Chủ đề Văn học dân gian thành phố Cần Thơ sẽ giúp học sinh nắm được bức tranh tổng quan về văn học dân gian địa phương thông qua việc phân tích các giá trị nội dung và nghệ thuật của các
Tổng quan về văn học dân gian thành phố Cần Thơ
Chủ đề Văn học dân gian thành phố Cần Thơ giúp học sinh hiểu rõ bức tranh tổng thể về văn học dân gian địa phương qua việc phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm Nhờ đó, người học có thể có cái nhìn đa chiều về vùng đất và con người Cần Thơ Đồng thời, chủ đề này còn nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống đặc trưng của địa phương.
I HỆ THỐNG CáC THể LOẠI VĂN HỌC DÂN GIAN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
1 Các thể loại văn xuôi dân gian
Nhóm thể loại văn xuôi dân gian lưu truyền ở thành phố Cần Thơ rất phong phú, gồm thần thoại, truyện cổ tích, truyền thuyết, giai thoại, truyện cười, truyện ngụ ngôn, phản ánh đời sống văn hóa đa dạng của địa phương Các thần thoại của người Việt chủ yếu có nguồn gốc từ các truyền thuyết của đồng bào Khmer như nguồn gốc vũ trụ và muôn loài, thần Núi Thần Nước và các thần thoại Phật giáo, thể hiện sự đa dạng và phong phú của kho tàng văn hóa dân gian Truyện cổ tích của người Việt không chỉ phản ánh sự hình thành các phong tục tập quán mà còn giúp giải thích đặc điểm tự nhiên của sự vật, truyền đạt các triết lý sống và răn dạy đạo làm người.
Sự tích trái thơm, Sự tích cái bình vôi, Sự tích áo bà ba, Nàng Út ống tre, Sự tích trái sầu riêng,
Sự tích con cá nược và chim bìm bịp,…
Anh về sông Hậu tìm em Khi thành phố trẻ giăng đèn kết hoa.
Tây Đô mến khách đường xa Hay em duyên dáng mặn mà anh thương.
Thông tin trước khi đọc
Thành phố Cần Thơ là trung tâm văn hóa của miền Tây Nam Bộ, nơi hội tụ nhiều tôn giáo, dân tộc và sự dung hợp văn hóa đa dạng từ các vùng miền trong nước và quốc tế Sự đa dạng này được thể hiện rõ nét qua nền văn học dân gian đặc trưng của thành phố Ngoài những đặc điểm chung của văn học dân gian Việt Nam, văn học dân gian Cần Thơ mang nét độc đáo phản ánh đời sống và bản sắc riêng của vùng đất phương Nam.
Cần Thơ cũng có những nét đặc sắc riêng.
Ở Nam Bộ, truyền thuyết và giai thoại phong phú, đặc biệt liên quan đến các nhân vật lịch sử nổi bật như Nguyễn Ánh, Nguyễn Văn Tòn, Tham tướng Mạc Tử Sanh, Đinh Sâm, thể hiện nét đặc trưng văn hóa của vùng miền Những câu chuyện này không chỉ kể về các nhân vật lịch sử mà còn giúp giải thích ý nghĩa các địa danh và phong tục truyền thống, như truyền thuyết về Miếu ông Hổ ở làng cổ Long Tuyền hay câu chuyện về địa danh Đầu Sấu – Cái Da, góp phần bảo tồn và phát triển bản sắc văn hóa đặc trưng của Nam Bộ.
– Cái Răng,…và các truyện nói về tục thờ thần Bạch Hổ ở làng Thường Thạnh, Bình Thuỷ, Ô
Trong các truyền thuyết ở thành phố Cần Thơ, có những câu chuyện về các quan chức và văn nghệ sĩ nổi bật như Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Huỳnh Mẫn Đạt, cũng như giai thoại về các ông Đạo và nguồn gốc các chùa chiền, miếu thờ như chùa Hiệp Thiên Cung hay Đàn tiên Các câu chuyện này thường phân thành các nhóm nội dung chính như giải thích nguồn gốc địa danh, lịch sử triều Nguyễn, và về các ông Đạo tiêu diệt quái vật, thú dữ Phần lớn truyền thuyết của Nam Bộ kể về các sự kiện văn hóa, lịch sử từ thế kỷ XVIII trở về sau, phản ánh nét đặc trưng và truyền thống của vùng đất này.
Một số nhân vật lịch sử rất gần gũi với đời thường và được kể theo phong cách của giai thoại Nhiều truyện vừa có yếu tố của truyền thuyết vừa có yếu tố của giai thoại: Địa danh Bình Thuỷ – Long Tuyền, Huyện Văn –
Huyện Võ, Sự tích đình thần Tân An,…
Văn học dân gian Cần Thơ cũng có nhiều truyện cười và truyện ngụ ngôn Trong đó, có nhiều truyện của những người kể chuyện cười nổi tiếng ở Nam Bộ như: Bác Ba Phi,
Bộ Ninh, ông Ó, ông Me cùng truyện của ông Tám Cồ là những tác phẩm nổi bật, được truyền miệng rộng rãi ở vùng đất Cần Thơ, Hậu Giang, Vĩnh Long Các truyện này thường mang đậm tính ngụ ngôn, phản ánh đời sống và đạo lý, như "Nó còn chúa hơn lươn chúa", "Biểu nói dóc thì nói dóc", "Chửi lính bắt cá" hay "Ma bắt con tằng hắng", thể hiện sự đa dạng về nội dung và nguồn gốc Trong số đó, nhiều truyện ngụ ngôn của người Việt và Khmer kể về các con thú như cọp beo, với các câu chuyện tiêu biểu như "Làm ơn mắc oán", "Con cọp và cậu học trò", "Cứu vật vật trả ơn", "Mèo là mèo", và "Cọp già gian xảo", phản ánh những bài học đạo đức sâu sắc trong đời sống cộng đồng.
Trong văn xuôi dân gian Cần Thơ, truyền thuyết và giai thoại là những thể loại phản ánh rõ nét đặc trưng vùng đất này So với truyện dân gian miền ngoài, truyện dân gian Nam Bộ có kết cấu không chặt chẽ, diễn đạt dễ dãi và nhiều chuyện chưa được xác lập thành truyện rõ ràng Do đó, việc phân loại các truyện dân gian ở thành phố Cần Thơ đòi hỏi tư duy linh hoạt, mở rộng để phù hợp với đặc điểm đơn giản và không cứng nhắc của thể loại.
2 Các thể loại văn vần dân gian
Trong nhóm văn vần dân gian, ca dao dân ca là thể loại tiêu biểu nhất, phản ánh chân thực đời sống và tâm tư tình cảm của nhân dân Nội dung của ca dao dân ca đa dạng, bao gồm các chủ đề về tình yêu đôi lứa, tình nghĩa gia đình, lao động sản xuất, lịch sử xã hội, cũng như các yếu tố giải trí, hài hước Ca dao dân ca không chỉ là hình thức lưu giữ truyền thống văn hóa dân tộc mà còn phản ánh rõ nét đời sống tinh thần của người dân qua các thời kỳ.
[1] Tại sao các truyền thuyết ở Nam Bộ thường nói về các sự kiện từ thế kỉ XVIII trở đi?
Hầu hết ca dao ở vùng Nam Bộ được sáng tác theo thể thơ lục bát, thể hiện đặc trưng truyền thống của địa phương Nội dung những câu ca dao này phản ánh chân thực cuộc sống, các sự vật, hiện tượng đặc trưng của vùng đất Nam Bộ Đặc biệt, các bài ca dao còn đề cập đến các địa danh nổi bật của thành phố Cần Thơ, góp phần gìn giữ và quảng bá nét đẹp văn hóa địa phương.
Phong Dinh đẹp lắm ai ơi Bậu về bên đó cho tôi cùng về.
Thể song thất lục bát là thể loại phổ biến trong văn học trung đại nhưng ít xuất hiện trong văn học dân gian Bắc Bộ Tuy nhiên, thể loại này lại rất phổ biến trong ca dao Nam Bộ, đặc biệt tại thành phố Cần Thơ Nhiều bài ca dao ở đây được sáng tác theo thể song thất lục bát, như câu: "Đất Cần Thơ nam thanh nữ tú / Đất Rạch Giá vượn hú chim kêu / Quản chi mưa nắng sớm chiều / Lên doi xuống vịnh cũng chèo thăm em."
Trong sáng tác ca dao Nam Bộ, người dân thường không quá coi trọng việc tuân thủ luật thơ truyền thống Các bài ca dao theo hình thức lục bát và song thất lục bát biến thể chiếm số lượng lớn, phản ánh sự phong phú về hình thức sáng tác Ngoài ra, số lượng ca dao theo thể tự do và hợp thể cũng cao hơn so với ca dao Bắc Bộ, cho thấy sự đa dạng trong cách thể hiện của người dân Nam Bộ Đặc biệt, trong ca dao Nam Bộ, ta gặp nhiều bài có số câu lẻ như ba, năm, bên cạnh các bài có số câu chẵn như hai, bốn, thể hiện tính linh hoạt và sáng tạo của dân gian trong sáng tác ca dao.
Ca dao vùng sông Hậu chủ yếu được sáng tác để hát hò trên sông nước, với câu từ tự do, phóng khoáng và phù hợp với hoàn cảnh ứng đáp ngẫu hứng Những câu ca dao này phản ánh nét đẹp bình dị, phong phú về cuộc sống và tình cảm của người dân miền sông nước Đặc biệt, chúng thể hiện tinh thần tự do, sáng tạo trong nghệ thuật truyền miệng của cộng đồng địa phương Các bài ca dao này không chỉ gắn kết cộng đồng mà còn là nét văn hóa đặc trưng của vùng sông Hậu, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
– Chim đi đâu cũng bay về cội
Cá đi đâu cũng lội về kinh Bình Thuỷ lưu linh đáo lại Long Tuyền Gởi lời thăm bạn chịu phiền đôi năm.
– Nước Ba Thắc chảy cắt như dao Con cá đao bổ nhào vô lưới Biết chừng nào anh mới cưới đặng em?
Tục ngữ phản ánh kinh nghiệm tự nhiên và xã hội, thể hiện mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa con người và sông nước, như câu “Mồng bảy nước chảy, mười bảy nước ròng” nhấn mạnh sự biến đổi của thuỷ triều Các câu tục ngữ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phù hợp với dòng chảy tự nhiên và phong tục địa phương, ví dụ như “Đi sông phải theo dòng cuốn, đến xứ người phải theo tập tục” và “Chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn” Ngoài ra, những câu tục ngữ còn chứa đựng tri thức về phong tục tập quán của người Cần Thơ, như quy định về làm ruộng theo mùa và làm ghe theo mẹo, góp phần thể hiện đặc điểm con người và đời sống sinh hoạt của thành phố này.
Truyện dân gian thành phố Cần Thơ
TỤC THỜ CỌP Ở CÁI RĂNG
Hình 1.2 Miếu thờ ông Bạch Hổ ở đình Thường Thạnh
(Tác giả: Duy Khôi, Nguồn: canthotourism.vn)
Bạn đã từng ghé thăm các miếu thờ cọp ở địa phương chưa? Trải nghiệm bước vào các nơi thờ linh vật như cọp bạch, rắn thần hay cá ông mang lại cảm giác trang nghiêm, linh thiêng và đầy tôn kính Những nơi này không chỉ là nơi thờ tự mà còn giữ gìn nét văn hóa truyền thống đặc sắc của địa phương, thu hút nhiều khách tham quan và tín đồ Thăm các miếu thờ linh vật giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tín ngưỡng dân gian và tấm lòng thành kính của người dân đối với các linh thiêng.
Thông tin trước khi đọc:
Trong văn học dân gian Nam Bộ, thể loại truyền thuyết phát triển mạnh mẽ, chủ yếu kể về các sự kiện văn hóa lịch sử từ thế kỉ XVIII trở về sau Nhiều truyền thuyết và giai thoại liên kết chặt chẽ, tạo thành các nhóm câu chuyện liên quan đến một hoặc vài nhân vật lịch sử nổi bật Người dân Cần Thơ lưu truyền nhiều truyền thuyết về các địa danh như Cần Thơ, miếu thờ ông Bạch Hổ ở Cái Răng, cùng các giai thoại về nhân vật như Bùi Hữu Nghĩa Các truyền thuyết này phản ánh chân thực các sự kiện và nhân vật lịch sử, góp phần bảo tồn giá trị văn hóa dân gian Nam Bộ qua nhiều thế hệ.
Từ thời khai hoang mở cõi, người Việt ở Nam Bộ đã phải đối mặt với những loài thú săn mồi nguy hiểm như cọp, beo, cá sấu và rắn độc Trong văn hóa dân gian, cọp được coi là biểu tượng của sức mạnh và oai linh, thường được gọi là Ông Dần, Ông Cả, Ông Ba Mươi hoặc Hương để thể hiện sự tôn kính và sợ hãi trước sự uy phong của loài thú này.
Cọp, Chúa xứ sơn lâm—từ chỗ sợ cọp, người dân sinh ra tục thờ cọp để được yên ổn Một số nơi thờ cọp vì tin rằng chúng giúp đỡ con người trong cuộc sống hàng ngày Ở thành phố Cần Thơ, nhiều đình miếu thờ thần cọp nằm trong các làng như Long Tuyền (Bình Thuỷ), Phước Thới (Ô Môn), phản ánh văn hóa tín ngưỡng địa phương liên quan đến linh vật cọp.
Từ xưa, vùng Cái Răng là khu rừng hoang vu, đầy rẫy cá sấu dưới các rạch và cọp beo trên rừng Cây cối mọc um tùm, khiến nơi đây trở nên hoang sơ, ít lối đi lại Người Khmer sống rải rác dọc theo các con sông lớn, chuyên làm nghề chế biến “cà ràng” (ông táo) và chở đi bán khắp vùng sông Hậu, góp phần phát triển đời sống cộng đồng nơi đây.
Cho nên, người Việt kêu vùng này là Cái Răng [1]
Trong quá trình chạy trốn khỏi quân Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã hành quân qua các sông rạch vùng sông Hậu và tình cờ nghe thấy tiếng đờn hát, thơ ca từ xa vọng lại, thể hiện sự hưởng thụ văn hóa ngay trong hoàn cảnh khó khăn Ngài xúc động đặt tên con sông nhỏ nơi đây là "Cầm Thi Giang" (nay gọi là sông Cần Thơ), biểu hiện của sự gắn kết giữa chiến tranh và nghệ thuật trong lịch sử Việt Nam Sau thời gian lưu trú, Nguyễn Ánh nhận thấy nơi này không an toàn lập tức rút quân về đảo Phú Quốc để đảm bảo an toàn cho chính mình.
Một nhóm lính trốn khỏi Chúa Nguyễn không muốn đi theo rời xa kinh thành, nhanh chóng lẩn trốn vào rừng rậm Cái Răng để tránh sự phát hiện của Tây Sơn Họ bị mất phương hướng, sống trong cảnh cực khổ và thiếu thốn trăm bề, phải ngủ trên cây vào ban đêm để tránh thú dữ, còn ban ngày đi săn bắt và hái lượm rau dại làm thức ăn Cuộc sống ngày càng khắc nghiệt, họ phải uống nước đục từ sông rạch, khiến nhiều người mắc bệnh nặng không có thuốc chữa trị, chỉ còn chờ chết Đến một đêm định mệnh, họ mơ thấy một cụ già râu tóc bạc phơ xuất hiện, mang ý nghĩa tâm linh sâu sắc trong hành trình vượt qua khó khăn.
Ta là thần cọp, chúa tể vùng này, đã thông báo cho người gặp nạn biết cách thoát khỏi hiểm họa Để chữa trị bệnh, cần lấy vỏ cây cổ thụ, giã nát rồi uống nước, giúp giảm triệu chứng và phục hồi sức khỏe Để thú dữ không quấy nhiễu, hãy lập miếu thờ thần cọp trắng nhằm cầu bình an cho khu vực Người dân nên kiên nhẫn chờ đợi đến đầu mùa thu năm sau, khi có người đến cứu giúp và giải pháp phù hợp sẽ được thực hiện.
Sau khi làm theo lời dặn của thần cọp trắng, mọi người nhận thấy những người bệnh trở nên khỏe mạnh, và cọp beo không còn dám rình bắt người nữa, mang lại cuộc sống yên bình hơn Để bày tỏ lòng cảm ơn, họ dựng miếu thờ và tổ chức tế lễ bằng thú rừng, giúp họ thoát khỏi nạn đói khát và thú dữ Cuộc sống ổn định khiến họ chăm chỉ làm ăn, chờ đợi cơ hội thoát khỏi khu rừng hoang Đúng như lời thần cọp trắng dự đoán, đầu mùa thu năm sau, một đoàn người đến giải cứu, đưa họ trở về nhà và đoàn tụ gia đình Họ cũng nhận thấy vùng đất Cần Thơ màu mỡ, nhiều tôm cá, dễ sinh sống, mang lại hy vọng mới cho cuộc đời của họ.
[2] Thử đoán xem những người lính sẽ làm gì sau khi nghe lời ông lão mách bảo?
[1] Có một truyện cổ tích khác ở thành phố Cần Thơ cũng giải thích tên gọi Cái Răng Đó là truyện nào?
Một thời gian sau, nhiều người quay lại đây cùng với gia đình Họ mang theo dụng cụ lao động để làm ruộng, đánh bắt cá, nuôi heo gà Nhờ chăm chỉ làm ăn, họ vượt qua được những khó khăn ban đầu, cuộc sống ngày càng sung túc [3]
Tiếng lành đồn xa, nhiều người dân từ nơi khác đã kéo tới Cái Răng để sinh sống, khiến nhà cửa ngày càng đông đúc và ghe xuồng buôn bán nhộn nhịp Người dân nơi đây luôn ghi nhớ công ơn của thần cọp đã giúp họ trong việc khai hoang từ trước, thể hiện lòng biết ơn qua việc mang lễ vật đến đình Thường Thạnh để cúng thần cọp trắng trong các mùa vụ gieo trồng và gặt hái.
Họ cầu mong thần phù hộ để được dồi dào sức khoẻ, vạn sự bình an, làm ăn thuận lợi, no ấm.
(Phạm Ngọc Hiền biên soạn dựa theo Trần Văn Nam (Chủ biên),
Truyện dân gian Cần Thơ, NXB Đại học Cần Thơ, 2019 và nhiều tài liệu khác)
1 Kể lại những nỗi lo lắng của người lính khi phải sống trong rừng Cái Răng Tại sao sau khi về nhà, họ lại quay trở về vùng này?
2 Dựa vào truyện trên, em hãy chỉ ra sự khác nhau ở vùng đất Cần Thơ trước và sau khi người Việt đến lập nghiệp.
3 Người dân Cái Răng ngày xưa quan niệm như thế nào về loài cọp? Người xưa mượn truyện này để giải thích điều gì?
Truyền thuyết thường kết hợp hai yếu tố chính là kỳ ảo, siêu nhiên và thực tại lịch sử, tạo nên những câu chuyện hấp dẫn mang đậm nét huyền thoại Điều này thể hiện qua việc kể về những nhân vật và sự kiện mang tính thần thoại, kỳ diệu nhưng vẫn dựa trên những đặc điểm lịch sử có thật Sự hòa quyện giữa yếu tố siêu nhiên và thực tế lịch sử làm cho truyền thuyết trở nên sinh động, phong phú và mang giá trị nhân văn sâu sắc Chính nhờ sự kết hợp này, truyền thuyết khơi dậy trí tưởng tượng của người nghe, đồng thời lưu giữ được nét đẹp văn hóa dân gian qua nhiều thế hệ.
SỰ TÍCH CON CÁ NƯỢC
Hình 1.3 Cá nược một thời tung tăng trên sông nước miền Tây
(Nguồn: Tác giả cung cấp)
[3] Theo văn bản, những lưu dân đầu tiên trên đất Cần Thơ là ai?
Em có nhìn thấy cá Ông Nược trên sông Hậu lần nào chưa? Hãy chia sẻ những hiểu biết của em về loài cá heo nước ngọt này.
Thông tin trước khi đọc:
Cá nược là loài động vật có vú, thuộc họ cá heo Cá thích đùa giỡn với trẻ con và chạy đua theo thuyền nên ngư dân thường gọi: “Đua Ông Nược ơi” Người dân vùng sông Hậu tin rằng: Ông Nược rất linh thiêng, thường giúp đỡ ngư dân bị nạn Có lão ngư ở xóm Chài (Cần Thơ) kể rằng: “Hồi xưa, Ông có nhiều ở vùng này lắm, con nít, người lớn ai mà không khoái (…) Xóm này từng có ngư dân giăng lưới không may dính được Ông kiểm tra lại thấy cá đã chết nên đem chôn ngay, không dám để lâu Sau đó, ngư dân ấy bán xuồng ghe, không đi thả lưới nữa”
Truyện cổ tích Sự tích con cá nược có nhiều dị bản và mỗi bản có một số nội dung khác nhau Truyện này được cả người Việt và người Khmer truyền tụng rộng rãi ở miền Tây Nam Bộ Truyện cổ tích này sẽ giúp chúng ta hiểu được mối quan hệ gần gũi giữa thiên nhiên và con người ở vùng sông Hậu thuở xa xưa. Đọc văn bản:
Ngày xưa, có một cô gái xinh đẹp và hiếu thảo, luôn chăm sóc mẹ đã qua đời và hóa thân thành hoa sen Cô thường đến bên ao để gìn giữ và chăm sóc hoa sen thiêng liêng, thể hiện lòng hiếu hiếu tận tụy của mình Câu chuyện về cô gái đẹp và lòng hiếu thảo của cô đã trở thành biểu tượng của đức tính nhân hậu và tình mẫu tử thiêng liêng.
Ca dao, dân ca thành phố
VĂN BẢN 1 TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG CA DAO, DÂN CA
Ngày xưa, trai gái thường thể hiện tình yêu qua hình thức hát hò, tạo nên nét đẹp trong văn hóa tình yêu của thời kỳ đó Tuy nhiên, hiện nay, liệu thanh niên có còn duy trì thói quen ứng tác và hát hò như người xưa hay không? Việc giữ gìn các nét văn hóa truyền thống này đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối cảm xúc và gìn giữ bản sắc dân tộc trong cuộc sống hiện đại.
Thông tin trước khi đọc:
Ca dao là những tác phẩm văn vần ngắn gọn dùng để nói hoặc hát, phản ánh đời sống tinh thần và văn hóa của người Việt Dân ca là những bài hát dân gian thuộc thể loại diễn xướng truyền thống, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Ca dao và dân ca thành phố Cần Thơ có nội dung đa dạng, từ lịch sử xã hội, phong tục tập quán, lao động sản xuất đến tình cảm gia đình và giải trí Trong đó, đề tài về tình yêu đôi lứa là phổ biến nhất, giúp chúng ta hiểu rõ quan niệm của cha ông về tình yêu, hôn nhân cũng như nét đẹp văn hóa qua các hình thức nghệ thuật ngôn từ.
1 Chiều chiều, xuống bến ba lần
Trông em không thấy, thấy bần xơ rơ.
Anh ra đây sao chịu chữ làm thinh
Hay là anh chê tôi không xứng người tình của anh?
3 Kinh Xáng mới đào, tàu Tây đương chạy,
Hai đứa mình thương nhau thì thương đại Đừng nghi đừng ngại, bớ điệu chung tình.[1]
[1] Chi tiết tàu Tây, kinh Xáng có mối liên hệ như thế nào tới “thương đại”?
4 Đèn nào cao bằng đèn chợ Mỹ
Lộ nào kĩ bằng lộ Cần Thơ
Anh thương em lững đững lờ đờ
Tỉ như tình Điệp ngồi chờ tình Lan.
5 Chợ Bình Thuỷ bán bánh bao chỉ
Chợ Sài Gòn bán bánh bích quy
Anh đứng làm trai sao không biết nghĩ suy
Vợ anh còn, con anh sẵn, nghĩa lí gì anh thương em.
6 Cầu Cái Răng ba nhịp
Anh đi không kịp nhắn lại cùng nàng
Cái điệu tào khang sao nàng vội dứt Đêm nằm thao thức hoá bức thơ rơi
Bấy lâu nay em mang tiếng chịu lời
Bây giờ anh hỏi thiệt: em đổi dời về đâu?
7 Tàu số một chạy lên Vàm Tấn,
Tàu số hai chạy xuống Cần Thơ,
Tuổi ba mươi em cũng ở vậy mà chờ,
Lỡ duyên chịu lỡ, cũng chờ đợi anh.
8 – Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai đi tới đó lòng không muốn về
– Có về nói má tới thăm
Cau trầu đủ bộ rước nàng về dinh [2]
[2] Cụm từ “rước nàng về dinh” làm em liên tưởng tới bài dân ca nào?
1 Xác định hình thức thể thơ của các bài ca dao trên (chú ý số câu, số dòng, phối thanh, gieo vần,…).
2 Chỉ ra các thể phú, tỉ, hứng trong các bài ca dao trên.
3 Bài ca dao nào được trình bày theo hình thức đối đáp giao duyên? Cho biết tác dụng của hình thức diễn xướng này.
4 Chỉ ra những đặc trưng về cảnh vật, địa lí, lịch sử của thành phố Cần Thơ trong các bài ca dao trên.
5 Cho biết quan niệm về tình yêu và hôn nhân của người xưa thể hiện qua các bài ca dao trên.
– Em hãy kể tên một số bài hát Khmer mà em từng được nghe.
– Em hãy trình bày một bài dân ca Khmer mà em biết.
Ở Nam Bộ, ngoài kho tàng diễn xướng dân gian của người Việt, còn có kho tàng diễn xướng dân gian của người Khmer với các bài hát ru con, các làn điệu hát múa trong lễ hội, sân khấu Rô băm, Dù kê Trong các dịp lễ hội tôn giáo, người Khmer thường hát các bài dân ca mang tính nghi lễ hoặc múa hát vui chơi giải trí, đồng thời trai gái Khmer thể hiện tình cảm qua các bài hát tỏ tình trong lễ hội hoặc trong lao động trên đồng ruộng, sông nước Lễ cưới của người Khmer cũng gắn liền với các điệu dân ca và các thủ tục như hát múa trên đường rước rể, mở cổng rào, hát trong lễ cắt tóc, làm răng, múa hát vén màn, mở mâm trầu, lễ cột tay, rắc hoa cau, cuốn chiếu, và hát tiễn khách ra về Khi sinh con, họ thường mượn bài hát ru con để thể hiện những tâm tư tình cảm sâu sắc trong cuộc sống hàng ngày.
Từ tổ ấm, chim bay ra trời xanh
Sẵn lúa nàng phơi, chim sà xuống đất Ăn no bụng rồi, chim vui chim hát
Trên ngọn tre, chim đâu biết lúa nhà ai
Lúa của nàng mà sao chim ăn, chim ơi! [1]
– Dù gặp mặt nhau chỉ mới có một lần
Nhưng em ơi, anh không thể rời xa em nữa
Không chỉ vì chiếc váy của em sặc sỡ
Mà nước da em trắng nõn trắng nà.
[1] Vì sao chàng trai trách chim sẻ khi chim ăn lúa của nàng phơi?
– Vậy cớ sao anh có thể làm ngơ Để em một mình với nước da trắng nõn
Hay anh muốn biết tánh tình em có đẹp
Như nước da em trong chiếc váy đủ màu?
– Nàng nói gì, anh biết tính làm sao
Chỉ biết rằng anh không thể nào xa em được nữa
Có thể tấm lòng em cũng vậy
Dù ở một mình nhưng ta đã có đôi
3 Cắt tóc trong lễ cưới
Bởi vì em yêu anh
Nên anh yêu em mãi
Muốn tình yêu chung thuỷ
Em cắt tóc tặng anh
Hỡi em yêu hiền lành
Mái tóc mềm đen nhánh
Anh mong điều may mắn
Trong chiếc kéo trên khay
Em hãy ngồi xuống đây
Dưới tàn cây so đũa
Mái tóc em buông xoã
Thay lời em yêu anh.[2]
Anh hỏi nàng Tôch ơi
Em có biết chiều chồng
Em có chiều anh không?
Nàng nói rằng: có, có.
Từ khi sanh một đứa Đứa thứ hai, thứ ba
Tình yêu thành con ta Để lên đùi em nựng
[2] Ngày nay, người Khmer có còn lễ cắt tóc trong ngày cưới không?
Con ơi, nghe lời cha ru
Mẹ con đi chợ tới trưa mới về
Mẹ về cho bánh sa kê
Cho đầu con gối, con kê trên đùi
Mẹ cưng, con ngủ cho mùi
Chân mẹ làm nệm tay thời ôm con
Ngủ đi, đừng khóc, cha thương!
(Theo Nhiều tác giả, Dân ca Hậu Giang, Sở Văn hoá – Thông tin Hậu Giang, 1986)
1 Trong bài 1, tác giả dân gian sử dụng biện pháp tu từ nào? Cho biết tác dụng của nó.
2 Giải thích tình ý của cô gái và chàng trai trong bài Dikê.
3 Trai gái làm thủ tục Cắt tóc trong lễ cưới với mong muốn điều gì?
4 Phân tích mối quan hệ gắn bó giữa tình yêu đôi lứa, tình nghĩa vợ chồng, tình cảm giữa cha mẹ với con cái trong bài 4 và 5.
5 Chỉ ra những yếu tố văn hoá Khmer trong các bài dân ca trên.
SINH HOẠT VĂN NGHỆ Ở VÙNG ĐẤT CẦN THƠ XƯA
Thông tin trước khi đọc:
Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước (1921 – 1989) còn có bút danh là Huỳnh Minh Siêng, quê ở quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ Trong chiến tranh, ông từng giữ chức Bộ trưởng
Bộ Văn hóa và Thông tin của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền văn hóa cách mạng Ông là nhạc sĩ hàng đầu của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam, nổi bật với những ca khúc nổi tiếng như "Tiến về Sài Gòn" và "Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng," góp phần thúc đẩy tinh thần chiến đấu và đoàn kết dân tộc Các tác phẩm của ông không chỉ là biểu tượng của âm nhạc cách mạng mà còn phản ánh lòng yêu nước mãnh liệt và ý chí chiến đấu của nhân dân.
Bài viết này trích từ lời giới thiệu của tuyển tập Dân ca Hậu Giang (1986), ghi lại những nét sinh hoạt văn nghệ phong phú của Cần Thơ xưa, đặc biệt tập trung vào nghệ thuật hát bội truyền thống Trong đó, các chủ đề như Tiếng gọi thanh niên, Lên đàng, Thiếu nhi thế giới liên hoan, và Giải phóng miền Nam thể hiện không khí sôi động và ý nghĩa sâu sắc của các hoạt động văn hóa – nghệ thuật thời kỳ đó Nghệ thuật hát bội đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc.
Mỗi năm đôi lần, đoàn “Hát Tiều” đi trên một ghe lớn, làm rạp hát diễn giữa sân chợ Ô Môn Các đoàn diễn thâu đêm suốt sáng mà không lấy tiền vì họ chỉ quyên tiền trong các cửa hàng đa số của người gốc Hoa Những tuồng tích rút ra từ Tam Quốc chí,
Phi Long diễn nghĩa và Thuyết Đường là những vở diễn truyền thống được thể hiện cùng với dàn nhạc và giọng hát đặc trưng của phong cách Triều Châu, mang lại trải nghiệm nghệ thuật đặc sắc Các đào kép trình diễn những tuồng tích nổi tiếng đã in sách, trong đó có các tác phẩm như Ông Trượng, góp phần quảng bá giá trị văn hóa Trung Quốc qua nghệ thuật biểu diễn truyền thống.
Trong lịch sử cải lương Việt Nam, nhiều tác phẩm tuồng hát bội như Tiên Bửu, Tiết Liễu lương duyên, Thôi Tử thí Tề quân đã được chuyển thể thành sách và truyền thống sáng tác kịch bản, như Kim Thạch kỳ duyên của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, tiếp tục được các văn nghệ sĩ phát triển Nghệ thuật cải lương còn có những tác phẩm nổi bật như Điêu Huyền, với vở cải lương Tiếng hò sông Hậu, thể hiện sự đa dạng và phong phú của sân khấu truyền thống Việt Nam Đặc biệt, nghệ sĩ ca ra bộ đầu tiên như thầy giáo Lâm Văn Phận đã góp phần định hình phong cách ca hát cải lương, trong đó có bài Bùi Kiệm thi rớt trở về Đoàn hát của Trần Đắt Nghĩa là nơi hội tụ những nghệ sĩ nổi tiếng hàng đầu thời kỳ đó, góp phần nâng cao vị thế của nghệ thuật cải lương trong nền văn hóa Việt Nam.
Năm Châu, cô Tư Sạn,… Thế hệ trẻ hơn có chị em Kim Cúc, Kim Lan Và gần đây nhất là
“bà bầu gánh” Kim Chưởng giúp nhiều ngôi sao trẻ mọc lên đầy hứa hẹn.
Cả làng tôi đều mê xem hát và hoan nghênh các đoàn hát bội, đặc biệt là gánh hát Bầu Bòn, nơi vợ ông bầu nổi tiếng vai Lữ Bố trước khi nghệ thuật cải lương ra đời với nghệ sĩ Phùng Há Mỗi dịp cúng đình, dân làng nô nức đi xem hát bội, trở thành nét văn hóa truyền thống không thể thiếu của làng Chùa Ô Môn cách trung tâm huyện lị hơn một cây số, buổi tối yên tĩnh, tiếng chuông chùa ngân vang đến tận phố chợ mỗi khi đến ngày hội, đặc biệt là trong các buổi diễn vở Đường.
Tam Tạng thỉnh kinh, theo kiểu hát bội Trong đó, bốn thầy trò Đường Huyền Trang, Tôn
Hành Giả, Trư Bát Giới và Sa Tăng vừa đi vừa diễn, múa, hát, vừa đánh dẹp hàng chục
Đường lộ đá trở thành sân khấu cho trò diễn lớn của “động yêu tinh”, nơi người xem đứng hai bên đường cổ vũ các nhà sư – nghệ sĩ Làng tôi tổ chức lễ thỉnh sắc định kỳ mỗi vài năm, trong đó Ban hội tề đi thuyền trên sông Ô Môn ra sông Cái (sông Hậu) để rước sắc phong thần của triều đình Huế Đoàn thuyền này tạo thành một sân khấu nổi trên mặt sông, diễn hát bội, thu hút đông đảo nhân dân sống dọc hai bờ sông cùng vô số người bơi xuồng theo xem, đến tận đình làng Thới Thạnh.
Lớp tuổi tôi đã chứng kiến sự chuyển biến từ hát bội, ca ra bộ sang “hát cải lương kim thời”, một quá trình sáng tạo kéo dài trên dưới mười năm để phát triển nền kịch hát hiện đại phù hợp với nhu cầu thẩm mỹ mới Quá trình này thể hiện sự kế thừa, tổng hợp và cách tân, nhờ công sức của nhiều thế hệ nghệ sĩ đờn ca, diễn viên và các trí thức yêu nước, sẵn sàng đầu tư trí tuệ và tài chính vào sự nghiệp sáng tạo nghệ thuật Các nghệ sĩ tiêu biểu như Năm Châu, Năm Phỉ, Phùng Há cùng các nhà hằng tâm như thầy Năm Tú, Phước Georges, Trần Đắt Nghĩa đã góp phần định hình nền kịch hát mới Quá trình đổi mới này cũng đưa nhạc lễ cung đình ra đời sống bình thường, phát triển nhạc tài tử từ ca nhạc thính phòng lên sân khấu, đồng thời nâng cao vai trò của dân ca hò lý trong các vai đào kép chính, làm phong phú kho tàng âm nhạc dân tộc với nhiều bài bản và âm sắc mới.
[2] Hãy kể tên một vài thể loại văn nghệ ngoại lai được du nhập vào nước ta vào đầu thế kỉ XX.
[1] Tích này lấy từ tác phẩm nào?
Kỷ niệm tuổi thơ của tôi với trò chơi hát bội mang đậm nét quê hương, dù có vẻ buồn cười nhưng chứa đựng tình cảm quê nhà sâu sắc Lúc lên bảy tuổi, tôi cùng em gái đã sáng tạo trò chơi diễn hát bội, dùng giấy đỏ gói nhang để bôi son, vẽ lông mày bằng lọ nồi, và làm râu bằng lá chuối tơi xé thành nhiều sợi Trò chơi hát bội này đã in đậm trong ký ức tuổi thơ và được phản ánh qua ca dao thể hiện nét đẹp mộc mạc, giản dị của làng quê.
Má ơi, đừng đánh con đau Để con hát bội, làm đào má coi.
Khi lên mười, những lúc má vắng nhà, chị cũng đi vắng, tôi đưa võng ru em bằng những câu hát bội in trong một kịch bản:
Thuấn Nghiêu loà ơn đước Thang Võ chiếu trời Nam…
Lưu Hữu Phước (Theo Nhiều tác giả, Dân ca Hậu Giang, Sở Văn hoá – Thông tin tỉnh Hậu Giang, 1986)
1 Phần lớn các vở tuồng phổ biến ở Nam Bộ thời xưa được lấy tích từ đâu?
2 Hát cải lương được phát triển từ các loại hình nghệ thuật nào?
3 Ngoài việc biểu diễn trên sân khấu, các vở tuồng còn được lưu hành theo hình thức nào?
Viết một văn bản (khoảng 200 chữ) theo các yêu cầu sau:
– Phân tích một bài ca dao dân ca Nam Bộ mà em thích.
– Trình bày những nét đặc sắc trong quan niệm về tình yêu và hôn nhân của người Nam Bộ qua ca dao, dân ca.
– Giới thiệu đặc điểm phương ngữ Nam Bộ và địa danh Cần Thơ trong văn học dân gian. – Thuyết minh về một hoạt động văn nghệ truyền thống ở thành phố Cần Thơ.
Tập sáng tác văn học nghệ thuật dựa trên các thể loại dân gian như ca dao, dân ca, vọng cổ, tân cổ, vè, câu đố, tục ngữ, truyện cười và truyện ngụ ngôn giúp phát huy giá trị văn hóa dân gian, sáng tạo nội dung mang đậm nét truyền thống Việc này không chỉ giữ gìn và giới thiệu các thể loại văn học đặc sắc của dân tộc mà còn phát triển khả năng sáng tác và biểu đạt cảm xúc qua các dạng thức dân gian phong phú Các tác phẩm sáng tác dựa trên các thể loại dân gian góp phần nâng cao nhận thức về bản sắc văn hóa, đồng thời mở rộng kỹ năng sáng tạo nghệ thuật đa dạng và hấp dẫn hơn.
– Tóm tắt một vở tuồng hoặc truyện cổ dân gian.
– Chuyển thể một truyện dân gian thành kịch ngắn và biểu diễn ở trường, lớp.
– Trích một đoạn trong vở kịch dân gian để biểu diễn ở trường, lớp.
– Đọc diễn cảm, ngâm, hát một số tác phẩm văn vần dân gian.
– Trình bày những tác phẩm do em sáng tác theo hình thức diễn xướng dân gian.
THỰC HÀNH VÀ VậN DỤNG TỔNG HỢP
1 Viết văn bản về một vấn đề liên quan tới văn nghệ dân gian.
– Chuẩn bị: Chọn đề tài (hoặc do giáo viên phân công), thu thập thông tin, sắp xếp tư liệu theo từng thể loại/ nội dung,…
Trong các bài viết khoa học, việc lập dàn ý rõ ràng là rất quan trọng để đảm bảo sự logic và mạch lạc Một bài báo khoa học thường gồm ba phần chính: Mở đầu, Nội dung chính và Kết luận, trong đó phần Nội dung chính được chia thành nhiều ý nhỏ được sắp xếp theo thứ tự hợp lý để dễ hiểu và dẫn dắt người đọc một cách hiệu quả Ngoài ra, có thể bổ sung các phần như Tài liệu tham khảo và Phụ lục để cung cấp thêm thông tin hỗ trợ cho bài viết.