểu biết đầy đủ các thông tin, chỉ thị của Đảng và Nhà nước nên việc bà đến với Then hoàn toàn không phải do mê tín, dị đoan hay thiếu hiểu biết mà đây là một việc vạn

Trang 39

chống mê tin dị đoan, bói toán, bùa phép,… khi đó các hoạt động tín ngưỡng và những người hành nghề tôn giáo đều không dám hoạt động công khai Là một cán

bộ phụ nữ xã hơn ai hết bà Bình hiểu rất rõ những điều đó nên trong suy nghĩ của bà cũng như gia đình không bao giờ nghĩ đến chuyện sẽ làm Then Khi chúng tôi hỏi

gia đình bà và nhà chồng có ai làm Then không? Bà nói: Bà nội chồng bà trước kia

cũng bị bắt làm Then, bà cụ luôn trốn để không phải làm, thậm chí khi đã nhận thầy

mẹ, đến nhà thầy mẹ học mà bà vẫn trốn về nhưng bà vẫn bị bắt làm, bà làm Then được hơn 10 năm thì qua đời Bà nội của chồng bà Bình bị bắt Then cũng tương đối

muộn, có lẽ vậy nên đến lượt bà Bình tuổi vào nghề Then của bà cũng khá muộn

(xem phần Lứa tuổi và giới tính)

Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy, bà Bình sinh ra trong một gia đình bình thường, kinh tế khả giả, có học vấn trong xã hội và hoàn toàn không có người làm Then Vì vậy, không xảy ra khả năng bà bị tổ tiên nhà mình bắt Then và cũng không đến với nghề Then bằng sự thiếu hiểu biết Tuy nhiên, gia đình tổ tiên nhà chồng lại

có tẩn Then và bà đã bị bắt Then trong một trạng thái hoàn toàn thụ động, không có

chuẩn bị trước, không hề mong muốn

b, Học vấn, nghề nghiệp

Nếu thầy Tào người Nùng được cộng đồng tôn trọng và coi là những nhà tri

thức nhân dân bởi kiến thức Hán học sâu rộng, hành nghề theo sách vở bài bản thì

các Then người Tày có phần mang tính dân gian hơn Then hành nghề không dựa theo sách cúng mà chủ yếu là học thuộc lòng và được sự hỗ trợ hoàn hảo từ âm

nhạc (đàn tính và xóc nhạc), ca từ (lời hát then), làn điệu Những người làm Then

đa phần không có kiến thức cao như Tào, Then gần gũi và dân dã hơn, họ chủ yếu chỉ dừng lại ở trình độ biết đọc và viết tiếng phổ thông Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ, Then làm việc trong cơ quan nhà nước thì có học vấn cao hơn như trường hợp Then Bình chúng ta đang khảo cứu hay những người làm Then là nam giới thường chịu ảnh hưởng của Tào nên cũng có một số ít học nghề từ thầy Tào và hành nghề theo sách cúng

Trang 40

Song, xét chung trong mặt bằng trình độ học vấn của người Tày ở Văn Quan thì những người làm Then không có trình độ học vấn cao bởi đa phần họ xuất thân

từ nông dân Then không phải người hành nghề chuyên nghiệp do vậy bên cạnh nghề Then họ vẫn lao động sản xuất phục vụ cho cuộc sống của mình Đối với

những Then xuất thân từ nông dân đối với việc trở thành Người được chọn thì sự

xáo trộn nghề nghiệp không quá lớn Ngoài những ngày làm lễ định kỳ hay bất thường, họ vẫn có thể lao động bình thường, sự kết hợp giữa Then và nghề chính của những người này không nảy sinh nhiều xung đột, thậm chí làm Then còn là một cách giúp họ tăng thêm thu nhập cho cuộc sống gia đình Còn đối với những người

đang công tác tại các cơ quan nhà nước thì việc trở thành Người được chọn là một

vấn đề vô cùng nghiêm trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp tới nghề nghiệp và danh dự của họ

Bà Hoàng Thị Bình khi là Người được chọn, dù đã về hưu nhưng gia đình

đều là Đảng viên, các con còn đang công tác, nên mọi người trong gia đình đều không đồng ý cho bà kế nghiệp Then của Tổ tiên Con đường đến với nghề Then của bà vô cùng khó khăn và bị ngăn trở từ nhiều phía

Cũng giống bà Bình chị Hoàng Thị H ở Văn Quan, làm công nhân tại nhà

máy xi măng, chị “căm ghét” việc phải trở thành Then Chị đã tuyên bố “thà chết

chứ không chịu làm then”

Trong hoàn cảnh này bà Bình và đa phần những người công tác tại cơ quan nhà nước hay làm ở các công ty đều không muốn mình trở thành Then Bởi họ biết

nếu làm nghề này họ sẽ phải từ bỏ công việc hiện tại để tuân theo sự sắp đặt của ma

Then, bị trói buộc trong những khuôn phép, những kiêng kỵ hợp pháp hay bất hợp

pháp của nghề nghiệp và xã hội Những quy định gắt gao về giờ giấc, công việc và trách nhiệm khi làm tại các cơ quan nhà nước khiến họ không thể vừa làm Then vừa hoàn thành công việc Như trường hợp bà Bình, mãi sau này khi đã nghỉ hưu (65

tuổi) bà mới đi tới quyết định sẽ làm Then Có thể do đã nghỉ công tác; do căn then

Ngày đăng: 23/09/2020, 17:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm