1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định ổ bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan tại thị trấn vân canh, huyện vân canh, tỉnh bình định, 2016

105 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác định ổ bọ gậy nguồn của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan tại thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định
Tác giả Nguyễn Đỗ Ngọc Nhuận
Người hướng dẫn GS.TS. Vũ Sinh Nam, TS. Lê Thị Thanh Hương
Trường học Trường đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (16)
    • 1.1. Đại cương về bệnh sốt xuất huyết Dengue (16)
      • 1.1.1. Khái niệm về SXHD (16)
      • 1.1.2. Tác nhân gây bệnh (17)
      • 1.1.3. Thời kỳ ủ bệnh và lây truyền (17)
      • 1.1.4. Tính cảm nhiễm và sức đề kháng (17)
      • 1.1.5. Véc tơ truyền bệnh (17)
      • 1.1.6. Đặc điểm lâm sàng sốt xuất huyết Dengue (18)
      • 1.1.7. Điều trị (18)
    • 1.2. Phòng bệnh sốt xuất huyết Dengue (19)
      • 1.2.1. Vacxin phòng bệnh (19)
      • 1.2.2. Giám sát véc tơ (19)
        • 1.2.2.1. Giám sát muỗi trưởng thành (19)
        • 1.2.2.2. Giám sát bọ gậy (20)
      • 1.2.3. Các biện pháp phòng chống véc tơ (21)
        • 1.2.3.1. Biện pháp hóa học (22)
        • 1.2.3.2. Động vật ăn bọ gậy/ lăng quăng (22)
        • 1.2.3.3. Mesocyclops (22)
        • 1.2.3.4. Biện pháp phòng chống kết hợp (23)
        • 1.2.3.5. Phòng chống véc tơ chủ động (23)
    • 1.3. Các hoạt động phòng chống sốt xuất huyết tại Việt Nam (26)
    • 1.4. Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên Thế giới và tại Việt Nam (27)
      • 1.4.1. Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên Thế giới (27)
    • 1.5. Một số nghiên cứu về ổ bọ gậy nguồn (30)
    • 1.6. Tình hình sốt xuất huyết tại tỉnh Bình Định và ở huyện Vân Canh (34)
      • 1.6.1. Đặc điểm và tình hình sốt xuất huyết tại tỉnh Bình Định (34)
      • 1.6.2. Đặc điểm và tình hình mắc sốt xuất huyết tại huyện Vân Canh (36)
    • 1.7. Khung lý thuyết (38)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (39)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (39)
    • 2.2. Thời gian nghiên cứu (39)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (39)
    • 2.4. Phương pháp chọn mẫu (39)
      • 2.4.1. Cỡ mẫu (39)
        • 2.4.1.1. Cỡ mẫu điều tra bọ gậy Aedes (39)
        • 2.4.1.2. Cỡ mẫu điều tra kiến thức, thực hành (40)
      • 2.4.2. Chọn mẫu tại thực địa: được tiến hành qua 3 bước (40)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (41)
      • 2.5.1. Công cụ thu thập số liệu (41)
      • 2.5.2. Tổ chức thu thập số liệu (41)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (43)
    • 2.7. Khái niệm, tiêu chuẩn và cách đánh giá (43)
      • 2.7.1. Các khái niệm (43)
      • 2.7.2. Các chỉ số véc tơ (44)
      • 2.7.3. Quy ước đánh giá kiến thức, thực hành về PC SXHD của người dân (45)
        • 2.7.3.1. Đánh giá kiến thức của người dân về bệnh SXHD (45)
        • 2.7.3.2. Đánh giá thực hành phòng chống SXHD (46)
        • 2.7.3.3. Đánh giá tình trạng vệ sinh trong và ngoài nhà (47)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (47)
    • 2.10. Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục (47)
      • 2.10.1. Hạn chế của nghiên cứu (47)
      • 2.10.2. Biện pháp khắc phục (48)
    • 3.1. Ổ bọ gậy nguồn của véc tơ truyền bệnh SXHD tại huyện Vân Canh (49)
      • 3.1.1. Dụng cụ chứa nước của hộ gia đình (49)
      • 3.1.2. Véc tơ truyền bệnh SXHD (Bọ gậy) (50)
        • 3.1.2.1. Thành phần loài bọ gậy véc tơ truyền bệnh SXHD (n = 603) (50)
    • 3.2. Một số yếu tố liên quan tới quần thể bọ gậy của véc tơ truyền bệnh SXHD tại thị trấn Vân Canh (53)
      • 3.2.1. Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu (0)
        • 3.2.1.1. Đặc điểm nhân khẩu học của đối tƣợng nghiên cứu và nguồn thông tin mà đối tƣợng nghiên cứu tiếp cận (0)
        • 3.2.1.2. Tình trạng vệ sinh, đặc điểm nhà ở của người dân tại thị trấn Vân Canh (56)
        • 3.2.1.3. Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh SXHD của người dân (57)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (63)
    • 4.1. Ổ bọ gậy nguồn của véc tơ truyền bệnh SXHD (63)
      • 4.1.1. Đặc điểm về các dụng cụ chứa nước (63)
      • 4.1.2. Ổ bọ gậy nguồn của véc tơ truyền bệnh SXHD (64)
      • 4.2.2. Kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống bệnh SXHD (68)
      • 4.2.3. Một số yếu tố liên quan tới quần thể bọ gậy của muỗi truyền bệnh SXHD (70)
        • 4.2.3.1. Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy của muỗi truyền bệnh SXHD với đặc điểm nhân khẩu học (70)
        • 4.2.3.2. Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy của muỗi truyền bệnh SXHD với loại nhà, vệ (70)
        • 4.2.3.3. Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy của muỗi truyền bệnh SXHD với kiến thức, thực hành của người dân (71)
  • KẾT LUẬN (12)
    • 5.1. Ổ bọ gậy nguồn và chỉ số bọ gậy của muỗi truyền bệnh SXHD (74)
    • 5.2. Một số yếu tố liên quan đến quần thể bọ gậy của muỗi truyền bệnh SXHD (74)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (76)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được chọn là chủ hộ gia đình từ 18 đến 65 tuổi tại thị trấn Vân Canh, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Những người này cần có khả năng hợp tác trong việc trả lời phỏng vấn, không bị câm điếc, không mắc rối loạn tâm thần, và đã sinh sống liên tục tại địa bàn huyện ít nhất 6 tháng.

- Bọ gậy/ lăng quăng trong các dụng cụ chứa nước được điều tra

- Các dụng cụ chứa nước tại các HGĐ được điều tra

- Nhà ở của người dân tại các HGĐ được điều tra.

Thời gian nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 12 năm 2015 đến tháng 9 năm 2016.

Thiết kế nghiên cứu

- Thiết kế cắt ngang có phân tích.

Phương pháp chọn mẫu

2.4.1.1 Cỡ mẫu điều tra bọ gậy Aedes:

- Trong đó: n = Cỡ mẫu tối thiểu (số hộ gia đình cần điều tra bọ gậy, DCCN, DCPT) α = 0,05, với độ tin cậy 95%, vậy Z(1- α/2) = 1,96

Tỷ lệ hộ gia đình có bọ gậy tại tỉnh Bình Định là 15%, theo kết quả điều tra của Trung tâm Y tế dự phòng vào tháng 7/2015.

HUPH Độ chính xác mong muốn d = 0,05

Cỡ mẫu được tính toán là n = 195, nhưng để đảm bảo không bỏ sót hộ gia đình nào không tham gia hoặc không đồng ý, cỡ mẫu đã được tăng lên 10% và làm tròn thành 220 hộ gia đình Do đó, số hộ gia đình cần điều tra bọ gậy, DCCN và DCPT là 220 hộ Tại mỗi hộ gia đình, tất cả DCCN và DCPT chứa nước sẽ được tiến hành điều tra bọ gậy.

2.4.1.2 Cỡ mẫu điều tra kiến thức, thực hành:

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã điều tra bọ gậy, DCCN, DCPT và đồng thời khảo sát kiến thức cũng như thực hành về phòng chống bệnh SXHD Cỡ mẫu cho việc khảo sát kiến thức và thực hành bao gồm 220 người chủ hộ, đại diện cho 220 hộ gia đình được chọn trong cỡ mẫu điều tra bọ gậy.

2.4.2 Chọn mẫu tại thực địa: được tiến hành qua 3 bước

Bước đầu tiên trong quy trình là lập danh sách các hộ gia đình tại thị trấn Vân Canh, với tổng số 1.822 hộ Danh sách này được xây dựng dựa trên thông tin từ các cộng tác viên dân số ở các thôn.

- Bước 2: Chọn hộ gia đình

Để tính khoảng cách chọn mẫu k, ta chia tổng số hộ gia đình của thị trấn cho cỡ mẫu cần nghiên cứu Cụ thể, k được tính bằng công thức k = 1.822/220 = 8 Sau đó, chọn một số ngẫu nhiên trong khoảng từ 1 đến 8.

Số ngẫu nhiên được chọn là 5, bắt đầu từ hộ đầu tiên và tiếp tục cộng với khoảng cách mẫu cho đến khi đạt đủ 220 hộ Ví dụ, hộ đầu tiên là

5, hộ thứ 2 là (5 + 8), hộ thứ 3 sẽ là (5 + 2x8), … chọn đến khi đƣợc 220 hộ gia đình thì dừng

- Bước 3: Chọn đối tượng điều tra

Tại mỗi hộ gia đình được phỏng vấn, người tham gia phải là chủ hộ trong độ tuổi từ 18 đến 65 Phỏng vấn được thực hiện trực tiếp, và nếu đối tượng từ chối hoặc vắng mặt, sẽ chọn hộ gia đình liền kề trong danh sách 220 hộ đã được chọn để thay thế, nhằm đảm bảo tính ngẫu nhiên của mẫu.

Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã chọn đối tượng trong các hộ gia đình dựa trên tiêu chuẩn cụ thể Đối tượng được chọn là người đầu tiên đáp ứng tiêu chí khi chúng tôi đến phỏng vấn tại hộ gia đình.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

- Phiếu hỏi: Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh SXHD của người dân được kết cấu làm 4 phần (phụ lục 1)

+ Những thông tin chung: Gồm 5 câu hỏi (từ C1 đến C5)

Nguồn thông tin về phòng chống sốt xuất huyết (SXHD) bao gồm 4 câu hỏi (TT1 đến TT4) Kiến thức của người dân về phòng chống bệnh SXHD được đánh giá qua 9 câu hỏi (K1 đến K10) Thực hành của cộng đồng trong việc phòng chống SXHD được phản ánh qua 4 câu hỏi (TH1 đến TH4).

- Bảng kiểm quan sát điều tra đặc điểm hộ gia đình (phụ lục 2)

+ Tổng số người hiện đang sinh hoạt trong hộ gia đình

+ Diện tích: Gồm diện tích trong nhà và ngoại cảnh

+ Dự trữ nước, loại nước dự trữ

+ Loại cấu trúc nhà ở, vệ sinh trong nhà, vệ sinh ngoại cảnh

Quy trình điều tra bọ gậy Aedes trong các hộ gia đình tại thực địa nghiên cứu bao gồm các bước cụ thể theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việc ghi chép thường quy trong điều tra côn trùng được thực hiện theo phụ lục 3, nhằm đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong việc kiểm soát dịch bệnh.

2.5.2 Tổ chức thu thập số liệu

- Bước 1: Xây dựng thử nghiệm và hoàn thiện bộ công cụ nghiên cứu

Nghiên cứu viên tự xây dựng bộ câu hỏi dựa trên các khái niệm, đặc điểm dịch tễ và triệu chứng lâm sàng của bệnh SXHD, cùng với các biện pháp phòng chống bệnh này Bộ câu hỏi được thiết kế dựa trên tài liệu tham khảo và kiến thức từ các nghiên cứu khác, nhằm tạo ra phiếu hỏi về kiến thức và thực hành phòng chống bệnh SXHD, cũng như bảng kiểm tra về nhà ở và DCCN.

Để hoàn thiện công cụ nghiên cứu, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 20 hộ gia đình tại xã Canh Hiển, huyện Vân Canh Sau khi điều tra, nội dung bộ câu hỏi được chỉnh sửa cho phù hợp và in thành 250 bộ để phục vụ cho việc điều tra và tập huấn.

- Bước 2: Tập huấn nội dung thu thập số liệu

Đối tượng tham gia tập huấn gồm 10 người, bao gồm Điều tra viên là học viên cao học 18 Tây Nguyên, cán bộ khoa Kiểm soát bệnh truyền nhiễm tại Tổ côn trùng của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, và TTYT huyện Vân Canh Dẫn đường cho chương trình là cán bộ Trạm Y tế xã, thị trấn và y tế thôn.

- Bước 3: Tiến hành điều tra

Sau khi hoàn tất tập huấn, nghiên cứu viên sẽ liên hệ với cộng tác viên dân số và cán bộ trạm y tế để nhận danh sách hộ gia đình và thảo luận về kế hoạch làm việc.

+ Nhân lực: 10 người, chia làm 5 nhóm, mỗi nhóm 2 người

Các nhóm tiến hành điều tra đã nhận biểu mẫu và kế hoạch cụ thể Họ cùng nhau quan sát và phỏng vấn 5 hộ gia đình nhằm kịp thời hỗ trợ và khắc phục những thiếu sót trong quá trình điều tra.

- Bước 4: Thu thập phiếu điều tra

Sau 4 ngày điều tra, các nhóm đã nộp phiếu điều tra cho nghiên cứu viên Nghiên cứu viên và giám sát viên tiến hành kiểm tra số lượng và chất lượng bộ câu hỏi, đồng thời xác minh ngẫu nhiên một số hộ gia đình.

Điều tra bọ gậy bao gồm việc quan sát trực tiếp các dụng cụ chứa nước cả trong và ngoài nhà, ghi nhận các thông tin như DCCN, kích thước, lượng nước và số lượng bọ gậy Aedes theo mẫu quy định (Phụ lục 4).

Đối với DCCN nhỏ, cần đổ hết nước và gạn bọ gậy qua vợt Sau đó, lộn trái vợt và nhúng đáy vợt vào cốc thủy tinh chứa nước Tiếp theo, đổ cốc ra khay và đếm trực tiếp số lượng bọ gậy bằng pipet.

Để thu thập bọ gậy từ DCCN trung bình như chum vại hay phuy, sử dụng vợt bọ gậy có đường kính 20 cm và cán dài 1,2 mét Ngâm vợt trong nước, quay xung quanh thành dụng cụ 5 vòng từ trên xuống và xúc ở rốn DCCN Sau khi bắt được bọ gậy, lộn trái vợt, nhúng đáy vào cốc thủy tinh chứa nước, đổ nước ra khay và đếm số lượng bọ gậy bằng pipet, sau đó cho tất cả vào lọ để mang về phòng thí nghiệm định loài.

* Đối với DCCN lớn nhƣ hồ, bể xây: Tại thực địa nghiên cứu các DCCN này không có bọ gậy

Bọ gậy được thu thập từ thực địa và sau đó được đếm cùng với việc xác định loài tại phòng thí nghiệm côn trùng của Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh Bình Định, theo quy trình tiêu chuẩn của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ƣơng.

Các biến số nghiên cứu

- Nhóm biến số thông tin về đối tƣợng nghiên cứu

- Nhóm biến số về nguồn thông tin phòng chống bệnh SXHD

- Nhóm biến số về DCCN của hộ gia đình

- Nhóm biến số về bọ gậy của véc tơ truyền bệnh SXHD

- Nhóm biến số về kiến thức của người dân về phòng chống bệnh SXHD

- Nhóm biến số về thực hành của người dân về phòng chống bệnh SXHD

- Nhóm biến số về đặc điểm nhà ở của người dân.

Khái niệm, tiêu chuẩn và cách đánh giá

Hộ gia đình là một nhóm người sống trên một khu đất có ranh giới rõ ràng, không phụ thuộc vào hộ khẩu Hộ gia đình có thể bao gồm các hình thức như căn hộ riêng biệt, căn hộ chung cư, hoặc một ngôi nhà nơi nhiều thế hệ trong cùng một gia đình sinh sống.

- Đặc điểm nhà ở: là kiến trúc kết cấu nhà

+ Nhà tạm: tường xây gạch đơn không trát vữa; tường bằng gỗ ghép tạm thời + Nhà cấp 4: tường xây bằng gạch trát vữa, mái lợp

+ Nhà xây 1 tầng: là nhà một tầng có mái bê tông

+ Nhà từ 2 tầng trở lên

Dụng cụ chứa nước (DCCN) bao gồm tất cả các loại dụng cụ, không phân biệt kích thước hay giá trị sử dụng, miễn là chúng có khả năng chứa nước Điều này cũng bao gồm cả các dụng cụ phế thải có chứa nước.

- Số lượng nước trong DCCN: à lượng nước chứa trong dụng cụ, đo được tại thời điểm điều tra

- DCCN có nắp: Là những DCCN có nắp kín để muỗi không chui vào đẻ trứng

- DCCN (+): Là DCCN có bọ gậy/ lăng quăng Ae aegypti hoặc Ae albopictus

Ổ bọ gậy nguồn là bất kỳ DCCN đơn lẻ hoặc loại DCCN nào chứa số lượng lớn bọ gậy/lăng quăng Aedes, dẫn đến sự phát triển của một số lượng lớn muỗi trưởng thành Ae aegypti hoặc Ae albopictus.

Để xác định ổ bọ gậy nguồn, cần đếm tổng số lượng bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus trong các chủng loại DCCN Sau đó, xác định nguồn cung cấp muỗi chủ yếu bằng cách tính tỷ lệ nhiễm và tập trung bọ gậy trong mỗi DCCN theo công thức đã được chỉ định.

Số bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus bắt được trong từng dụng cụ chứa nước

- Tỷ lệ tập trung bọ gậy(%) = x 100

Tổng số bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus bắt đƣợc trong đợt điều tra

- Tỷ lệ nhiễm = Tỷ lệ % DCCN của một loại DCCN có bọ gậy/ lăng quăng Ae aegypti hoặc Ae albopictus

- Trong nhà: Là phần diện tích sử dụng của nhà có mái che mƣa nắng

- Ngoại cảnh: Phần diện tích còn lại của hộ gia đình và phần tiếp giáp xung quanh

2.7.2 Các chỉ số véc tơ

Chỉ số bọ gậy: Tính theo từng loài Ae aegypti và Ae albopictus [4]

- Chỉ số nhà có bọ gậy (HI: House index): Tỷ lệ % nhà có bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus

Số nhà có bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus

- Chỉ số vật chứa (CI: Container index): Tỷ lệ % DCCN có bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus

Số DCCN có bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus

- Chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG): Số bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus trung bình trong 1 nhà điều tra

Số bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus

CSMĐBG (Con/nhà) Số nhà điều tra

- Chỉ số Breteau (BI): Số DCCN có bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus trong 100 nhà điều tra Để vận dụng trong thực tế BI đƣợc tính nhƣ sau:

Số DCCN có bọ gậy Ae aegypti hoặc Ae albopictus

2.7.3 Quy ước đánh giá kiến thức, thực hành về PC SXHD của người dân

2.7.3.1 Đánh giá kiến thức của người dân về bệnh SXHD

Câu hỏi Lựa chọn Điểm

K1 - Chọn từ câu 4 đến câu 9 (mỗi ý 1 điểm)

0 K7 - Chọn từ câu 4 đến câu 7 (mỗi ý 1 điểm)

0 K9 - Chọn từ câu 1 đến câu 6 (mỗi ý 1 điểm)

0 K10 - Chọn từ câu 1 đến câu 4 (mỗi ý 1 điểm)

Để đánh giá kiến thức, người học cần trả lời các câu hỏi từ K1 đến K10, với tổng số điểm đạt yêu cầu là trên 15 Nếu tổng số điểm đạt được là 15 điểm hoặc thấp hơn, kiến thức được coi là không đạt.

2.7.3.2 Đánh giá thực hành phòng chống SXHD

Câu hỏi Lựa chọn Điểm

TH1 - Chọn từ câu 1 đến câu 4 (mỗi ý 1 điểm)

0 TH2 - Chọn từ câu 1 đến câu 4 (mỗi ý 1 điểm)

Để đánh giá kết quả thực hành, người học cần trả lời các câu hỏi từ TH1 đến TH4 Nếu tổng số điểm đạt từ 7 đến 10, thực hành được coi là đạt; ngược lại, nếu tổng số điểm dưới 7, thực hành sẽ không đạt.

2.7.3.3 Đánh giá tình trạng vệ sinh trong và ngoài nhà

Câu hỏi Lựa chọn Điểm Đánh giá

Phương pháp phân tích số liệu

Dữ liệu được nhập qua phần mềm EpiData và xử lý bằng SPSS 16.0 cùng với Excel Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm tỷ lệ odds (OR), kiểm định khi bình phương (χ²), khoảng tin cậy 95% (KTC 95%) và giá trị p với mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.

2.9 Đạo đức trong nghiên cứu

- Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng đồng ý thông qua ngày 18 tháng 01 năm 2016 (Số: 079/2016/YTCC-HD3)

- Kết quả nghiên cứu sẽ đƣợc báo cáo phản hồi cho Trung tâm Y tế, Chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan.

Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục

2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ được thực hiện tại một thị trấn thuộc huyện Vân Canh, do đó kết quả không phản ánh toàn bộ tỉnh Hơn nữa, đây là một nghiên cứu cắt ngang, chỉ cung cấp thông tin tại một thời điểm cụ thể Một số đối tượng nghiên cứu không hợp tác và từ chối tham gia phỏng vấn.

Có thể có sai số nhớ lại do người được phỏng vấn không nhớ hết được những nội dung mà gia đình họ đã làm

Thiết kế bộ câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng và dễ hiểu là rất quan trọng Trước khi tiến hành, cần thử nghiệm và chỉnh sửa bộ câu hỏi cho hợp lý Trong quá trình phỏng vấn, hãy giải thích rõ ràng mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu để khuyến khích sự hợp tác từ đối tượng phỏng vấn Đồng thời, cần tạo thời gian cần thiết để đối tượng có thể nhớ lại thông tin.

Trong phần thực hành của hộ gia đình, điều tra viên đã kết hợp phỏng vấn và quan sát thực tế tại các hộ gia đình để đảm bảo kết quả thu được chính xác hơn.

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ổ bọ gậy nguồn của véc tơ truyền bệnh SXHD tại huyện Vân Canh

3.1.1 Dụng cụ chứa nước của hộ gia đình

Bảng 3 1 Dụng cụ chứa nước tại hộ gia đình

Dụng cụ chứa nước tại hộ gia đình Số lượng Tỷ lệ %

Qua bảng 3.1 cho thấy, kết quả điều tra 220 hộ gia đình, 100% các hộ gia đình đều có DCCN

Biểu đồ 3 1 Phân bổ chủng loại dụng cụ chứa nước tại hộ gia đình

Theo biểu đồ 3.1, trong số 220 hộ gia đình được khảo sát tại thị trấn Vân Canh, đã ghi nhận 606 dụng cụ chứa nước (DCCN) thuộc 10 loại khác nhau Trong đó, xô và thùng chiếm tỷ lệ cao nhất với 44,4%, tiếp theo là chum vại với 12,9%, trong khi bể và thùng dội cầu có tỷ lệ thấp nhất là 0,9% Trung bình mỗi hộ gia đình sở hữu 2,7 DCCN.

3.1.2 Véc tơ truyền bệnh SXHD (Bọ gậy)

3.1.2.1 Thành phần loài bọ gậy véc tơ truyền bệnh SXHD (n = 603)

Biểu đồ 3 2 Thành phần loài bọ gậy muỗi Aedes tại thị trấn Vân Canh, 2016

Qua biểu đồ 3.2 cho thấy, số lƣợng bọ gậy Ae aegypti và Ae albopictus bắt đƣợc 603 con, trong đó bọ gậy Ae aegypti chiếm ƣu thế (91,1%)

3.1.2.2 Ổ bọ gậy nguồn véc tơ truyền bệnh SXHD

Bảng 3 2 Tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ tập trung bọ gậy Ae aegypti tại TT Vân Canh, 2016

DCCN Bọ gậy Ae aegypti

Biểu đồ 3 3 Ổ bọ gậy nguồn Ae.aegypti tại thị trấn Vân Canh, 2016

Qua bảng 3.2 và biểu đồ 3.3 cho thấy, số lƣợng bọ gậy Ae aegypti bắt đƣợc là

Trong nghiên cứu về 549 công trình, 4 loại dụng cụ chứa nước (bể téc trên và dưới 500 lít, giếng, bể thùng dội cầu) đều không phát hiện bọ gậy Ae aegypti Tỷ lệ nhiễm bọ gậy Ae aegypti ở các dụng cụ chứa nước này là cao nhất.

Tỷ lệ nhiễm bọ gậy cao nhất là ở DCPT với 40%, tiếp theo là bể chậu cảnh (24,4%), xô, thùng (20%), và chum vại (12,8%) Các loại chứa nước chủ yếu bao gồm DCPT, bể chậu cảnh, phuy, lọ hoa và chum vại, trong đó DCPT chiếm 27,3% tổng số bọ gậy.

Bảng 3 3 Tỷ lệ nhiễm và tỷ lệ tập trung bọ gậy Ae albopictus tại TT Vân Canh

DCCN Bọ gậy Ae albopictus

Biểu đồ 3 4 Ổ bọ gậy nguồn Ae albopictus tại thị trấn Vân Canh, 2016

Qua bảng 3.3 và biểu đồ 3.4 cho thấy, số lƣợng bọ gậy Ae albopictus bắt đƣợc

Trong số 54 công trình, có 2/10 loại DCCN bị nhiễm bọ gậy Ae albopictus Tỷ lệ nhiễm bọ gậy Ae albopictus ở DCPT là 10% và ở bể chậu cảnh là 8,6% Bọ gậy chủ yếu tập trung tại bể chậu cảnh với 74,1% và tại DCPT với 25,9%.

Bảng 3 4 Tỷ lệ dụng cụ chứa nước có đậy nắp và dụng cụ chứa nước có bọ gậy

DCCN có bọ gậy DCCN không bọ gậy

Số lƣợng Tỷ lệ (%) Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Kết quả bảng 3.4 cho thấy, DCCN có đậy nắp là 17,9% và 100% DCCN có đậy nắp thì không có bọ gậy; DCCN không đậy nắp, có bọ gậy (9,5%)

Bảng 3 5 Các chỉ số bọ gậy Aedes tại thị trấn Vân Canh, 2016 Địa phương Chỉ số bọ gậy Ae aegypti Chỉ số bọ gậy Ae albopictus

HI (%) CI (%) BI CSMĐBG HI (%) CI (%) BI CSMĐBG Thị trấn Vân

Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy hầu hết các chỉ số bọ gậy đều nằm dưới ngưỡng nguy cơ Tại thị trấn Vân Canh, một cuộc điều tra trên 220 hộ gia đình đã phát hiện có 2 loại bọ gậy, trong đó có Ae aegypti.

HUPH và Ae albopictus cho thấy bọ gậy Ae aegypti là chủ yếu, với 20,9% hộ gia đình có bọ gậy, mật độ trung bình là 2,5 con mỗi nhà Ngoài ra, 7,8% DCCN cũng có sự hiện diện của bọ gậy, với chỉ số Breteau đạt 21,3.

Một số yếu tố liên quan tới quần thể bọ gậy của véc tơ truyền bệnh SXHD tại thị trấn Vân Canh

3.2.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.2.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu và nguồn thông tin mà đối tượng nghiên cứu tiếp cận

Bảng 3 6 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC Số lƣợng Tỷ lệ %

HUPH Đặc điểm nhân khẩu học của ĐTNC Số lƣợng Tỷ lệ %

Trong nghiên cứu với 220 đối tượng, tỷ lệ nam giới là 51,8% và nữ giới là 48,2% Dân tộc Kinh chiếm 80%, trong khi dân tộc Chăm và Ba Na lần lượt chiếm 12,3% và 7,7% Độ tuổi từ 31 - 45 chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,3%, tiếp theo là nhóm trên 45 tuổi với 36,4%, và nhóm 18 - 30 tuổi chiếm 16,4% Đối tượng tham gia chủ yếu làm nghề nông nghiệp (51,8%), tiếp đến là buôn bán (18,2%), công chức (17,3%) và các nghề khác (12,7%) Về trình độ học vấn, nhóm có trình độ THCS và tiểu học chiếm tỷ lệ cao với 31,8% và 26,4% tương ứng.

Biểu đồ 3 5 Nguồn thông tin phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue

Qua biểu đồ 3.5 cho thấy người dân có nghe nói đến bệnh SXHD chiếm tỷ lệ cao là 98,2%, chỉ có 1,8% là không nghe nói về bệnh SXHD

Biểu đồ 3 6 Phân bổ về nguồn thông tin phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue người dân tiếp nhận

Kết quả phân tích cho thấy người dân tiếp cận thông tin về phòng chống bệnh SXHD chủ yếu qua các kênh như Ti vi (78,6%), CBYT (77,7%), Đài truyền thanh xã (73,2%) và cán bộ xã (41,8%) Trong khi đó, các kênh truyền thông khác như sách báo, tạp chí, tài liệu, cán bộ đoàn thể và radio chỉ chiếm tỷ lệ thấp.

Biểu đồ 3 7 Nguồn thông tin về sốt xuất huyết Dengue được người dân yêu thích nhất

Theo biểu đồ 3.7, kênh thông tin về sản xuất hàng hóa được đối tượng tham gia nghiên cứu ưa chuộng nhất là cán bộ y tế, chiếm 46,4%, tiếp theo là truyền hình với tỷ lệ 34,1% Các kênh truyền thông khác có tỷ lệ thấp hơn.

Biểu đồ 3 8 Người dân tin tưởng vào đối tượng vận động phòng chống sốt xuất huyết Dengue có hiệu quả

Kết quả từ biểu đồ 3.8 cho thấy 89,1% đối tượng nghiên cứu tin tưởng vào cán bộ y tế trong việc tuyên truyền và vận động phòng chống SXHD, trong khi chỉ có 9,1% tin tưởng vào cán bộ thôn, xóm.

3.2.1.2 Tình trạng vệ sinh, đặc điểm nhà ở của người dân tại thị trấn Vân Canh

Biểu đồ 3 9 Tình trạng vệ sinh trong nhà của người dân

Qua kết quả biểu đồ 3.9 cho thấy tỷ lệ hộ gia đình đạt vệ sinh trong nhà là 57,7%, tỷ lệ hộ gia đình không đạt là 42,3%

Biểu đồ 3 10 Tình trạng vệ sinh ngoài nhà của người dân

Qua kết quả biểu đồ 3.10 cho thấy tỷ lệ hộ gia đình đạt vệ sinh ngoài nhà là 55,5%, tỷ lệ hộ gia đình không đạt là 44,5%

Bảng 3 7 Đặc điểm nhà ở của người dân Đặc điểm ĐV tính Số lƣợng Tỷ lệ %

Nhà tạm, nhà cấp 4 Cái 207 94,1%

Diện tích trung bình trong 1 hộ gia đình m 2 234,3

Số người trung bình trong 1 hộ gia đình Người 4

Theo bảng 3.7, 94,1% đối tượng tham gia nghiên cứu sống trong nhà tạm hoặc nhà cấp 4, trong khi chỉ 5,9% sống trong nhà ở kiên cố Diện tích trung bình của hộ gia đình là 234,3 m² với số người trung bình trong mỗi hộ là 4 người.

3.2.1.3 Kiến thức, thực hành phòng chống bệnh SXHD của người dân

Bảng 3 8 Kiến thức của đối tượng phỏng vấn về phòng chống sốt xuất huyết

Kiến thức Số lƣợng Tỷ lệ %

Biết biểu hiện của bệnh SXHD 198 90%

Biết bệnh SXHD do muỗi truyền 212 96,4%

Muỗi truyền bệnh SXHD là muỗi vằn 123 55,9%

Thời gian muỗi đốt là ban ngày 57 25,9%

Muỗi vằn thường đậu trong nhà 121 55%

Nơi sống của bọ gậy Aedes 202 91,9%

Cách phòng SXHD là diệt muỗi và BG 168 76,4%

Biết cách diệt muỗi, bọ gậy SXHD 168 76,4%

Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy hơn 90% đối tượng tham gia nghiên cứu nhận thức được biểu hiện của bệnh sốt xuất huyết (SXHD) và nguồn gốc do muỗi truyền Đối với biện pháp phòng ngừa SXHD, 76,4% biết cách diệt muỗi và bọ gậy Tuy nhiên, chỉ có 55-55,9% người biết rằng muỗi vằn, loài muỗi truyền bệnh SXHD, thường đậu trong nhà, và mức độ nhận thức về thời gian muỗi đốt, chủ yếu vào ban ngày, chỉ đạt 25,9%.

Biểu đồ 3 11 Phân loại kiến thức chung của người dân về phòng chống sốt xuất huyết Dengue

Từ kết quả ở biểu đồ 3.11 cho thấy người được phỏng vấn có kiến thức chung về phòng chống SXHD chƣa đúng là tỷ lệ 63,6%, có kiến thức đúng là 36,4%

Bảng 3 9 Thực hành về phòng chống SXHD của người dân

Thực hiện các biện pháp phòng chống SXHD Số lƣợng Tỷ lệ %

Nằm màn phòng tránh muỗi đốt 127 57,7%

Ngủ màn cả ngày lẫn đêm 92 41,8%

Dùng đèn, vợt 116 52,7% Đậy nắp kín DCCN 106 48,2%

Thực hiện các biện pháp phòng chống SXHD Số lƣợng Tỷ lệ %

Súc rửa định kỳ DCCN 1 tuần/ 1 lần 118 53,6%

Dọn dẹp DCPT trong và ngoài nhà 1 tuần/ 1 lần 113 51,4%

Hộ gia đình có bọ gậy Aedes 46 20,9%

Kết quả từ bảng 3.9 cho thấy trong số 220 đối tượng được phỏng vấn, 57,7% hộ gia đình có sử dụng màn ngủ, nhưng chỉ 41,8% sử dụng màn cả ngày lẫn đêm Ngoài ra, 47,3% hộ gia đình phun thuốc diệt muỗi, 52,7% sử dụng đèn và vợt điện diệt muỗi, trong khi chỉ có 21,4% sử dụng hương diệt muỗi Mặc dù hầu hết các hộ gia đình đều có trữ nước cho sinh hoạt, chỉ 48,2% trong số đó đậy kín các dụng cụ chứa nước để ngăn muỗi sinh sản Quan sát tình trạng vệ sinh cho thấy 63,2% hộ gia đình có súc rửa các dụng cụ chứa nước, nhưng chỉ 35,9% dọn dẹp tốt các vật chứa nước trong và quanh nhà, và chỉ 24,1% thả cá ăn bọ gậy vào bể chứa nước Thêm vào đó, 53,6% hộ gia đình súc rửa dụng cụ chứa nước và 51,4% dọn dẹp vật phế thải đúng cách, trong khi 20,9% hộ gia đình có sự hiện diện của bọ gậy Aedes.

Biểu đồ 3 12 Phân loại thực hành chung của người dân về phòng chống sốt xuất huyết Dengue

Kết quả từ biểu đồ 3.12 cho thấy chỉ có 29,5% người được phỏng vấn thực hành phòng chống SXHD, trong khi tỷ lệ không thực hành đạt 70,5%.

3.2.2 Mối liên quan tới quần thể bọ gậy của muỗi truyền bệnh SXHD

Bảng 3 10 Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết

Dengue với đặc điểm nhân khẩu học Biến số Có bọ gậy Không có bọ gậy OR; KTC 95%; p

Kết quả phân tích hai biến ở bảng 3.10 cho thấy, không tìm thấy mối liên quan giữa ổ bọ gậy của muỗi truyền bệnh SXHD với đặc điểm nhân khẩu học (p > 0,05)

Bảng 3 11 Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy của muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết

Dengue với nguồn thông tin người dân tiếp nhận

Nguồn thông tin PC bệnh

SXHD người dân tiếp nhận Có bọ gậy Không có bọ gậy OR; KTC 95%; p

Kết quả phân tích từ bảng 3.11 cho thấy rằng những người không tiếp nhận thông tin về phòng chống bệnh SXHD có nguy cơ cao hơn, với số lượng bọ gậy trong nhà gấp 3,91 lần so với những người đã nhận được thông tin.

HUPH tiếp nhận nguồn thông tin phòng chống bệnh SXHD, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Bảng 3 12 Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy Aedes và loại nhà ở của người dân

Loại nhà Có bọ gậy Không có bọ gậy OR; KTC 95%; p Nhà tạm, cấp 4 45 (21,7%) 162 (78,3%) OR = 3,33

Kết quả phân tích hai biến ở bảng 3.12 không tìm thấy mối liên quan giữa cấu trúc loại nhà ở của người dân với tình trạng nhà có bọ gậy, với p > 0,05

Bảng 3 13 Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy Aedes và vệ sinh trong nhà

Vệ sinh trong nhà Có bọ gậy Không có bọ gậy OR; KTC 95%; p

Kết quả phân tích từ bảng 3.13 cho thấy rằng hộ gia đình có vệ sinh trong nhà không đạt tiêu chuẩn có số lượng bọ gậy cao gấp 2,93 lần so với hộ gia đình đạt tiêu chuẩn vệ sinh Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,01.

Bảng 3 14 Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy Aedes và vệ sinh ngoại cảnh

Vệ sinh ngoại cảnh nhà ở Có bọ gậy Không có bọ gậy OR; KTC 95%; p

Kết quả phân tích từ bảng 3.14 cho thấy vệ sinh ngoại cảnh tại hộ gia đình không đạt tiêu chuẩn, với số lượng bọ gậy cao gấp 4,26 lần so với hộ gia đình có vệ sinh đạt Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p < 0,001.

Bảng 3 15 Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy và kiến thức về phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue của người dân

PCB SXHD Có bọ gậy Không có bọ gậy

OR; KTC 95%; p Không đạt 38 (27,1%) 102 (72,9%) OR = 3,35

Kết quả phân tích từ bảng 3.15 cho thấy, những người có kiến thức không đạt có tỷ lệ nhà có bọ gậy cao gấp 3,35 lần so với những người có kiến thức đạt, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

Bảng 3 16 Mối liên quan giữa nhà có bọ gậy và thực hành về phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue của người dân

PCB SXHD Có bọ gậy Không có bọ gậy

OR; KTC 95%; p Không đạt 40 (25,6%) 116 (74,4%) OR = 3,33

Kết quả phân tích từ bảng 3.16 cho thấy, tỷ lệ nhà có bọ gậy ở những người thực hành không đạt cao gấp 3,33 lần so với những người thực hành đạt, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,01.

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w