80 TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC Phụ lục 1: Phiếu điều tra ổ bọ gậy nguồn véc tơ truyền SD/SXHD và tác nhân sinh học Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn kiến thức, thái độ, thực hành của cộng đồng t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ DÀO TẠO - BỘ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TÊ CÔNG CỘNG
NGUYỄN NHẬT CẢM
XÁC ĐỊNH Ổ BỌ GẬY NGUỒN CỦA VÉC Tơ
TRUYỂN BỆNH SỐT DENGUE/SỐT XUẤT HUYẾT DENGUE
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ỏ QUẬN ĐỐNG ĐA
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới:
Tiến sĩ Vũ Sinh Nam - Trưởng phòng thí nghiệm Côn trùng Viện Vệ sinh Dịch tễTiling ương, người thầy đã tận tình hướng dẫn, hết lòng tạo mọi điều kiện thuận lợi chotôi thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chan thành tới: Ban Giám hiộu, Phòng đào tạo, Banđiều phối, các khoa, phòng, các thầy cô giáo và cán bộ công nhân viên Trường Đại học
Y tế Công cộng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin cảm ơn Ban Giám đốc Trung tâm Y tế Dự phòng Hà Nội, Ban chủ nhiệm
và các đồng nghiệp khoa Dịch tễ, Trung tâm Y tế Dự phòng thành phố Hà Nội đã độngviên và tạo điều kiện cho tôi theo học khoá học này
Tôi xin chân thành cảm ơn: Trung tâm Y tế Quân Đống Đa, Đội y tê dự phòng,trạm y tế các phường: Thổ Quan, Văn Chương, Hàng Bột, Phương Liên - Quận Đống Đa
- Thành phô' Hà Nội, Ban chủ nhiệm, các anh, chị em khoa Sốt rét - Ba diệt TTYTDP
Hà Nội, đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian làm việc tạithực dịa
Tôi xin cảm ơn các học viên lớp Cao học Y tê' Công cộng khoá 3, Trường Đạihọc Y tế Công cộng, các bạn đồng nghiệp, gia đình, bạn bè và người thân đã động viên
và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
Hâ nội, ngày 10 tháng 9 năm 2001
Nguyễn Nhật Cảm
Trang 3CÁC CHỮ VIỂT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BI : Chỉ số Breteau (Breteau Index)
DEN-1 : Vi rút dengue tip 1
DEN-2 ; Vi rút dengue tip 2
DEN-3 : Vi rút dengue tip 3
DEN-4 : Vi rút dengue tip 4
KAP : Kiến thức, thái độ, thực hành (Knowledge
1T-GDSK ; Truyền thông giáo dục sức khoẻ
VVSDTTƯ : Viện vệ sinh dịch tễ trung ương
Trang 4MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỂ 1
PHẨN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tình hình SD/SXHD li ên Thế giời và Việt Nam 4
1.2 Dịch tễ học SD/SXHD 9
1.3 Giám sát dịch tễ học SD/SXHD 12
1.4 Phòng chống SD/SXHD 15
1.5 Một số nghiên cứu vồ (5 bọ gây nguồn ? 23
PHẦN 2 Đối TUỢNG VÀ PHUONG PHÁP NGHIÊN cúu 25
2.1 Đối tượng, thời gian và địa điổm nghiên cứu 25
2.2 Thiết kế nghiên cứu 29
2.3 Phương pháp chọn mãu 29
2.4 Nội dung nghiên cứu và phương pháp thu thập số liệu 32
2.5 Vấn đề đạo đức 32
2.6 Một số khó khăn trong nghiên cứu 32
2.7 Biện pháp khắc phục 33
PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN cúu f 34
3.1 Kết quả điều tra quần thể véc lơ truyền SD/SXHD và ổ bọ gây nguồn 34
3.1.1 Kết quả điều tra dụng cụ chứa nước 34
3.1.2 Đặc điểm dụng cụ chứa nước 35
3.1.3 Thành phẩn bọ gây trong DCCN 37
3.1.4 Kết quả điều tra ổ bọ gây nguồn 40
3.1.5 So sánh tỉ lệ DCCN, lí lệ nhiễm, vàti' lệ TTBG Ae aegypti
42 3.1.6 Kết quả điều tra các chỉ số muỗi vàbọ gậy Aedes 43
3.1.7 Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy và nhà có muỗi Ae aegypíi 45 3.2 Kết quả điều tra kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về 3.2.1 D 46
3.2.2 Thông tin chung 46
3.2.3 Kiến thức,thái độ, thực hành của người dân về phòng chống SD/SXHD 48
3.2.4 Kiến thức, Ihái độ, thực hành và một số yếu 1(5 liên quan 55
Trang 53.3 Một số đặc điểm của các hộ gia đình 57
3.3.1 Đặc điểm nhân khẩu học 57
3.3.2 Đặc điểm nhà ở 58
3.3.3 Tình trạng vệ sinh 58
3.3.4 Mối liên quan giữa loại nhà và lình trạng vệ sinh 60
3.3.5 Tình hình cung cấp nước và sử dụng nước sạch tại hộ gia đình 61 3.4 Một số yếu lố liên quan lói quần thổ véc lơ truyền SD/SXIỈD 62
3.4.1 Mối liên quan giữa kiến thức, thực hành với nhà có bọ gậy 62
3.4.2 Mối liên quan giữa kiến thức, thực hành vời nhà có muỗi 63
3.4.3 Mối liên quan giữa tình trạng vệ sinh với nhà có bọ gậy 64
3.4.4 Mối liên quan giữa tình trạng vệ sinh với nhà có muỗi 65
PHẦN 4 BÀN LUẬN 66
4.1 Kết quả điều tra quần thể véc tơ huyền SD/SXHD và ổ bọ gây nguồn 66
4.2 Kết quả điều tra kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về SD/SXHD 71
4.3 Một số yếu lố liên quan tới quần thể véc tơ truyền SD/SXHD 75
KẾT LUẬN 78
KHUYẾN NGHỊ 1 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Phiếu điều tra ổ bọ gậy nguồn véc tơ truyền SD/SXHD và tác nhân sinh
học
Phụ lục 2: Phiếu phỏng vấn kiến thức, thái độ, thực hành của cộng đồng trong phòng
chống SD/SXHD
Phụ lục 3: Bảng kiểm vệ sinh và tình hình sử dụng nước sạch tại hộ gia đình
Phụ lục 4: 6 bảng chọn người phóng vấn trong hộ gia dinh
Phụ lục 5: Dân số quân Đống Da
Trang 6A DANH SÁCH CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1: Tỉ lệ mắc và chốt do SD/SXHD ở Việt Nam, 1994- 1999 8
Bảng 3.1: Phân bố các chủng loại dụng cụ chứa nước tại Đống Đa - Hà Nội, 2001 34
Bảng 3.2: Đặc điểm dụng cụ chứa nước 35
Bảng 3.3: Liên quan giữa DCCN có nắp, có cá với có bọ gây Aedes 36 Bảng 3.4: Phân bố bọ gây trong các chủng loại DCCN 38
Bảng 3.5: Kết quả điều tra ổ bọ gậy nguồn : 40
Bảng 3.6: Các chỉ số bọ gây Acdcs 43
Bảng 3.7: Chỉ số nhà, chỉ số mật độ 43
Bảng 3.8: Tỉ lệ nhà và DCCN có cá 44
Bảng 3.9: Mối liên quan giữa nhà có bọ gây và nhà có muỗi Ae.aegỵpli 45 Bảng 3.10: Phân bố đối lượng nghiên cứu theo tuổi, giới, nghề nghiệp 46
Bảng 3.11: Phân bố đối tượng theo trình độ học vấn 47
Bảng 3.12: Nghe về bệnh SD/SXHD 48
Bảng 3.13: Hiểu biết của người dân về bệnh SD/SXHD 49
Bảng 3.14: Tỉ lệ áp dụng những biện pháp phòng chống véc tơ 50
Bảng 3.15: So sánh lí lệ có áp dụng và áp dụng đúng cách của từng biên pháp phòng chống véc lơ 51
Bảng 3.16: Biện pháp pháp phòng chống véc tơ được lựa chọn và lý do lựa chọn 52
Bảng 3.17: Tin lưởng và làm Iheo chỉ dẫn trong phòng chống SD/SXHD 53
Bảng 3.18: Nhân thức và thực hành của người dân về bệnh SD/SXHD 54
Bảng 3.19: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành phòng chống SD/SXHD- 55
Bảng 3.20: Mối liên quan giữa giới và kiến thức phòng chống SĐ/SXHD 56
Bảng 3.21: Mối liên quan giữa giời và tliực hành phòng chống SD/SXHD 56
Bảng 3.22: Đặc điểm nhân khẩu học ; 57
Bảng 3.23: Đặc điểm nhà ờ 58
Bảng 3.24: Tình trạng vệ sinh trong gia đình 58
Trang 7Bảng 3.25: Tình trạng vệ sinh ngoại cảnh 59
Bảng 3.26: Mối liên quan giữa vệ sinh trong gia đình và ngoại cảnh 59
Bảng 3.27: Mối liên quan giữa loại nhà và vệ sinh ngoại cảnh 60
Bảng 3.28: Mối liên quan giữa loại nhà và vệ sinh ngoại cảnh 60
Bảng 3.29: Tinh hình cung cấp và sử dụng nước sạch tại hộ gia đình 61
Bảng 3.30: Mối liên quan giữa kiến thức, thực hành và nhà có bọ gây 62
Bảng 3.31: Mối liên quan giữa kiến thức, thực hành và nhà có muỗi 63
Bảng 3.32: Mối liên quan giữa vệ sinh trong gia đình và nhà có bọ gậy 64
Bảng 3.33: Mối liên quan giữa vệ sinh ngoại cảnh và nhà có bọ gây 64
Bảng 3.34: Mối liên quan giữa vệ sinh trong gia đình và nhà có muỗi 65
Bảng 3.35: Mối liên quan giữa vệ sinh ngoại cảnh và nhà có muỗi 65
B DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình 2.1: Sơ đồ chọn hộ gia đình đổ điều tra 31 Hình 3.1: Thành phần bọ gây trong DCCN 37
Hình 3.2: Phân bố loại bọ gây Aedes trong DCCN 37
Hình 3.3: Tập trung bọ gậy Aedes trong các chủng loại DCCN 39
Hình 3.4: Ô bọ gây nguồn Ae aegyptì tại quận Đống Đa 41
Hình 3.5: ổ bọ gậy nguồn Ae alhơpiclus tại quận Đống Đa 4*
Hình 3.6: So sánh tỉ lệ DCCN, tỉ lộ nhiễm BG Ae.aegypti và tỉ lê TTBG 42
Hình 3.7: Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy và nhà có muỗi Ae.aegypti 43 Hình 3.8: Phân bố đối tượng theo trình độ học vấn 47
Hình 3.9: Nguồn thông tin 48
Hình 3.10: Tỉ lệ áp dụng những biện pháp phòng chống VCC tợ 50
Hình 3.11: So sánh tỉ lệ có áp dụng và áp dụng đúng cách của từng biện pháp phòng chống véc tơ 51
Hình 3.12: Lý do lựa chọn biện pháp phòng chống SD/SXHD 52
Hình 3.13: Tin tưởng và làm theo chỉ dẫn trong phòng chống SD/SXHD 53
Hình 3.14: Mối liên quan giữa kiến íhức và thực hành về SD/SXHD 54
Hình 3.15: Mối liên quan giữa thực hành về SD/SXHĐ và nhà CÓ muỗi 63
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỂ
Sốt dengue/Sốt xuất huyết dengue (SD/SXHD) là bệnh nhiễm vi rút cấp tính, gâydịch do muỗi truyền Trong những năm gần đây, SD/SXHD đã trở nên trầm trọng hơnbởi phân bố địa lý rộng rãi cả về vi rút gây bệnh và véc tơ truyền bệnh Tần suất các vụdịch ngày càng gia tăng, với sự xuất hiện của nhiều tip vi rút dengue cùng lưu hành vàxuất hiện những trường hợp SD/SXHD trong các vùng địa lý mới Hiện nay bệnh đanglưu hành trên 100 nước, trong đó có khoảng 2,5 tỷ người có nguy cơ mắc bệnh Mỗi năm
có khoảng 100 triệu trường hợp mắc Sốt dengue, 500.000 trường hợp Sốt xuất huyếtdengue cần nhập viện trong đó 90% là trẻ em dưới 15 tuổi Tỷ lệ lử vong trung bình doSXHD là 5% Trong 20 năm 1980 - 1999 số mắc đã tăng lên gần gfl'p 5 lần so với 30năm trước [57] Hiện nay bệnh xảy ra ở nhiều vùng thành thị Đông Nam châu Á và trởthành một trong những nguyên nhân chính nhập viện, và gây tử vong cho trẻ em vùngchâu Á nhiệt đới [44]
Vụ dịch SD/SXHD đầu tiên xảy ra ở Việt Nam vào năm 1958 được Chu VãnTường và Mihow thông báo vào năm 1959, sau đó trở thành dịch lưu hành địa phương[7] Dịch SD/SXHD bùng nổ theo chu kỳ với khoảng cách trung bình 4-5 năm; vụ dịchlớn nhất mới xảy ra năm 1998 ở 56/61 tỉnh, thành phố với 234.920 trường hợp mắc, 377trường hợp lử vong Theo thông báo mói nhất của Tổ chức y tế thế giới khu vực TâyThái Bình Dương [58], ở Việt Nam trong năm 2000 có 24.166 trường hợp mắc, 52trường hợp tử vong, nhưng 6 tháng đầu năm 2001 số trường hợp mắc và tử vong lănggấp hơn hai làn số trường hợp mắc và chết so cùng kỳ năm 2000
Bệnh SD/SXHD hiện nay chua có vắc xin để phòng bệnh và cũng không có thuốcđiều trị đặc hiệu, vì vậy chi có thể làm giảm lây truyền bệnh bằng phòng chống véc tơ
truyền bệnh mà chủ yếu là muỗi Ae ơegỵpti.
Trang 9Việc giám sát thường xuyên sự biến dộng quổn thể của véc tơ truyền bệnh và nơisinh sản của chúng có ý nghĩa quan trọng để dề xuất biện pháp phòng chống chủ độngthích hợp Tuy nhiên, những chỉ số đánh giá thường dùng như mật độ muỗi trưởngthành, chí sơ Brcteau, chỉ số dụng cự chứa nước có bọ gây chưa đủ để xác định nơi lậptrung bọ gậy tại thực địa
Một phương pháp mói “xác dinh ổ bọ gây nguồn” được áp dụng nhằm hướng cácbiện phấp phòng chống véc tơ đúng và hiệu quả Phương pháp này dựa vào kết quả đếm
toàn bộ số lượng bọ gây Aedes trong các chủng loại dụng cụ chứa nước khác nhau, đổ xác định nguồn cung cấp muỗi Aedes chủ yếu trong khu vực, theo mùa trong năm hoặc
theo từng giai đoạn nhằm điều chỉnh và bổ sung các biện pháp tuyên truyền và phòngchống véc tơ thích hợp [18]
Bệnh Sôì dengue/Sốt xuất huyết dengue ở Hà Nội được phát hiện lần đầu tiên vàonăm 1959, sau đó trở thành dịch lưu hành địa phương Có những năm dịch bùng nổ với
số mắc và chết cao như năm 1987 có 2123 người mắc, chết 37 Đặc biệt năm 1998 dịchbùng nổ tại 12/12 quân (huyện) và 141/228 xã (phường) với số mắc lên tới 3382 trườnghợp, trong dó 4 trường hợp tử vong Dịch SD/SXHD đã ảnh hường xấu đến sức khoe củangười dăn cũng như tình hình an ninh dịch bệnh trên dịa bàn Thủ đô
Đống Đa là một trong những điểm nóng về SD/SXHD của Hà Nội Trong 3 năm1998-2000 quận Đống Đa có số mắc và chết do SD/SXHD luôn cao hơn số mắc trungbình của toàn thành phố Vụ dịch nãm 1998 tỷ lệ mắc toàn thành phố là 135/100.000 díìnthì quận Đống Đa là 299/100.000 dân, cao gâ'p 2,2 lần, có 1 ca lử vong tiên tổng số 4 ca.Năm 1999 và năm 2000 tỷ lộ mắc cũng luôn cao hơn tỷ lệ mắc trung bình của toàn thànhphố [9], |20|
Trong những năm gần dây trên địa bàn Hà Nội, chưa có nhiều nghiên cứu về “Ổ bọgây nguồn” cũng như lìm hiểu các yếu 1(5 liên quan tới quần thể véc tơ truyền bệnh SD/SXHD Nhằm điều chỉnh, bổ sung các biên pháp tuyên truyền cho phù hợp, cũng nhưđánh giá khách quan hoạt động phòng chống véc tơ truyền bệnh SD/SXI ID
Trang 10Với những lý do tiên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu:
Xác định ổ bọ gậy nguồn của véc tơ truyền bệnh SD/SXIID và một sô yếu tô liên quan ở quận Đống Đa, Hà Nội với mục tiêu cụ thể sau:
1 Xác định ổ bọ gậy nguồn cua véc tơ truyền bệnh SD/SXHD
2 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của người dân về phòng chống
SD/SXHD
3 Xác định mối liên quan giữa quẩn thể véc tơ truyền bệnh với một sớ yếu tố
có liên quan và kiến thức, thái độ, thực hành của người dân trong phòng chống
SD/SXHD
Trên cơ sở đó khuyến nghị các biện pháp phòng chống cụ thể, thích hợp cho thực địa nghiên cứu
Trang 11Phần 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình hình SD/SXHD trên thê giới và Việt Nam
1.1.1 Tình hình SD/SXHD trên thê giới
Những vụ dịch SD/SXHD lớn gẩn đây xảy ra ở năm trong sáu khu vực ỉàthành viên của TCYTTG, chỉ trừ khu vực châu Âu Tuy vậy một số nước trong khuvực này đã có một sô' lượng đáng kể các trường hợp SD/SXHD từ các nước khác đến.Tổng sô dân trên toàn cầu có nguy cơ mắc bệnh ước tính vào khoảng từ 2,5-3 tỷngười, phần lớn trong sô' này sống ở khu vực có khí hâu nhiệt đới và cận nhiệt đời.Mặc dù trước kia SD/SXHD được cho là bệnh chỉ xuất hiện ở khu vực đô thị, nhưngngày nay, bệnh đã trở nôn phổ biên ở khu vực nông thôn các nước Đông Nam Á.Hàng năm, ước tính có ít nhất 100 triệu người mắc Sốt dengue và 500.000 trường hợpSốt xuất huyết dengue cẩn phải nhập viện Trong số trường hợp SXHD, thì 90% là trẻ
em dưới 15 tuổi Tỷ lệ tử vong trưng bình do SXHD là 5%, số tử vong là 25.000trường hợp mỗi năm Từ năm 1975 đên nãm 1995, SD/SXHD xảy ra ở 102 nước,trong đó có 20 nước châu Phi, 42 nước châu Mỹ, 7 nước Đông Nam Á, 4 nước phíaĐông Địa Trung Hải và 29 nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương Hiện nay,những khu vực có khí hậu nhiệt đới đều là những vùng có nguy cơ bị dịch cao với tất
cả 4 tip vi rút lưu hành, đó là các khu vực châu Mỹ, châu Á, Tây Thái Bình Dương vàchâu Phi ở phía bắc Queensland (úc), có 3 tip vi rút là DEN-1, DEN-2 và DEN-3, ởTrung Đông có 2 tip là DEN-1 và DEN-2 [57]
1.1.2 Tình hình SD/SXHD ở Đông Nam Chân Á và Tây Thái Bình Dương
Trong hai thập kỷ qua, SD/SXHD đã xảy ra ở 33 nước trong lổng sô 37 nướccủa khu vực Tây Thái Bình Dương Hàng năm, có khoảng 15 nước và vùng thông báo
số mắc của bệnh cho TCYTTG Trong những năm 1991-1999, có tới 1.226.390trường hợp mắc bệnh trong khu vực [ 181
Trang 12Dạng SXHD lổn đầu tiên đưực mô tả như một bệnh mới ở Philippin năm 1953
và ở Thái Lan năm 1958 Những vụ dịch này đã gây nên sự hoang mang lo sợ vì tínhchất mới lạ và trầm trọng của nó Sự bí ẩn đó liên quan đến tác nhân gây bệnh đãđược giải quyêì khi tip vi rút DEN-2, 3 và 4 được phân lập ở Philippin năm 1956 và virút DEN-1 ở Thái Lan năm 1958 Giữa những năm 1953 và 1964, SD/SXHD được
mô tả ử Ấn Độ, Malaysia, Philippine, Singapore, Thái Lan và ở Việt Nam SD/SXHD
đã trở thành dịch lưu hành ở Thái Lan và Philippine Có sự lăng rõ rệt số bệnh nhânmắc SD/SXHD trong những năm từ 1971 đến 1978 ở nhiều nước khác nhau thuộcĐông Nam Châu Á, Tây Thái Bình Dương Trong giai đoạn 1975 - 1978, số bệnhnhân mắc SD/SXHD phải vào viện là 17.251, chết 772 ở Miến Điện, 21.818, chết 916
ở Indonesia, và 71.312, chết 1.676 ở Thái Lan Ớ vùng Tây Thái Bình Dương,TCYTTG đã nhận được báo cáo về lình hình SD/SXHD năm 1975 từ các nướcMalaysia, Philippine, Singapore, năm 1976 tờ Việt Nam và năm 1979 từ các nướcNam Á và Thái Bình Dương Năm 1978, một vụ dịch SD/SXHD lớn xảy ra ở miềnNam Trung Quốc do vi rút DEN-4 gây ra cớ 22.122 bệnh nhân (chết 14) Năm 1979 -
1980, dịch xảy ra ở Nam Thái Bình Dương và Niu-Ghi-nê (dân số 3.000 người) với
616 bệnh nhân, chết 4 Năm 1982, Malaysia thông báo dịch SD/SXHD dơ vi rútDEN-1, 2 và 3 gây ra với 3.005 bệnh nhân, chết 53 Dịch xảy ra ở đảo Sôlômôn năm
1982 do vi rút DEN-3, ở Bắc Queensland (Úc) năm 1981 - 1982 do vi rút DEN-1, 2
và 3 với lổng số 455 bệnh nhân Kể tữ đó SD/SXHD ngày càng trở nên trầm trọng 'ởhâu hết các nước Đông Nam Châu Á và Tây Thái Bình Dương Theo thống kê chưađầy đủ của TCYTTG, ở một sô' nước Đông Nam Châu Á và Tây Thái Bình Dương từ
1960 đến 1993 sô' mắc đã lên tới 2.900.595, trong đó có 39.143 người chết [55]
1.1.3 Bệnh SD/SXIID ở Việt Nam
Vụ dịch SD/SXHD đầu tiên ở Việt Nam vào năm 1958 được Chu Văn Tường
và Mihow thông báo vào năm 1959 [7], ở miền Nam, dịch SD/SXHD được mô tả lầnđầu tiên vào năm 1960 với 60 bệnh nhi tử vong (Đỏ Quang Hà, 1992) [5]
Trang 13Tháng 8 năm 1963, dịch SD/SXHD xảy ra ử Cái Bè, Châu Đốc, Hồng Ngự,Tân Châu và Cao Lãnh với lổng số bệnh nhân được thông bấo là 331, trong đó có 116trẻ em tử vong Trong vụ dịch này Halstead và cộng sự đã phân lập được vi rút DEN-
2 Tiếp sau đó, vụ dịch SD/SXHD lớn dã xảy ra ở 19 tỉnh, thành phố miền Bắc năm
1969 Từ năm 1970 đến năm 1974, dịch xảy ra lẻ tẻ ở một số điểm trong nội thành HàNội với số bệnh nhân từ vài chục tới hàng trăm trường hợp phải vào diều trị lại cácbệnh viện, Trong thời gian đó dịch cũng lan ra các thành phố, thị xã, thị trấn và cảvùng nông thôn
Trong 5 năm gẩn đây, số mắc trung bình mỗi năm được thông báo là 108.413
và chết là 234 Không những thế, vời những thay đổi về kinh tế, xã hội và môi trườngsống, ờ nhiều nơi số mắc bênh có chiều hướng lăng lên nhất là ở miền Trung và miềnNam (bảng 1.1)
Bệnh SD/SXHD lưu hành rộng rãi ở vùng châu thổ sông Hồng (miền Bắc),sồng Cửu Long (miền Nam) và dọc theo bờ biển miền Trung Bệnh không chỉ xuấthiện ở đô thị mà cả vùng nông thôn, nơi có véc tơ truyền bệnh [19] Trong những nămgần dây chỉ số mắc bệnh cao nhất được thông báo ở các tỉnh Đồng bằng sông CứuLong và các tỉnh ven biển miền Trung Tuy nhiên những số liệu mời đây đã chí rarằng bệnh đã lan đến vùng cao nguyên Trung Bộ, nơi đang phát triển đô thị mới vớiđiều kiện cung cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường kém Ở các lỉnh đồng bằngsông Hồng, sự lan truyền của bệnh bị hạn chế trong những tháng đông xuân; trongthời kỳ này chỉ số mắc bệnh tương đối thấp Dịch SD/SXHD bùng nổ theo chu kỳ vớikhoảng cách trung bình lừ 4-5 năm và vụ dịch lớn nhất mới xảy ra năm 1998 có sốmắc và chết cao (mắc 234.920, chết 377) Ớ những nơi khác, nếu có bệnh đưực cơinhư là kết quả của sự xâm nhập vi rút dengue từ vùng có bệnh dịch lưu hành tới Mức
độ lan rộng của SD/SXHD tuỳ thuộc vào sự phát triển giao thông và sự giao lưu củadân cư giữa các vùng Ớ những vùng núi xa xôi, hẻo lánh, cao nguyên biên giới phíaBắc, không thấy bệnh xuất hiên, kể cả những năm có dịch lớn
Trang 14Bệnh SD/SXHD ử Việt Nam phát triển theo mùa và có sự khác biệt giữa miềnBắc và miền Nam Ở miền Bắc thuộc vùng khí hậu á nhiệt đới, bệnh thường xảy ra lừtháng 4 đến tháng 11, những tháng khác bệnh ít xảy ra vì thời tiết lạnh, ít mưa, khôngthích hợp cho sự sinh sản và hoạt động của Aedes aegypti Bệnh phát triển nhiều hơn
từ tháng 6 đến tháng 10 và đỉnh cao vào tháng 7, 8, 9 và 10 ở miền Nam và namTrung bộ, bệnh SD/SXHD xuất hiện trong suốt năm với sớ mắc nhiều hơn vào từtháng 4 đến tháng 11, đỉnh cao cũng vào những tháng 7, 8, 9, 10, 119], [36], [451,[50],
Tuổi mắc bệnh cũng có sự khác biệt giữa các miền liên quan đến mức độ lưuhành cao hay thấp của các vùng Ở miền Nam, nơi có bệnh lưu hành rất cao thì lứatuổi mắc bệnh phần lờn là trẻ em Ở miền Bắc, nơi có bệnh lưu hành thấp hơn thìbệnh gặp ở mọi lứa tuổi Nhóm trẻ dưới 15 tuổi bị mắc bệnh ở miền Bắc chiếm 20%,miền trung 64,6%, Tây Nguyên 62,3% và miền Nam 95,7% Tuy vậy, ở miền Nam sốbệnh nhân ử nhóm tuổi trên 15 cũng có chiều hướng tăng hơn cùng với sự xuất hiện virút DEN-3 được phân lập nhiều hơn trong các vụ dịch năm 1997, 1998 và sự xuất hiệntrở lại vi rút DEN-4 năm 1998 [19],
Tại Hà Nội bệnh SD/SXHD phát hiện lổn đầu tiên năm 1959, sau đó trở thànhdịch lưu hành địa phương, có những năm bùng phát thành dịch lớn như năm 1987 có
2123 người mắc, trong đó có 37 người chết Hàng năm tỷ lệ mắc trung bình trên100.000 dân dao động lừ 1,39 đến 36,96, l iêng năm 1998 dịch bùng nổ tại 12/12 quân(huyện), 141/228 xã (phường) với tỷ lệ mắc lên tới 135/100.000 dân, số mắc là 3382trường hợp cao gấp 1,5 lần số mắc của 10 năm về trước [9]
Như vậy, SD/SXHD rõ ràng là một trong những vấn đề y tế quan trọng liênquan tới sức khoẻ và hoạt động đời sống của người dân Việt Nam hiện nay, nhất làtrong điều kiện phát triển không ngừng của quá trình đô thị hóa và gia tăng giao lưucủa con người
Trang 15Bảng 1.1: Tỷ lệ mắc và chết do SD/SXHD ở Việt Nam, 1994 - 1999
(tính trên 100.000 dân)(nguồn: Chương trình mục tiêu Quốc gia phòng chống SD/SXI ID)
Trang 164 thì tác nhân gây ra các vụ dịch SD/SXHD mới được hiểu rõ Vi rút dengue thuộc họTogaviridae, nhóm Flavivirut là nhóm bao gồm các vi rút gây bệnh cho động vật và
do côn trùng truyền Vi rút dengue có 3 ổ chứa là người, muỗi và một số động vậtthuộc nhóm linh liirởng như vượn, hắc linh tinh Như vây một số loài động vật linhtrưởng và muỗi hợp lại thành chu kỳ nhiễm vi rút dengue trong tự nhiên
1.2.2 Nguồn bệnh
Người là vật chủ duy nhất vói sự nhiễm vi rút rất đa dạng, từ nhiễm thể ẩnkhông có triệu chứng đến có biểu hiện lâm sàng nhẹ hoặc tình trạng xuất huyết nặng,sốc và có thể lử vong
Khả năng truyền vi rút sang người lành được thực hiện khi muỗi hút máu bệnhnhân ở giai đoạn nhiễm vi rút huyết (lừ 6-18 giờ Irước, đến khoảng 5 ngày sau khibệnh khởi phát) Như vây bệnh nhân là nguồn lây ngay trước thời kỳ sốt cho đến cuốigiai đoạn sốt, trung bình 6-7 ngày 1491
Muỗi Aecles có thể bị nhiễm vi rút sau khi đốt bệnh nhân ở giai đoạn nhiễm vi
rút huyêì càn có thời gian để vi rút nhân lên trong cơ thể muỗi, thời gian này dài hayngắn phụ thuộc vào nhiệt độ của môi trường Ớ nhiệt độ 22°c, sau 8-12 ngày (trungbình 9 ngày) là muỗi có thô’ truyền bệnh Nếu nhiệt độ bên ngoài thấp hơn I6"c, vi rútkhông nhân lên được trong cơ thể muỗi Muỗi cái nhiễm vi rút có thổ truyền bệnhsuốt đời [55]
Trang 17Vi rút dengue di chuyển từ vùng này sang vùng khác chủ yếu do sự giao lưu củangười nhiễm vi rút, đặc biệl là trẻ em Bên cạnh bệnh nhân (nhất là bệnh nhân nhẹ),những người nhiễm vi rút nhưng không có biểu hiện lâm sàng cũng là một nguồn lâybệnh đáng chú ý [33]
rút dengue trong các vụ dịch SD/SXHD đã xảy ra [6], [11], [13]
Để phòng chống có hiệu quả SD/SXHD cũng như các bệnh khác do muỗi
Aedes aegỵpíi truyền, những hiểu biết đẩy đủ về sinh học, sinh thái loài muỗi này
đóng một vai trò rất quan trọng
Muỗi Aedes aegypli có vòng dời biến thái hoàn toàn với ấu trùng sống trong
nước, chu kỳ phát triển gồm 4 giai đoạn: trứng, bọ gậy, quãng và muỗi trưởng thành,trong đó chỉ có giai đoạn trưởng thành liên quan trực tiếp vời việc truyền bệnh Thờigian trung bình từ trứng đến muỗi trưởng thành trong điều kiện phồng thí nghiệm là
8,35 ± 0,2 ngày, dài nhất 10 ngày, ngắn nhất là 7 ngày [11] Ở 25°c, phôi Aeđes
aegypli phát triển 2 lần nhanh hơn ở 20°C Kết quả nghiên cứu của Finlay và Reed
(Christophers, I960, trích dẫn) cho thấy trứng muỗi Aedes aegypli có sức chịu dựng
cao đối vớỉ sự khô hạn, có tới 67% ấu trùng nở từ trứng để trong điều kiện khô 3tháng Tương tự, Trips, 1967 [53] ghi nhân 7 - 40% trứng Aedes aegypli có thể sống
sót sau 120 ngày ở điều kiện khô hạn
Trang 18ỉ I
Muỗi trưởng thành có mầu đen hoặc nâu đen với nhiều đốm trắng bạc ở thân
và chân Những đốm này lạo thành hình đàn ở mặt í ưng Bụng, chân có các vẩy trắng
và đốt cuối cùng hoàn toàn trắng (Kettle, 1995) [38] Muỗi cái trưởng thành (Aedes
aegypti) có thể giao phối trong không gian hẹp, hút máu người hoặc động vật (nhưng
thích hút máu người hơn và thường hút máu mạnh nhất vào lúc sáng sớm và chập tối).Muỗi cái trú đậu chủ yếu trong nhà Í99,6% ở thành phố, 96,9% ở nông thôn) Muỗi ưanơi kín gió, trú đâu ở cả * , ■
nơi tối và sáng Trong số các gia đình có muỗi, 39,4% ở nông thôn và 3 9% ở thànhphố có ổ bọ gậy Aedes aegypỉi Như vây có thể thây mỗi gia đình có ổ bọ gây Aedes
aegypti có thể cung cấp muỗi trưởng thành cho chính gia đình họ và ít nhất một giađình hàng xóm [111 Muỗi Aedes aegypti đâu nghỉ trên các giá thể có chất liệu bằngvải là chú yếu như quần áo, chăn, màn (68-71 %), ngoài ra còn có thể trú đậu trên các
đồ vật bằng gỗ, dây phơi, chỉ có 1,2-3,8% đâu nghỉ trên tường Chính vì vây biệnpháp phun hoá chất tồn lưu trên tường để diệt Aedes aegypti trong các vụ dịch đãkhông được áp dụng vì rất ít hiệu quả Trứng muỗi rời rạc nhưng được đẻ thành đámbám vào thành ẩm của các dụng cụ chứa nước Trứng có mầu đen, cỏ nắp và có khảnăng vượt hạn Muỗi Aedes aegypli mỗi lần đẻ trung bình 78,6% ± 10,6 trứng, nhiềunhất 163 và ít nhất 16 trứng Tỉ lệ sông sót trung bình của muỗi Aedes aegypti từtrứng đến muỗi trưởng thành là 59,7%, ờ diều kiện nhiệt độ 28°c, độ ẩm 80 - 87%[11]
Bọ gây thường được tìm thấy trong các dung cu chứa nước sinh hoạt của conngười như chum vại, bể xây, giếng ngoài ra là các dụng cụ phế thải, lọ hoa, bể cảnh
Ở Thái Lan đã ghi nhận có 25 loại dụng cụ chứa nước khác nhau mà Aedes aegypti và
Aedes albopictus có thể đẻ trứng [39], Năm 1986, TCYTTG đã đưa ra 17 chủng loạidung cụ chứa nước có thể là nơi đẻ của Aedes aegypli, trong đó bình cảnh chiếm tỷ lệcao nhất (23,0%), tiếp theo là vại sành (21,3%), phuy (12,5%), bây kiến (Ị 1,2%)
Trang 19Ở Việt Nam ổ bọ gây của Aedes aegypíi cũng rất phong phú, có nhiều chủng
loai dụng cụ chứa nước và cũng tuỳ theo từng vùng mà ổ bọ gậy nguồn có thể khácnhau O miền Bắc có thể xếp thành 5 loại chính là bể xây, phuy sắt, chum vại sành, xôchâu và các đồ phê' thải Mật độ tập trung bọ gạy cao nhất ở thành thị là bể xây(64,5%), tiếp theo là phuy (22,6%), chum vại (7,6%), phế thải (4,5%), xô tôn (0,83%),
ở nông thôn số bọ gậy tập trung trong bể xây là 50,5%, chum vại 29,3%, phuy 11,4%,
phế thải 8,6% và xồ tôn 0,27% [11] Xớc định ổ bọ gậy nguồn là cơ sở cho việc để
xuất hiện pháp thích hợp, cụ thể cho tùng vững, tùng địa phương trong các hoàn cảnh
1.3 Giám sát dịch tễ học SD/SXH1)
Giám sát dịch tễ học SD/SXHD nói l iêng, giám sát sức khoẻ công cộng nóichung là việc thu thập một cách có hệ thống liên tục, phân tích, giải thích, và phânphát những dữ liệu sức khoẻ Các tổ chức y tế công cộng sử dụng dữ liệu giám sát dổ
mô tả và theo dõi những sự kiện sức khoẻ trong quyền hạn của mình, đặt ưu tiên, vàgiúp cho việc lập kế hoạch, thực hiện, đánh giá những can thiệp và chương trình y tếcông cộng [22]
Tổ chức y tê' thế giời (1999), ị57] hướng dẫn giám sát dịch tễ học SD/SXHDbao gồm - Giám sát bệnh nhân (ca bệnh) và
- Giám sát côn trùng (véc tơ)
Trang 201.3.1 Giám sát bệnh nhân
Giám sát có hiệu quả nhiễm SD/vSXIĩD là cồn thiết để theo dõi sự lan truyềndịch và phát hiện dịch sớm Điều này phụ thuộc vào sự phối hợp chật chẽ giữa các bộphận dịch tễ, lâm sàng và phòng xét nghiệm cũng như hệ thống báo cáo hiệu quả
Giám sát thụ động:
Các quốc gia có SD/SXHD lưu hành địa phương cần có hệ thống giám sát và cónhững điều luật quy định SD/SXHD là bệnh bắt buộc báo cáo Hệ thống giám sát phảidựa vào định nghĩa ca bệnh chuẩn, và các mẫu báo cáo bắt buộc Mặc dù hệ thốnggiám sát thụ động không nhạy và ít đặc hiệu do ca bệnh không được chẩn đoán xácđịnh bằng xét nghiêm huyết thanh học nhưng vẫn giúp ích cho việc theo dõi xu hướngSD/SXHD trong khoảng thời gian dài [57]
Giám sát chủ động:
Mục đích của hệ thống giám sát chủ động là giúp cán bộ y tế theo dõi sự lâytruyền SD/SXHD ở một cộng đồng, có thể chỉ ra thời điểm, nơi xảy ra dịch, tip vi rútđang lưu hành, bệnh cảnh lâm sàng Để thực hiện điều đó, cần phải có hệ thống giámsát chủ động và phối hợp tốt với chẩn đoán phòng thí nghiêm Nếu hoạt động hiệu quả
hệ thống giám sát chủ động có thể phát hiện sớm khả năng lây lan của dịch và có thểngăn chặn dịch xảy ra [57],
1.3.2 Giám sát véc tơ
Giám sát muỗi Ae aegypíi rất quan trọng nhằm xác định sự phân bố, mật độ
quần thể muỗi, ổ bọ gây chủ yếu, các yếu tố không gian và thời gian liên quan đến lâytruyền dengue, mức độ nhạy cảm hay kháng với hoá chất diệt côn trùng, từ đó xácđịnh ưu tiên khu vực và mùa trong phòng chống véc tơ Các số liệu giám sát sẽ giúpcho việc lựa chọn và sử dụng biên pháp phòng chống véc tơ thích hợp nhất và dể theodõi hiệu quả của các biện pháp phòng chống đó Có một số phương pháp giám sátquần thể bọ gậy và muỗi trưởng thành Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu thíchhựp phụ thuộc vào mục tiêu giám sát, mức độ lây nhiễm và nguồn lực sẵn có [57]
Trang 21Điều tra bọ gậy:
Trong thực tế, phương pháp điều tra thu tháp mẫu bọ gậy phổ biến hơn là thuthập tiling hoặc muỗi trưởng thành Đơn vị lấy mẫu cơ bản là hộ gia đình hoặc là nhà
ở, nơi sẽ điều tra một cách có hệ thống các dụng cụ chứa nước (DCCN) Các dụng cụchứa nước được điều tra để phát hiện bọ gây và quãng Tuỳ thuộc vào mục đích điều
tra, có thể kết thúc cuộc điều tra ngay khi phát hiên có bọ gậy Aedes trong DCCN
hoặc vẫn tiếp tục cho đêh khi tất cả DCCN được kiểm tra Mẫu thu thập được địnhloại trong phòng thí nghiệm để xác định loài [57]
Điều tra muỗi trưởng thành:
Điều tra muỗi trưởng thành cung cấp số liệu có giá trị cho những nghiên cứuđặc biệt, như sự biến đổi quần thể véc lơ theo mùa, nguy cơ lây truyền và đánh giácan thiệp của hoá chất diệt muỗi Tuy nhiên, kết quả CC thể kém giá trị hơn những sốliệu thu được từ giám sát bọ gậy Các phương pháp thu thập cũng mất công hơn và rấtphụ thuộc vào kỹ năng sự thuần thục của người thu thập [57]
1.3.3 Phân tích dịch tễ về giám sát véc tơ
Giám sát muỗi trưởng thành:
Dịch tễ học nhiễm dengue có thể rất phức tap vì Ae aegypli có thể hút máumột người nhiều lần hoặc nhiều người trong một bữa ăn máu Rất khó nhân biết mốitương quan giữa các chỉ số véc tơ trong sự lan truyền bệnh Phân tích về mặt dịch tễcủa lây nhiễm dengue phải tính đến sự di dân giữa các vùng đô thị, là nơi lập trung
quần thể Aedes, cũng như biến động mật độ quần thể muỗi trưởng thành, là các yếu tố
ảnh hưởng đến khả năng lây truyền Cần chú trọng để nhận biết được mới liên quangiữa mật độ muỗi trưởng thành, mật độ quần (hể dân cư trong các vùng khác nhau củathành phố, và sự lây truyền của vi rút dengue [571
Trang 22Giám sát bọ gậy:
Các chỉ số bọ gậy thường sử dụng (Chỉ số nhà, chỉ số DCCN và chỉ sốBreteau) rất hữu ích để xác định sự phân bố, biến động mùa và nơi sống chủ yếu của
bợ gây, cũng như để đánh giá các chương trinh vệ sinh môi trường Tuy nhiên, chúngthường không đánh giá được nguy cơ lan truyền của bệnh Mức độ chính xác của sựnhiễm véc tơ được coi là mức "nguy cơ" lây truyền dengue bị ảnh hưởng bởi nhiềuyếu tố tác động, bao gồm tuổi thọ của muỗi và tình trạng miễn dịch của quần thể dân
cư Có thể lâ'y một số ví dụ như ở Singapore sự lan truyền dengue vãn xảy ra ngay cả
khi chỉ số nhà dưới 2% Do đó sự hạn chế của các chỉ số này phải được xem xét và
nghiên cứu cẩn thân Nhằm xác định liệu chúng có mối liên hệ như thế nào với mật độ
quần thể muỗi cái trưởng thành và nguy cơ lây truyền bệnh Nghiên cứu các phương
pháp giám sát côn trùng thay thế, nhạy cảm, thực tiễn hơn là một nhu cầu cấp thiết.
Mức độ và kiểu giám sát véc tơ được lựa chọn tuỳ theo từng quốc gia hoặc chươngtrình phòng chống cần được xác định dựa vào hoạt động nghiên cứu ứng dụng đượcthực hiện ở địa phương [57]
1.4 Phòng chông SD/SXHD
Việc phòng chống SD/SXIID hiện nay tập trung giải quyết các khâu cơ bảnsau:
- Phát hiện, chẩn đoán và điều trị SD/SXHD,
- Nghiên cứu vắc xin dự phòng,
- Phòng chống véc lơ truyền bệnh
1.4.1 Phát hiện, chẩn đoán và điều trị SD/SXHD
Hướng phát triển chẩn đoán và điều trị SD/SXỈ1Đ đã thu được những thành tựulớn, như đã đưa ra dưực nhiều kỹ thuật mời trong nghiên cứu và phân lập vi rútdengue Đặc biệt gần đây, với kỹ thuật phản ứng khuếch đại chuỗi (PCR) đã đượcphát triển và áp dụng cho phần lớn các vi rút có vật liệu di truyền ARN là cuộc cáchmạng lớn trong lình vực sinh học phân tử Đây là phương pháp chẩn đoán nhanh, đặchiệu, nhạy và cho kêì quả chính xác
Trang 23Có 5 phương phấp cơ bản chẩn đoán huyết thanh học được áp dụng trong
phòng thí nghiệm để chẩn đoán nhiễm vi rút dengue Đặc biệt hiện nay, phương phápMAC-ELISA được áp dụng rộng rãi nhất vì trả lời kết quả nhanh và chỉ phải lấy máu
1.4.2 Nghiên cứu vắc xin
Vắc xin phòng bệnh SD/SXHD được đề cập tới ngay sau khi phân lập được virút dengue Trong những năm gần đây có một loại vắc xin đã được thử nghiêm ở TháiLan qua giai đoạn I và II đó là các loại vắc xin đơn giá vắc xin phối hợp 2 tip, 3 tip và
4 tip vi rút dengue cũng đang được thử nghiệm tại Mỹ Hiệu quả của vắc xin này chưađược công bố và ứng dụng tại thực địa [51], [57],
1.4.3 Phòng chống véc lơ truyền bệnh
Đây là biện pháp chủ yếu trong phòng chống SD/SXHD Nguyên tắc phòngchống là cắt đứt sự tiếp xúc giữa người và muỗi, bao gồm diệt giai đoạn trước trưởngthành và giai đoạn muỗi trưởng thành dựa trên các biện pháp cơ bản sau:
Trang 24trên thế giới [251, [40], [46]- Tuy vậy, ngày nay người ta biết rất rõ lợi ích và tác haicủa hoá chất diệt côn trùng đến sức khoẻ, môi trường và sự kháng thuốc nên đã tìmcách giảm và tránh lạm dụng hoá chất Song để diệt ngay đàn muỗi nhiễm vi rút trongcác vụ dịch SD/SXHD, chưa có biện pháp hiệu quả hơn có thể thay thế biện pháp phunkhông gian hoá chất diệt côn ti ling [27].
1.4.3.2 Điều khiển gen
Sự phát triển hiện tượng lai khác loài trong phức hợp loài có thể tạo ra các dòngbất thụ đực và cái Có thể sử dụng các dòng như vây trong chiến lược phòng chống vớiđiều kiện chúng phải có sức cạnh tranh cao Có thể tạo ra các dòng bất thụ bằng cáchđơn giản như chiếu tia gam ma, để lạnh hoặc dùng một số chất hoá học Tuy vây, vấn
đề này còn đang nghiên cứu [37]
1.4.3.3 Phương pháp sinh thái học
Phương pháp sinh thái học liên quan đến quá trình làm thay đổi yếu tố môitrường hoặc tác động qua lại của chúng với con người Mục đích cuối cùng là dự báohoặc làm giảm tới mức thấp nhất sự lan truyền của véc tơ cũng như sự tiếp xúc người -véc tơ - lác nhân gây bệnh mà không gây ảnh hưởng tới chất lượng môi trường
1.4.3.4 Các biện pháp về môi trường
* Quản lý môi trường:
Quản lý môi trường là làm biến dổi hay loại trừ hoặc làm giảm nguồn sinh sảncủa véc tơ và sự tiếp xúc của con người với véc tơ Năm 1980, Hội đồng chuyên giacủa TCYTTƠ về phòng chống véc tơ bằng sinh học đã đưa ra 3 hình thức quản lý môitrường
Thay đổi môi trường: Loại bó lâu dài nơi sinh sống của véc tơ
Cải tạo mòi trường: Thay đổi tạm thời nơi sinh sống của véc tơ bao gồm quản lýdụng cụ chứa nước thiết yếu và không thiết yếu cũng như quản ý và
loại bỏ Ổ sinh sản tự nhiên của muỗi
THLT
ị ì ^ƯÒhG £>H V ĨỊ CGNG CỘIỈ6 I _ _■■ ■■
Trang 25Thay đổi điều kiện ở hoặc hành vi của con người: hiệu quả đạt được là giảm khảnăng tiếp xúc của véc tơ vời con người.
Thực hiện các phương pháp quản lý môi trường phòng chống Ae.aegypli và
Ae.albopictus bao gồm cải thiện hệ thống bảo quản và cung cấp nước sạch Quản lý
chất thải rắn và làm biến đổi môi trường sống của bọ gây Aedes [48], [52], [55].
* Cải thiện, bảo quản môi trường và cung cấp nước sạch:
Bảo quản môi trường và cung cấp nước sạch là một biện pháp phòng chống
Ae.aegypỉi ở khu vực đô thị Việc cung câ'p không đủ nước sinh hoạt sẽ làm tăng tìnhtrạng trữ nước mà các loại DCCN này đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra nơisinh sản của Ae.aegypíì Tuy vây, một điều đáng chú ý là mặc dù hệ thống nước đượccải thiện, song lượng nước cung cấp theo đường ống không được đầy đủ một cáchthường xuyên, buộc các gia dinh phải dự trữ nước và chính các dụng cụ chứa nước này
lại là nơi sinh sản và phát triển của Ae.aegypíi Tại một thành phố ở Thái Lan, sau khi
lắp đặt đường ống dẫn nước đến từng hộ gia đình, trung bình mõi hộ vẫn còn 8 vạichứa nước Tình trạng này đã được thông báo ở các nước châu Á và vùng vịnh Caiibê[47]
* Quản lý chất thải rắn:
Theo TCYTTG, quản lý chất thải rắn dựa trên nguyên tắc cơ bản là "làm giảm,tái sử dụng, tái chế" Đối với dụng cụ không tái sử dụng, tái chế được thì thu gom rồihuỷ đi Những dụng cụ bằng nhựa có thể tái sinh Đã có những cóng nghệ chuyển hoálốp thải thành các vật liệu có ích nhưng đắt tiền và không thực hiện được ở nhiều nưóc
có lưu hành SD/SXHD Vì vây có thể thu gom, cắt nhỏ và đốt ử khu vực xa dân cưhoặc chế biến thủ công thành các dụng cụ đơn giản khác [55]
Trang 26* Làm biến đổi môi trường sống của bọ gậy:
Những biện pháp thông thường nhưng có hiệu quả thiết thực cần được sử dụng
để làm giảm khả năng sinh sản của Aedes trong và xung quanh môi trường sống của
con người Tuỳ theo loại DCCN được coi là có lợi, có cần thiết hay không để có thể lựachọn trong việc sử dụng Những dụng cụ phế thải, DCCN tự nhiên và nhân tạo nhưchai lọ, vỏ đồ hộp, mảnh bát vỡ, lốp xe hỏng, gáo dừa được thu gom chuyển đến bãirác công cộng hoặc thiêu huỷ bằng chôn lấp hoặc đốt Lật úp nhưng dụng cụ trong nhà
và ngoài nhà không sử dụng đến như xô châu, vò, lọ [55]
Những dụng cụ dự trữ nước chủ yếu cho cuộc sống hàng ngày cần đưực đậy kínkhi chưa dùng Với những bể nước lớn được sử dụng thường xuyên không được đậynắp thì nên áp dụng lác nhân sinh học
Những biện pháp ngăn chặn cơ học nhằm hạn chế sự tiếp xúc nguồn véc tơđược áp dụng rộng rãi như dùng màn, rèm, mành tre, mặc quần áo dài bằng vải dàychống muỗi dốt, vệ sinh cá nhân, việc sử dụng màn chống muỗi đốt có từ lâu đời vàdùng vật liệu này lẩm với hoá châì pyrethroide là một phương pháp tương đối hiệu quả[11]
1.4.3.5 Giáo dục và sự tham gia của cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng có tác dụng rất lớn trong khi thực hiện chương trìnhphòng chống các bệnh có véc tơ truyền bệnh trong đó có SD/SXHD Đó là sự tham gia
và động viên của mỗi cá nhân đối với các hộ gia đình thực hiện các biện pháp để giảmnguồn véc tư, bảo vệ cá nhân Trong cộng đồng phải được tổ chức các chiến dịch loại
trừ nơi sống của véc tơ ít nhất 2 đêh 3 làn trong năm Đối với những cộng đồng khó tổ
chức thực hiện làm sạch môi trường vì lý do điều kiện địa lý, nghề nghiệp thì chínhquyền có thể dưa vào các hội quần chúng hoặc tổ chức những người tự nguyện trong tổchức như tôn giáo, phụ nữ, trường học tham gia phong trào nàỵ Việc thực hiện chươngtrình dựa vào trường học có lác dụng tích cực vì nó hướng được cả trẻ em và cha mẹhọc sinh tham gia Tuy vậy khi thực hiện huy động cộng đồng tham gia phòng chốngSD/SXHD cẩn phải xem xét cụ thể các yếu lố về kinh tế, xã hội, hoàn cảnh chính trị tạimỗi địa phương để có biện pháp triển khai thích hợp [30], [35], [57]
Trang 271.4.3.6 Biện pháp phồng chống hằng tác nhân sinh học
Biện pháp phòng chống bằng lác nhân sinh học được biết đến từ lâu dựa trên cơ
sở tồn tại các tác nhân thiên địch như sinh vật ăn muỗi, côn trùng sống cạnh tranh hoặcnhững tác nhân gây bệnh tham gia vào quá trình điều tiết quần thể trong đó có động vật
ăn mồi
Biện pháp này đã được ứng dụng có hiệu quả và đã trở thành đối tượng nghiêncứu của nhiều nhà khoa học [43] Nhiều loài động vật có thể tấn công bọ gây muỗi như
cá, rùa, nòng nọc, cyclopoid Copepods, rệp nước, thủy tức, bọ cánh cứng, ấu trùng
chuồn chuồn, trong đó cá và Mesocycỉops được áp dụng nhiều nhất vì nguồn cung cấp
dỗ dàng và duy trì được quẩn thể lâu dài sau khi phóng thả [32]
ở Việt Nam, nghiên cứu cá diệt bọ gây cũng được liến hành và áp dụng có hiệuquả tốt Irong phòng chống SD/SXHD từ nhiều năm nay
Các tác giả nhân thấy tất cả các loài cá địa phương như cá vàng, hắc mô ni, cá chọỉ, sănsắt, rô phi, cá sóc, chép lai., đều có thể sử dụng diệt bọ gây Aedes aegypli Trong sô cácloài cá trên, cá vàng có khả năng ãn bọ gây tốt nhất (600 - 689 bọ gây tuổi I, lỉ; 434 bọgây III hoặc IV/24 giờ) Cá chép lai, trọng lượng nhỏ (0,2g) có thể tiêu diệt 400 bọ gậytuổi I, 11/24 giờ Cá sóc có khả năng chịu lạnh, chịu nóng và nhịn đói cao, nhưng bénhỏ nên có khả năng ăn kém hơn Cá rô phi dễ nhân nuôi, có khả năng rất cao (í200 bọgậy tuổi I, lỉ hoặc 300 bọ gây tuổi III hoặc IV/24 giờ) [2] Các lác giả nhân thấy cácloài cá trên không gây ảnh hưởng tới chất lượng nước trong các dụng cụ thả cá và chỉ
số muỗi Aedes aegypti trong khu vực có cá giảm từ 2 đến I ỉ lần so với vùng đối chứng.
Khả năng ăn bọ gây muỗi của các loài cá rất rõ ràng, tuy nhiên cá chỉ được thả vào cácdụng cụ chứa nước có kích thước lớn (ít nhất là 10 lít) các dụng cụ có kích thước nhó,nhất là dụng cụ phế thải như vỏ chai, vỏ đồ hộp, gáo dừa, vại vỡ, bát kê chân chạn, vạỉnước nén cà có thể trở thành ổ bọ
Trang 28gậy muỗi Aedes không thể áp dụng biện pháp này được Nếu chỉ áp dụng
đơn lẻ biện pháp thả cá, hiệu quả phòng trừ véc tơ sẽ không triệt để Chính
vì vậy biện pháp thả cá luôn phải phối hợp với biện pháp làm giảm nguồnsinh sản của muỗi thông qua việc quản lý môi trường (lơại bỏ các dụng cụphế thải có thể trở thành ổ bọ gậy) và giáo dục y tế, nhằm giảm tối đa mật
độ quần thể muỗi truyền bệnh SD/SXHD ị 8]
1.4.3.7 Biện pháp kết hợp phòng trừ véc tơ
Trong những năm 1940, hoá chất diệt côn trùng ra đời và phát triển mạnh cùngvới hiệu quả của chúng, nên thời kỳ đó biện pháp hoá học đã chiếm ưu thế Tuy nhiên,côn trùng kháng hoá chất xuất hiện và phát triển nhanh, bên cạnh đó là sự ô nhiễm môitrường do sử dụng hoá chất, yêu cầu về an toàn cho người và chi phí ngày càng tăng dohoá chất luôn thay đổi đã dãn tới sự cần thiết áp dụng đồng thời, hoặc nối tiếp nhau,một số biện pháp phòng chống, nhằm thu được hiệu quả cao, đó chính là biên pháp kếthợp
Như vậy, phải có ít nhất 2 biện pháp được tiến hành đồng thời hoặc nối tiếp nhau, biệnpháp này hỗ trợ, tạo thuận lợi cho biện pháp kia, hoặc ít nhất là không có tác động xấuđối vời biện pháp được phối hợp thực hiện
Đối với véc tơ truyền bệnh SD/SXHD, biện pháp kết hợp đã được ứng dụng như
sử dụng các biện pháp giảm nguồn sinh sản của véc tơ, kết hợp với giáo dục y tê' vàbiện pháp sinh học dựa trên sự tham gia của cộng đồng Biện pháp kết hợp phòngchống véc lơ truyền bệnh SD/SXHD đã áp dụng thành công ở nhiều nước nhưSingapore sử dụng các biện pháp giảm nguồn sinh sản của véc lơ là chủ yếu, kết hợpvới biện pháp giáo dục y tê' và bắt buộc của pháp luật [53] Một số nước vùng Caribê
sử dụng kết hợp biện pháp giáo dục y tê' và biện pháp sinh học dựa trên sự tham giacủa cộng đồng như Puerto Rico (1984 - 1988), Panama (1990), đã làm giảm tỷ lệ nhà
có muỗi Aedes aegypli từ 8% xuống 4% mà không cần sử dụng tới hoá chất [29], [30],
[31] Mexico,
Trang 291989 và Honduras 1990, 1991, đã thành công khi làm thay đổi thói quen của ngườidân trong việc thu gom đồ phế thải, dọn vệ sinh xung quanh nhà, loại trừ các ổ bọ gậy
làm giảm chỉ số DCCN có bọ gây Aedes, ngoài ra biện pháp sinh học (rùa con và
Mesocylops) cũng được áp dụng có hiệu quả trong vùng thử nghiệm [41], [42] ỚColombia chương trình phòng chống tổng hợp SD/SXHD từ năm 1985 - 1992 cho thâychỉ số muỗi thấp nhất vào năm 1988 và 1990, sau khi được thông báo dịch SD/SXHDxảy ra ở Venezuela [30] Chỉ số nhà có Aedes giảm từ 35 - 50% xuống 4% ở St Luciathuộc Caribê sau khi thực hiện đều đặn việc thu gom phế thải của hai địa phương thửnghiệm Những đảo Nam Thái Bình Dương đã thu được kết quả tốt khi chọn y tá tưnhân và các cán bộ trong cộng đồng để tuyên truyền làm giảm nguồn sinh sản của véc
tơ truyền bệnh SD/SXHD Theo Hwang và cs., 1992 [34], Đài Loan áp dụng chươngtrình giáo due sức khoẻ làm giảm nguồn véc tơ SD/SXHD từ 1988, được dân hưởngứng với kết quả chỉ số nhà có muỗi Aedes aegypti giảm từ 44% năm 1988 xuống 9%năm 1991 Biện pháp kết hợp cũng được tiến hành thử nghiệm trên đảo Hải Nam TrungQuốc từ 1991 [30]
Có thể nói chương trình phòng chống Aedes aegypli dựa trên cộng đồng đã rất
thành công tại thực địa Thái Lan vì thu hút được sự tham gia tự nguyện của cộng đồng,nhà trường và chính quyền địa phương Sau một năm thử nghiệm, chỉ sô Breteau và chỉ
sô muỗi đốt giảm 84% và 86% [39] Ớ Indonesia và Sri Lanka, mặc dù mới triển khai,các tác giả đã nhân thây biên pháp này có chiều hướng rất đáng khích lệ trong chiếnlược phòng chống bênh SD/SXHD [30]
Ở Việt Nam, khái niệm về biện pháp kết hợp phòng chống véc lơ truyền bệnhSD/SXHD đã có từ những năm 1970, được áp dụng phổ biến trong những vụ dịch SD/SXHD và được TCYTTG hướng dẫn trong lài liệu chuyên đề bệnh SD/SXHD, 1975
Vũ Sinh Nam và cs., 1984 [12], nhận thấy kết quả chống dịch SD/SXHD dạt được hiệuquâ cao và duy trì trong một thời gian dài tại thị
Trang 30xã Hà Đông, tỉnh Hà Tây khi biện pháp tổng vệ sinh, thau rửa chumvại, phá bỏ dụng cụ phế thải, tuyên truyền cho dân cùng tham gia đượctriển khai ngay sau khi xử lý bằng hoá chất Năm 1985, trong một nghiêncứu ứng dụng một số loài cá diệt bọ gậy ở Việt Nam, Nguyễn Văn Chí và cs.[2] đã đề xuất biện pháp thả cá phải được kết hợp với biện pháp vệ sinhmôi trường và giáo dục thì mới duy trì được hiệu quả diệt muỗi truyền bệnhSD/SXHD
1.5 Một sô nghiên cứu về ổ bọ gậy nguồn
Việc giám sát thường xuyên biến động quần thể véc tơ truyền bệnh và nơi sinhsản của chứng có ý nghĩa quan trọng để đề xuất biện pháp phòng chống chủ động thíchhợp Tuy nhiên, những chỉ số đánh giá thường dùng như mật độ muỗi trưởng thành,chi' sô' Breteau, chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gây chưa đủ để xác định nơi tập trung
bọ gây tại thực địa
Một phương pháp mới “xác định ổ bọ gậy nguồn” được áp dụng nhằm hướng cácbiện pháp phòng chông véc tơ đúng và hiệu quả Phương pháp này dựa vào kết quả
đếm toàn bộ sô' lượng bọ gây Aedes trong các chủng loại dụng cụ chứa nước khác nhau, để xác định nguồn cung cấp muỗi Aedes chủ yếu trong khu vực, theo mùa trong
nãm hoặc theo từng giai đoạn để điều chỉnh và bổ sung các biện phấp tuyên truyền vàphòng chống véc tơ thích hợp [18]
Trần Vũ Phong, Vũ Sinh Nam, 2000 [ 16] nghiên cứu ổ bọ gây nguồn tại 5 thực
địa ở 5 tỉnh, thuộc 3 miền Bắc, Trung, Nam của Việt Nam cho thấy, tại thực địa miền
Bắc, điều tra 200 hộ gia đình ở xã Tiền Phong (Hà Tây), tháng 4/1999, bọ gây
Ae.aegypíỉ tập trung chủ yếu trong bể xây (65,6%), bể cảnh (18,0%) và lọ hoa (15,0%).
Từ kết quả điều tra ổ bọ gây nguồn, tiến hành sử dụng tác nhân sinh học Mesocyclops
kết hợp với việc huy động sự tham gia của cộng đồng, sau 13 tháng hoạt động của dự
án, quần thể bọ gây và muỗi Ae.aegypti giảm xuống bằng 0 Tại thực địa miền Trung
(Hương Trữ, Thira Thiên Huế), tháng 7/1997, ổ bọ gây nguồn là bể xây (45,0%), bát kêchân chạn (cụi) (38,5%), chum vại (14,9%) Tại Thanh Bình (Đà Nẩng), tháng 8/1997,
ổ bọ gậy nguồn phân tán ở nhiều chủng loại DCCN, trong đó quan 4 ’ ■ ■
Trang 31trọng nhất là bể nước dội nhà vệ sinh (41,7%), bể cảnh (13,8%), giếng (13,1%) và cácdụng cụ khác (19,0%) Ở Vĩnh Hải (Khánh Hoà), tháng 8/1997, Ổ bọ gây nguồn là bểxây (42,6%), bát kê chân chạn (18,7%), chum vại (12,3%) và dụng cụ phế thải (9,0%)
Biện phấp phòng chống bọ gây thích hợp là phóng thả Mesocyclops vào các DCCN
lớn, bỏ muối vào bát kê chân chạn và loại bỏ các đồ vật phế thải Tại thực địa miền
Nam (Tân Hiệp, Kiên Giang), tháng I 1/1999, bọ gậy Ae.aegypli có trong 6 loại hình
DCCN, ổ bọ gây nguồn là lu kiệu lớn có dung tích trên 200 lít (69,7%), lu nhỏ và khạp(17,2%), bẫy kiến (10,0%) Sau gần 1 năm tiến hành dự án sử dụng tác nhân sinh học
có sự tham gia của cộng đồng, kết quả số lượng bọ gậy/quăng giảm 97,7%, quẩn thể
muỗi Ae.aegypli giảm 92,0%.
Trần Vũ Phong và Vũ Sinh Nam từ năm 1994-1997 tiến hành nghiên cứu Ổ bọgậy nguồn véc tơ truyền bệnh SD/SXHD tại 4 phường thuộc 4 quận nội thành Hà Nội
cho thấy ổ bọ gây nguồn của Ae.aegypti tại Hà Nội ỉà phuy sắt (40,35% số bọ gậy), chum vại sành (28,22%) và dụng cụ phế thải (8,96%) Bọ gây Ae.albopiclus tập trung
chủ yếu trong chum vại sành (40,70%), phế thải (24,25%) và phuy sắt Không thấy có
sự thay đổi có ý nghĩa thống kê các loại dụng cụ chứa nước có bọ gây Ae.aegypli theo
tháng tại Hà Nội Tuy nhiên số lượng bọ gây tăng cao vào mùa mưa từ tháng 4 đếntháng 11 Xác định ổ bọ gây nguồn sẽ giúp đề xuất các biện pháp phòng chống thíchhợp, đúng hướng, đạt hiệu quả cao [15]
Tuy nhiên, ử nước la cho đến nay vẫn còn thiếu những kết quả nghiên cứu đầy
đủ nhằm đưa ra các mô hình phòng chống lổng hợp có hiệu quả cao phòng trừ véc lơSD/SXHD, có thể áp dụng cho các địa phương có sinh cảnh, cấu trúc dân cư, lình hìnhchứa nước của các vùng khác nhau
Trang 32Phần 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu
2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Hộ gia đình có mặt tại quân Đống Đa tháng 5/2001 bao gồm:
- Người đại diện trong từng hộ,
- Các dụng cụ chứa nước,
- Tình trạng vệ sinh trong gia đình và ngoại cảnh,
- Muỗi /lể aegypii, Ae alhopictus trú đâu trong nhà,
- Bọ gậy Ae aegypti, Ae ơìbopicíus trong các dụng cụ chứa nước
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành lừ 21/2 đến 21/8/2001 tại quân Đống Đa thành phố
Hà Nội
Đống Đa là một quận nội thành Hà Nội, có diện tích 9,96 km2, dân số 342.300người với 77.464 hộ gia dinh (31/12/2000) Là quận đông dân thứ hai sau quân Hai BàTrưng (360.900 người), nhưng mât độ dân số là cao nhất trong 7 quân nội thành(34.367 người/ km2), gấp hơn 10 lần mật độ trung bình của toàn thành phố (2.993người/ km2) [3J Trung tâm y tế quân có 3 phòng khám khu vực, ỉ nhà hộ sinh, 1 đội y
tế dự phòng, 1 phòng khám lao và 21 trạm y tế phường, 100% trạm y tế có bác sỹ [21 ]
Quân Đống Đa có 21 phường, các phường đều có chung một đặc điểm là mật
độ dân cư cao, trong mỗi phường đều có các khu nhà tập thể cao tầng, xen kẽ các khunhà thấp tầng, nhà cấp 4, nhà tạm, có cơ sở hạ tầng thấp kém, việc cải tạo xây dựng vẫndiễn ra thường xuyên, nước sạch còn thiếu, vệ sinh chưa đảm bảo.1 Với đạc điểm nhưtrên, quân Đống Đa có các điều kiện thuận lợi cho véc tơ truyền bệnh SD/SXHD pháttriển Vụ dịch năm 1998 tỷ lệ mắc
Trang 33toàn thành phố là 135/100.000 dân thì quân Đông Đa là 299/100.000 dân, cao gấp 2,2lần, cố 1 ca tử vong trên tổng số 4 ca Năm 1999 và năm 2000 tỷ lệ mắc cũng luôn caohon tỷ lệ mắc ti ling hình của toàn thành phố Ngoài ra kết quả giám sát quần thổ véc totruyền bệnh SD/SX1 ID của Đội y tế dự phòng quận Đống Đa năm 2000 cho thấy, cónhiều điểm giám sát có tới 20% nhà có bọ gậy, 33% nhà có muỗi truyền bệnhSD/SXHD [9], [20], [21] Xác định ổ bọ gậy nguồn véc tơ truyền bệnh SD/SXHD vàtìm hiểu một số yếu tố liên quan tại quân Đống Đa, Hà Nội 2001, nhằm điều chỉnh biệnpháp tuyên truyền cũng như hướng biện pháp phòng chống đúng và hiệu quả là cầnthiết
2.1.3 Một sò định nghĩa và khái niệm sử (lụng trong nghiên cún
- Hộ gia đình: Một căn hộ khép kín, riêng biệt hoặc một căn hộ chung cư mà ở
đó có ít nhất một người đang sinh sống Trong nghiên cứu này chúng tôi không đề cậpđến hộ gia đình theo hộ khẩu, hộ tịch của ngành Công an [4]
- Người đại diện trong tùng hội Người từ 16 tuổi trở lên, hiện đang sống thườngxuyên tại gia đình, có khả năng hiểu và trả lời nội dung phỏng vấn Để có tính đại diệncho cộng đổng dân cư chúng tôi tiến hành phỏng vấn theo bảng: “6 bảng chọn ngườiphóng vấn trong hộ gia đình” [Phụ lục 4]
- ở họ gậy nguồn: Là bất kỳ dụng cụ chứa nước đơn lẻ hoặc chủng loại DCCNnào có chứa một số lượng lớn bọ gây hoặc quãng Ae aegypti và do đó sẽ tạo ra một số
lượng lớn muỗi Ae aegypli trưởng thành 118].
Ô bọ gậy nguồn được xác định dựa vào tỷ lệ tạp trung bọ gậy trong mỗi loạiDCCN, cách tính :
Số bọ gậy Ae aegypti bắt được
trong từng loại DCCN
Tổng số bọ gây Ae aegypíi bắt
được trong đợt điều tra
Trang 34- Chỉ số nhà có bọ gậy/quăng muỗi Ae.aegypti (NCBG): % nhà có dụng cụ
chứa nước có bọ gậy hoặc quãng Ae.aegypti Cách lính:
Số nhà có bọ gậy/quăng muỗi Ae aegypti
NCBG (%) = - - X 100
Tổng số nhà điều tra
- Chỉ sô Breteau (Breteau index): Sô lượng dụng cụ chứa nước có bọ gậy hoặc
quăng Ae aegygli trong 100 nhà Cách tính :
Số DCCN có bọ gậy/quãng muỗi Ae aegypli
BI = - X 100
Tổng sô nhà điều tra
- Chỉ sô dụng cụ chúa nước có bọ gậy/quảng Ae aegypti (DCBG):
% dụng cụ chứa nước có bọ gậy hoặc quăng Ae aegypti Cách tính :
Số DCCN có bọ gây/quãng muỗi Ae aegypũDCBG (%) = -— - - X 100
- Chỉ sô mật độ muỗi (CSMĐ): Sô muỗi cái Aedes aegypti bắt được trung bình
trong 1 nhà điều tra Cách tính:
Tổng số muỗi Ae aegypíi bắt dược
CSMĐ (con/nhà)
Tổng số nhà điều tra
Trang 35- Chỉ sô nhà có muỗi (CSN): % nhà có muỗi Ae aegypti Cách tính:
Số nhà có muỗi Ae aegypti
CSN (%) = - - X 100
Tổng số nhà điều tra
- DCCN có nắp: DCCN có bất kỳ một loại vật liệu nào dùng để che đây, có
khả năng ngăn không cho muỗi chui vào để đẻ trứng, được coi là DCCN có nắp.Những DCCN có che đậy nhưng không kín hoặc không che đây thường xuyên đượccoi là không có nắp
- Tỷ lệ nhiễm: % DCCN có bọ gậy của một chủng loại/ tổng số DCCN của
chủng loại đó
- Khái niệm tầng: DCCN nằm trên sàn nhà từ tổng 2 trở íên, có mái che hoặc
không có mái che
- Khái niệm trong nhà, ngoài nhà: Trong nhà là phần diện tích sử dụng có mái
che ngăn được nước mưa Phần diện tích còn lại thuộc sở hữu của gia đình và phần tiếpgiáp xung quanh nó được gọi là ngoài nhà
- Qui ước mức độ nhận thức và thực hành trong phòng chông SD/SXHD.
Hiểu biết bệnh SD/SXHD:
1- Triệu chứng: Biết ít nhất một trong 3 câu q7.4, q7.5, q7.6
2- Bệnh nguy hiểm: Câu qio.l trả lời là có
3- Nguyên nhân: Do muỗi dốt (câu ql3.1)
4- Loại muỗi: Muỗi vằn (câu ql 4.1)
5- Thời gian muỗi vằn đốt: Cả ngày, đêm (câu q 15.3)
6- Nơi muỗi vằn đẻ trứng: Trả lời đúng câu q 17.5 hoặc ql7.6
7- SD/SXHD có thể phòng tránh được: Trả lời là có (câu ql8.1)
8- Biết biện pháp phòng chống: Diệt muỗi và bọ gây (câu ql9.2)
Trang 36- Vệ sinh trong gia đình đạt: Câu q34,l, q34.2, q34.3, ngoài ra là không đạt.
- Vệ sinh ngoại cảnh đạt: Câu q35.1, q35.2, q35.3, ngoài ra là không đạt
2.2 Thiết kê nghiên cứu
Nghiên cứu được thiết kế theo mô hình nghiên cứu quan sát; mổ tả có phân tích;dựa trên một cuộc điều tra cắt ngang [22]
Trang 37Z: Hệ số tin cậy; với a = 5% (độ tin cậy là 95%) => Z(1.a/2) “ 1,96
p: Là tỷ lệ % nhà có bọ gây véc tư truyền bệnh SD/SXHD từ nghiên cứu củaTrung tâm YTDP Hà Nội (2000) cho p = 0,4 (40%) [9],
q = (Lp) = 0,6
d: Độ chính xác tuyệt đối mong muốn Chọn d = 10% (0,1).
Do chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu cụm để hạn chế sai số chúng tôi tănggấp đôi cỡ mẫu trên (hiệu lực thiết kế = 2) [23]: 92 X 2 = 184
Mẫu dự phòng cho các trường hợp từ chối tham gia vào nghiên cứu hoặc thườngxuyên vắng nhà, đến lần thứ hai không gặp và một số các trường hợp dặc biệt khác là15% => 27 hộ gia đình
Số hộ gia đình cần diêu tra: 210 (làm trốn số).
2.3.2 Cách chọn mẫu
Theo phương pháp mẫu cụm phân lổng nhiều giai đoạn [24]
Nãm 2000 chương trình phòng chống SD/SXHD quốc gia chọn 5 trong 21phường của quân Đống Đa làm phường trọng điểm về SD/SXHD Tiến hành triển khaicho các gia đình ký cam kết “Không có bọ gây không có SD/SXHD”, 5 phường nàyvới số dân xấp xỉ 1/4 tổng số dân toàn quân (Phụ lục 5), chúng tôi gọi 5 phường này làtầng thứ nhất Còn 16 phường khác gọi là tầng thứ hai (hình 2.1)
Đơn vị chọn mẫu: cụm dân cư, đơn vị nghiên cứu là hộ gia đình
Giai đoạn ỉ: chọn phường nghiên cán
Chọn một phường ở tầng thứ nhất và 3 phường ở tầng thứ hai theo phương phápngẫu nhiên Kết quả chọn được phường Hàng Bột đại diện cho tẩng thứ nhất, phườngThổ Quan, Văn Chương và Phương Liên đại diện cho tầng thứ hai (phụ lục 5) Tiếnhành lạp danh sách tất cả các hộ gia đình trong 4 phường theo lừng lổ dân phố
Trang 38Giai đoạn 2: chọn hộ gia đình
30 cụm được phân chia cho các tầng theo tỷ lệ dân số của từng tầng, tầng 1:30/4 = 7,5 ỉàm tròn là 8 cụm, tâng thứ hai là 22 cụm
Kết quả điều tra phường Hàng Bột có 92 tổ dân phố, ba phường còn lại có 210 tổdân phố Chọn 8 cụm (tổ) ở phường Hàng Bột, 22 cụm (tổ) ở ba phường còn lại theocách chọn số ngẫu nhiên trên phần mềm EPI INFO 6.04, tổng số 30 cụm được chọn.Tiếp tục chọn ngẫu nhiên mỗi cụm 7 hộ gia đình dựa trên danh sách các hộ gia đìnhcủa từng tổ đã được lập sẵn Tổng số có 30 cụm X 7 hộ = 210 hộ gia đình Điều tratừng hộ gia đình theo địa bàn phường Sơ đồ quá trình chọn mẫu được trình bày ở hình2.1
Quận Đống Đa (21 phường)
Trang 39Hình 2.1 : Sơ dồ chọn hộ gia đình để điều tra
Trang 402.4 Nội dung nghiên cứu và phương pháp thu thập sô liệu
- Soi bắt muỗi đâu nghỉ trong nhà, mỗi hộ hai người bắt trong vòng 15 phút,thời gian bắt muồi vào buổi sáng và không quá 1 Igiờ 30 Muỗi bắt được của từng nhà
để riêng để định loại Phân loại muỗi theo thường qui của Viện VSDTTƯ
- Quan sát trực tiếp các dụng cụ chứa nước trong và ngoài nhà, ghi nhân loạiDCCN, kích thước, lượng nước, số lượng bọ gậy Aedes thec mâu ỉn sẩn của viênVSDTTƯ [Phụ lục 1 ] Tiến hành đếm trực tiếp nếu DCCN nhỏ ít bọ gây, bắt bọ gâybằng vợt nếu DCCN lớn Bọ gây thu thập trên thực địa được đếm và định loại tạiphòng thí nghiệm côn trùng Trung tâm YTDP Hà Nội theo thường qui của ViệnVSDTTƯ
- Quan sát trực tiếp bằng bảng kiểm [Phụ lục 3] để đánh giá tình trạng vệ sinhtrong và ngoài nhà ở, hệ thống cung cấp nước
- Phỏng vấn trực tiếp người đại diện gia đình dựa vào bảng hỏi có cấu trúc đãđược thiết kế sẩn [Phụ lục 2] để thu thập thông tin về kiến thức, thái độ, thực hành củangười dân về phòng chống SD/SXHD
- Quá trình phân tích và xử lý số liệu có sử dụng phẩn mềm EPI-INFO ố.04v.Dùng test Khi bình phương (x2) để so sánh giữa các nhóm
2.6 Một số khó khăn trong nghiên cứu
- Ở thành phố nhiều gia đình thường xuyên vắng nhà Vì vây người điều traphảỉ đi lạỉ nhiều lần mới có thể gặp được