1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Tiểu luận) phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức liên hệ vớicuộc chiến tranh thương mại giữa mỹ và trung quốc

22 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức. Liên hệ với cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc
Tác giả Nguyễn Thị Thúy Mận
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Lê Thư
Trường học Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Triết học Mác – Lênin
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đó là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa các trường phái về những quan niệm khác nhau, đặc biệt là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xoay quanh những vấn đề về

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

VIỆN NGÂN HÀNG TÀI CHÍNH -* * -

BÀI TẬP LỚN

MÔN: TRIẾT HỌC MÁC – LÊNIN

Đề 3: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Liên hệ với

cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc

Giảng viên hướng dẫn : TS Nguyễn Thị Lê Thư

Họ và tên : Nguyễn Thị Thúy Mận

Mã sinh viên : 11224109

Lớp tín chỉ : Triết học Mác-Lênin 16

Hà nội, tháng 12 năm 2022

Trang 2

Mục Lục

LỜI MỞ ĐẦU ……… 2

NỘI DUNG … ………3

I Lý luận về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức………3

1.Vật chất 3

2 Ý thức 8

3 Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức 11

4 Ý nghĩa phương pháp luận 15

II: Liên hệ với vấn đề chiến tranh thương mại Mỹ - Trung……… 15

Kết luận 19

Tài liệu tham khảo 20

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Sự ra đời hình thành và phát triển của triết học là một quá trình lâu dài Đó là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa các trường phái về những quan niệm khác nhau, đặc biệt là cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xoay quanh những vấn đề về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa chúng.Trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày nay, ý thức và vật chất là yếu tố thông qua hoạt động thực tiễn của con người quyết định đường lối chủ trương của nhà nước

Chắc chắn rằng, triết học là một phần không thể thiếu với sự phát triển của bất

cứ hình thức nhà nước nào Mối quan hệ giữa vật chất và ý thức theo quan niệm duy vật biện chứng luôn là hướng đi cho các hoạt động thực tiễn để xây dựng vàphát triển kinh tế và xã hội Nhà nước ta đang bước vào thời kỳ phát triển vàng, đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa Việc nhận thức đúng đường lối phát triển là ngày càng quan trọng

Với tư cách là một sinh viên đang theo học tại trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, nhận thức được triết học có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bất cứ xã hội nào và tầm quan trọng của mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong thời đại

ngày nay, chính vì vậy em đã lựa chọn tìm hiểu đề tài: “Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức Liên hệ với vấn đề chiến tranh thương mại Mỹ - Trung”

Do thời gian và kiến thức của em còn nhiều hạn chế nên trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi những sai sót Em mong sẽ nhận được những góp ý của cô giáo cũng như bạn đọc

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

về phạm trù vật chất cũng trải qua lịch sử phát triển lâu dài, gắn liền với những tiến bộ của khoa học và thức tiễn.

a, Quan niệm của chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật trước C.Mác về phạm trù vật chất:

* Chủ nghĩa duy tâm: coi cơ sở đầu tiên của hết thảy mọi sự vật tồn tại, cái bản

chất sâu sắc nhất của thế giới là tinh thần, còn vật chất chỉ là sản phẩm của bản nguyên tinh thần Chủ nghĩa duy tâm khách quan thừa nhận sự tồn tại hiện thực của giới tự nhiên, nhưng lại cho rằng nguồn gốc của nó là do “sự tha hoá” của

“tinh thần thế giới” Chủ nghĩa duy tâm chủ quan cho rằng đặc trưng cơ bản nhất của mọi sự vật, hiện tượng là sự tồn tại lệ thuộc vào chủ quan, tức là một hình thức tồn tại khác của ý thức

=> Về thực chất, các nhà triết học duy tâm đã phủ nhận đặc tính tồn tại khách quan của vật chất.

* Chủ nghĩa duy vật thời cổ đại: xuất hiện chủ nghĩa duy vật với quan niệm chất

phác về giới tự nhiên và vật chất Các nhà duy vật thời cổ đại quy vật chất về một hay một vài dạng cụ thể của nó, tức là quy về những vật thể hữu hình, cảm tính đang tồn tại ở bên ngoài và coi đó là khởi nguyên của thế giới

Ví dụ: nước (Thales), lửa (Heraclitus), không khí (Anaximenes); kim, mộc, thủy,hỏa, thổ (Ngũ hành – Trung Quốc); đất, nước, lửa, gió (Tứ đại - Ấn Độ)…Một

Trang 5

số trường hợp đặc biệt, họ quy vật chất (không chỉ vật chất mà thế giới) về những cái trừu tượng như Không (Phật giáo), Đạo (Lão

Trang)

=>Chủ nghĩa duy vật thô sơ, chất phác và không triệt để

* Chủ nghĩa duy vật thời cận đại Tây Âu: về cơ bản, tiếp tục quan niệm về vật

chất thời cổ đại vnhưng đi sâu phân tích sự biểu hiên của vật chất dưới các hình thức cụ thể trong vgiới tự nhiên Thuyết nguyên tử vẫn được các nhà triết học và khoa học tự nhiên thời kỳ Phục Hưng và Cận đại (thế kỷ XV - XVIII) như Galilei, Bacon, Hobbes, Spinoza, Holbach, Diderot, Newton…tiếp tục nghiên cứu và khẳng định trên lập trường duy vật

Thế kỷ XVII - XVIII, chủ nghĩa duy vật mang hình thức chủ nghĩa duy vật siêu hình, máy móc và không thừa nhận sự phát triển, mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới, coi sự vật tách rời nhau Các nhà triết học thường đồng nhất vật chất với một thuộc tính nào đó của nó như khối lượng, năng lượng…

=> Chưa làm thay đổi căn bản cái nhìn cơ học về thế giới và chưa đủ đưa đến một định nghĩa hoàn toàn mới về phạm trù vật chất.

Như vậy, nhìn chung quan điểm về vật chất của các nhà duy vật trước Mác đều

có những hạn chế và sai lầm nhất định

b, Cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX

và sự phá sản của các quan điểm duy vật siêu hình về vật chất:

Cuộc cách mạng trong khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỉ XX nổ ra với nhiều phát minh mang tính chất vạch thời đại Vật lý học đã có nhiều phát minh quan trọng, đem lại những hiểu biết mới, kiến thức mới sâu sắc hơn về nguyên tử và thế giới vật chất

(1) Năm 1895, Rơnghen phát hiện ra tia X (là một dạng của sóng điện từ) (2) Năm1896, Béccơren phát hiện ra hiện tượng phóng xạ của nguyên tố urani

Trang 6

Việc phát hiện các nguyên tố có tính phóng xạ và hiện tượng phóng xạ đã mở ra một lĩnh vực hoàn toàn mới đối với hoạt động nghiên cứu khoa học (3) Năm 1897, Tômxơn khi nghiên cứu hiện tượng phóng điện trong chân không

đã phát hiện ra điện tử (hay còn gọi là electron) (4) Năm 1901, Kaufman đã chứng minh được khối lượng của điện tử không phải

là bất biến mà thay đổi theo vận tốc vận động của nguyên tử (5) Năm 1898 - 1902, sau Béccơren, hai vợ chồng nhà Curie là nữ vật lý học Ba Lan - Marie và Pierre - nhà hoá học người Pháp, đã tìm ra nguyên tố Pôlôni (Po)

và nguyên tố Rađium (Ra) là chất phóng xạ có tính phóng xạ mạnh hơn cả UraniNhững phát hiện vĩ đại này chứng tỏ rằng, nguyên tử không phải là phần tử nhỏ nhất mà nó có thể bị phân chia, chuyển hóa…do vậy không thể quy vật chất về nguyên tử Các phát minh khoa học đã đưa đến những biến đổi sâu sắc và là mộtbước tiến của loài người trong việc nhận thức về giới tự nhiên Vật chất với các thuộc tính của nó không phải là bất biến, tất cả không ngừng được sinh ra và không ngừng vận động, chuyển hoá từ dạng này sang dạng khác

Những phát hiện trên của khoa học tự nhiên đồng thời cũng đối lập gay gắt với những quan niệm của các nhà khoa học và triết học đứng trên lập trường duy vật

tự phát, siêu hình trước đây Gây ra một cuộc khủng hoảng về thế giới quan trong các nhà triết học và khoa học tự nhiên Khiến những nhà khoa học “giỏi khoa học nhưng kém cỏi về triết học” đã trượt từ chủ nghĩa duy vật máy móc, siêu hình sang chủ nghĩa tương đối hoài nghi và cuối cùng rơi vào quan điểm của chủ nghĩa duy tâm cho rằng “vật chất tiêu tan” Những phát hiện nói trên đã bác bỏ quan niệm về vật chất của chủ nghĩa duy vật thế kỷ XVII – XVIII Chủ nghĩa duy tâm đã lợi dụng tình hình đó để tuyên truyền quan điểm duy tâm: vật chất “tiêu tan”, vật chất “biến mất” Trước tình hình đó, V.I Lênin đã chỉ ra rằng

sự khủng hoảng thế giới quan chỉ có tính chất tạm thời, ông đã chỉ ra sai lầm củachủ nghĩa duy vật cũ là dùng cái riêng để nói về cái chung như dùng vật chất củavật lý học để quy định vật chất trong triết học Không phải vật chất tiêu tan mà

do nhận thức của con người có giới hạn nên chưa lý giải hết sự vận động và biến

Trang 8

đổi của thế giới khách quan Đồng thời, khẳng định chủ nghĩa duy vật là đúng đắn, bác bỏ quan điểm của chủ nghĩa duy tâm giúp giới khoa học tự nhiên thoát khỏi khủng hoảng và khắc phục những hạn chế của chủ nghĩa duy vật trước Mác

về vật chất

c, Quan niệm của triết học Mác – Lênin về vật chất:

C.Mác và Ph.Ăngghen đã đưa ra những tư tưởng rất quan trọng về vật chất:

“Vật chất, với tính cách là vật chất, là một sáng tạo thuần túy của tư duy, và là một trừu tượng thuần túy, không có sự tồn tại cảm tính” Tuy nhiên do những điều kiện chủ quan và khách quan, những tư tưởng đúng đắn về vật chất của C.Mác và Ph.Ăngghen chưa tiến tới một định nghĩa hoàn chỉnh

Kế thừa những tư tưởng thiên tài đó, V.I Lênin đã đưa ra định nghĩa toàn diện

nhất về vật chất Trong tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, V.I Lênin đưa ra định nghĩa vật chất như sau: “Vật chất là một phạm

trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác” Đây là một định nghĩa hoàn chỉnh về vật chất mà cho đến nay được các nhà khoa học hiện đại coi là một định nghĩa kinh điển Định nghĩa vật chất của V.I.Lênin bao hàm các nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, vật chất là thực tại khách quan – cái tồn tại hiện thực bên ngoài ý thức

và không lệ thuộc vào ý thức Đây chính là nội dung quan trọng nhất của quan niệm về vật chất Thuộc tính căn bản để phân biệt vật chất và ý thức là khách quan Không phải là khi con người ý thức được một cái gì đó thì nó là vật chất

mà vật chất là cái đã tồn tại một cách khách quan, như là trước khi các nhà vật

lý tìm ra các tia phóng xạ thì chúng đã tồn tại rồi

Thứ hai, vật chất là cái mà khi tác động vào các giác quan con người thì đem lại

cho con người cảm giác Nếu cái gì đó mà con người không thể cảm giác được thì nó không phải là vật chất, vật chất nó luôn tồn tại trước ý thức của con ngườinhưng con người luôn có thể cảm giác được nó

NHÀ NƯỚC VÀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI

Triết 1 100% (35)

11

Trang 9

Thứ ba, vật chất là cái mà ý thức chẳng qua chỉ là sự phản ảnh của nó Những

điều kiện vật chất cụ thể, hoàn cảnh cụ thể mà nó quyết định tới việc hình thành lên ý thức của con người

=> Vật chất có trước và quyết định ý thức -> con người có khả năng nhận thức được thế giới

d, Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất:

Phương thức tồn tại của vật chất là vận động nhờ có vận động mà người ta biết ,

vật chất tồn tại Vận động sinh ra ở bên trong sự vật “vận động tự thân”.Theo Ph.Ăngghen, vận động là mọi sự biến đổi nói chung, từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến sự phát triển của tư duy Căn cứ vào quá trình phát triển của thế giới vật chất, ông đã chia vận động thành 5 hình thức cơ bản: +Vận động cơ học: biến đổi vị trí -> nhìn thấy +Vận động vật lý: biến đổi điện, nhiệt, từ, -> có thể nhìn thấy hoặc không +Vận động hóa học: biến đổi các chất +Vận động sinh học: sự biến đổi, chuyển hóa của cơ thể sống +Vận động xã hội: sự biến đổi của các quan hệ xã hội,…-> là vận động đặc trưng cho con người Vận động và đứng im: đứng im là trạng thái đặc biệt của vận động, là vận động trong thế cân bằng và ổn định Đứng im là tương đối còn vận động là tuyệt đối =>Vận động là một thuộc tính cố hữu của vật chất

Không gian và thời gian: là hình thức tồn tại của vật chất + không gian: tồn tại ở một vị trí nhất định với những vật chất khác + thời gian: quá trình phát triển, biến đổi nhanh hay chậm, sự chuyển hóa kế tiếpnhau của sự vật, hiện tượng… Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về không gian và thời gian là cơ

sở lý luận khoa học để đấu tranh chống lại quan niệm duy tâm, siêu hình tách rờikhông gian và thời gian với vật chất vận động Quan niệm đó đòi hỏi phải quán

Trang 10

triệt nguyên tắc phương pháp luận tính lịch sử - cụ thể trong nhận thức và hoạt động thực tiễn.

đ, Tính thống nhất vật chất của thế giới:

Theo quan điểm của triết học Mác – Lênin, bản chất của thế giới là vật chất Thếgiới thống nhất ở tính vật chất của nó vì: -Chỉ có một thế giới duy nhất tồn tại là thế giới vật chất -Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn -Mọi sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất đều có mối liên hệ với nhau, khôngngừng vận động và phát triển

2 Ý thức:

Ý thức là một trong hai phạm trù cơ bản được các nhà triết học quan tâm nghiêncứu bên cạnh vật chất Ý thức là đời sống tinh thần của con người, là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người

a, Nguồn gốc của ý thức:

Chủ nghĩa duy tâm: bản chất của thế giới là ý thức, ý thức là nguyên thể đầu

tiên, tồn tại vĩnh viễn, ý thức là tính thứ nhất, chi phối sự tồn tại, biến đổi của toàn bộ thế giới vật chất

Chủ nghĩa duy vật trước C.Mác: phủ nhận tính chất phi tự nhiên của ý thức, coi

ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất đặc biệt, do vật chất sản sinh ra “vật chất tạo ra ý thức như gan tiết ra mật”

Chủ nghĩ duy vật biện chứng: C.Mác khẳng định quan điểm duy vật biện chứng

về ý thức: “ý niệm chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi ở trong đó”

=>Ý thức có nguồn gốc từ vật chất

*Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: là từ bộ não con người và thế giới khách quan

Bộ não người là dạng vật chất có tổ chức cao nhất trong giới tự nhiên, là dạng vật chất duy nhất có thể sinh ra ý thức -> ý thức chỉ có ở con người

Trang 11

Sự hình thành, tồn tại và phát triển của ý thức thông qua năng lực phản ánh của

bộ não người về hiện thực Bộ não người có khả năng phản ánh tích cực, sáng tạo (tiếp nhận thông tin có chủ định qua các giác quan, lưu giữ, xử lý, khái quát, hình thành tri thức, hình ảnh của thế giới khách quan)

Thế giới khách quan tác động vào bộ não người thông qua các giác quan, sinh rahình ảnh chủ quan trong bộ não con người -> là nguồn gốc, cơ sở hình thành thứhai sinh ra ý thức.Phản ánh là năng lực tái hiện và biến đổi bởi sự tác động giữa các sự vật, hiện tượng của thế giới, là đặc tính chung, phổ biến của mọi đối tượng vật chất Phản ánh là một quá trình như: cơ, lý hóa, sinh (phản ánh tâm, sinh lý của động vật cấp cao và sự chuyển hóa nó làm xuất hiện phản ánh tâm lý

và ý thức của con người)

=> Ý thức là hình thức phản ánh cao nhất

*Nguồn gốc xã hội của ý thức: là lao động và ngôn ngữ.

Lao động là hoạt động vật chất, là quá trình con người sử dụng công cụ lao độngtác động vào giới tự nhiên để tạo ra của cải, vật chất nhằm đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu của con người Nhờ có lao động mà cấu trúc cơ thể và bộ não người phát triển, nhờ đó mà con người phát hiện được thuộc tính của tự nhiên, từ đó hình thành ý thức cho mình

=>Lao động là yếu tố quan trọng nhất tạo nên ý thức

Trong quá trình lao động, con người nảy sinh nhu cầu truyền đạt kinh nghiệm vàgiao tiếp với nhau làm xuất hiện quan hệ giao tiếp xã hội -> hình thành ngôn ngữ… Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức Cùng với lao động, ngôn ngữ có vai trò to lớn đối với sự tồn tại và phát triển của ý thức Không có ngôn ngữ, ý thức không thể tồn tại và thể hiện Các hình thức của ngôn ngữ: ngôn ngữ thân thể (hành vi), tiếng nói, ký hiệu nói chung, chữ viết, ký hiệu khoa học…-> Ngôn ngữ là vỏ bọc vật chất của tư duy

=> Ý thức xuất hiện là kết quả của quá trình tiến hoá lâu đài của giới tự nhiên,

Trang 12

của lịch sử trái đất, đồng thời là kết quả trực tiếp của thực tiễn xã hội - lịch sử của con người Trong đó, nguồn gốc tự nhiên là điều kiện cần, còn nguồn gốc xãhội là điều kiện đủ để ý thức hình thành, tồn tại và phát triển.

b, Bản chất của ý thức:

Chủ nghĩa duy tâm: coi ý thức là một thực thể tồn tại độc lập, thực tại duy nhất,

coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải ý thức là sự phản ánh của vật chất

=>Cường điệu vai trò của ý thức một cách thái quá, trừu tượng tới mức thoát ly đời sống hiện thực

Chủ nghĩa duy vật siêu hình: coi ý thức cũng chỉ là một dạng vật chất, là sự

phản ánh một cách đơn giản, máy móc thế giới vật chất, không thấy tính năng động, sáng tạo của ý thức

=>Tầm thường hóa vai trò của ý thức

Chủ nghĩa duy vật biến chứng: vật chất và ý thức là hai hiện tượng chung nhất

của thế giới hiện thực, mặc dù khác nhau về bản chất, nhưng giữa chúng luôn cómối liên hệ biện chứng Do vậy, muốn hiểu đúng bản chất của ý thức cần xem xét nó trong mối quan hệ qua lại với vật chất, mà chủ yếu là đời sống hiện thực

có tính thực tiễn của con người

Bản chất của ý thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người một cách năng động, sáng tạo -Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, tức là thông qua lăng kính phản ảnh của mọi người mà thu được các hình ảnh khác nhau -Ý thức là sự phản ánh sáng tạo, phản ảnh là thuộc tính có ở mọi dạng vật chất nhưng phản ánh sáng tạo thì chỉ có ở ý thức con người Sáng tạo thể hiện ở chỗ

nó chỉ phản ánh các bản chất, các thông tin từ đó đưa ra được các dự báo hoặc các mô hình lý thuyết -Ý thức mang bản chất xã hội: sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn của xã hội con người, không những chịu tác động của các quy

Ngày đăng: 12/12/2023, 14:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ tư duy Triết chính th ứ c - (Tiểu luận) phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức  liên hệ vớicuộc chiến tranh thương mại giữa mỹ và trung quốc
Sơ đồ t ư duy Triết chính th ứ c (Trang 7)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w