Đầu tư có vai trò quan trọng, là nhân tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tế quốc dân của mỗi nước, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước. Ở Việt Nam hiện nay, vốn cho phát triển kinh tế xã hội luôn là vấn đề quan trọng và cấp bách. Ngoài các nguồn vốn nước ngoài như ODA, FDI…chúng ta cần phải hiểu rõ nguồn vốn trong nước là chủ yếu, vừa phong phú vừa chủ động nằm trong tầm tay. Nó vừa là tiền đề vừa là điều kiện để “đón” các nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội đất nước, nhiệm vụ đặt ra là phải tăng cường huy động mọi nguồn lực trong nước và tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài để đầu tư phát triển. Trong giai đoạn đầu khối lượng vốn đầu tư được huy động đều tăng qua các năm đã giải quyết được phần nào nhu cầu về vốn cho đầu tư phát triển. Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng nhanh bền vững cả về số lượng và chất lượng, đồng thời hạn chế đến mức tối đa sự phụ thuộc bên ngoài. Chúng ta cần phải đẩy mạnh việc huy động nguồn lực trong nước. Nguồn vốn này bao gồm: Vốn đầu tư của Nhà nước, vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân. Nếu như nguồn vốn Nhà nước chủ yếu được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thì phần vốn đầu tư của khu vực tư nhân sẽ quyết định vào sự gia tăng năng lực sản xuất của nền kinh tế. Trong những năm qua, hoạt động huy động vốn khu vực kinh tế tư nhân cho đầu tư phát triển đã thu được những kết quả nhất định. Song bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại, trong đó phải kể đến hiện tượng vốn còn nhưng lại không huy động được, trong khi đó nền kinh tế đất nước thì đang cần vốn để phát triển. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu kinh tế thì hiện nay ở Việt Nam khối lượng vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tiền tiết kiệm của dân cư chưa được huy động hết. Có thể nói đây là một khối lượng vốn không phải là nhỏ. Vậy làm thế nào để có thể huy động được nguồn vốn nhàn rỗi này? Đây là một câu hỏi lớn đối với các nhà làm chính sách. Để góp phần vào việc lý giải câu hỏi trên thông qua việc phân tích thực trạng, hạn chế và những nguyên nhân của vấn đề, chúng em đi vào nghiên cứu đề tài: “Phân tích vai trò của nguồn vốn tư nhân và dân cư đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam? Phân tích các giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn này cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Việt Nam?”
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
- -BÀI TẬP LỚN MÔN: KINH TẾ ĐẦU TƯ
Đề bài: Vai trò của nguồn vốn tư nhân và dân cư đối với sự phát triển kinh
tế Việt Nam? Phân tích các giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn này cho hoạt động sản xuất kinh doanh?
Nhóm thực hiện:
Mai Thị Thu Hồng
Nguyễn Thùy Linh
Lê Thị Thu Hằng Nguyễn Thùy Trang Nguyễn Thị Thanh Thảo
Giảng viên hướng dẫn: TS Hoàng Thị Thu Hà Lớp: DTKT1154(122) _07
Trang 2Hà Nội 2022 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ 3
I Khái niệm và bản chất của nguồn vốn đầu tư 3
II Phân loại nguồn vốn đầu tư 3
1 Nguồn vốn đầu tư nhà nước 3
2 Nguồn vốn từ khu vực tư nhân và dân cư 4
PHẦN II: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TƯ NHÂN VÀ DÂN CƯ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM 5
1 Nguồn dân cư và tư nhân giúp tăng trưởng kinh tế cao, bền vững mà không phụ thuộc vào bên ngoài 5
2 Đóng góp 1 lượng vốn không nhỏ cho sự phát triển xã hội, nguồn vốn trong nước 6
3 Cải tiến trang thiết bị, tăng khả năng cạnh tranh 7
PHẦN III: PHÂN TÍCH SỰ GIA TĂNG CỦA NGUỒN VỐN NÀY QUA BẢNG SỐ LIỆU VỀ QUY MÔ CÁC NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC HOẶC CƠ CẤU CÁC NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016- 2020 TẠI VIỆT NAM 8
1 Trước hết xét về nguồn vốn từ khu vực dân cư 8
2 Xét về nguồn vốn từ khu vực tư nhân 9
3 Hệ số ICOR 10
PHẦN IV: PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN TƯ NHÂN VÀ DÂN CƯ CHO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH 11
1 Xây dựng định hướng đầu tư 11
2 Tạo môi trường đầu tư thuận lợi 12
3 Huy động nguồn vốn tiết kiệm của dân 20
PHẦN KẾT LUẬN 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Đầu tư có vai trò quan trọng, là nhân tố quyết định làm thay đổi cơ cấu kinh tếquốc dân của mỗi nước, thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước ỞViệt Nam hiện nay, vốn cho phát triển kinh tế - xã hội luôn là vấn đề quan trọng vàcấp bách Ngoài các nguồn vốn nước ngoài như ODA, FDI…chúng ta cần phải hiểu rõnguồn vốn trong nước là chủ yếu, vừa phong phú vừa chủ động nằm trong tầm tay Nóvừa là tiền đề vừa là điều kiện để “đón” các nguồn vốn nước ngoài đầu tư vào ViệtNam
Nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng phát triển kinh tế xã hội đất nước, nhiệm
vụ đặt ra là phải tăng cường huy động mọi nguồn lực trong nước và tranh thủ mọinguồn lực từ bên ngoài để đầu tư phát triển Trong giai đoạn đầu khối lượng vốn đầu
tư được huy động đều tăng qua các năm đã giải quyết được phần nào nhu cầu về vốncho đầu tư phát triển Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng nhanh bền vững cả về số lượng
và chất lượng, đồng thời hạn chế đến mức tối đa sự phụ thuộc bên ngoài Chúng ta cầnphải đẩy mạnh việc huy động nguồn lực trong nước Nguồn vốn này bao gồm: Vốnđầu tư của Nhà nước, vốn đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân Nếu như nguồn vốn Nhànước chủ yếu được sử dụng để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội thì phầnvốn đầu tư của khu vực tư nhân sẽ quyết định vào sự gia tăng năng lực sản xuất củanền kinh tế
Trong những năm qua, hoạt động huy động vốn khu vực kinh tế tư nhân chođầu tư phát triển đã thu được những kết quả nhất định Song bên cạnh đó vẫn cònnhững tồn tại, trong đó phải kể đến hiện tượng vốn còn nhưng lại không huy độngđược, trong khi đó nền kinh tế đất nước thì đang cần vốn để phát triển Theo đánh giácủa các nhà nghiên cứu kinh tế thì hiện nay ở Việt Nam khối lượng vốn nhàn rỗi củacác doanh nghiệp ngoài quốc doanh và tiền tiết kiệm của dân cư chưa được huy độnghết Có thể nói đây là một khối lượng vốn không phải là nhỏ Vậy làm thế nào để cóthể huy động được nguồn vốn nhàn rỗi này? Đây là một câu hỏi lớn đối với các nhàlàm chính sách Để góp phần vào việc lý giải câu hỏi trên thông qua việc phân tíchthực trạng, hạn chế và những nguyên nhân của vấn đề, chúng em đi vào nghiên cứu đề
Trang 5tài: “Phân tích vai trò của nguồn vốn tư nhân và dân cư đối với sự phát triển kinh tếViệt Nam? Phân tích các giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn này cho hoạt độngsản xuất kinh doanh của Việt Nam?”
Nội dung của đề tài gồm những phần sau:
Phần I: Giới thiệu chung về nguồn vốn đầu tư
Phần II: Vai trò của nguồn vốn tư nhân và dân cư đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam.
Phần III: Sự gia tăng của nguồn vốn tư nhân và dân cư qua bảng số liệu về Quy mô các nguồn vốn trong nước hoặc Cơ cấu các nguồn vốn trong nước giai đoạn 2016-
2020 tại Việt Nam.
Phần IV: Các giải pháp tăng cường huy động nguồn vốn này cho hoạt động sản xuất kinh doanh Việt Nam.
Trong quá trình làm bài, chúng em có sử dụng và tham khảo nhiều tài liệu cũngnhư quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu khác Bên cạnh đó, trong quá trình hoànthiện bài tiểu luận này, nhóm chúng em tuy đã cố gắng hết sức nhưng vẫn có thể xuấthiện những thiếu sót, nhầm lẫn không mong muốn Chính vì thế, nhóm em luôn mongnhận được sự góp ý, chỉnh sửa của cô giúp bài tiểu luận này được hoàn thiện một cáchhoàn hảo nhất
Nhóm em xin chân thành cảm ơn!
Trang 6PHẦN I: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ
I Khái niệm và bản chất của nguồn vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư là thuật ngữ dùng để chỉ các nguồn tập trung và phân phốicho đầu tư phát triển kinh tế, đáp ứng nhu cầu chung của nhà nước và của toàn bộ xãhội
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền kinh tế khôngphải bao giờ cũng được thiết lập Trong trường hợp này, mức chênh lệch giữa đầu tư
và tiết kiệm được thể hiện trên tài khoản vãng lai
CA = S – INếu I > S: Tài khoản vãng lai bị thâm hụt thì có thể huy động vốn đầu tư từnước ngoài Khi đó đầu tư nước ngoài hoặc vay nợ có thể trở thành một trong nhữngnguồn vốn đầu tư quan trọng của nền kinh tế
Nếu I < S: Trong điều kiện thặng dư tài khoản vãng lai, quốc gia có thể đầu tưvốn ra nước ngoài hoặc cho nước ngoài vay vốn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốncủa nền kinh tế
II Phân loại nguồn vốn đầu tư
1 Nguồn vốn đầu tư nhà nước
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước,nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển củadoanh nghiệp nhà nước
1.1 Nguồn vốn ngân sách nhà nước
Đây chính là nguồn chi của ngân sách nhà nước cho đầu tư Đó là một nguồnvốn đầu tư quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia.Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội,quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần
sự tham gia của nhà nước, chi cho công tác lập và thực hiện các dự án quy hoạch tổngthể phát triển kinh tế - xã hội vùng lãnh thổ, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn
1.2 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
Là nguồn vốn thể hiện bước quá độ trong giảm bao cấp đối với đầu tư Bởi vìđây chuyển từ cơ chế cấp phát xin cho thuần tuý sang cơ chế có vay có trả, nhưngcũng chưa hoàn toàn theo cơ chế thị trường Là một trong những công cụ vĩ mô điềutiết nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư, với những chính sách ưu đãi, khuyếnkhích đầu tư trong lĩnh vực này, hạn chế đầu tư vào lĩnh vực khác bằng nguồn vốn
Trang 71.3 Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp nhà nước
Được xác định là thành phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các doanhnghiệp nhà nước vẫn năm giữ một khối lượng vốn nhà nước khá lớn Mặc dù vẫn cònmột số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế nhà nước với
sự tham gia của các doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tếnhiều thành phần Với chủ trương tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước, hiệu quảhoạt động của khu vực kinh tế này ngày càng được khẳng định, tích luỹ của các doanhnghiệp nhà nước ngày càng gia tăng và đóng góp đáng kể vào tổng quy mô vốn đầu tưcủa toàn xã hội
2 Nguồn vốn từ khu vực tư nhân và dân cư
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân hay còn gọi là vốn tiết kiệm của các doanhnghiệp (vốn tích lũy doanh nghiệp) bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tích lũycủa các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tưcủa các doanh nghiệp tư nhân và hộ gia đình có vai trò quan trọng đặc biệt trong việcphát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, mở mang ngành nghề, phát triển côngnghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ và vận tải trên các địa phương.Trong 20 năm thực hiện chính sách đổi mới, Nhà nước liên tục hoàn thiện các chínhsách nhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế hộ gia đình mạnhdạn bỏ vốn đầu tư và thúc đẩy sự đan xen, hỗn hợp các hình thức sở hữu trong nềnkinh tế
Ngoài ra, Nguồn vốn trong dân cư còn phụ thuộc vào thu nhập và chi tiêu củacác hộ gia đình Quy mô của nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào: Trình độ phát triểncủa đất nước (ở những nước có trình độ phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiếtkiệm thấp); Tập quán tiêu dùng của dân cư; Chính sách động viên của nhà nước thôngqua chính sách thuế thu nhập và các khoản đóng góp của xã hội
Theo đánh giá sơ bộ, khu vực kinh tế ngoài nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốntiềm năng rất lớn mà chưa được huy động triệt để Cùng với sự phát triển kinh tế củađất nước, một bộ phận trong dân cư có tiềm năng về vốn do có nguồn thu nhập giatăng hoặc do tích lũy truyền thống Mặc dù hiện tại quy mô nguồn vốn này còn nhỏ bésong đây lại là nguồn vốn được đánh giá là nguồn vốn có nhiều ưu điểm trong việchuy động tiền “chết” trong dân cư trong đầu tư phát triển và nó đang được đề xuất đểtách thành một nguồn vốn huy động độc lập trong các nguồn vốn đầu tư phát triển Ởmột mức độ nhất định thì các hộ gia đình sẽ là một số các nguồn tập trung và phânphối vốn quan trọng trong nền kinh tế giúp nền kinh tế tăng trưởng cao mà không phụthuộc vào bên ngoài
Trang 8PHẦN II: PHÂN TÍCH VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN TƯ NHÂN VÀ DÂN CƯ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM
2020 là một năm vô cùng khó khăn, khác biệt đi vào lịch sử của thế giới nhưmột dấu mốc không thể quên Sự bùng phát của đại dịch Covid-19 đã làm gián đoạnnghiêm trọng tới đời sống nhân loại và các hoạt động kinh doanh, khiến nền kinh tếchung tụt dốc không phanh và GDP của toàn thế giới giảm tới 4,1% trong năm 2020(theo như ước tính của S&P)
Mặc dù như vậy, Việt Nam vẫn đứng vững nhờ công tác kiểm soát hiệu quả vớiđại dịch Năm 2020, kinh tế của Việt Nam tăng trưởng 2,91%, có thể nói đây là mứctăng trưởng rất rất tích cực trong bối cảnh đại dịch Ngoài việc kiểm soát hiệu quả đạidịch Covid-19, triển vọng kinh tế Việt Nam khả quan còn xuất phát từ các yếu tố khác,trong đó, nguồn vốn dân cư và tư nhân giữ một vai trò quan trọng, được thể hiện quacác vai trò sau:
1 Nguồn dân cư và tư nhân giúp tăng trưởng kinh tế cao, bền vững mà không phụ thuộc vào bên ngoài
Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết số 10-NQ/TW của Hội nghị Trung ương nămkhóa XII về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (từ tháng 6/2017 đến nay), khu vực kinh tế
tư nhân Việt Nam có sự phát triển mạnh cả về chất, lượng và quy mô, tiếp tục là độnglực chính trong tăng trưởng kinh tế Việt Nam Trong đó, vai trò, vị thế của kinh tế tưnhân ngày càng được khẳng định và thể hiện rõ nét thông qua những đóng góp vàophát triển kinh tế - xã hội Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá,chiếm tỷ trọng 42 - 43% GDP, thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh
tế, góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sảnxuất kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách,cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội Đặc biệt, lực lượng doanhnghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân đã góp phần thực hiện mục tiêu công nghiệphóa, hiện đại hóa, làm thay đổi diện mạo đất nước, tạo dấu ấn, nâng cao vị thế, uy tíncủa Việt Nam trên trường quốc tế; hình thành nhiều thương hiệu có tính cạnh tranhkhu vực và quốc tế
Nhìn chung, vốn huy động từ dân cư là không hề nhỏ, theo thống kê, lượngvàng dự trữ trong khu vực dân cư xấp xỉ 10 tỷ $, tiền mặt và các ngoại tệ khác chiếmxấp xỉ 80% tổng vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng Thực tế khi phát hànhtrái phiếu chính phủ tư khu vực dân cư có thể huy động hàng ngàn tỉ đồng Nhiều hộkinh doanh đã trở thành đơn vị kinh tế năng động trong lĩnh vực kinh doanh ở địaphương
Trang 9Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tíchlũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã: khấu hao, lợi nhuận để lại, cổ tứcchưa chia, hàng tồn trữ Theo thống kê, hiện nay các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME)chiếm 75% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động (khoảng 500.000 doanh nghiệp).Doanh nghiệp SME đóng góp 40% GDP, thu hút hơn 51% lực lượng lao động trên cảnước.
Giữa sự hỗn loạn và bất ổn do đại dịch Covid-19, thị trường đầu tư tư nhân ViệtNam tiếp tục đạt được đỉnh cao mới về số lượng giao dịch trong năm 2020, với 59 giaodịch, dù tổng giá trị thương vụ là 1.142 triệu USD - không tăng nhiều so với năm
2019 Ngay những giai đoạn kinh tế khó khăn thì vốn đầu tư khu vực tư nhân vẫn tăngcho thấy tính ổn định, bền vững của khu vực này
Như vậy, nguồn vốn dân cư và tư nhân khẳng định vai trò quan trọng của mình giúpnền kinh tế tăng trưởng cao, bền vững mà không phụ thuộc vào bên ngoài
2 Đóng góp 1 lượng vốn không nhỏ cho sự phát triển xã hội, nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư, phần tíchlũy của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã Theo báo cáo của Sở Kế hoạch vàĐầu tư, ước tính 9 tháng năm 2022, vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiệnhành đạt 26.865,3 tỷ đồng, bằng 70,7% kế hoạch năm, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm
2021 Trong đó, vốn đầu tư của dân cư và tư nhân ước đạt 16.594,3 tỷ đồng, chiếm61,8% tổng vốn, tăng 11,7% Trong giai đoạn tiếp theo, nguồn vốn này sẽ tiếp tục giatăng cả về quy mô và tỷ trọng
Theo các nguồn số liệu thống kê, đến năm 2018, so với khu vực kinh tế nhànước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), khu vực kinh tế tư nhân đóng góphơn 40% GDP cả nước, 30% giá trị tổng sản lượng công nghiệp, gần 80% tổng mứclưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ, 64% tổng lượng hàng hóa và 100% giá trị sảnlượng hàng hóa vận chuyển Trong thời gian tới, theo dự báo của Tổng cục Thống kê,khu vực kinh tế tư nhân vẫn đóng góp khoảng 30% ngân sách và khoảng 55% GDPcủa cả nước
Khu vực tư nhân tạo ra số việc làm rất ấn tượng, góp phần không nhỏ tái cấutrúc nền kinh tế, tăng thu nhập cho người dân, đặc biệt tạo việc làm mới cho những đốitượng bị giảm biên chế hoặc mất việc làm do quá trình tinh giản bộ máy hành chính,cải cách doanh nghiệp nhà nước hay dịch chuyển lao động từ khu vực nông thôn Các
DN tư nhân đóng vai trò tạo thêm 1,2 triệu việc làm mỗi năm và giúp duy trì tỷ lệ thấtnghiệp thấp ở Việt Nam trong thời gian qua Cụ thể như năm 2019 số lượng lao độngtrong khu kinh tế tư nhân chiếm 83,3% tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên tươngđương gần 45,2 triệu người Vốn đầu tư tăng trưởng lần lượt 17,1% và 18,5% so vớinăm trước cao hơn tốc độ tăng trưởng của tổng vốn đầu tư toàn xã hội (khoảng 11-
Trang 1012%/người) Tổng vốn đầu tư xã hội tăng nhanh và vượt mức 40% (năm 2017 là40,6% và năm 2018 là 43,27%) Vốn đăng ký là 2,77 triệu tỷ đồng.
Năm 2021, thu nhập bình quân đầu người một tháng ước tính đạt 4,2 triệu đồng,giảm 1,1% so với năm 2020, trong đó khu vực thành thị đạt 5,4 triệu đồng, giảm 3,6%;khu vực nông thôn đạt 3,5 triệu đồng, tăng 0,1% Thu nhập bình quân đầu người mộttháng năm 2021 theo giá hiện hành so với năm trước của một số vùng trên cả nước đềugiảm do ảnh hưởng của dịch bệnh Khu vực ngoài nhà nước chủ yếu là các DN nhỏ vàvừa (DNNVV), quy mô vốn nhỏ, kém lợi thế nhiều mặt và phải đối diện các chi phíđầu vào không ngừng tăng nhưng đã có được tốc đọ tăng lương ổn định, cải thiện đờisống người lao động đáng khích lệ
Thực tế thời gian qua cho thấy đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân và hộ giađình có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nôngthôn, mở mang ngành nghề, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại,dịch vụ và vận tải trên các địa phương Trong 20 năm thực hiện chính sách đổi mới,Nhà nước liên tục hoàn thiện các chính sách nhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tưbản tư nhân, kinh tế hộ gia đình mạnh dạn bỏ vốn đầu tư và thúc đẩy sự đan xen, hỗnhợp các hình thức sở hữu trong nền kinh tế Như vậy, nguồn vốn dân cư và tư nhânđóng góp 1 lượng vốn không nhỏ cho sự phát triển xã hội, nguồn vốn trong nước
3 Cải tiến trang thiết bị, tăng khả năng cạnh tranh
Sử dụng nguồn vốn dân cư và tư nhân giúp đổi mới, cải tiến nhà máy là phương
án tăng năng suất, cắt giảm chi phí hiệu quả, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh chocác doanh nghiệp sản xuất
Cụ thể, việc đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên liệu của sản xuất và thị trường tiêuthụ sản phẩm, thiếu hụt lao động và các nguồn lực, đình trệ việc tổ chức sản xuất kinhdoanh… Trong bối cảnh đó, việc áp dụng các công cụ và giải pháp cải tiến nhà máy là
vô cùng cần thiết nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí
và tối ưu hóa nguồn lực cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp
Quá trình cải tiến đã giúp ngành công nghiệp sản xuất đạt được bước tiến dài từchỗ chỉ có máy móc thô sơ, năng suất thấp những năm 1980 dần bắt nhịp công nghệhiện đại của khu vực và thế giới như hiện nay
Trang 11PHẦN III: PHÂN TÍCH SỰ GIA TĂNG CỦA NGUỒN VỐN NÀY QUA BẢNG SỐ LIỆU VỀ QUY MÔ CÁC NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC HOẶC CƠ CẤU CÁC NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC GIAI ĐOẠN 2016- 2020 TẠI VIỆT NAM.
Khu vực kinh tế tư nhân và dân cư hay còn được gọi là khu vực Kinh tế ngoàiNhà nước, đã có sự gia tăng đáng kể về cả quy mô và cơ cấu, chiếm tỉ trọng vốn đầu tưlên tới ⅔ tổng số vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội Thành phần này liên tục gia tăngqua các năm đã thúc đẩy mãnh liệt nội lực của nền kinh tế
Từ bảng số liệu về thống kê vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hànhphân theo loại hình kinh tế của Tổng cục thống kê, tỉ trọng vốn đầu tư khu vực kinh tếngoài Nhà nước gia tăng mức trung bình từ 48,23% vào giai đoạn 2011-2015 lên mức55,66% vào giai đoạn 2016-2020; lập đỉnh chiếm gần ⅔ vào năm 2021 Nguồn vốnthuộc khu vực dân cư và tư nhân liên tục tăng trưởng mạnh cho thấy sự gia tăng nộilực của nền kinh tế, đồng thời giảm dần sự phụ thuộc vào Kinh tế Nhà nước và Kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài
1 Trước hết xét về nguồn vốn từ khu vực dân cư
35 năm không ngừng Đổi mới, nền kinh tế nước ta tăng trưởng liên tục với bìnhquân 5,9%/năm, cùng với đó thu nhập của người dân không ngừng tăng lên Nguồnlực tài chính từ nhân dân nếu được huy động hiệu quả, chắc chắn sẽ gia tăng tổngnguồn vốn đầu tư phát triển xã hội, đủ sức đáp ứng cho một nền sản xuất ngày cànglớn và hiện đại
Trang 12Theo số liệu thống kê từ cuộc Khảo sát mức sống dân cư, do Tổng cục Thống
kê thực hiện, năm 2014 tiền tiết kiệm trong dân cư khoảng 843 nghìn tỷ đồng (theo giáhiện hành), năm 2016 là 1.126 nghìn tỷ đồng và năm 2018 tăng vọt lên khoảng 1.818nghìn tỷ đồng Nếu loại trừ yếu tố tăng giá, quy mô nguồn vốn này tăng với tốc độbình quân trong giai đoạn 2015 - 2018 đạt 18,1%/năm
Nguồn vốn này so với tổng thu ngân sách nhà nước năm 2014 gần bằng nhau,chiếm khoảng 96,12% (843 nghìn tỷ đồng so với 877 nghìn tỷ đồng) Đến năm 2018,tiền tiết kiệm trong dân cư còn vượt cao hơn tổng thu ngân sách nhà nước, khoảng27% (1.818 nghìn tỷ đồng so với 1.431 nghìn tỷ đồng)
Dễ thấy rằng, quy mô nguồn lực tài chính trong dân cư qua các năm có xuhướng ngày càng lớn mạnh, việc huy động được một phần của nguồn vốn này vào đầu
tư phát triển vừa làm tăng quy mô vốn vừa góp phần bền vững cho nội lực nền kinh tế
Bên cạnh đó, tiền tiết kiệm của người dân Việt Nam còn thể hiện ở trữ lượngvàng lớn Theo thông tin báo chí, thời gian vừa qua trong dân cư có khoảng trên dưới
500 tấn vàng (theo Hiệp hội Kinh Doanh vàng thế giới) Nếu một phần lượng vàng nàytách khỏi cất trữ, chuyển hóa thành tiền, đưa vào lưu thông sẽ đem lại lượng vốn lớncho nền kinh tế
Những con số trên tưởng chừng to lớn nhưng sự thật thì tiềm lực của nguồn vốn
từ dân cư không chỉ dừng ở đó, mà đáng ra nó sẽ còn huy động được dồi dào hơn nếukhông có những thất thoát từ các hoạt động sử dụng tiền bất hợp pháp
Trong những năm qua, các cơ quan chức năng đã phát hiện và triệt phá đượcnhiều đường dây đánh bạc, cá độ bóng đá hàng ngàn tỷ đồng, chủ yếu có hình thứconline, máy chủ đặt tại nước ngoài với doanh số ước tính từ 3-5% GDP (khoảng 10 tỷUSD) Hay gần đây với sự xuất hiện các sàn giao dịch tài chính hình thức đa cấp, tiền
ảo Tất cả những hoạt động này đều không được sự cho phép của Nhà nước nhưng lạithu hút được rất nhiều tiền của người dân đổ vào Phần lớn số tiền khổng lồ này đang
“chảy” bất hợp pháp ra nước ngoài mỗi năm
Một hoạt động kinh tế tiềm năng thu hút nguồn vốn khổng lồ khác là chứngkhoán Sau một thập kỷ “ngủ yên”, từ giữa năm 2020 đến nay thị trường chứng khoán
đã có sự trỗi dậy mạnh mẽ Thanh khoản trên thị trường chứng khoán tiếp tục tăng rấtmạnh, kể từ đầu tháng 6 đến nay, giao dịch bình quân đạt trên 32.000 tỷ đồng/phiên.Chứng khoán thu hút mọi tầng lớp người dân quan tâm, góp tiền, từ bà bán nước, báclái xe, chứ không chỉ nhà đầu tư chuyên nghiệp Tuy nhiên đây cũng là con dao hailưỡi khi chứng khoán cần sự hiểu biết, học hỏi và kinh nghiệm nhất định để đầu tư.Nếu người dân không tìm hiểu kĩ mà chạy theo sức hút của nó thì rất dễ bị lừa đảo,thậm chí mất trắng số tiền đầu tư
Trang 132 Xét về nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Khu vực kinh tế tư nhân có những dấu hiệu phát triển tích cực, góp phần giatăng vai trò của khu vực tư nhân đối với tăng trưởng kinh tế Cơ cấu vốn đầu tư trongtổng đầu tư toàn xã hội dịch chuyển tích cực: Tỷ trọng vốn đầu tư từ khu vực nhà nướcgiảm từ mức trung bình 39,04% giai đoạn 2011-2015 xuống còn 34,34% giai đoạn2016-2020, năm 2021 giảm chỉ còn 24,7% Sự dịch chuyển tích cực trong cơ cấu kinh
tế theo hướng khu vực kinh tế tư nhân tăng nhanh hơn trung bình giai đoạn 2011-2015đạt 6,14% lên mức trung bình 6,7% giai đoạn 2016-2020 và cải thiện tỷ trọng đónggóp vào GDP
Tuy nhiên, khu vực kinh tế tư nhân còn chậm phát triển DN trong nước chủyếu có quy mô vừa, nhỏ, năng lực cạnh tranh còn thấp gặp rất nhiều khó khăn dưới tácđộng của dịch bệnh Covid-19 kéo dài Trong giai đoạn 2016-2020, các DN tư nhântrong nước tăng trưởng khoảng 12%/năm Tuy vậy, bộ phận quan trọng nhất của kinh
tế tư nhân là kinh tế cá thể chưa đạt tốc độ tăng trưởng tương xứng, dẫn tới tốc độ tăngtrưởng của kinh tế tư nhân trong nước nói chung vẫn thấp hơn tốc độ tăng trưởng củanền kinh tế
3 Hệ số ICOR
Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với tổng nhu cầu vốn đầu tưtoàn xã hội cho cả giai đoạn 5 năm 2016 - 2020 lên tới gần 10.600.000 tỷ đồng, bằngkhoảng 32-34% GDP Phải huy động được nguồn vốn này, Việt Nam mới có thể đảmbảo tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,5-7% và thực hiện đột phá về xây dựng hệ thống kếtcấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại ICOR của Việt Nam vẫn khá cao, nhất là khi so sánhvới các nước trong khu vực Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư của Việt Nam còn thấp
so với nhiều nền kinh tế trong khu vực Hệ số ICOR cao cho thấy khả năng cạnh tranhcủa hàng hóa Việt Nam trên thị trường tiêu thụ đang giảm
Huy động vốn ngày càng khó khăn, nhất là trong bối cảnh ngân sách thâm hụt,bội chi ngân sách lớn, nợ công đang tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn, buộc chúng ta phải
sử dụng hiệu quả từng đồng vốn đầu tư, giảm thiểu ICOR
Tuy quy mô của các nguồn vốn từ khu vực tư nhân và dân cư nói riêng và tổngvốn đầu tư toàn xã hội nói chung ngày càng tăng trưởng mạnh qua các năm, nhưng đikèm theo đó cũng là nhu cầu ngày càng cấp thiết về nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng,đổi mới khoa học kỹ thuật, áp dụng công nghệ vào sản xuất cũng cao không kém Điềunày đòi hỏi những nỗ lực đưa ra các giải pháp mạnh mẽ từ Chính phủ và Nhà nước đểvừa huy động được càng nhiều nguồn vốn, vừa sử dụng thật hiệu quả những đồng vốn
ấy để tạo ra hiệu quả kinh tế vượt trội
Trang 14PHẦN IV: PHÂN TÍCH CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG NGUỒN VỐN TƯ NHÂN VÀ DÂN CƯ CHO HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT KINH DOANH.
1 Xây dựng định hướng đầu tư
Khi doanh nghiệp tiếp cận với thông tin bất cân xứng, nhiều rủi ro xuất hiệnlàm e ngại các nhà đầu tư do mọi khoản đầu tư đều trở nên mạo hiểm hơn Trên thếgiới đã có nhiều nghiên cứu cho rằng bất cân xứng thông tin sẽ làm giảm các quyếtđịnh huy động nguồn vốn tư nhân bởi nó ảnh hưởng tới khả năng quản trị vốn, đưa racác quyết định đầu tư, cũng như là khả năng công bố bị hạn chế… khiến cho tìnhhình doanh nghiệp gặp khó khăn
Việc tiếp cận những thông tin, số liệu thống kê về kinh tế, xã hội rất hạn chế ởnước ta hiện nay Các nhà quản trị doanh nghiệp cần nguồn thông tin đầy đủ, chínhxác, nhanh, thuận tiện và sẵn sàng trả tiền để có được Một số chuyên gia cho biết, 10năm nay, không cơ quan quản lý Nhà nước nào công bố hiện trạng và dự báo tương laihiệu quả kinh doanh của các ngành theo từng năm Các niên giám thống kê không có
số liệu như tỷ suất lợi nhuận bình quân, năng suất lao động bình quân của mỗi ngành Nhà đầu tư khó biết ngành nào hiệu quả đến đâu để lựa chọn nên đầu tư vào hoặcnhanh chóng tháo lui Khả năng tiếp cận các văn bản, chính sách của Nhà nước cũngchưa tốt do chủ yếu dựa vào các phương tiện thông tin đại chúng nên mất nhiều thờigian hoặc doanh nghiệp không chú ý Nhiều doanh nghiệp khi bị xử lý vi phạm mớibiết sự thay đổi của các văn bản liên quan
Trường hợp dù đã có văn bản của Chính phủ hoặc các ngành dọc cấp trênnhưng cấp thi hành vẫn không thực hiện với lý do chưa được hướng dẫn vẫn còn phổbiến Đặc biệt trong giai đoạn mà các văn bản pháp lý được cập nhật liên tục, cácdoanh nghiệp rất cần một trang web của Chính phủ thống kê những văn bản pháp lýhiện hành và những văn bản đã hết hiệu lực để doanh nghiệp nắm bắt đúng và tuânthủ Kỹ năng xử lý thông tin đòi hỏi tính chuyên nghiệp, khả năng nhận thức và tưduy, tri thức sẵn có, công nghệ xử lý tin Tất cả những điều này đều chưa phải là điểmmạnh của nền kinh tế nước ta Phần lớn thông tin chỉ được lưu trữ và phát tán màkhông được lượng giá để khai thác Nhiều quyết định tài chính được thực hiện mộtcách chủ quan dựa trên các phân tích hết sức cảm tính
Nhà nước cần cung cấp thông tin cho doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả:
Thứ nhất, cần xây dựng và ban hành Luật thông tin, công khai thông tin,
nghiêm cấm thông tin sai lệch, thông tin gây nguy hại khi tiếp cận với doanh nghiệp,thông tin nội gián và thông tin dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh.Trong giai đoạnhiện nay các văn bản pháp lý được bổ sung, chỉnh sửa, phát hành mới liên tục, Chính
Trang 15phủ nên xây dựng trang web thống kê có tính cập nhật cao cung cấp những văn bảnpháp lý hiện hành và những văn bản đã hết hiệu lực để doanh nghiệp nắm bắt đúng vàtuân thủ Đồng thời nên xây dựng diễn đàn pháp lý hoạt động 24/24 để làm chỗ dựacho các doanh nghiệp trước mọi vấn đề phát sinh Đây sẽ là sự hỗ trợ tốt nhất màdoanh nghiệp rất cần để vượt qua thách thức
Thứ hai, hình thành thị trường thông tin, khuyến khích các hoạt động cung cấp
thông tin Hợp tác triển khai xây dựng hệ thống thông tin toàn cầu Phát triển các kênhthông tin đại chúng siêu tốc, khuyến khích sử dụng mạng internet trong việc cung cấp
và truy cập thông tin Phát triển các phương tiện và công nghệ hiện đại về truyền tải,tiếp nhận, xử lý, khai thác thông tin Nhanh chóng triển khai chính phủ điện tử, tất cảcác cơ quan hành chính đều phải lập trang web và cập nhật liên tục cho doanh nghiệptheo dõi việc giải quyết hồ sơ của mình
Thứ ba, Xây dựng các trung tâm hỗ trợ doanh nghiệp để thực hiện các dịch vụ
tư vấn về quản lý và kinh doanh đáp ứng các nhu cầu của các doanh nghiệp tư nhânnhư: 1) tư vấn về hoạch định chiến lược kinh doanh, bồi dưỡng kiến thức quản lý vềtài chính, sản xuất, marketing, nhân sự; 2) cung cấp thông tin về thị trường, kháchhàng, hỗ trợ xúc tiến thương mại; 3) giới thiệu và tư vấn về các nguồn vốn đầu tư đểdoanh nghiệp lựa chọn
Chính phủ cần làm tốt công tác kế hoạch hóa:
Cần có quy hoạch chiến lược phát triển mới cho khu vực kinh tế tư nhân/cốt lõi
là khu vực DNNVV: Sửa đổi, bổ sung nâng cấp Chương trình phát triển DNNVV theoQuyết định 81/QĐ-TTg năm 2021 về phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liênngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2021-2025 Chủ động, tích cực “ươmtạo và nhân bản” số DNNVV quy mô vừa và đủ lớn, đủ sức làm “đầu tàu” lôi kéo, dẫndắt tạo cú hích thúc đẩy phát triển lĩnh vực, ngành hàng mà Việt Nam cần nhanhchóng tăng cường năng lực cạnh tranh theo định hướng phát triển 12 lĩnh vực ngànhhàng theo cam kết khi gia nhập Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) vào 31/12/2015.Chú trọng các lĩnh vực, ngành hàng thuộc khuôn khổ các Hiệp định thương mại tự dothế hệ mới (TPP, EVFTA, RCEPT ) mà Việt Nam sẽ ký kết tạo ra vận hội phát triểnmới cho DN Việt Nam Tiếp tục chỉnh sửa cho phù hợp các Luật Bảo vệ người tiêudùng, Luật Sở hữu trí tuệ đồng thời đẩy mạnh cải cách thể chế, tạo lập môi trườngkinh doanh, tăng cường năng lực cạnh tranh của DN Việt Nam nhằm bắt kịp cơ hội,chủ động đối mặt khó khăn, thách thức mới
Thực hiện các giải pháp nêu trên một cách đồng bộ trong sự kết hợp hài hoà cácyếu tố của môi trường đầu tư là một trong những ưu tiên hàng đầu trong nỗ lực tạo ramột môi trường kinh doanh hấp dẫn nhằm khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân đónggóp vào sự thịnh vượng của đất nước