BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ 2 Chủ đề Mối quan hệ giữa nợ công và đầu tư công tại Việt Nam giai đoạn 2000 2020 Nhóm 4 Giảng viên hướng dẫn TS Nguyễn Thị Th.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
MÔN KINH TẾ ĐẦU TƯ 2
Chủ đề : Mối quan hệ giữa nợ công và đầu tư công tại Việt Nam giai
đoạn 2000-2020
Nhóm 4
HÀ NỘI - 04/2023
Trang 21 Lý do chọn đề tài 3
2 Lý luận chung về đầu tư công và nợ công 4
2.1 Đầu tư công 4
2.1.1 Khái niệm 4
2.1.2 Nguồn vốn đầu tư công 4
2.1.3 Vai trò của đầu tư công đối với nền kinh tế 4
2.2 Nợ công 5
2.2.1 Khái niệm 5
2.3 Tổng quan mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công 6
2.3.1 Ảnh hưởng của đầu tư công đến nợ công 6
2.3.2 Ảnh hưởng của nợ công đến đầu tư công 8
2.3.3 Một số kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công 9
3 Tình hình đầu tư công và nợ công tại Việt Nam: trình bày tình hình đầu tư công và nợ công của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2020 10
4 Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công: 13
4.1 Quy mô đầu tư công có ảnh hưởng đến xu hướng nợ công: 13
4.2 Đầu tư công kém hiệu quả làm tăng gánh nặng nợ công 13
4.3 Nợ công có ảnh hưởng đến đầu tư công: 15
5 Các chính sách và giải pháp để quản lý đầu tư công và nợ công 16
6 Kết luận 19
Tài liệu tham khảo 21
Trang 31 Lý do chọn đề tài
Vấn đề nợ công và đầu tư công là hai vấn đề quan trọng trong kinh tế Việt Nam hiện nay Nợ công ảnh hưởng đến sự vững mạnh của nền kinh tế,trong khi đầu tư công là một trong những công cụ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mối quan hệ giữa nợ công và đầu tư công có sự tương quan rất lớn.Đầu tư công cần phải được bảo đảm nguồn tài chính, trong khi nợ công có thể được sử dụng để hỗ trợ đầu tư công Vì vậy, việc nghiên cứu mối quan
hệ này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tác động của nợ công đến đầu tư công và ngược lại Vấn đề nợ công và đầu tư công cũng là một vấn đề quantâm của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang phải đối mặt với nhiều thách thức khó khăn Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công và đầu tư công tại Việt Nam sẽ giúp chúng ta hiểu được thực trạng và xu hướng của hai vấn đề này trong một quốc gia đang phát triển như Việt Nam Việc nghiên cứu đề tài này cũng là một cơ hội để khám phá thêm về cơ chế và chính sách của Việt Nam trong quản lý nợ công và đầu tư công, từ đó đưa ra những đề xuất chính sách cụ thể để cải thiện tình hình này
Trang 42 Lý luận chung về đầu tư công và nợ công
2.1 Đầu tư công
2.1.1 Khái niệm
Đầu tư công là việc sử dụng vốn Nhà nước (bao gồm cả vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước và vốn của các doanh nghiệp nhà nước) để đầu tư vào các chương trình, dự án không vì mục tiêu lợi nhuận
và (hoặc) không có khả năng hoàn vốn trực tiếp
2.1.2 Nguồn vốn đầu tư công
- Vốn ngân sách nhà nước: nguồn thu từ các khoản thuế, phí
- Nguồn vốn tín dụng: nhà nước vay vốn từ dân chúng trong nước hoặc thị trường tín dụng quốc tế
- Nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước
2.1.3 Vai trò của đầu tư công đối với nền kinh tế
Đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triểnkinh tế của Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi từ mô hình tập trung vào nguồn lực thấp sang mô hình đầu tư vào công nghệ cao và tiên tiến hơn Dưới đây là những vai trò quan trọng của đầu tư công đối với nền kinh tế Việt Nam:
Tăng cường đầu tư vào hạ tầng: Đầu tư công giúp cải thiện hạ tầng giao thông, viễn thông, điện lực, nước sạch, v.v Những cơ sở hạ tầng này là nềntảng cho sự phát triển của các ngành kinh tế khác
Tạo động lực phát triển kinh tế: Đầu tư công tạo ra nhiều cơ hội việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân Việc cải thiện hạ tầng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển và mở rộng sản xuất kinh doanh
Trang 5Tăng cường sức cạnh tranh: Việc đầu tư vào hạ tầng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong nước và thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư tại Việt Nam.
Cải thiện chất lượng cuộc sống: Đầu tư công cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân, giúp họ tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như nướcsạch, điện lực, truyền thông, giao thông, v.v
Giảm thiểu khoảng cách kinh tế: Việc đầu tư vào các khu vực phát triển kinh tế mới giúp giảm thiểu khoảng cách phát triển kinh tế giữa các vùng, giúp đất nước hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới
Tổng thể, đầu tư công đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sựphát triển kinh tế và cải thiện chất lượng cuộc sống cho người dân Việt Nam
2.2 Nợ công
2.2.1 Khái niệm
Nợ công (Public Debt) là khoản nợ của một quốc gia với người cho vay bên ngoài quốc gia đó Người cho vay ở đây có thể là các cá nhân, doanh nghiệp hay các chính phủ nước khác Thuật ngữ nợ công thường được sử dụng phổ biến hơn so với nợ chính phủ, nợ quốc gia
Nợ công là sự tích lũy về sự thâm hụt ngân sách quốc gia hàng năm Nó là kết quả của nhiều năm ngân sách quốc gia được chi tiêu nhiều hơn so với nhận được từ các khoản thu thuế
Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) thì nợ công theo nghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa
vụ nợ của chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do NSNN quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước, và trong trường hợp
Trang 6vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay) Còn theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và
nợ của các tổ chức độc lập được chính phủ bảo lãnh thanh toán Tùy thuộc thể chế kinh tế và chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗi quốc gia cũng có
sự khác biệt Tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật Quản lý nợ công đều xác định nợ công gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh Một số nước, nợ công còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Đài Loan, Bungari, Rumani…), nợ của doanh nghiệp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Macedonia…)
Theo Từ điển Kinh tế học – ĐH Kinh tế Quốc dân, nợ công cộng là
nợ quốc gia và một số khoản nợ khác mà chính phủ phải chịu trách nhiệm trực tiếp hoàn trả, chẳng hạn các khoản nợ các doanh nghiệp nhà nước
Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công baogồm nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương
2.3 Tổng quan mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công
2.3.1 Ảnh hưởng của đầu tư công đến nợ công
(i) Đầu tư công làm gia tăng nợ công
+ Nguồn vốn đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước (NSNN), trong điều kiện NSNN mất cân đối, thu không đủ chi, khi gia tăng quy mô đầu tư công sẽ dẫn đến thiếu hụt ngân sách, buộc Nhà nước phải vay nợ để bù đắp thiếu hụt do tăng đầu tư công, từ đó làm gia tăng nợ công
+ Khi vốn đầu tư công từ nguồn vay nợ công được đầu tư vào các côngtrình như: Tượng đài, quảng trường, nhà lưu niệm, bảo tồn, bảo
Trang 7tàng không có khả năng thu hồi vốn sẽ làm gia tăng tích lũy nợ công.
+ Nguồn vốn đầu tư công từ các doanh nghiệp, ngân hàng chính sách Nhà nước vay nợ được Chính phủ bảo lãnh để đầu tư công, nhưng sửdụng vốn không hiệu quả, dẫn đến mất khả năng trả nợ thì Chính phủphải trích NSNN để trả nợ, dẫn đến gia tăng thâm hụt ngân sách, từ
đó làm gia tăng nợ công
+ Khi Nhà nước vay nợ công để đầu tư công vào các chương trình, dự
án, được thu hồi qua hình thức thu phí, lệ phí Nếu các chương trình
dự án này hoạt động kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí không thu hồi được vốn để trả nợ, sẽ làm cho tích lũy nợ công ngày càng tăng lên
(ii) Đầu tư công không làm gia tăng nợ công
+ Đầu tư công được thực hiện trong điều kiện NSNN cân bằng, không thâm hụt ngân sách, Nhà nước không phải vay nợ để đầu tư công thì đầu tư công sẽ không làm gia tăng nợ công
+ Các khoản nợ Chính phủ bảo lãnh cho các doanh nghiệp, ngân hàng chính sách nhà nước vay, nếu sử dụng vốn có hiệu quả, thu hồi và trả
nợ đúng hạn, nghĩa là Chính phủ không phải trích NSNN ra để trả nợthay, thì sẽ không làm gia tăng nợ công
+ Khi Nhà nước vay nợ công để đầu tư công vào các chương trình, dự
án, được thu hồi qua hình thức thu phí, lệ phí Nếu các chương trình
dự án này hoạt động có hiệu quả cao, thu hồi được vốn để trả nợ, sẽ không làm cho tích lũy nợ công tăng lên
+ Đầu tư công được tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội như: giao thông vận tải, năng lượng, viễn thông, trường học, bệnh
Trang 8viện có sức lan tỏa, thu hút đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài FDI, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng nguồn thu NSNN để trả nợ,
từ đó làm giảm nợ công
+ Khi Nhà nước tăng cường thực hiện đầu tư công vào các dự án theo hình thức hợp tác công tư PPP, Nhà nước chỉ góp khoảng 40% vốn hoặc thấp hơn, nếu các dự án này được thực hiện có hiệu quả cao, đảm bảo hoàn vốn để trả nợ thì không làm gia tăng nợ công, nếu các
dự án này hoạt động kém hiệu quả thì Nhà nước đã chia sẻ được một phần rủi ro, từ đó ít làm gia tăng nợ công hơn
+ Khi đầu tư công tăng cao hơn nợ công thì biểu hiện nguồn thu
NSNN dồi dào, đảm bảo khả năng tăng nguồn vốn để đầu tư công (không phải đi vay để đầu tư công) và gia tăng khả năng trả nợ công nên không làm cho nợ công tăng cao
+ Khi nợ công tăng cao hơn đầu tư công thì biểu hiện nguồn thu
NSNN giảm sút, không đủ khả năng để trả nợ gốc và lãi đến hạn nên phải vay đảo nợ (vay mới trả cũ); Hoặc biểu hiện mục đích vay nợ công bị chệch hướng, không dùng để đầu tư công mà chi cho tiêu dùng hoặc đầu tư khác; hoặc biểu hiện đầu tư công không đúng mục đích, kém kiệu quả, thất thoát, lãng phí dẫn đến không thu hồi được vốn để hoàn trả nợ công nên làm cho tích lũy nợ tăng cao
2.3.2 Ảnh hưởng của nợ công đến đầu tư công
+ Khi nợ công giảm, các khoản chi NSNN để trả nợ sẽ giảm theo, từ
đó Nhà nước có điều kiện để gia tăng đầu tư công
+ Khi nợ công gia tăng sẽ làm giảm nguồn vốn đầu tư công vì phải giành một phần chi NSNN để trả nợ gốc và lãi của nợ công
Trang 9+ Nếu nợ công vượt mức an toàn thì chính phủ các quốc gia sẽ buộc phải xem xét và thực hiện việc cắt giảm đầu tư công.
2.3.3 Một số kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư công và
nợ công
Có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công,
có thể đề cập đến một số kết quả nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
(i) Nghiên cứu của Vũ Đình Ánh (2012): “ Trong giai đoạn
2001-2011 ở Việt Nam, đáng kinh ngạc là so với GDP (giá thực tế) thì đầu tư công có xu hướng giảm rõ rệt, trong khi nợ công lại có xu hướng tăng mạnh và nợ nước ngoài cũng vậy Theo đó đầu tư công và nợ công có quan
hệ nghịch biến, có thể do thực chất cơ cấu sử dụng nợ công, cả vay nợ và
bù đắp thâm hụt và đầu tư, đã chuyển dịch từ đầu tư sang tiêu dùng?” [4];
(ii) Nghiên cứu của Lê Thị Diệu Hiền và Trần Thị Cẩm Giang
(2018): “Trong giai đoạn 2010-2017, đầu tư công với xu hướng giảm, trongkhi nợ công có xu hướng tăng, phản ánh xu hướng dịch chuyển trong cơ cấu sử dụng nợ từ đầu tư sang tiêu dùng”[7];
(iii) Nghiên cứu của Picarelli, M., O và cộng sự (2019): “ .nợ công
ở 26 quốc gia EU, giai đoạn 1995- 2015 tăng 1% dẫn đến giảm đầu tư công0,03%”[9];
(iv) Nghiên cứu của Anyanwu, A., A., (2020): “ ở 16 quốc gia đang phát triển trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương trong giai đoạn 2007-
2017, hiệu quả đầu tư công làm giảm tỷ lệ nợ trên GDP, trong khi đầu tư công trong bối cảnh tham nhũng của khu vực công làm tăng tỷ lệ nợ trên GDP” [10];
Trang 10(v) Nghiên cứu của Origin, C., K và cộng sự (2021): “tác động của
nợ công đối với đầu tư công ở Nigeria từ năm 1985-2018 cho thấy, trong ngắn hạn nợ công ảnh hưởng không đáng kể đến đầu tư công”[11];
(vi) Nghiên cứu của Marmullaku, B (2021): “nợ công ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư công ở các nước đang chuyển đổi ở châu Âu, và có thể lập luận rằng các nước này có thể tăng mức nợ để tài trợ cho đầu tư công mà sau đó ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế”[12];
(vii) Nghiên cứu của Benayed, W.& Gabsi, F.,B (2021): “ở 32 quốc gia châu Phi cận Sahara trong giai đoạn 2000–2011, nợ công cản trở hoạt động kinh tế thông qua tác động bất lợi của nó đối với đầu tư công, vốn được coi là động lực của tăng trưởng kinh tế Cụ thể, đầu tư công là công
cụ mạnh mẽ nhất để tạo ra tăng trưởng và giảm bớt gánh nặng nợ”[13]
3 Tình hình đầu tư công và nợ công tại Việt Nam: trình bày tình hình đầu tư công và nợ công của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2020.
Diễn biến đầu tư công giai đoạn 2000-2020.
Trong giai đoạn 2000-2020, quy mô vốn đầu tư công gia tăng qua các năm, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư xã hội, thông qua việc tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, tạo động lực thu hútđầu tư tư nhân và vốn FDI, tác động thúc đẩy phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường, góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân Quy mô vốn đầu tư công giai đoạn 2000-2020 thể hiện ở biểu đồ 1
Trang 11Biểu đồ 1: Quy mô vốn đầu tư công giai đoạn 2000-2020
Nguồn: Tổng cục Thống kê
Biểu đồ 1 cho thấy, vốn đầu tư công trong giai đoạn 2000-2020 gia tăng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2000 tổng vốn đầu tư công là 89.417 tỷ đồng, đến năm
2020 tăng lên 728.947 tỷ đồng, tăng gấp 8,18 lần so với năm 2000 Trong giai đoạn 2000-2020, vốn đầu tư công tăng bình quân hàng năm là 11,27%
- Diễn biến nợ công giai đoạn 2000-2020
Trong giai đoạn 2000-2020, hàng năm Việt Nam đã tiến hành vay nợcông cả trong và ngoài nước để bù đắp kịp thời khoản bội chi NSNN, đồng thời góp phần đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cho sản xuất và đời sống, nhằm đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và không ngừng nâng cao đời sống cho người dân Diễn biến tình hình nợ công giai đoạn 2000-2020 thể hiện ở biểu đồ 2
Trang 12Biểu đồ 2: Quy mô nợ công giai đoạn 2000-2020
Như vậy, so với mức tăng đầu tư công hàng năm là 11,27%, mức tăng nợ công hàng năm cao hơn mức tăng đầu tư công hàng năm là 5,07%
4 Mối quan hệ giữa đầu tư công và nợ công:
4.1 Quy mô đầu tư công có ảnh hưởng đến xu hướng nợ công:
Nguồn vốn đầu tư công chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước (NSNN), trong điều kiện NSNN mất cân đối, thu không đủ chi, khi gia tăng quy mô
Trang 13đầu tư công sẽ dẫn đến thiếu hụt ngân sách, buộc Nhà nước phải vay nợ để
bù đắp thiếu hụt do tăng đầu tư công, từ đó làm gia tăng nợ công
Trong bản tin nợ nước ngoài năm 2010 của Việt Nam được Bộ Tài chính công bố chính thức năm 2011, con số nợ Việt Nam ngày một tăng rất nhanh Chỉ sau 1 năm, Việt Nam đã gia tăng thêm 4,6 tỷ đô la tiền nợ và mức trả nợ cao nhất sẽ rơi vào năm 2020 với mức nợ lên đến 2,4 tỷ đô la Thực tế cho thấy, sự gia tăng đầu tư công ở Việt Nam hơn một thập kỷ qua
có mối quan hệ trực tiếp đến mức gia tăng mức nợ công gần đây
4.2 Đầu tư công kém hiệu quả làm tăng gánh nặng nợ công
Hiệu quả đầu tư công thấp sẽ tác động tiêu cực đến các khoản vay nợquốc gia, do làm tăng nợ chính phủ nhất là nợ nước ngoài
Nguồn vốn đầu tư công từ các doanh nghiệp, ngân hàng chính sách Nhà nước vay nợ được Chính phủ bảo lãnh để đầu tư công, nhưng sử dụng vốn không hiệu quả, dẫn đến mất khả năng trả nợ thì Chính phủ phải trích NSNN để trả nợ, dẫn đến gia tăng thâm hụt ngân sách, từ đó làm gia tăng
nợ công
Khi Nhà nước vay nợ công để đầu tư công vào các chương trình, dự
án, được thu hồi qua hình thức thu phí, lệ phí Nếu các chương trình dự án này hoạt động kém hiệu quả, thất thoát, lãng phí không thu hồi được vốn
để trả nợ, sẽ làm cho tích lũy nợ công ngày càng tăng lên