1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác xử lý ổ dịch sốt xuất huyết dengue tại quận đống đa hà nội, năm 2012

116 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác xử lý ổ dịch sốt xuất huyết dengue tại quận Đống Đa, Hà Nội, năm 2012
Tác giả Đỗ Bá Hoàn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Nhật Cảm, Ths. Nguyễn Thái Quỳnh Chi
Trường học Hà Nội University of Public Health
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 2,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Đại cương về sốt xuất huyết Dengue (15)
    • 1.1.1. Một số khái niệm (15)
    • 1.1.2. Tác nhân gây bệnh (16)
    • 1.1.3. Phương thức lây truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue (16)
    • 1.1.4. Thời kỳ ủ bệnh (18)
    • 1.1.5. Tính cảm nhiễm và sức đề kháng (18)
  • 1.2. Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới và Việt Nam (19)
    • 1.2.1 Tình hình dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới (19)
    • 1.2.2 Tình hình SXHD tại Việt Nam (21)
    • 1.2.3 Tình hình SXHD tại Hà Nội (24)
  • 1.3. Phòng chống sốt xuất huyết Dengue (26)
  • 1.4. Xử lý ổ dịch SXHD (27)
  • 1.5. Các nghiên cứu liên quan (28)
    • 1.5.1. Trên thế giới (28)
    • 1.5.2. Tại Việt Nam (32)
    • 1.5.3. Khung lý thuyết (34)
  • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (35)
  • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (35)
  • 2.3. Thiết kế (36)
  • 2.4. Cỡ mẫu (36)
  • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (37)
  • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (38)
  • 2.7. Các biến số nghiên cứu (39)
  • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (40)
  • 2.9. Hạn chế của nghiên cứu (40)
  • 2.10. Sai số của nghiên cứu và cách khắc phục (41)
  • 2.11. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (41)
  • 3.1. Đặc điểm của đối tƣợng tham gia nghiên cứu định lƣợng (42)
  • 3.2. Thực trạng công tác xử lý ổ dịch SXHD tại quận Đống Đa (43)
    • 3.2.1. Đặc điểm ổ dịch SXHD tại quận Đống Đa năm 2012-2013 (43)
    • 3.2.2. Hậu cần cho công tác xử lý ổ dịch SXHD tại quận Đống Đa (45)
    • 3.2.3. Công tác xử lý ổ dịch SXHD (46)
    • 3.2.4. Truyền thông (47)
    • 3.2.5. Sự tham gia của người dân (49)
  • 3.3. Một số yếu tố liên quan/ ảnh hưởng đến công tác xử lý ổ dịch SXHD (51)
    • 3.3.1. Vai trò của cơ chế quản lý, phối hợp liên ngành và hậu cần (51)
    • 3.3.2. Vai trò của người dân trong công tác xử lý ổ dịch (54)
      • 3.3.2.1. Phun hóa chất diệt muỗi trưởng thành (54)
      • 3.3.2.2. Giám sát bệnh nhân, giám sát véc tơ (57)
      • 3.3.2.3. Tổ chức vệ sinh môi trường, diệt bọ gậy (58)
      • 3.3.2.4. Tuyên truyền, huy động cộng đồng (60)
    • 3.3.3. Vai trò của véc tơ và yếu tố môi trường tự nhiên (63)
  • 4.1. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu định lƣợng (64)
  • 4.2. Đặc điểm đối tƣợng nghiên cứu định tính (64)
  • 4.3. Bàn luận về thực trạng công tác xử lý ổ dịch (65)
    • 4.3.1. Đặc điểm ổ dịch sốt xuất huyết dengue tại Quận Đống Đa (65)
    • 4.3.2. Hậu cần cho công tác xử lý ổ dịch SXHD tại Quận đống đa (0)
    • 4.3.3. Công tác xử lý ổ dịch SXHD và sự tham gia của người dân (66)
  • 4.4. Bàn luận về các yếu tố liên quan/ảnh hưởng đến công tác xử lý ổ dịch (68)
    • 4.4.1. Vai trò cơ chế quản lý, phối hợp liên ngành và hậu cần (68)
    • 4.4.2. Vai trò của người dân trong công tác xử lý ổ dịch (71)
      • 4.4.2.1. Phun hóa chất diệt muỗi (71)
      • 4.4.2.2. Vệ sinh môi trường, diệt bọ gậy (73)
      • 4.4.2.3. Huy động cộng đồng (74)
    • 4.4.3. Hạn chế của nghiên cứu (75)
  • KẾT LUẬN (76)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (78)
  • PHỤ LỤC (84)
    • Biểu 3.1: Phân bố ổ dịch SXHD quận Đống Đa năm 2012 theo tháng [24] (44)

Nội dung

Đại cương về sốt xuất huyết Dengue

Một số khái niệm

Nghiên cứu này áp dụng các khái niệm theo quyết định số 1499/QĐ-BYT của Bộ Y tế, ban hành ngày 17/5/2011, nhằm hướng dẫn giám sát và phòng chống sốt xuất huyết Dengue.

Bệnh sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là một bệnh nhiễm vi rút cấp tính do muỗi truyền, có khả năng gây ra dịch lớn Một ổ dịch SXHD được xác định khi có các ca bệnh lâm sàng xảy ra trong vòng 7 ngày hoặc một ca bệnh được chẩn đoán xác định qua xét nghiệm, kèm theo sự phát hiện bọ gậy hoặc muỗi truyền bệnh.

Khi xảy ra ổ dịch, việc xử lý phải tuân theo quy định Ổ dịch sốt xuất huyết được coi là chấm dứt khi không ghi nhận ca bệnh mới trong vòng 14 ngày kể từ ngày khởi phát của ca bệnh cuối cùng.

Ca bệnh giám sát (ca bệnh lâm sàng):

Người sống hoặc đến từ vùng có ổ dịch hoặc lưu hành sốt xuất huyết trong vòng 14 ngày cần chú ý nếu có biểu hiện sốt cao đột ngột, kéo dài từ 2-7 ngày, kèm theo ít nhất 2 trong các dấu hiệu sau.

Xuất huyết có thể biểu hiện ở nhiều mức độ khác nhau, bao gồm nghiệm pháp dây thắt dương tính, chấm hoặc mảng xuất huyết dưới da, chảy máu chân răng, và chảy máu cam.

+ Nhức đầu, chán ăn, buồn nôn, nôn

+ Da xung huyết, phát ban

+ Đau cơ, đau khớp, nhức hai hố mắt

+ Đau bụng vùng gan hoặc ấn đau vùng gan

Là ca bệnh đƣợc chẩn đoán xác định bằng xét nghiệm (bằng các kỹ thuật: Mac – Elisa, PCR, NS1) [5]

Xử lý ổ dịch SXHD muộn là việc thực hiện các biện pháp cần thiết trong vòng 48 giờ sau khi ổ dịch được xác định Nếu ổ dịch kéo dài, cần lưu ý rằng vẫn có thể xuất hiện bệnh nhân SXHD mới trong vòng 14 ngày sau khi đã tiến hành các biện pháp xử lý.

Tác nhân gây bệnh

Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra, được truyền qua vết đốt của muỗi Vi rút này thuộc nhóm Flaviviridae và có 4 týp huyết thanh: DEN-1, DEN-2, DEN-3 và DEN-4 Khi xâm nhập vào cơ thể người, vi rút nhân lên trong tế bào bạch cầu đơn nhân, dẫn đến sự phát triển của bệnh.

[26] Ở Việt Nam đã phân lập cả 4 típ vi rút Dengue Tuýp vi rút lưu hành gần đây chủ yếu của các khu vực là D1 (49%), D2 (36%) [8].

Phương thức lây truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue

Vi rút Dengue lây truyền từ người bệnh sang người khỏe mạnh qua muỗi đốt, và bệnh sốt xuất huyết (SXHD) không thể lây trực tiếp giữa người với người Tại Việt Nam, hai loài muỗi chính truyền bệnh SXHD là Aedes aegypti và Aedes albopictus, trong đó Aedes aegypti là véc tơ chủ yếu trong các vụ dịch ở nhiều quốc gia như Philippines, Singapore và Thái Lan Ở miền Bắc, bọ gậy Aedes aegypti thường tập trung ở các bể xây và bể cảnh, trong khi ở miền Trung, chúng chủ yếu xuất hiện trong nhiều loại dụng cụ chứa nước như giếng và bể.

Muỗi Aedes trưởng thành có thân màu đen bóng với các đám vẩy trắng bạc tạo thành các vằn đen trắng trên cơ thể và chân, do đó thường được gọi là muỗi vằn.

Muỗi Aedes aegypti Muỗi Aedes albopictus

Muỗi Aedes, loài muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết, chủ yếu xuất hiện ở các thành phố và đô thị đông đúc tại Việt Nam Sự phát triển kinh tế dẫn đến gia tăng rác thải như vỏ đồ hộp, vỏ dừa và lốp xe, cùng với tình trạng vứt bỏ dụng cụ phế thải bừa bãi Đô thị hóa nhanh chóng nhưng không đồng bộ, với hệ thống cấp thoát nước chưa đầy đủ và vệ sinh môi trường kém, cùng với sự thờ ơ của một số người dân đối với truyền thông và giáo dục sức khỏe cộng đồng, đã tạo điều kiện thuận lợi cho quần thể muỗi Aedes phát triển.

Muỗi Aedes aegypti thường sống gần người trong nhà, thích những nơi kín gió và thường trú đậu ở độ cao dưới 2 mét, đặc biệt là ở những khu vực có ánh sáng yếu Chúng thường đậu trên quần áo, chăn, màn và các vật dụng gia đình, trong khi chỉ một số ít đậu trên tường Muỗi đẻ trứng ở những nơi có nước sạch, bao gồm các vật chứa nước tự nhiên và nhân tạo như lu, vại, bể chứa không đậy nắp, chai, lọ, vỏ dừa, lốp ô tô cũ, chậu cây cảnh và các vật dụng khác có thể tích trữ nước trong vòng 7 ngày Bọ gậy của muỗi Aedes thích nước có độ pH hơi axít, đặc biệt là nước mưa.

Muỗi Aedes hoạt động quanh năm, nhưng phát triển mạnh nhất từ tháng 6 đến tháng 10, trùng với mùa mưa ở miền Trung – Tây Nguyên Số lượng bệnh nhân mắc và tử vong cũng tăng cao trong mùa mưa này.

Muỗi Aedes có vòng đời biến thái hoàn toàn với 4 giai đoạn phát triển: trứng, bọ gậy, cung quăng và muỗi trưởng thành Chỉ giai đoạn muỗi trưởng thành mới liên quan trực tiếp đến việc truyền bệnh Thời gian trung bình để phát triển từ trứng đến muỗi trưởng thành là khoảng 7 đến 10 ngày trong điều kiện phòng thí nghiệm.

Muỗi cái Aedes chủ yếu hút máu người và hoạt động mạnh vào ban ngày, đặc biệt là vào sáng sớm và chiều tối Sau khi hút máu từ người bệnh, muỗi có khả năng truyền bệnh ngay lập tức Nếu không có cơ hội truyền bệnh, virus sẽ tiếp tục phát triển trong ống tiêu hóa của muỗi và sau khoảng 8 ngày, virus sẽ di chuyển tới tuyến nước bọt để chờ cơ hội lây nhiễm sang người khác.

Thời kỳ ủ bệnh

Thời kỳ ủ bệnh của bệnh kéo dài từ 3-14 ngày, với trung bình là 5-7 ngày Bệnh nhân có khả năng lây nhiễm trong thời gian có sốt, đặc biệt là trong 5 ngày đầu khi nồng độ virus trong máu cao Muỗi nhiễm virus có thể truyền bệnh sau 8-12 ngày kể từ khi hút máu và có khả năng lây truyền suốt đời.

Nếu bệnh nhân bị muỗi đốt, muỗi sẽ nhiễm vi rút và tạo điều kiện cho vòng lây truyền nếu không có biện pháp bảo vệ Muỗi có thể truyền bệnh suốt đời sau khi nhiễm vi rút từ 8 đến 12 ngày sau khi hút máu.

Tính cảm nhiễm và sức đề kháng

Mọi người chưa có miễn dịch đặc hiệu đều có nguy cơ mắc bệnh, đặc biệt là trẻ em, thường có triệu chứng nhẹ hơn so với người lớn Sau khi khỏi bệnh, cơ thể sẽ tạo ra miễn dịch suốt đời với một típ vi rút Dengue, nhưng không đủ miễn dịch với các típ vi rút khác Nếu mắc bệnh lần thứ hai với típ vi rút Dengue khác, bệnh nhân có thể gặp tình trạng nặng hơn và dễ bị sốc dengue.

Tình hình sốt xuất huyết Dengue trên thế giới và Việt Nam

Tình hình dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue trên thế giới

SXHD là bệnh do vi rút truyền qua muỗi lây lan nhanh nhất trên thế giới [56]

Dịch sốt xuất huyết (SXHD) đã xuất hiện cách đây ba thế kỷ ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới Dịch SXHD đầu tiên được ghi nhận vào năm 1635 tại Tây Ấn Độ, thuộc địa của Pháp, trong khi một bệnh tương tự như sốt dengue đã được ghi nhận ở Trung Quốc vào năm 992 sau công nguyên Năm 1780, một tác giả đã mô tả bệnh “sốt gãy xương” ở Philadelphia, có thể là sốt dengue Vụ dịch SXHD đầu tiên được xác nhận xảy ra ở Philippines vào năm 1953-1954, và từ đó, nhiều vụ dịch lớn đã bùng phát ở hầu hết các nước Đông Nam Á, với tỷ lệ tử vong cao, bao gồm Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, và các nước thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương như Singapore, Campuchia, Trung Quốc, Lào, Philippines và Việt Nam.

Hình 1.2 Các nước nằm trong khu vực nguy cơ SD/SXHD, 2010 [57]

Tỉ lệ mắc bệnh đã gia tăng đáng kể trên toàn cầu trong những năm gần đây, với bệnh lưu hành ở hơn 100 quốc gia thuộc khu vực khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới, bao gồm Đông Nam Á, Tây Thái Bình Dương, Châu Mỹ và Châu Phi Khoảng 2,5 tỷ người hiện đang sống trong vùng có nguy cơ dịch bệnh.

Tình hình HUPH đang có xu hướng gia tăng đáng kể Trong giai đoạn 1955-1959, số ca mắc trung bình hàng năm chỉ là 908 trường hợp, nhưng đến giai đoạn 1980-1989, con số này đã tăng vọt lên 295.591 Đặc biệt, trong giai đoạn 2000-2007, số ca mắc đạt 925.896, và đến năm 2010, tổng số ca mắc đã lên tới 2.204.516.

Biểu đồ 1.1 Số mắc SXHD trung bình hàng năm trên thế giới [58]

Vào năm 2008, Brazil đã trải qua một ổ dịch sốt xuất huyết nghiêm trọng tại Rio de Janeiro, với hơn 158.000 ca mắc, hơn 9.000 ca nhập viện và 230 ca tử vong Quân đội đã được huy động để cải thiện chăm sóc sức khỏe và kiểm soát véc tơ Một lời kêu gọi viện trợ quốc tế đã được phát động, với ước tính 1 tỷ USD được chi cho công tác phòng ngừa và kiểm soát bệnh Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực này, vào năm 2010, Brazil vẫn ghi nhận hơn 1,2 triệu ca sốt xuất huyết.

Các khu vực có khí hậu nhiệt đới hiện đang đối mặt với nguy cơ dịch bệnh cao, với sự lưu hành đồng thời của cả 4 loại virus tại các khu vực châu Mỹ, châu Á, Thái Bình Dương và châu Phi.

SXHD là một vấn đề nghiêm trọng về sức khỏe cộng đồng và là mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực y tế công cộng toàn cầu Năm 2007, Venezuela ghi nhận hơn 80.000 ca sốt dengue, trong đó có 6.000 ca mắc SXHD.

Trong các khu vực bị ảnh hưởng bởi bệnh sốt xuất huyết (SXHD), Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là những vùng chịu tác động nặng nề nhất Các quốc gia như Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Lào và Campuchia đã ghi nhận tỷ lệ mắc và tử vong cao trong những năm gần đây Sau đợt dịch SXHD lớn vào năm 1998, hầu hết các nước trong khu vực đã phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng trong việc kiểm soát dịch bệnh.

Trong các năm 2004, 2009 và 2010, dịch sốt xuất huyết (SXHD) đã bùng phát tại một số quốc gia trong khu vực Cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2004, Indonesia ghi nhận 59.321 trường hợp mắc và 669 ca tử vong, cho thấy dịch bệnh vẫn chưa được kiểm soát Tại Singapore, năm 2004 cũng là năm có số ca mắc SXHD cao nhất kể từ năm 1998, với 8.500 trường hợp, gấp đôi so với năm 2003.

Trong 10 năm qua, Malaysia đã ghi nhận 33.203 trường hợp mắc và tử vong do SXHD trong năm 2004, đánh dấu số mắc cao nhất kể từ năm 1999 Ngoài ra, một số quốc gia trong khu vực như Philippines và Srilanca cũng có tỷ lệ mắc và tử vong do SXHD cao, lần lượt là 0,7% và 0,6%.

Tình hình SXHD tại Việt Nam

Việt Nam là khu vực có dịch SXHD lưu hành địa phương, chủ yếu tập trung ở các tỉnh miền Nam và Nam Trung Bộ, với tỷ lệ mắc hàng năm dao động từ 40 đến 310 ca trên 100.000 dân Khu vực miền Nam thường chiếm hơn 70% số ca mắc mới, trong khi tỷ lệ tử vong có thể vượt quá 1 trên 100.000 dân.

Hình 1.3 Phân bố mắc SXHD/100.000 dân bình quân năm theo tỉnh/thành phố năm 2006-2010 [10]

Chu kỳ của dịch sốt xuất huyết (SXHD) thường kéo dài từ 3-5 năm, với các vụ dịch lớn xảy ra sau những vụ dịch nhỏ và vừa Tại Việt Nam, các đỉnh dịch lớn thường rơi vào các năm 1987, 1998 và 2007, trong khi các vụ dịch nhỏ xảy ra vào năm 1991 và 2004 Do đặc điểm địa lý và khí hậu khác nhau, miền Nam và Nam Trung Bộ có dịch xuất hiện quanh năm, trong khi miền Bắc thường có dịch từ tháng 4 đến tháng 11 Các tháng khác, dịch ít xảy ra do thời tiết lạnh và ít mưa, không thuận lợi cho sự sinh sản và hoạt động của muỗi Aedes aegypti Bệnh SXHD phát triển mạnh nhất vào tháng 7.

Bệnh có xu hướng lây lan từ các thành phố lớn đến thành phố nhỏ và các làng mạc, nơi có sự hiện diện của véc tơ, chủ yếu là muỗi Aedes aegypti.

Bệnh SXHD tại Việt Nam đang có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây, với nguy cơ bùng phát dịch rất lớn Trước đây, đỉnh dịch thường xảy ra vào tháng 5-6 với số ca mắc dưới 10.000 trường hợp Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dịch thường xuất hiện muộn, từ tháng 9-10, và kéo dài sang đầu năm sau, với số ca mắc trong đỉnh dịch vượt quá 10.000 trường hợp.

Theo báo cáo đánh giá kết quả hoạt động của dự án phòng chống sốt xuất huyết dengue giai đoạn 1999-2007, trung bình mỗi năm có 54.911 trường hợp mắc và 69 trường hợp tử vong, với tỷ lệ mắc là 65,3/100.000 dân Năm 2007 ghi nhận số mắc và tử vong cao nhất với 104.465 trường hợp mắc và 88 trường hợp tử vong Trong giai đoạn 2006-2009, trung bình mỗi năm có 89.816 trường hợp mắc và 80 trường hợp tử vong, tỷ lệ mắc tăng 73% và tỷ lệ tử vong tăng 9% so với giai đoạn 2001-2005.

Năm 2009 tỉ lệ mắc bệnh cao nhất đƣợc ghi nhận chủ yếu ở ba khu vực so với năm

Từ năm 2008 đến 2012, tình hình dịch sốt xuất huyết (SXHD) tại Việt Nam có nhiều biến động Năm 2010, cả nước ghi nhận 125.854 trường hợp mắc SXHD, tăng 24% so với năm 2009, với 100 ca tử vong Sự gia tăng này đặc biệt rõ rệt ở khu vực Tây Nguyên (tăng 9 lần) và miền Trung (tăng 3,3 lần), trong khi miền Bắc giảm 71% và không có ca tử vong Đến tháng 11 năm 2012, cả nước ghi nhận 10.063 trường hợp mắc và 7 ca tử vong, giảm 10,8% so với trung bình giai đoạn 2006-2010.

Tình hình SXHD tại Hà Nội

Hà Nội đang đối mặt với dịch SXHD, có khả năng diễn biến phức tạp do nhiều yếu tố nguy cơ như đô thị hóa mạnh mẽ, di biến động dân cư lớn, và tình trạng thiếu nước sạch cùng vệ sinh môi trường kém, đặc biệt tại các khu vực sinh viên và người lao động ngoại tỉnh Các làng nghề buôn bán phế liệu, phế thải và nhiều công trình xây dựng cũng tạo điều kiện cho muỗi sinh sản Thời tiết phức tạp hiện nay càng thuận lợi cho sự phát triển của véc tơ truyền bệnh, làm tăng nguy cơ bùng phát dịch.

Năm 2009, Hà Nội ghi nhận 16.090 trường hợp SXHD, tăng 6,7 lần so với năm 2008, với 4 ca tử vong Bệnh nhân phân bố tại 29/29 quận huyện và 521/577 xã phường, chiếm 90,3%, cho thấy sự gia tăng số quận huyện và xã phường có bệnh nhân so với cùng kỳ năm trước.

2008 Dịch tản phát trên toàn thành phố chủ yếu là ổ dịch nhỏ [16], [20]

Năm 2010 Hà Nội có 3.122 ca nghi mắc SXHD, không có ca tử vong, số mắc giảm 80,1% so với cùng kỳ năm 2009 (16.090 ca) BN phân bố ở 29/29 quận huyện

Tỷ lệ bệnh nhân tại các xã phường đã giảm 24,3% so với cùng kỳ năm 2009 Số ca mắc bệnh vẫn chủ yếu tập trung ở khu vực nội thành, chiếm 76%, với các quận như Đống Đa, Hoàng Mai, Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm, và Thanh Xuân, cùng với các huyện ngoại thành có mức đô thị hóa cao.

Tại Từ Liêm và Thanh Trì, 60% bệnh nhân là học sinh, sinh viên, người lao động tự do và người ngoại tỉnh Bệnh nhân bắt đầu xuất hiện từ đầu năm, với số ca mắc cao nhất ghi nhận trong tháng 9 và tháng 10, sau đó giảm nhanh trong hai tháng tiếp theo Các chỉ số véc tơ luôn duy trì ở mức cao.

Nghiên cứu của Nguyễn Nhật Cảm tại quận Đống Đa năm 2001 cho thấy tỷ lệ hiểu biết chung về bệnh sốt xuất huyết (SXHD) của người dân chỉ đạt 47,1%, trong khi thực hành đúng các biện pháp phòng chống bệnh chỉ là 15,2% Mặc dù người dân có hiểu biết cao về triệu chứng, tính nguy hiểm của bệnh, và cách phòng bệnh do muỗi truyền, nhưng kiến thức về sinh học của véc tơ truyền bệnh như nơi trú đậu, hoạt động hút máu và nơi sinh sống của bọ gậy cần được cải thiện Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên hệ chặt chẽ giữa vệ sinh trong gia đình, vệ sinh ngoại cảnh và tình trạng nhà có bọ gậy.

Tỷ người dân tại địa bàn nghiên cứu áp dụng các biện pháp phòng bệnh SXHD khá cao: 83,8% lựa chọn biện pháp diệt bọ gậy; 70,3% hộ gia đình (HGĐ)

HUPH áp dụng biện pháp diệt muỗi bằng hóa chất, với tỷ lệ hộ gia đình đậy nắp kín các dụng cụ chứa nước đạt 66,9% Tỷ lệ người dân sử dụng biện pháp phun thuốc diệt muỗi là 70,3%, trong khi tỷ lệ thả cá diệt bọ gậy vào các dụng cụ chứa nước là 68,2% Đống Đa, quận nội thành Hà Nội, có mật độ dân số cao nhất với 36.550 người/km², là khu vực phức tạp với nhiều lao động ngoại tỉnh, học sinh, sinh viên và lao động thời vụ sống chật chội Nơi đây còn thiếu nước sạch và có điều kiện vệ sinh môi trường kém, dẫn đến nhiều ổ đọng nước, tạo điều kiện cho muỗi truyền bệnh sốt xuất huyết phát triển, khiến Đống Đa luôn nằm trong số các khu vực có tỷ lệ mắc sốt xuất huyết cao nhất Hà Nội.

Trong những năm gần đây, tình hình bệnh SXHD đã trở nên phức tạp, với hầu hết các phường đều ghi nhận ca bệnh Cụ thể, năm 2008 toàn quận chỉ có 343 ca, nhưng đến năm 2009, dịch bùng phát mạnh mẽ với 2.627 ca, tăng gấp hơn 8 lần so với năm trước.

2010, số ca mắc là 401, năm 2011 là 681, đến năm 2012 là 248 ca mắc/ 51 ổ dịch

Tỷ lệ mắc trên 100.000 dân (68,12) cao gấp 3 lần số mắc chung của Hà Nội 19,9/100.000 dân) [24]

Bảng 1.1 Tình hình mắc SXHD của quận Đống Đa từ năm 2006-2012

STT Năm Số ca mắc

(Nguồn: Báo cáo chương trình phòng chống SXHD các quận huyện 2006-2012)

Phòng chống sốt xuất huyết Dengue

Về nguyên tắc phòng chống SXHD cần giải quyết 3 khâu của quá trình dịch là:

- Giải quyết nguồn bệnh: Chẩn đoán, cách ly, điều trị người bệnh

- Bảo vệ khối cảm thụ: Nghiên cứu và sử dụng vắc xin dự phòng

- Biện pháp cắt đứt đường lây: Diệt véc tơ đặc biệt là loăng quăng, bọ gậy

Hiện tại, vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc xin phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết Phương pháp điều trị chủ yếu là giảm triệu chứng và cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân.

Diệt véc tơ, đặc biệt là loăng quăng và bọ gậy, cần sự tham gia tích cực của từng hộ gia đình và toàn cộng đồng, là biện pháp hiệu quả nhất trong việc phòng chống sốt xuất huyết.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xác định 5 yếu tố chính trong chiến lược toàn cầu phòng chống sốt xuất huyết (SXHD), bao gồm: kiểm soát muỗi một cách tổng hợp và có chọn lọc với sự tham gia của cộng đồng và các ban ngành; giám sát và phát hiện sớm bệnh nhân; theo dõi sự biến động của quần thể véc tơ; xây dựng kế hoạch ứng phó cho các tình huống dự phòng và khẩn cấp; đào tạo và nâng cao năng lực cho hệ thống y tế; cùng với nghiên cứu khoa học về điều khiển gen và kiểm soát véc tơ truyền bệnh.

Mô hình PC SXHD dựa vào cộng đồng đã được triển khai tại nhiều quốc gia theo chiến lược toàn cầu của WHO Tại Colombia, học sinh phổ thông được đào tạo về muỗi Ae.aegypti và cách kiểm soát chúng, dẫn đến việc giảm bọ gậy sau 11 năm Ở Indonesia, sự hợp tác giữa chính quyền địa phương, câu lạc bộ và tổ chức phúc lợi gia đình đã tạo ra dự án PC SXHD hiệu quả, với sự tham gia của hội phụ nữ Mô hình này cũng đã được nhân rộng tại Malaysia, nơi các hoạt động CD VSMT giúp phá bỏ nơi sinh sản của muỗi Hiện nay, 95% tình nguyện viên tiếp tục công việc và nhận thêm vai trò mới Tại Việt Nam, mô hình này đã được áp dụng vào chương trình quốc gia từ đầu năm 1999.

Nghiên cứu của Brian Kay và Vũ Sinh Nam đã thử nghiệm chiến lược kiểm soát véc tơ từ năm 1998 đến 2003, kết hợp 4 thành tố, trong đó có việc chuyển giao hoạt động cho cộng đồng thông qua CTV tình nguyện, nhà trường và cộng đồng Các hoạt động này được lãnh đạo bởi cộng đồng và thực hiện bởi y tế, giáo viên và học sinh CTV có nhiệm vụ kiểm tra hàng tháng khoảng 100 hộ gia đình để tuyên truyền, giáo dục sức khỏe, báo cáo các trường hợp nghi ngờ sốt dengue cho y tế xã, cung cấp tác nhân sinh học (mesocyclops) và tham gia các chiến dịch vệ sinh môi trường Kết quả cho thấy không có ca sốt dengue nào được phát hiện ở các xã thử nghiệm từ năm 2002.

Xử lý ổ dịch SXHD

Thực hiện theo quyết định 1499/QĐ-BYT ngày 17/5/2011 về việc ban hành Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue [5]

Quy mô xử lý ổ dịch sốt xuất huyết:

- Khi có 1 ổ dịch xử lý khu vực phạm vi bán kính 200 mét kể từ nhà bệnh nhân

Trong trường hợp có từ 3 ổ dịch SXHD trở lên tại một thôn hoặc ấp trong vòng 14 ngày, cần xử lý theo quy mô thôn/ấp và có thể mở rộng biện pháp khi dịch lan rộng.

Các biện pháp xử lý ổ dịch phải đƣợc triển khai trong vòng 48 giờ kể từ khi ổ dịch đƣợc xác định

Các biện pháp xử lý ổ dịch SXHD (Phụ lục 16):

- Phun hóa chất diệt muỗi

- Giám sát bệnh nhân, véc tơ

- Tuyên truyền, huy động cộng đồng

- Tổ chức chiến dịch vệ sinh môi trường, diệt bọ gậy

Cơ quan y tế đã tham mưu cho chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra và đôn đốc các hoạt động phòng chống dịch Họ cũng bổ sung kinh phí, thuốc, hóa chất, phương tiện và nhân sự để sẵn sàng cho công tác chống dịch Trung tâm y tế quận/huyện phối hợp với chính quyền và y tế phường/xã để tổ chức xử lý ổ dịch theo quy định.

Các nghiên cứu liên quan

Trên thế giới

Nghiên cứu của Chadee D và cộng sự tại Thành phố Trinidad năm 1998 đã kiểm tra 99 ngôi nhà xung quanh khi một ca SXHD được xác nhận Các biện pháp xử lý bao gồm sử dụng temephos để diệt bọ gậy, phun hóa chất fenthion trên tường và phun khói nóng malathion cho tất cả các nhà, thực hiện lặp lại 4 lần trong 3 tháng Kết quả cho thấy chỉ số bọ gậy giảm có ý nghĩa thống kê, với BI = 3,57-7,23 (p

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2006), Giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh sốt xuất huyết dengue và sốt xuất huyết dengue, Nxb Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giám sát, chẩn đoán và điều trị bệnh sốt xuất huyết dengue và sốt xuất huyết dengue
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nxb Y học
Năm: 2006
2. Bộ Y tế (2009), Cẩm nang phòng chống bệnh truyền nhiễm, Cục Y tế dự phòng và Môi trường, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang phòng chống bệnh truyền nhiễm
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Cục Y tế dự phòng và Môi trường
Năm: 2009
3. Bộ Y tế (2011), Niên giám thống kê bệnh truyền nhiễm năm 2010, Cục y tế dự phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Niên giám thống kê bệnh truyền nhiễm năm 2010
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Cục y tế dự phòng
Năm: 2011
4. Bộ Y tế (2011), Quyết định số 458/QĐ-BYT ngày 16/02/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc, chẩn đoán và điều trị bệnh sốt xuất huyết dengue Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 458/QĐ-BYT ngày 16/02/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc, chẩn đoán và điều trị bệnh sốt xuất huyết dengue
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
5. Bộ Y tế (2011), Quyết định số 1499/QĐ-BYT ngày 17/5/2011 của Bộ Y tế về việc ban hành, Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh SXHD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giám sát và phòng chống bệnh SXHD
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
6. Nguyễn Nhật Cảm (2001), "Xác định ổ bọ gậy nguồn véc tơ truyền bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở quận Đống Đa Hà Nội năm 2001", Tạp chí Y học dự phòng. 54(48) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xác định ổ bọ gậy nguồn véc tơ truyền bệnh sốt dengue/sốt xuất huyết dengue và một số yếu tố liên quan ở quận Đống Đa Hà Nội năm 2001
Tác giả: Nguyễn Nhật Cảm
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2001
7. Nguyễn Nhật Cảm (2010), Dịch tễ học phân tử kháng hoá chất diệt côn trùng của muỗi Aedes aegypti truyền bệnh sốt xuất huyết ở một số tỉnh/thành phố Việt Nam 2006- 2009, Luận án Tiến sỹ, Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ƣơng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học phân tử kháng hoá chất diệt côn trùng của muỗi Aedes aegypti truyền bệnh sốt xuất huyết ở một số tỉnh/thành phố Việt Nam 2006- 2009
Tác giả: Nguyễn Nhật Cảm
Nhà XB: Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ƣơng
Năm: 2010
8. Cục Y tế dự phòng (2010), Báo cáo sơ kết 9 tháng năm 2010, Dự án phòng chống sốt xuất huyết, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo sơ kết 9 tháng năm 2010
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Nhà XB: Dự án phòng chống sốt xuất huyết
Năm: 2010
9. Cục Y tế dự phòng (2010), Đánh giá kết quả hoạt động 2006-2009 kế hoạch hoạt động năm 2010, Dự án phòng chống sốt xuất huyết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả hoạt động 2006-2009 kế hoạch hoạt động năm 2010
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Nhà XB: Dự án phòng chống sốt xuất huyết
Năm: 2010
10. Cục Y tế dự phòng (2011), Kế hoạch hoạt động, kinh phí năm 2011, Dự án phòng chống sốt xuất huyết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch hoạt động, kinh phí năm 2011
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Nhà XB: Dự án phòng chống sốt xuất huyết
Năm: 2011
11. Cục Y tế dự phòng (2013), Báo cáo tổng hợp kết quả giám sát dịch tễ sốt xuất huyết Dengue tháng 11/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng hợp kết quả giám sát dịch tễ sốt xuất huyết Dengue tháng 11/2012
Tác giả: Cục Y tế dự phòng
Năm: 2013
12. Võ Thị Hường (2002), "Sốt dengue/ sốt xuất huyết dengue ở Tây Nguyên trong 10 năm (1999- 2000)", Tạp chí Y học dự phòng. 54(75).HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sốt dengue/ sốt xuất huyết dengue ở Tây Nguyên trong 10 năm (1999- 2000)
Tác giả: Võ Thị Hường
Nhà XB: Tạp chí Y học dự phòng
Năm: 2002

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w