1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sgk gd dia phuong lop 10

100 0 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Giáo Dục Địa Phương Tỉnh Thanh Hoá Lớp 10
Tác giả Nguyễn Phú Tuấn, Trần Viết Lưu, Lê Thị Bích Hồng, Bùi Thị Oanh, Lê Thị Phượng
Trường học Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Thanh Hoá
Chuyên ngành Giáo Dục Địa Phương
Thể loại Tài Liệu Giáo Dục
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thanh Hoá
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 13,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giữ môi trường xanh – sạch – đẹp trong Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh • Tự hào, có ý thức giữ gìn, bảo vệ, phát huy giá trị của các di sản văn hoá xứ Thanh gắn với du

Trang 1

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

NGUYỄN PHÚ TUẤN (Tổng Chủ biên), TRẦN VIẾT LƯU (Chủ biên)

LÊ THỊ BÍCH HỒNG – BÙI THỊ OANH – LÊ THỊ PHƯỢNG

NHÀ XUẤT BẢN GIÁO DỤC VIỆT NAM

UỶ BAN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGUYỄN PHÚ TUẤN (Tổng Chủ biên) TRẦN VIẾT LƯU (Chủ biên)

LÊ THỊ BÍCH HỒNG – BÙI THỊ OANH - LÊ THỊ PHƯỢNG

Tàiliệugiáodụcịaphương

THANHHOÁ

TỈNH

10

Trang 2

HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH Khởi động

Khám phá Luyện tập

Vận dụng

Đề cập đến những nội dung học sinh sẽ tìm hiểu trong chủ đề, kết nối những điều học sinh đã biết, tạo hứng thú cho các em trước khi vào bài học mới

Cung cấp cho học sinh kiến thức mới, giúp các em có thêm hiểu biết về quê hương mình

Gồm các câu hỏi, bài tập thực hành để củng

cố những kiến thức vừa học và rèn luyện các kĩ năng

Sử dụng những kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết các tình huống, vấn đề trong thực tiễn

Mỗi chủ đề gồm 4 hoạt động chính:

Trang 3

và con người xứ Thanh.

Cuốn tài liệu này gồm 8 chủ đề, với nội dung xoay quanh những nét đặc trưng về văn hoá, lịch sử, địa lí, xã hội, kinh tế, môi trường,… của Thanh Hoá Ở mỗi chủ đề, từ mục tiêu bài học, các em sẽ được tìm hiểu, khám phá những nội dung bổ ích, lí thú về văn hoá, lịch sử, con người xứ Thanh,… Trên cơ sở tri thức mới lĩnh hội được ở phần khám phá, phần luyện tập và vận dụng sẽ giúp các em có thêm trải nghiệm quý, hoàn thành những sản phẩm, bài tập mới, biết vận dụng vào các tình huống

có liên quan thường gặp trong cuộc sống Ngoài ra, các em sẽ có thêm

kĩ năng tự tìm hiểu, tự khám phá để làm phong phú vốn tri thức cho bản thân Từ đó, các em càng thêm trân trọng, tự hào về quê hương, đất nước mình

Cuốn sách này sẽ là người bạn đồng hành với các em trong suốt năm học Chúc các em học tốt và có những trải nghiệm thú vị!

Sở Giáo dục và Đào tạo Thanh HoáLời nói đầu

Trang 4

Chủ đề 1 THANH HOÁ TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP 5

Chủ đề 3 NGUỒN LỰC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NÔNG – LÂM NGHIỆP TỈNH

THANH HOÁ

29

Chủ đề 7 NGUỒN NHÂN LỰC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI

MIỀN NÚI TỈNH THANH HOÁ

Trang 5

kháng chiến chống Pháp và đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ Bác nói: “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hoá cũng có một phần vinh dự đến đó” (1)

1 Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 10 (1955 - 1957), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, tr.598.

Trang 6

Hình 1.1 Bác Hồ nói chuyện với nhân dân Thanh Hoá trong lần về thăm

Thanh Hoá năm 1957

Nêu cảm nghĩ của em về giá trị tinh thần và ý nghĩa lịch sử lời nói của Bác Hồ đối với nhân dân Thanh Hoá trong lần thứ hai Bác về thăm tỉnh nhà.

Khám phá

1 Vị trí, hoàn cảnh lịch sử của Thanh Hoá trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1946 - 1954)

a) Đặc điểm và vị thế của Thanh Hoá

Thanh Hoá là tỉnh có diện tích lớn, dân số đông, tài nguyên khoáng sản và nguồn nhân lực dồi dào

Thanh Hoá nằm ở phía Bắc của Khu 4, giáp với Khu 3(*), là địa bàn vừa có biển, vừa có đồng bằng, lại vừa có rừng núi; có đường biên giới chung với nước bạn Lào

* Khu 3, hoặc Chiến khu 3; Khu 4, hoặc Chiến khu 4 là các đơn vị hành chính - quân sự cũ ở vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Bắc Trung Bộ, do chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đặt ra và sử dụng từ cuối năm 1945 đến đầu năm 1948, trên cơ sở tổ chức quản lí hành chính chung cho một số tỉnh - thành phố có vị trí địa lí tiếp giáp nhau để thuận lợi cho việc chỉ đạo, chỉ huy tác chiến và xây dựng lực lượng vũ trang trong thời kì đầu Kháng chiến chống Pháp

Trang 7

nối với miền núi Tây Bắc Việt Nam Diện tích đồi núi chiếm khoảng 70% diện tích đất đai của Thanh Hoá Hệ thống sông ngòi, đường giao thông thủy bộ, đường sắt đã tạo nên một hệ thống giao thông đa dạng, khá thuận tiện cho việc vận chuyển, đi lại.Thanh Hoá là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc Sau cách mạng tháng Tám năm

1945, dưới sự lãnh đạo của Trung ương, Đảng bộ và chính quyền địa phương, nhân dân các dân tộc Thanh Hóa đoàn kết, cùng nhau xây dựng cuộc sống mới, bảo vệ nền độc lập, tự do

b) Hoàn cảnh lịch sử của Thanh Hoá trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Sau Hiệp định Sơ bộ ngày 6 – 3 – 1946, Thanh Hoá trở thành vùng tự do.Thanh Hoá là hậu phương không chỉ của Khu 4, của cả nước, mà còn là hậu phương của nước bạn Lào trong kháng chiến

Sau khi từng bước chiếm đóng các địa bàn đô thị, nông thôn, từ tháng 3 năm

1947, thực dân Pháp đã đánh vào Thanh Hoá từ phía Đông (vùng biển) và phía Tây (vùng núi); ném bom bắn phá các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Tĩnh Gia, Thiệu Hoá

và thị xã Thanh Hoá, hai bên bờ sông Mã, đập Bái Thượng,… Quân Pháp từ Lào đánh phá các huyện Quan Hoá, Bá Thước, Lang Chánh nhằm chiếm đóng toàn bộ miền Tây Thanh Hoá, đồng thời uy hiếp vùng đồng bằng của tỉnh, lấy đó làm cơ sở

để đánh ra các tỉnh phía bắc Thanh Hoá thuộc Liên khu 3, cắt đứt đường liên lạc, vận chuyển từ Thanh Hoá và Liên khu 4 lên các tỉnh Tây Bắc, Việt Bắc và các tỉnh Thượng Lào

Trang 8

Từ giữa năm 1953 đến đầu năm 1954, thực dân Pháp vừa tăng cường đối phó với ta ở chiến trường Tây Bắc, vừa cho máy bay, tàu chiến bắn phá, càn quét dữ dội vào Thanh Hoá nhằm buộc ta chi phối lực lượng và chia cắt hậu phương Thanh – Nghệ – Tĩnh với chiến trường chính Tây Bắc và Lào.

Tháng 10 năm 1953, tướng Pháp Na-va mở cuộc hành binh “con bồ nông” đánh vào vùng biển Thanh Hoá Cuối năm 1953 đầu năm 1954, thực dân Pháp cho quân đổ

bộ, càn quét hơn 10 lần vào các huyện Nga Sơn, Hà Trung, Hoằng Hoá, Quảng Xương

và Tĩnh Gia Có trận, số quân địch lên tới hơn 3.000 tên

Em có nhận xét gì về vị trí của Thanh Hoá trong cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp?

2 Vai trò tiền tuyến của Thanh Hoá trong kháng chiến chống thực dân Pháp

Ở miền Tây Thanh Hoá, Chính phủ đã quyết định thành lập Ủy ban hành chính đặc biệt miền Thượng du Thanh Hoá Bộ tư lệnh Liên khu 4 quyết định thành lập Ban chỉ huy mặt trận miền Tây Thanh Hoá, đặt dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Bộ

tư lệnh Liên khu 4 và Ủy ban hành chính tỉnh Thanh Hoá Các huyện miền Tây Thanh Hoá đã xây dựng hai đại đội du kích tập trung là Đại đội Cầm Bá Thước và Đại đội Hà Văn Mao

Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh đã chủ động cử bộ đội chủ lực của tỉnh phối hợp cùng với các đơn vị thuộc Liên khu 4, Liên khu 3, Liên khu 10 đánh địch ở Sầm Nưa (Lào)

Đầu năm 1950, Bộ tư lệnh Liên khu 4 quyết định thành lập và trực tiếp chỉ đạo Ban chỉ huy Mặt trận Thanh Hoá Địa bàn Thanh Hoá được chia thành 5 khu vực tác chiến, các lực lượng vũ trang tỉnh luôn sẵn sàng chiến đấu và đã tổ chức phối hợp chiến đấu với các đơn vị của Liên khu 3 đánh địch xâm nhập từ phía Bắc và từ phía biển vào, từ phía Tây sang, góp phần phá vỡ phòng tuyến Sông Mã của địch, tiêu diệt, bức rút, bức hàng nhiều đồn bốt, giải phóng hoàn toàn miền Tây Thanh Hoá

Trang 9

Đối với cuộc tấn công quy mô lớn cuối năm 1953, các đơn vị chủ lực thuộc Đại đoàn 320 và Đại đoàn 304 đã phối hợp với lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương tổ chức đánh địch, tiêu diệt nhiều tên, làm thất bại cuộc hành binh Hải Âu, bảo vệ được căn cứ hậu phương, đồng thời vẫn tiếp tục triển khai các hoạt động trong Đông Xuân 1953 – 1954.

Để phân tán lực lượng của địch hỗ trợ cho chiến dịch Điện Biên Phủ, thực hiện chia lửa với chiến trường Bắc Bộ, Tây Bắc, quân và dân Thanh Hoá tổ chức những trận tập kích vào các đồn bốt ở Chính Đại, Mai An Tiêm, Vân Hải thuộc các xã phía bắc huyện Nga Sơn để kìm chân địch, không để chúng ra ứng cứu cho chiến trường Bắc

Bộ và Tây Bắc Tại các huyện Hà Trung, Quảng Xương, Tĩnh Gia, các đại đội bộ đội địa phương đã cùng dân quân du kích tổ chức lực lượng chống càn quét Mặt khác các

tổ dân vận, địch vận vẫn tăng cường tuyên truyền hoạt động khuyếch trương chiến thắng của ta trên chiến trường Điện Biên, làm lung lay tinh thần và làm tan rã hàng ngũ địch(1)

Vai trò tiền tuyến của Thanh Hoá được thể hiện như thế nào?

3 Vai trò hậu phương của Thanh Hoá trong kháng chiến chống thực dân Pháp a) Xây dựng lực lượng vũ trang

Để bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, lãnh đạo tỉnh Thanh Hoá đã quan tâm

tổ chức lực lượng vũ trang ba thứ quân Chi đội mang tên Đinh Công Tráng(2) được

1 Thất bại trên chiến trường chính Điện Biên Phủ buộc địch phải rút khỏi Nga Sơn, bị tiêu diệt nặng trong các trận càn quét vào bờ biển phía nam Thanh Hoá, âm mưu phá hậu phương Thanh Hoá bị thất bại hoàn toàn Ngày 7 – 8 – 1954, thực dân Pháp phải rút khỏi đảo Hòn Mê, chấm dứt sự có mặt của quân Pháp ở Thanh Hoá

2 Chi đội Đinh Công Tráng là một chi đội được thành lập ngay sau Cách mạng tháng Tám năm

1945 tại Thanh Hoá Đây cũng là tổ chức tiền thân, đội quân chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang Thanh Hoá sau này Đầu năm 1947, Chi đội Đinh Công Tráng được bổ sung quân số, kiện toàn tổ chức và đổi tên thành Trung đoàn Vệ quốc quân Thanh Hoá, phiên hiệu Trung đoàn 77

Trang 10

thành lập trong những ngày Tổng khởi nghĩa, đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Ủy ban Nhân dân lâm thời tỉnh, với quân số tương đương một trung đoàn, chia thành 9 đại đội, là một trong những đơn vị chủ lực cấp tỉnh đầu tiên trong cả nước Đây là đơn vị làm nòng cốt để xây dựng bộ đội địa phương ở các huyện, thị trong tỉnh

Bên cạnh việc xây dựng đơn vị chủ lực, Đảng bộ và chính quyền các cấp ở Thanh Hoá còn chú trọng tổ chức các đội dân quân du kích tập trung và không tập trung, các đội tự vệ, đảm đương nhiệm vụ giữ gìn trật tự trị an, trấn áp phản cách mạng, sẵn sàng phối hợp với đơn vị chủ lực và nhân dân đánh địch bảo vệ địa phương

Thanh Hoá còn là nơi ra đời của Đại đoàn 304 (sau được vinh dự mang tên là Đại đoàn Vinh Quang), là lực lượng chủ lực thứ hai của quân đội, sau Đại đoàn 308 Quân Tiên Phong Ngoài ra, Thanh Hoá còn đóng góp nhiều lực lượng để tổ chức Đại đoàn

320 (Đại đoàn Đồng Bằng) và còn là nơi đứng chân của Đại đoàn 316 trước khi tiến lên Tây Bắc tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ

b) Chuyển hoạt động sang thời chiến

Triển khai mọi hoạt động chuẩn bị kháng chiến: chuyển mọi sinh hoạt, công tác sang thời chiến Các cơ quan dân, chính, Đảng, các tổ chức, đoàn thể nhanh chóng sắp xếp tổ chức theo hướng gọn nhẹ, tiện cơ động, đảm bảo an toàn, hiệu quả Chọn lựa và xác định một số địa điểm trong tỉnh để xây dựng khu căn cứ an toàn, lấy đó làm nơi đứng chân chỉ đạo kháng chiến cho lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện

Thực hiện tiêu thổ kháng chiến nhằm chặn bước tiến của địch, nhân dân các thị trấn, đặc biệt là thị xã Thanh Hoá, đã tháo dỡ các công trình kiên cố, đào đường, đắp ụ, phá cầu, cống, đường ray xe lửa; tháo dỡ, vận chuyển máy móc, nguyên vật liệu, lương thực, thuốc men, vũ khí, đạn dược lên căn cứ Ban tản cư đã kịp thời sơ tán những người già, phụ nữ, trẻ em khỏi các thị xã, thị trấn đề phòng địch đánh tới; thực hiện “vườn không nhà trống”

Các làng chiến đấu được lập nên, các hào chiến đấu, ụ tác chiến, bãi cắm chông xuất hiện sẵn sàng đánh địch

Thành lập các tổ chức như “Hội mẹ chiến sĩ”, “Hội phụ lão kháng chiến”, “Hội giúp binh sĩ bị nạn”, mở các cuộc vận động, lập các quỹ kháng chiến nhằm huy động sự đóng góp của nhân dân

Trang 11

Tổ chức và đẩy mạnh phong trào tăng gia sản xuất, phong trào thi đua trong các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân, kể cả trong các đơn vị lực lượng vũ trang nhằm thu hoạch, tích lũy lương thực, thực phẩm, sản xuất những nhu yếu phẩm phục

vụ kháng chiến

Phát động và tổ chức rộng rãi phong trào “bình dân học vụ” để xoá nạn mù chữ, nâng cao dân trí và sự hiểu biết của nhân dân về nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm đối với kháng chiến

c) Chi viện cho tiền tuyến

Trong hầu hết các chiến dịch lớn của quân đội, Thanh Hoá là tỉnh đã có đóng góp

to lớn sức người, sức của, góp phần quan trọng vào thắng lợi chung

Đầu tháng 12 năm 1953, lực lượng vũ trang Thanh Hoá một mặt phải tổ chức chiến đấu bảo vệ địa phương, mặt khác phải tích cực chi viện cho chiến trường, thực hiện khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”

Các binh đoàn chủ lực của ta lần lượt rời hậu phương Thanh Hoá để dồn sức cho chiến dịch Các Đại đoàn 304, 320, 316 và một số trung đoàn đang đứng chân tác chiến bảo vệ Thanh Hoá và vùng tự do Liên khu III lần lượt hành quân lên Tây Bắc, sang Lào chuẩn bị cho chiến dịch Điện Biên Phủ Việc bảo vệ Thanh Hoá lúc này do lực lượng vũ trang trong tỉnh đảm nhiệm

Công tác tuyển quân mỗi năm không chỉ 1 đợt, 2 đợt mà có năm lên tới 3, 4 đợt, lúc nào tiền tuyến cần, lúc đó có hậu phương chi viện Năm 1953 và nửa đầu năm

1954, Thanh Hoá có 18 890 thanh niên nhập ngũ, bằng quân số nhập ngũ của 7 năm trước cộng lại (1946 – 1953)(1) Ngoài ra, Thanh Hoá còn điều động hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ của bộ đội các huyện cho các đơn vị tham gia chiến đấu tại Điện Biên Phủ Số dân công huy động cả ngắn ngày và dài ngày cho toàn chiến dịch lên tới 178 924 /

262 000 người (chiếm gần 70%) Riêng đợt vận chuyển lần thứ ba, số lượng dân công

là 120 000 người, trong đó có 25 000 dân công nữ

1 Từ năm 1951 đến năm 1954, về lực lượng, Thanh Hoá đã động viên được 56 792 thanh niên nhập ngũ, bổ sung cho các chiến trường

Trang 12

Hình 1.2 Đoàn xe đạp thồ của Thanh Hoá chở hàng ra tiền tuyến

Chỉ tính từ đầu năm 1951, khi bộ đội ta mở chiến dịch Trung du, cho tới chiến dịch Điện Biên Phủ, riêng Thanh Hoá đã huy động được hàng chục vạn tấn lương thực, thực phẩm, đáp ứng tới 70% nhu cầu vật chất cần thiết cho các chiến dịch Số lương thực đóng góp là 9 000 tấn; xe đạp thồ gần 11 nghìn chiếc; 1 126 chiếc thuyền;

1 300 con bò; 2 000 con lợn; 150 tấn đậu, 450 tấn cá khô; 250 000 quả trứng; 20 000 chai nước mắm; hàng trăm tấn rau, củ quả(*)…

Bên cạnh sự đóng góp to lớn đó, Thanh Hoá còn là nơi thu nhận và cứu chữa cho hàng nghìn thương bệnh binh của chiến dịch; là nơi tập trung phần lớn số tù binh Pháp bị bắt tại Điện Biên Phủ

Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và Chính phủ, quân và dân Thanh Hoá đã hoàn thành xuất sắc vai trò hậu phương chiến lược, vừa chiến đấu vừa phục vụ chiến đấu, chi viện cho các mặt trận trong những năm kháng chiến, đóng góp to lớn về vật chất và tinh thần cho thắng lợi chung của dân tộc

* Địa chí Thanh Hoá, Tập 1, Nxb Văn hoá Thông tin, 2000.

Trang 13

1 Em hiểu thế nào là lực lượng vũ trang ba thứ quân? Hãy nêu tên một số đơn vị chủ lực được thành lập ở Thanh Hoá.

2 Hãy nêu những đóng góp về sức người, sức của mà Thanh Hoá đã huy động để chi viện cho tiền tuyến trong các chiến dịch đánh Pháp.

Tìm hiểu về những tấm gương tiêu biểu, những đóng góp to lớn của người

Thanh Hoá trong kháng chiến chống Pháp nói chung và chiến thắng Điện Biên Phủ nói riêng

Trong số những anh hùng sau đây trong kháng chiến chống Pháp, ai là người quê Thanh Hoá: Tô Vĩnh Diện, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Trần Đức, Lê Công Khai, Trương Công Man, Lò Văn Bường?

Trang 14

Trong số những chiến dịch của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dưới đây, chiến dịch nào có sự đóng góp quan trọng nhất của Thanh Hoá được Bác Hồ khen ngợi?

1 Chiến dịch Việt Bắc – Thu đông (1947)

2 Chiến dịch Biên Giới (1950)

3 Chiến dịch Hà – Nam – Ninh (1951)

4 Chiến dịch Hòa Bình (1952)

5 Chiến dịch Thượng Lào (1953)

6 Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954)

Vận dụng

Trong dịp về thăm Thanh Hoá (1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khen ngợi: “Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, tiếng Điện Biên Phủ đến đó Tiếng Điện Biên Phủ đến đâu, đồng bào Thanh Hoá cũng có một phần vinh dự đến đó” Hãy viết cảm nghĩ của

em về câu nói trên của Bác Hồ

Thăm Bảo tàng Thanh Hoá; tìm hiểu, sưu tầm tài liệu, tranh ảnh về kháng chiến chống thực dân Pháp tại Thanh Hoá

Trang 15

Khởi động

Hình 2.1 Đền Bà Triệu tại làng Phú Điền,

xã Triệu Lộc (huyện Hậu Lộc)

Hình 2.2 Giữ môi trường xanh – sạch – đẹp trong Di tích lịch sử và kiến trúc

nghệ thuật Lam Kinh

• Tự hào, có ý thức giữ gìn, bảo vệ, phát huy giá trị của các di sản văn hoá

xứ Thanh gắn với du lịch, góp phần phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

CHỦ ĐỀ 2

ỨNG XỬ VỚI DI SẢN VĂN HOÁ

XỨ THANH

Trang 16

Hình 2.3 Cắt băng khánh thành dự án

Tu sửa mái vòm và Bảo tồn cổng thành

phía Nam của Thành Nhà Hồ do Quỹ

Bảo tồn Văn hoá của Đại sứ Mĩ tài trợ

Hình 2.4 Một hoạt động giáo dục về di sản văn hoá tại Trường THCS Trần Mai Ninh (thành phố Thanh Hoá)

Thanh Hoá là vùng đất cổ, khu vực trung tâm của nền văn hoá Đông Sơn toả sáng

từ thuở Vua Hùng dựng nước, với một hệ thống di sản văn hoá và di sản thiên nhiên phong phú và đa dạng Hầu như mỗi làng quê, vùng đất xứ Thanh đều gắn với một địa danh, một di tích lịch sử – văn hoá hoặc danh lam thắng cảnh Với hơn 1 535 di tích lưu giữ những giá trị văn hoá vật thể tiêu biểu, đặc sắc… di sản văn hoá xứ Thanh mang lại cho cộng đồng đời sống tinh thần quý giá, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế – xã hội của quê hương đất nước

Quan sát các hình ảnh và đọc thông tin trên, em hãy cho biết phải làm gì

để góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá của xứ Thanh?

Khám phá

1 Một số khái niệm liên quan

a) Văn hoá ứng xử

Ứng xử là thái độ, hành vi, lời nói trong quan hệ giao tiếp giữa người với người

Ứng xử là từ ghép của hai từ ứng và xử Trong đó, “ứng” mang nghĩa là ứng phó, ứng

biến Còn “xử” mang nghĩa là xử lí, xử thế, xử sự… Như vậy, ứng xử được hiểu là thái

Trang 17

độ, hành động của cá nhân, tổ chức, cộng đồng đối với một sự việc, một vấn đề hay tình huống cụ thể Ứng xử đúng sẽ giúp con người thay đổi nhận thức, thái độ, hành

Di sản văn hoá là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một

bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc

Di sản văn hoá gồm: di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể

Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, gồm: di tích lịch sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia…

Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng, hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hoá liên quan, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn…

Di sản văn hoá vật thể được xếp hạng, gồm: Di tích cấp tỉnh; di tích quốc gia; di tích quốc gia đặc biệt; di sản thế giới

Di sản văn hoá phi vật thể quốc gia được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia với 7 loại hình, gồm: tiếng nói, chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội và tín ngưỡng; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian

Nghệ nhân Nhân dân, Nghệ nhân Ưu tú là danh hiệu tặng cho cá nhân có công bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá phi vật thể Danh hiệu trên được xét và công

bố hai năm một lần vào dịp Quốc khánh 2-9(*)

* Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hoá số 32/2009/QH12 ngày 18/6/2009

Trang 18

2 Di sản văn hoá xứ Thanh

Thanh Hoá là vùng “Địa linh nhân kiệt”, nơi phát tích của các triều đại phong kiến Việt Nam thời tiền Lê, thời nhà Hồ, hậu Lê, Lê Trung Hưng, nhà Nguyễn Đồng thời, Thanh Hoá được ví là “cái nôi di sản” với kho tàng di sản văn hoá (vật thể, phi vật thể) hết sức phong phú, đa dạng, hội tụ những giá trị lịch sử – văn hoá độc đáo của các dân tộc anh em cùng sinh sống

a) Di sản văn hoá vật thể

– Di tích lịch sử - văn hoá: các di tích khảo cổ (Núi Đọ, hang Con Moong, Đa Bút,

Hoa Lộc, Đông Sơn…); các di tích lịch sử (Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Khu di tích Bà Triệu, Di tích kiến trúc nghệ thuật Đền thờ Lê Hoàn, Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh,…); các di tích cách mạng và kháng chiến (Di tích căn cứ khởi nghĩa Ba Đình, Chiến khu du kích Ngọc Trạo, Di tích địa điểm lịch sử và thắng cảnh Rừng Thông, Khu di tích lịch sử - văn hóa Hàm Rồng, Hang chùa Quan Thánh…)

Hình 2.5 Bia Vĩnh Lăng ở Khu Di tích lịch sử Lam Kinh – Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật:

+ Các cơ sở tín ngưỡng và tôn giáo như: chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, chùa Mật

Đa, chùa Vân, chùa Tiên, Thái miếu nhà Lê, đền thờKhương Công Phụ, đền thờĐào Duy Từ, đền thờ Tô Hiến Thành, đền thờ Tống Duy Tân, Phủ Trịnh, Nghè Vẹt,…

Di sản văn hoá gồm những loại hình nào? Lấy ví dụ minh hoạ cho mỗi loại hình.

Trang 19

+ Hệ thống các làng, bản cổ của người Việt, người Mường, người Thái nằm dọc hai bên sông Mã, sông Chu,…

– Danh lam thắng cảnh thiên nhiên:

+ Các bãi biển Sầm Sơn (thành phố Sầm Sơn), Hải Tiến (huyện Hoằng Hoá), Hải Hoà (thị xã Nghi Sơn); thắng cảnh – di tích Hàm Rồng, động Bích Đào, động Hồ Công, động Kim Sơn, Biện Sơn, núi Nhồi (núi Vọng Phu), bến Cửa Hà, suối cá Cẩm Lương, Ngàn Nưa, vườn cò Tiến Nông,…

+ Các khu bảo tồn thiên nhiên đặc sắc: Vườn Quốc gia Pù Luông (huyện Bá Thước), Vườn Quốc gia Bến En (huyện Như Thanh), rừng sến Tam Quy (huyện Hà Trung), bản Son Bá Mười (huyện Bá Thước), khu rừng ngập mặn Hải Lộc (huyện Hậu Lộc), điểm du lịch Lạch Bạng (huyện Tĩnh Gia)…

– Di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia với số lượng hàng trăm văn bia được phát hiện

nghiên cứu có niên đại ở các thời kỳ: Lý – Trần, Lê sơ, hậu Lê và thời nhà Nguyễn Có thể kể đến như: Bia Vĩnh Lăng, bia Ngô Thị Ngọc Giao (Khu Di tích lịch sử Lam Kinh); tấm bia cổ nhất Việt Nam có niên đại Đại Nghiệp thứ 14 (năm 618) ở làng Trường Xuân (xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn); các di vật trống đồng, chuông đồng, khánh đồng, khánh đá; hoành phi, đại tự, biển gỗ, câu đối, thư tịch Hán Nôm của người Kinh; thư tịch Hán Nôm của các dân tộc ít người (Dao, Mường, Thổ,…); sắc phong, lệnh chỉ; các loại di vật gốm sứ thời Lý, thời Trần, thời Lê, thời Nguyễn,…

b) Di sản văn hoá phi vật thể

Xứ Thanh là một trong những cái nôi của những giá trị di sản văn hoá phi vật thể của người Việt và của đồng bào các dân tộc thiểu số với hàng ngàn di sản đặc sắc, tiêu biểu Hệ thống di sản văn hoá phi vật thể xứ Thanh thể hiện dưới các hình thức sau:

– Tiếng nói, chữ viết: Thanh Hóa có 7 dân tộc sinh sống, gồm: dân tộc Kinh (Việt),

Mường, Thái, Dao, Mông, Khơ Mú, Thổ Về chữ viết có di sản chữ Thái cổ của cộng đồng người Thái phía Tây Thanh Hoá tồn tại dưới dạng bản trường ca (Trường ca Ú Thêm, Trường Ca Khăm Panh); các loại sách ghi chép về y học dân gian,…

– Ngữ văn dân gian: là loại hình di sản truyền khẩu gồm nhiều thể loại, như ca

dao, tục ngữ, thành ngữ, sử thi, dân ca, câu đố, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru,…

– Hình thức trình diễn dân gian: Gồm các loại hình như hát, múa, kịch, kịch câm,

Trang 20

ngâm thơ,… Trong đó, có một số trò diễn đặc sắc như: Trò Chiềng (xã Yên Ninh), Sến vật làng Bọc (làng Vực Phác, xã Định Liên), Trò Chụt (làng Thiết Đanh, xã Định Tường) – huyện Yên Định; Trò Xuân Phả (xã Xuân Trường, huyện Thọ Xuân); Trống hội làng Phú Khê (xã Hoằng Phú, huyện Hoằng Hoá),…

– Tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội: Các tập quán xã hội, tín ngưỡng và lễ

hội là các hoạt động diễn ra thường xuyên hoặc để đánh dấu thời điểm chuyển mùa trong năm, sự kiện trong nông lịch hay các giai đoạn trong cuộc đời con người Các tập quán này gắn bó mật thiết với cách nhìn nhận về thế giới hay về lịch sử và ký ức của một cộng đồng, như: Tục thờ cúng tổ tiên và thực hành các nghi lễ của người Mường; nghi lễ nông nghiệp truyền thống (thờ cây lúa) của người Mường; lễ cấp sắc của người Dao; lễ mừng năm mới, lễ hội vào mùa xuân,…

– Lễ hội truyền thống: Các lễ hội truyền thống ở Thanh Hoá diễn ra với nhiều hình

thức đa dạng, sinh động Tiêu biểu như: Trò diễn Pôồn Pôông (dân tộc Mường); Lễ Kin Chiêng boọc mạy (dân tộc Thái); Lễ tục làng Thiết Đinh, Lễ tục Đền Ối, Lễ hội Đền Độc Cước, Lễ hội làng Duy Tinh, Lễ hội làng Cự Nham, Lễ hội làng Vạc, Lễ hội làng Xuân Phả, Lễ hội Đền Bà Triệu, Lễ hội Lam Kinh, Lễ hội Đền Bưng, Lễ hội Cầu Ngư làng Diêm Phố, Lễ hội Đền Đồng Cổ, Lễ hội làng Hoàng Bột (dân tộc Kinh),…

– Nghề thủ công truyền thống: Các nghề thủ công truyền thống ở xứ Thanh rất

phong phú với gần 40 nghề thủ công truyền thống tiêu biểu, đặc sắc của các dân tộc

Có thể kể đến nghề làm giấy của người Dao, nghề dệt vải lanh của người Mông, nghề dệt truyền thống của người Thái, nghề đan lát của các dân tộc ở miền núi, nghề đục

đá làng Nhồi (thành phố Thanh Hoá), nghề đúc đồng ở Kẻ Chè (xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá),…

– Tri thức dân gian: bao gồm tri thức về thiên nhiên, đời sống con người, lao động

sản xuất, y dược học cổ truyền, ẩm thực, trang phục… Thanh Hoá lưu giữ được nhiều tri thức bản địa (tri thức địa phương), tri thức về hệ động thực vật, các phương pháp chữa bệnh truyền thống; nghi lễ, tín ngưỡng; lễ trưởng thành, cấp sắc; tri thức về

vũ trụ; các lễ nhập hồn, các tổ chức xã hội, lễ hội, ngôn ngữ,… Các dân tộc Mường, Thái có tri thức bản địa phong phú thể hiện trong bảo vệ tài nguyên đất, tài nguyên nước, tài nguyên rừng Dân tộc Kinh có tri thức về biển trong nhật trình đi biển; kinh nghiệm bảo vệ môi trường sinh thái,…

Hãy kể tên một số di sản văn hoá vật thể và phi vật thể của xứ Thanh.

Trang 21

3 Giá trị của di sản văn hoá xứ Thanh

Thanh Hoá được coi là một miền di sản của cả nước Theo thống kê của ngành văn hoá từ năm 1995 đến nay, trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá có hơn 1 535 di tích lịch

sử – văn hoá, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc kiểm kê bảo vệ Trong

đó, các di tích đã được xếp hạng tiêu biểu gồm: 01 di sản văn hoá thế giới (Thành Nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc); 06 di tích quốc gia đặc biệt: Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Thành Nhà Hồ (huyện Vĩnh Lộc), Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Lam Kinh (huyện Thọ Xuân), Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật Khu di tích

Bà Triệu (huyện Hậu Lộc), Hang Con Moong và các di tích tích phụ cận (huyện Thạch Thành), Di tích kiến trúc nghệ thuật đền thờ Lê Hoàn (huyện Thọ Xuân), Di tích lịch

sử và danh lam thắng cảnh Sầm Sơn (thành phố Sầm Sơn); 139 di tích được xếp hạng cấp quốc gia; 709 di tích được xếp hạng cấp tỉnh (hầu như huyện, thành phố nào của tỉnh cũng có di tích lịch sử – văn hoá đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh); 07 hiện vật được công nhận Bảo vật quốc gia; 13 di sản văn hoá phi vật thể được đưa vào Danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia

Di sản văn hoá xứ Thanh là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc sống trên địa bàn tỉnh, được hun đúc qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước với bao biến

cố thăng trầm của lịch sử; là biểu tượng của sự trường tồn, đồng thời là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai của dân tộc Kho tàng di sản văn hoá đã góp phần tạo nên văn hoá xứ Thanh phong phú, đa dạng, mang lại những giá trị lớn cho phát triển kinh tế – xã hội

Hãy nêu giá trị của di sản văn hoá xứ Thanh.

4 Ứng xử với di sản văn hoá xứ Thanh

a) Vai trò, trách nhiệm của cấp uỷ, chính quyền và ngành văn hoá đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá

Xác định văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu động lực phát triển bền vững, cấp ủy, chính quyền và ngành văn hoá tỉnh đã chỉ đạo, xây dựng, thực hiện nhiều chương trình thiết thực nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá xứ Thanh

Nghị quyết số 58 – NQ/TW ngày 5 – 8 – 2020 của Bộ Chính trị về “Xây dựng và phát triển tỉnh Thanh Hoá đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” chú trọng phát

Trang 22

triển kinh tế gắn với phát triển văn hoá và xã hội, trong đó, quan tâm “Đầu tư bảo tồn, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử, văn hoá trọng điểm trên địa bàn…”.

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hoá khoá XVIII ban hành Kết luận số 82 – KL/TU ngày 30 – 5 – 2017 về “Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá tỉnh Thanh Hoá” (giai đoạn 2017 – 2025).Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì biên soạn cuốn “Di sản văn hoá tỉnh Thanh Hoá” làm tài liệu hướng dẫn công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá; giáo dục truyền thống lịch sử, văn hoá cho các thế hệ

Ngày 23 – 8 – 2021, Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hoá đã ban hành Chỉ thị số 19/CT-UBND về việc tăng cường công tác quản lí, bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hoá và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh Thanh Hoá

UBND tỉnh đã ban hành nhiều đề án, kế hoạch, phê duyệt các danh mục, hỗ trợ kinh phí triển khai các dự án đầu tư tu bổ, tôn tạo di tích, đặc biệt ưu tiên các di tích cách mạng, di tích lịch sử có giá trị khai thác phục vụ du lịch Nhờ đó, nhiều dự án bảo tồn, tu bổ, tôn tạo được triển khai, như: Khu di tích lịch sử Lam Kinh, đền thờ Lê Hoàn, đền Bà Triệu, di tích lịch sử Phủ Trịnh, nghè Vẹt, di tích Lăng miếu Triệu Tường, đền thờ Trần Khát Chân, đền thờ Nguyễn Văn Nghi, di tích cách mạng Yên Trường, chùa Mồng, chùa Báo Ân, chùa Long Khánh…

Bên cạnh bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hoá vật thể, tỉnh Thanh Hoá cũng quan tâm bảo tổn, phát huy giá trị di sản phi vật thể: triển khai nghiên cứu khoa học, lập hồ sơ di sản văn hoá phi vật thể đưa vào danh mục di sản văn hoá phi vật thể quốc gia, phục dựng, truyền nghề, tập huấn, bồi dưỡng, xuất bản sách,… Nhiều loại hình văn hoá phi vật thể đặc sắc được phục hồi trong cộng đồng như: Trò Xuân Phả, Ngũ trò Viên Khê, Hò Sông Mã,… Nhiều lễ hội truyền thống gắn với di tích lịch sử văn hoá được tổ chức thường xuyên (Lễ hội Lam Kinh, Lễ hội Lê Hoàn, Lễ hội đền Bà Triệu, Lễ hội Trò Chiềng, Lễ hội đền Độc Cước, Lễ hội Cầu Ngư, Lễ hội đền Sòng, Lễ hội bánh chưng – bánh dày…); khôi phục và phát triển các nghề thủ công truyền thống như: nghề đúc đồng Trà Đông, nghề nước mắm Khúc Phụ, nước mắm

Ba Làng…; phục dựng, bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh: Lễ Pôồn Pôông của dân tộc Mường, Trò Kin Chiêng Boọc Mạy của dân tộc Thái, múa “Trồng bông dệt vải” của dân tộc Thái, múa rùa trong Tết nhảy của đồng bào Dao…

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lí, tham mưu về lĩnh vực bảo tồn di sản

Trang 23

văn hoá được chú trọng; tuyên truyền sâu rộng các văn bản quy phạm pháp luật về quản lí, bảo vệ và bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích ; công tác phối hợp với các sở, ngành, đơn vị có liên quan và địa phương.

Công tác thực thi pháp luật, các văn bản quy định được áp dụng có hiệu lực, hiệu quả: xử phạt hành chính, truy cứu trách nhiệm hoặc thi hành kỉ luật… đối với

tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm, làm hư hại, hủy hoại di sản văn hoá, danh lam thắng cảnh

b) Vai trò, trách nhiệm của nhân dân trong việc bảo tồn, phát huy giá trị các

di sản văn hoá

Người dân là chủ thể, là lực lượng nòng cốt cùng chính quyền và ngành văn hoá trong việc bảo vệ, gìn giữ, phát huy giá trị di sản văn hoá

Nhân dân Thanh Hoá luôn nâng cao nhận thức, khai thác tiềm năng kinh tế từ các

di sản văn hoá đem lại, nâng cao đời sống cộng đồng, phát triển kinh tế địa phương bằng những việc làm cụ thể, thiết thực:

– Xác định di sản văn hoá là tài sản quý giá của cộng đồng, kết tinh lao động sáng tạo của các thế hệ

– Người dân sống trong khu vực có di sản chủ động, tích cực tham gia quản lí di tích, gắn trách nhiệm của bản thân với chính quyền, tổ chức đoàn thể trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di tích

– Đóng góp kinh phí xây dựng, trùng tu di tích; vận động gia đình, người thân cùng đóng góp xây dựng các công trình chung

– Cam kết thực hiện bảo tồn, bảo vệ di sản, cùng với chính quyền địa phương và ngành văn hoá phát huy, lan toả giá trị của di sản: giữ gìn cảnh quan, môi trường sinh thái; không hủy hoại hoặc gây tổn hại đến di sản; không chiếm đoạt, xâm lấn các di tích, các khu rừng tự nhiên; không xâm phạm các địa điểm khảo cổ; không mua bán, trao đổi, vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia…

– Bảo tồn, phát huy các nghề thủ công truyền thống; tham gia hoạt động lễ hội, nghệ thuật trình diễn, cung cấp dịch vụ phù hợp…

c) Tăng cường tuyên truyền, quảng bá giá trị di sản văn hoá

Trang 24

Công tác tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu về di tích lịch sử – văn hoá của địa phương được thực hiện thông qua nhiều hình thức như:

– Triển khai Đề án “Truyền thông du lịch Thanh Hoá”

– Phát hành ấn phẩm giới thiệu di tích, tiềm năng du lịch xứ Thanh

– Xây dựng các phóng sự, video, chương trình truyền hình giới thiệu các khu di tích trọng điểm, các danh lam thắng cảnh; tổ chức các sự kiện, triển lãm, festival giới thiệu di sản văn hoá, giao lưu văn hoá giữa các quốc gia

– Lắp dựng và nâng cấp biển chỉ dẫn đến các điểm tham quan, du lịch, mua sắm, làng nghề,…

– Khuyến khích xã hội hoá hoạt động văn hoá

Chính quyền, các tổ chức đoàn thể và nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ, phát huy ứng xử tốt với di sản văn hoá

Hình 2.6 Khu di tích lăng miếu Triệu Tường (thôn Gia Miêu,

xã Hà Long, huyện Hà Trung)

Người dân đóng vai trò hết sức quan trọng cùng chính quyền bảo vệ, gìn giữ, phát huy giá trị các di sản văn hoá và thiên nhiên, khai thác những tiềm năng kinh tế

do di sản đem lại bằng những hành động, việc làm cụ thể như:

– Chủ động đóng góp kinh phí xây dựng di tích; vận động gia đình, người thân cùng đóng góp xây dựng các công trình chung

– Người dân được hưởng lợi từ các di sản văn hoá trong quá trình bảo tồn, phát huy giá trị các nghề thủ công truyền thống, tham gia hoạt động lễ hội, nghệ thuật trình diễn, cung cấp dịch vụ…

Trang 25

– Cùng với chính quyền địa phương và ngành văn hoá thực hiện bảo tồn, bảo vệ, không làm di sản bị mai một, bị thay đổi hoặc biến dạng; phát huy, lan tỏa giá trị của

di sản

– Không chiếm đoạt, làm biến dạng, sai lệch di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, không hủy hoại hoặc gây tổn hại đến di sản văn hoá; không đào bới trái phép địa điểm khảo cổ; không mua bán, trao đổi, vận chuyển trái phép di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia…

Hình 2.7 Trò diễn Xuân Phả tại Lễ hội Lam Kinh

Hình 2.8 Tem bưu chính in hình kiếm ngắn núi Nưa trong bộ tem Bảo vật quốc gia

Trang 26

Em hiểu thế nào là ứng xử có văn hoá đối với các di sản văn hoá của quê hương?

Luyện tập

Qua các bức ảnh dưới đây, hãy nhận xét về cách ứng xử với di sản văn hoá: cách ứng xử nào đúng/ chưa đúng; biện pháp khắc phục nhằm bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá của quê hương?

Dự án tu bổ, tôn tạo Di tích lịch sử đền thờ

Hoằng Quốc Công Đào Duy Từ

(phường Nguyên Bình, thị xã Nghi Sơn)

đã hoàn thành giai đoạn 1

Khai quật khảo cổ học tại Di sản Thành Nhà Hồ đầu năm 2021

Rác thải gây ô nhiễm môi trường trên

bờ biển Thanh Hoá

Thanh niên tình nguyện bảo vệ môi

trường biển

Trang 27

Thảo luận nhóm, nhận dạng một số di sản văn hoá vật thể và phi vật thể xứ Thanh, lập bảng phân loại (làm vào vở theo gợi ý dưới đây).

Di sản văn hóa vật thể Di sản văn hóa phi vật thể

Hòn Vàng choi chói, chầu về Biện Sơn

3) Vọng Phu cảnh đẹp núi Nhồi

Có người chinh phụ phương trời đăm đăm

4) Lênh đênh qua cửa Thần Phù

Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm

5) Trò Chiềng, vật Bộc, rối Xi

Cơm đắp kẻ Lở, cơm thi kẻ Lào…

Trang 29

CHỦ ĐỀ 3

NGUỒN LỰC VÀ SỰ PHÁT TRIỂN NÔNG - LÂM NGHIỆP TỈNH

• Nêu được những thành tựu trong sản xuất nông – lâm nghiệp của tỉnh.

• Biết được định hướng về đổi mới phát triển nông – lâm nghiệp của tỉnh.

Trang 30

Hình 3.2 Trồng và bảo vệ rừng ở Thanh Hoá

Với diện tích tự nhiên rộng lớn, Thanh Hoá có đủ các dạng địa hình (vùng núi

và trung du, vùng đồng bằng, vùng ven biển); có tài nguyên phong phú Thanh Hoá

có lực lượng lao động dồi dào, cùng với truyền thống lâu đời của cư dân vùng nông nghiệp, đã tạo dựng nên nền sản xuất đa dạng, phong phú Đây cũng là lợi thế để phát triển nông – lâm nghiệp của tỉnh

Từ thông tin gợi mở trên, em hãy nêu các nguồn lực và sự phát triển nông – lâm nghiệp tỉnh Thanh Hoá.

Khám phá

Trang 31

1 Vai trò của nông – lâm nghiệp ở Thanh Hoá 1

Nông nghiệp là ngành kinh tế trọng yếu của tỉnh Diện tích đất nông nghiệp (tính đến tháng 12 năm 2020) là 916 163 ha, chiếm 82,43% diện tích toàn tỉnh, trong

đó đất sản xuất nông nghiệp 243 252 ha, chiếm 21,89%; đất lâm nghiệp có rừng 652

494 ha, chiếm 58,71% Nông nghiệp đảm bảo nhu cầu lương thực – thực phẩm, giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập cho nhân dân trong tỉnh Năm 2020, vẫn có 82,42% lao động từ 15 tuổi trở lên sống ở nông thôn

Tổng sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh (GRDP) năm 2020 sơ bộ tăng 5,9% so với năm 2019, trong đó, ngành nông – lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,04% Theo

xu hướng chung, trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì tỉ lệ lao động trong các lĩnh vực phi nông nghiệp sẽ tăng lên Tuy vậy, trong nhiều năm nữa, nông nghiệp vẫn là ngành có đóng góp quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh

Rừng cung cấp gỗ, lâm sản cho nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội Sản xuất và chế biển lâm sản tạo ra hàng hoá phục vụ tiêu dùng của nhân dân và xuất khẩu, góp phần xoá đói, giảm nghèo Rừng có vai trò đặc biệt trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu và thiên tai

Em hãy nêu vai trò của nông – lâm nghiệp tỉnh Thanh Hoá.

2 Nguồn lực trong phát triển nông – lâm nghiệp Thanh Hoá

a) Nguồn lực tự nhiên

* Địa hình và đất đai

Thanh Hoá có nguồn lực đất đai lớn Do các đặc điểm về địa thế, tính chất địa hình khác nhau nên khả năng khai thác, sử dụng đất sản xuất nông – lâm nghiệp của tỉnh rất đa dạng Vùng đồi núi cao ở các huyện miền núi, trung du như Mường Lát, Quan Sơn, Quan Hoá, Lang Chánh… có độ dốc cao, phần lớn đất được dùng vào mục đích lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả

Vùng đồi núi thấp, đất đỏ, với diện tích hàng trăm ngàn ha trải rộng từ huyện Thạch Thành, Bá Thước đến Như Xuân, Nông Cống phù hợp trồng các loại cây công

1 Các số liệu trong Chủ đề 3 được trích dẫn từ: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hoá năm 2020, Nxb Thống kê, 2021; Địa chí Thanh Hoá, Tập I, Địa lí và lịch sử, Nxb Văn hoá thông tin, 2000.

Trang 32

nghiệp, cây ăn quả tập trung.

Vùng đồng bằng có diện tích khoảng hơn 200 nghìn ha, với nhiều loại đất phù sa khác nhau, chất lượng đất khác nhau, tập trung dọc Sông Mã, sông Chu thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, phù hợp cho trồng lúa nước, cây hoa màu

Vùng ven biển có diện tích khoảng hơn 30 nghìn ha có thể trồng các loại cây ưa mặn như cây cói Ngoài ra Thanh Hoá còn có diện tích bãi bồi đã ổn định, bãi bồi đang lấn biển ở vùng Nga Sơn, Hậu Lộc có thể mở rộng đưa vào sản xuất

Thanh Hoá có diện tích đất đã khai thác trên 800 nghìn héc ta, trong đó, mới sử dụng trong sản xuất nông nghiệp khoảng 21,8%, diện tích đất lâm nghiệp (có rừng) khoảng 58,7% Vì vậy, khả năng mở rộng diện tích để phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp còn rất lớn

* Khí hậu với sự phát triển nông – lâm nghiệp

Thanh Hoá nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nền nhiệt cao, nhiệt độ trung bình năm ở vùng đồng bằng và trung du vào khoảng 23 – 240C, ở vùng núi khoảng 200C Lượng mưa trung bình năm từ 1 600 đến 2 200mm

Thanh Hoá chịu ảnh hướng của gió mùa mùa đông nên mùa đông lạnh kéo dài thường từ tháng 12 đến tháng 2, tháng 3 năm sau, với nhiệt độ dưới 200C

Nhờ những điều kiện về khí hậu như vậy, Thanh Hoá có điều kiện phát triển nông nghiệp với cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo mùa vụ và sản xuất nhiều sản phẩm của vùng ôn đới, cận nhiệt đới

* Nguồn nước với sự phát triển nông – lâm nghiệp

Thanh Hoá có lượng mưa trung bình năm tương đối lớn: tại vùng đồng bằng là

1 745mm/năm, ở miền núi là 2 000mm/năm Trung bình hằng năm, lượng nước mưa trên diện tích toàn tỉnh khoảng 19 m3 Nguồn nước mặt của tỉnh tập trung ở 4 hệ thống sông chính gồm sông Hoạt, sông Mã, sông Bang, sông Yên Lượng dòng chảy còn được bổ sung bởi nguồn nước từ phần lưu vực ngoài tỉnh Với lượng nước trên, nếu điều tiết hợp lí thì cơ bản đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất và đời sống Song, điều khó khăn là nguồn nước phân bố không đều giữa các vùng và giữa các mùa trong năm Muốn điều tiết nước một cách chủ động, phải có quy hoạch, đầu tư lớn.Nguồn nước ngầm ở Thanh Hoá khá phong phú về khối lượng và chủng loại Đây

là nguồn nước nếu được quản lí, khai thác hợp lí sẽ là nguồn nước sạch cho sinh hoạt

Trang 33

ở vùng nông thôn và nguồn nước bổ sung cho sản xuất nông nghiệp.

Em hãy nêu khái quát các nguồn lực tự nhiên trong phát triển nông – lâm nghiệp tỉnh Thanh Hoá.

b) Nguồn lực kinh tế – xã hội

– Về dân cư và lao động: Thanh Hoá có dân số đông, tạo ra những thuận lợi và thách thức trong phát triển nông – lâm nghiệp Lực lượng lao động dồi dào, trong

đó, gần 90% sống ở nông thôn gắn với hoạt động sản xuất nông – lâm nghiệp Dân

số đông tạo ra thị trường tiêu thụ lương thực, thực phẩm lớn Đời sống dân cư ngày càng cao, nhu cầu đa dạng là cơ hội để nông nghiệp phát triển Tuy nhiên, dân số tăng, điều kiện đất đai có hạn, quy mô sản xuất nhỏ lẻ gây ra những áp lực lớn cho nông nghiệp Mức sống ở nông thôn còn thấp, lao động nông thôn chưa sử dụng hết khiến nhiều lao động trẻ, khỏe, có năng lực rời quê đến nơi khác làm ăn, gây nên những thiệt thòi cho nông thôn Thanh Hoá

– Về kết cấu hạ tầng: Mạng lưới đường bộ của Thanh Hoá khá dày Tuy giao thông ở các huyện miền núi còn nhiều khó khăn, song hệ thống đường bộ của tỉnh ngày càng tốt hơn, đảm bảo việc giao lưu giữa các vùng, các khu vực trong và ngoài tỉnh

Hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không ngày càng hoàn thiện, tạo ra những ưu thế để Thanh Hoá thông thương với cả nước

và thế giới

Mạng lưới điện quốc gia, mạng lưới thông tin viễn thông phát triển, đáp ứng nhu cầu hiện đại hoá nông nghiệp Hệ thống thủy lợi của tỉnh được quan tâm đầu tư, tiêu biểu là hệ thống thủy lợi sông Chu, Bắc sông Chu – Nam sông Mã; hệ thống tiêu nước sông Hoàng, sông Lý… Chương trình kiên cố hoá kênh mương nội đồng, cơ bản đảm bảo nhu cầu tưới tiêu cho lúa và hoa màu

– Giống cây trồng, vật nuôi: Trong sản xuất nông nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi là một trong những yếu tố hàng đầu Ngày nay, các loại cây giống có năng suất cao đã được sử dụng rộng rãi

Trang 34

– Công nghệ thu hoạch và bảo quản sau thu hoạch: Ở Thanh Hoá, nếu mức tổn thất về lương thực sau thu hoạch là 13% thì với sản lượng 1,5 triệu tấn hàng năm sẽ mất khoảng 200 ngàn tấn Vì vậy, việc giảm tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch các sản phẩm nông nghiệp là yêu cầu rất bức thiết.

Nông dân Thanh Hoá đã đầu tư mua máy gặt đập loại nhỏ; vận chuyển, xay xát lúa, nghiền bột các loại ngũ cốc; xây dựng các nhà máy chế biến đã giảm tỉ lệ tổn thất sau thu hoạch

– Về thị trường: Thanh Hoá là tỉnh có dân số đông, nhu cầu thiết yếu của người dân về lương thực, thực phẩm và những hàng tiêu dùng khác rất lớn Mức sống của người dân được nâng cao thì cũng nảy sinh những nhu cầu mới, đòi hỏi ngành nông – lâm nghiệp của tỉnh cũng phải có những sản phẩm mới, chất lượng cao hơn Mặt khác, giao lưu ngoài tỉnh ngày càng tăng cũng là những cơ hội để nông – lâm nghiệp của tỉnh đổi mới, phát triển

Như vậy, các nhân tố kinh tế – xã hội là một trong những nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển sản xuất nông – lâm nghiệp của tỉnh

Hãy trình bày về nguồn lực kinh tế – xã hội trong sản xuất nông – lâm nghiệp

ở Thanh Hoá.

3 Những khó khăn trong phát triển nông – lâm nghiệp ở Thanh Hoá

Thanh Hoá là tỉnh có diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp nhất

cả nước và còn tiếp tục giảm Sức ép của sự gia tăng dân số, phương thức sản xuất nông nghiệp chậm đổi mới đã và đang gây ra những suy thoái và huỷ hoại tài nguyên đất Việc sử dụng không hợp lí tài nguyên rừng, hoạt động phá rừng làm cho đất bị xói mòn, rửa trôi nhanh, khiến cho thiên tai trở nên khắc nghiệt hơn

Biến đổi khí hậu, mưa nắng thất thường là những khó khăn lớn ảnh hưởng đến sản xuất nông – lâm nghiệp của tỉnh

Trang 35

Tính chất cực đoan của khí hậu cũng gây ra không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của người dân tỉnh Thanh Hoá Mùa mưa tập trung từ tháng 8 đến tháng 10, gắn với mùa bão, lượng mưa thường chiếm từ 60 - 80% lượng mưa cả năm,

dễ gây lũ lụt, nhất là ở vùng thấp Mùa khô thường gây khô hạn Mỗi năm, Thanh Hoá thường có khoảng 20 - 30 ngày chịu ảnh hưởng của gió Tây khô, nóng, gây tổn thất cho sản xuất nông nghiệp, do đó, lịch gieo trồng phải điều chỉnh theo cho thích hợp.Việc sử dụng phân hoá học, chất kích thích sinh trưởng, thuốc trừ sâu, thuốc diệt

cỏ trong nông nghiệp có tác động tiêu cực đến môi trường đất Ô nhiễm môi trường

do chất thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt ngày càng tăng, gây tác hại ngày càng lớn cho sản xuất nông nghiệp Khói bụi của một số nhà máy làm giảm năng suất cây trồng trong vùng từ 12,3% đến 40%

4 Một số thành tựu của nông – lâm nghiệp tỉnh Thanh Hoá

Thanh Hoá là tỉnh đất rộng, người đông, vấn đề an ninh lương thực là cực kì quan trọng Do đó, mục tiêu hàng đầu của sản xuất nông nghiệp của Thanh Hoá là đảm bảo an ninh lương thực Đó là cơ sở để phát triển kinh tế bền vững, ổn định đời sống

xã hội, thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Năm 1995, lần đầu tiên Thanh Hoá đạt sản lượng một triệu tấn lương thực Bình quân lương thực theo đầu người tăng Từ một tỉnh thường xuyên thiếu lương thực, Thanh Hoá bắt đầu xuất khẩu hàng ngàn tấn gạo mỗi năm

Trước đây nông nghiệp chủ yếu tập trung vào sản xuất cây lương thực, thì từ những năm 1981 đến nay, diện tích trồng cây công nghiệp tăng nhanh Sự tăng trưởng các loại cây trồng tùy thuộc vào nhu cầu của thị trường và thế mạnh của tỉnh như cây lạc, cây mía Các vùng chuyên canh cây công nghiệp được hình thành và ngày càng phát triển như vùng chuyên canh cây mía ở các huyện Thọ Xuân, Thường Xuân, Ngọc Lặc, Hà Trung;… vùng chuyên canh lạc ở Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá…

Trang 36

sóc bảo vệ thực vật, sử dụng các giống lúa mới làm tăng năng suất, sản lượng lúa của tỉnh Lúa ở Thanh Hoá được trồng ở khắp các huyện, thị, thành phố Trong đó, 16 huyện đồng bằng có trình độ thâm canh khá nên năng suất cao, chiếm hơn 80% sản lượng lúa của tỉnh Sản lượng lúa năm 2020 đạt 1 375 596 tấn.

Ngô là cây lương thực xếp sau cây lúa Những năm gần đây, ngoài dùng làm lương thực, ngô còn được dùng làm thức ăn chăn nuôi và chế biến tinh bột Từ những năm 1990 trở lại đây, diện tích, năng suất và sản lượng ngô của tỉnh tăng nhanh Năm

2005, sản lượng ngô đạt gần 127 nghìn tấn, gấp 2 lần năm 2000 Năm 2020, sản lượng ngô đạt 200 499 tấn

Các cây trồng khác như sắn, khoai lang trước năm 2000 được tính vào cây lương thực thì ngày nay chủ yếu cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

và làm thức ăn chăn nuôi Khoai lang được trồng nhiều ở các xã ven biển và ở các huyện đồng bằng – vùng đất một vụ lúa, một vụ màu Sắn được trồng chủ yếu ở các huyện miền núi Năm 2020, sản lượng khoai lang toàn tỉnh đạt 47 750 tấn, sắn đạt 14 967 tấn

Về cây công nghiệp, nông dân Thanh Hoá đã có nghề trồng dâu nuôi tằm, trồng đay, cói, lạc… và nghề dệt chiếu cói, dệt lụa, nấu mật, ép dầu lạc… từ lâu đời Cây gai xanh được quy hoạch trồng với quy mô lớn ở Thanh Hoá

Cây lạc là cây công nghiệp quan trọng của tỉnh, vừa làm thực phẩm phục vụ nhu cầu đời sống, vừa phục vụ chế biến, xuất khẩu Những năm gần đây, diện tích trồng lạc tăng ổn định và năng suất cũng tăng nhờ trồng giống lạc mới Sản lượng năm

2020 đạt 20 735 tấn

Cây mía ở Thanh Hoá có diện tích và sản lượng bằng 1/10 diện tích và sản lượng mía cả nước Sản lượng mía, năm 2020 đạt trên 1,2 triệu tấn Thanh Hoá có các nhà máy đường lớn như Lam Sơn, Nông Cống, Việt Nam – Đài Loan…

Các loại cây trồng khác như cao su, cây cói, cây ăn quả cũng được trồng ngày càng nhiều, có năng suất, chất lượng cao cung cấp cho thị trường, tăng thu nhập cho nông dân

b) Chăn nuôi

Chăn nuôi và trồng trọt là 2 ngành sản xuất chính trong nông nghiệp Giá trị của

Trang 37

ngành chăn nuôi thường chiếm từ 20% đến 25% tổng giá trị sản lượng nông nghiệp Trong sản xuất nông nghiệp, hai ngành chăn nuôi và trồng trọt có quan hệ hữu cơ với nhau Trồng trọt cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, ngược lại, chăn nuôi cung cấp tư liệu sản xuất chủ yếu cho nhà nông Trước đây, “con trâu là đầu cơ nghiệp” – Chăn nuôi còn cung cấp phân bón cho cây trồng.

Trong chăn nuôi, số lượng vật nuôi các loại tăng liên tục Tỉnh đã chú ý áp dụng những biện pháp khoa học, kĩ thuật, nhất là sử dụng các loại giống mới có giá trị kinh

tế cao như bò lai Sind1 *, lợn hướng nạc, gà, vịt siêu trứng… Tỉ trọng của ngành chăn nuôi trong nông nghiệp tăng dần (năm 1995, chăn nuôi chiếm 21,3% giá trị sản lượng nông nghiệp; trong giai đoạn 2016 – 2020, ngành chăn nuôi chiếm 32% tỉ trọng sản xuất nông nghiệp)

Năm 2020, sản lượng thịt hơi xuất chuồng của tỉnh đạt mức cao, trong đó: sản lượng trâu đạt 14 673 tấn; bò 20 216 tấn; lợn 130 446 tấn; gia cầm 58 682 tấn

Hinh 3.4 Mô hình trang trại chăn nuôi gà

ở xã Hưng Lộc, huyện Hậu Lộc

Hình 3.5 Mô hình nuôi trâu bò liên gia đình ở xã Thanh Xuân huyện Như Xuân

Hinh 3.3 Trang trại chăn nuôi ở huyện Nga Sơn

* Bò lai Sind là là giống bò lai tạo từ con đực Red Sindhi thuần chủng (nguồn gốc Pakistan) với bò cái vàng Việt Nam, mang nhiều ưu điểm hơn so với các giống bò thông thường: mắn đẻ, nuôi con tốt, thích nghi được với điều kiện khí hậu nóng ẩm, ít bệnh, dễ nuôi, kháng bệnh tốt

Trang 38

Trâu được nuôi nhiều ở 11 huyện miền núi, chiếm khoảng từ 60 – 70% tổng đàn trâu của tỉnh Lợn được nuôi tập trung ở các huyện đồng bằng, ven biển, với khoảng trên 70% tổng đàn lợn của tỉnh Chăn nuôi gia cầm cũng là thế mạnh của Thanh Hoá Đàn gia cầm của tỉnh ngày càng tăng: Năm 1999, có 8,1 triệu con, năm 2005 đã có 15 triệu con, năm 2020 có tới 22,276 triệu con.

Hãy trình bày những thành tựu nổi bật của ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hoá.

c) Lâm nghiệp

Rừng là cái nôi nuôi sống con người từ thuở hoang sơ, là nơi tạo ra nhiều sản vật, mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho con người Song do việc khai thác rừng quá mức, do tập quán đốt nương làm rẫy của đồng bào các dân tộc miền núi, nên rừng đang có nguy cơ giảm về diện tích, cấu trúc, chủng loại gỗ quý hiếm Đảng, Nhà nước và tỉnh Thanh Hoá đã thực hiện nhiều chính sách, biện pháp thay đổi cách quản lí, cách tổ chức sản xuất trong lâm nghiệp nhằm bảo vệ, phát triển, phát huy thế mạnh của rừng

Năm 1999, Thanh Hoá đã cơ bản hoàn thành việc giao đất, giao rừng đến hộ gia đình theo Nghị định 02/NĐ–CP ngày 15/01/1994 của Chính phủ Diện tích đất lâm nghiệp đã giao được 693 341 ha, bằng 99,9% diện tích đất lâm nghiệp Các hộ gia đình được giao khoán thực hiện bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh tầng bổ sung cây lâm nghiệp, trồng rừng, xây dựng kinh tế trang trại rừng…

Năm 1999, Thanh Hoá thực hiện dự án trồng 5 triệu ha rừng theo Nghị quyết của Quốc hội Mục tiêu phấn đấu nâng độ che phủ của rừng từ 36,5% (năm 1999) lên 43% (năm 2005) và 47% (năm 2010); năm 2021 ước đạt 53,5%

Thực hiện đề án trồng 1 tỉ cây xanh do Thủ tướng Chính phủ phát động, năm

2020, Thanh Hoá trồng mới được 12,393 ha rừng Tỉnh quy hoạch 3 loại rừng: rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất nguyên vật liệu, với tổng diện tích 732 378

Trang 39

ha Để củng cố tổ chức sản xuất nghề rừng, tỉnh đã thành lập 15 lâm trường

Thực hiện quản lí theo vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên và rừng đầu nguồn, Thanh Hoá có vườn quốc gia Bến En với diện tích tự nhiên 16 634 ha; khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên (thuộc các huyện Thường Xuân và Như Xuân), Pù Hu,

Pù Luông (thuộc các huyện Quan Hoá, Mường Lát, Bá Thước), khu rừng phòng hộ đầu nguồn (đập Bái Thượng – Sông Chu)

Hình 3.6 Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông

Tỉnh cũng thực hiện phương châm thâm canh rừng trồng, khuyến khích khai thác chế biến gỗ rừng trồng, giảm dần khai thác gỗ rừng tự nhiên và tiến tới đóng cửa khai thác rừng tự nhiên

Bảng 3.1 Sản lượng gỗ và lâm sản ngoài gỗ của Thanh Hoá một số năm gần đây

Nguyên liệu giống

Trang 40

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thanh Hoá năm 2020) Hãy cho biết những điểm nổi bật trong việc khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng ở Thanh Hoá.

5 Định hướng đổi mới phát triển nông – lâm nghiệp tỉnh Thanh Hoá

Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hoá lần thứ XIX (nhiệm kì 2020 – 2025) đã định hướng phát triển nông – lâm nghiệp của tỉnh theo hướng sản xuất hàng hoá quy mô lớn, giá trị gia tăng cao gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm, phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 3% trở lên Cụ thể:

– Phát triển nông nghiệp theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới Biện pháp ứng dụng công nghệ cao, xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá lớn chất lượng cao, phát triển các chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ

– Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX khẳng định: “ lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh tích tụ, tập trung đất đai để phát triển nông nghiệp quy mô lớn, công nghệ cao, tạo ra sản phẩm có chất lượng, khả năng cạnh tranh cao Phấn đấu đến hết năm 2025, diện tích đất nông nghiệp tích tụ, tập trung thêm 320 000 ha; có

17 huyện, thị xã, thành phố, 85% số xã đạt chuẩn nông thôn mới.”

– Trong trồng trọt: Xây dựng và nhân rộng các mô hình sản xuất tập trung, quy

mô lớn, áp dụng đồng bộ kĩ thuật tiên tiến, tiết kiệm chi phí, bảo vệ môi trường, tạo

ra sản phẩm an toàn giá trị cao Ổn định vùng lúa thâm canh chất lượng cao 150 000

ha, vùng ngô 20 000 ha Quy hoạch vùng nguyên liệu mía, cao su

– Chuyển dịch cơ cấu cây trồng, giữ sản lượng lương thực hằng năm đạt 1,5 triệu tấn Xây dựng các nhà máy chế biến rau, củ, quả gắn với các vùng nguyên liệu tại huyện Hà Trung, Thạch Thành…

– Về chăn nuôi: Phát triển theo hướng trang trại tập trung, ứng dụng công nghệ cao, tập trung vào sản phẩm chủ lực là bò thịt, bò sữa, lợn hướng nạc;… tăng cường phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi Các dự án chăn nuôi lớn sẽ hoàn thành trong giai đoạn từ 2021 – 2025 ở các huyện Nông Cống (chăn nuôi bò sữa), Thạch Thành (sản xuất, chăn nuôi, kinh doanh lợn), Ngọc Lặc (ứng dụng công nghệ cao trong chăn nuôi lợn giống, sản xuất thức ăn lên men, sản xuất phân bón)

Ngày đăng: 16/03/2024, 01:58

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Bác Hồ nói chuyện với nhân dân Thanh Hoá trong lần về thăm - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 1.1. Bác Hồ nói chuyện với nhân dân Thanh Hoá trong lần về thăm (Trang 6)
Hình 1.2. Đoàn xe đạp thồ của Thanh Hoá chở hàng ra tiền tuyến - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 1.2. Đoàn xe đạp thồ của Thanh Hoá chở hàng ra tiền tuyến (Trang 12)
Hình 2.2. Giữ môi trường xanh – sạch –  đẹp trong Di tích lịch sử và kiến trúc - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 2.2. Giữ môi trường xanh – sạch – đẹp trong Di tích lịch sử và kiến trúc (Trang 15)
Hình 2.3. Cắt băng khánh thành dự án - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 2.3. Cắt băng khánh thành dự án (Trang 16)
Hình 2.5. Bia Vĩnh Lăng ở Khu Di tích lịch sử Lam Kinh – Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật: - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 2.5. Bia Vĩnh Lăng ở Khu Di tích lịch sử Lam Kinh – Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật: (Trang 18)
Hình 2.6. Khu di tích lăng miếu Triệu Tường (thôn Gia Miêu, - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 2.6. Khu di tích lăng miếu Triệu Tường (thôn Gia Miêu, (Trang 24)
Hình 2.8. Tem bưu chính in hình kiếm ngắn núi Nưa trong bộ tem Bảo vật quốc gia - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 2.8. Tem bưu chính in hình kiếm ngắn núi Nưa trong bộ tem Bảo vật quốc gia (Trang 25)
Hình 2.7. Trò diễn Xuân Phả tại Lễ hội Lam Kinh - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 2.7. Trò diễn Xuân Phả tại Lễ hội Lam Kinh (Trang 25)
Hình 3.2. Trồng và bảo vệ rừng ở Thanh Hoá - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 3.2. Trồng và bảo vệ rừng ở Thanh Hoá (Trang 30)
Hình 3.6. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 3.6. Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông (Trang 39)
Bảng 3.1. Sản lượng gỗ và lâm sản ngoài gỗ của Thanh Hoá một số năm gần đây - Sgk gd dia phuong lop 10
Bảng 3.1. Sản lượng gỗ và lâm sản ngoài gỗ của Thanh Hoá một số năm gần đây (Trang 39)
Hình 4.4. Dây chuyền chế biến lúa gạo của Công ty CP Thương mại - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 4.4. Dây chuyền chế biến lúa gạo của Công ty CP Thương mại (Trang 44)
Hình 4.6. Mưa lũ kéo dài khiến diện tích lúa của nhiều xã - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 4.6. Mưa lũ kéo dài khiến diện tích lúa của nhiều xã (Trang 46)
Hình 5.2. Rác thải gây ô nhiễm bờ biển Hải Tiến, huyện Hoằng Hoá - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 5.2. Rác thải gây ô nhiễm bờ biển Hải Tiến, huyện Hoằng Hoá (Trang 52)
Hình 5.3. Khách du lịch tại bãi biển Sầm Sơn dịp nghỉ lễ 30 – 4 và 1 – 5 năm 2022 - Sgk gd dia phuong lop 10
Hình 5.3. Khách du lịch tại bãi biển Sầm Sơn dịp nghỉ lễ 30 – 4 và 1 – 5 năm 2022 (Trang 53)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w