LỜI MỞ ĐẦUTrong tình hình nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam nóichung và mỗi địa phương nói riêng là rất lớn, trong khi đó ngân sách nhà nướcthì có hạn, vốn của các n
Trang 1B GIÁO D C VÀ ĐÀO T O Ộ Ụ Ạ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
-
-BÀI TẬP LỚN KINH TẾ ĐẦU TƯ 1
Phân tích các lợi ích của đầu tư theo phương thức đối tác
công tư? Liên hệ với thực tiễn Việt Nam
Giảng viên hướng dẫn: PGS-TS Phạm Văn Hùng
Thành viên nhóm :
1 Phạm Đức Phú MSV:11225123
2 Nguyễn Vĩnh Hoàng MSV:11222500 3.Nguyễn Ngọc Linh MSV:11223599 4.Phùng Chí Dũng MSV:11221513 5.Nguyễn Nam Anh MSV:11220382 6.Vũ Thùy Trang MSV:11226559
Lớp: Kinh tế đầu tư 64C
Hà Nội 10/2023
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
NỘI DUNG 4
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI ÍCH CỦA PHƯƠNG 4 THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ (PPP) 4
Mô hình đầu tư theo phương thức đối tác công tư PPP là gì ? 4
2.Hợp đồng dự án PPP và khung pháp lý? 4
3.Các loại hợp đồng PPP 5
4.Các lĩnh vực đầu tư theo NĐ 15/2015/NĐ-CP 7
5.Lợi ích của PPP là gì? 8
II Phân tích lợi ích của PPP tại Việt Nam giai đoạn 2010-2023 10
1.Thực trạng đầu tư PPP tại Việt Nam giai đoạn 2010-2023 10
2 Những lợi ích, thành quả đạt được 13
3 Các khó khăn, tồn tại hạn chế 17
3.1 Hạn chế trong khâu lựa chọn dự án, chuẩn bị dự án 17
3.2 Thông tin không công khai, minh bạch 17
3.3 Năng lực đàm phán và xây dựng hợp đồng của khu vực công lẫn tư còn nhiều hạn chế 17
3.4 Vai trò, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền còn chưa rõ ràng 17
3.5 Pháp luật Việt Nam được đánh giá là “thiếu tính ổn định” 18
III.Đánh giá, nhận xét và một số khuyến nghị cho giai đoạn tới 18
1 Đánh giá thành công, hạn chế chính sách PPP trong đầu tư phát triển CSHT Việt Nam 18
1.1 Thành công 18
1.2 Hạn chế 18
1.3 Nguyên nhân dẫn đến tồn tại hạn chế 19
2 Đề xuất hoàn thiện cơ chế chính sách, pháp luật về đầu tư phát triển CSHT theo hình thức đối tác công tư 20
Trang 32.1 Các vấn đề giải quyết 20
2.2 Các giải pháp 20
2.3 Các cơ chế chính sách và cách giải quyết vấn đề trọng yếu 20
3 Kết luận và kiến nghị 22
IV.Bài học rút ra cho nhóm 23
Tài liệu tham khảo 24
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Trong tình hình nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam nóichung và mỗi địa phương nói riêng là rất lớn, trong khi đó ngân sách nhà nướcthì có hạn, vốn của các nhà tài trợ ngày càng thu hẹp, mô hình đầu tư theo hìnhthức hợp tác công tư (PPP) như một công cụ để huy động nguồn lực từ khu vực
tư nhân cả trong và ngoài nước cho đầu tư cơ sở hạ tầng trong tình hình hiệnnay Tại Việt Nam nhu cầu đầu tư bình quân giai đoạn 2011-2015 khảng 12,6 tỷUSD, giai đoạn 2016-2020 khoảng 25 tỷ USD, dự báo đến năm 2030 ướckhoảng 30 tỷ USD Phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng toàn diện là một trongnhững trọng tâm của Việt Nam để phục vụ mục tiêu phát triển bền vững và tăngcường tính cạnh tranh của đất nước theo hướng đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêucầu phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhànước hạn chế là thách thức khả năng đáp ứng nhu cầu đầu tư Trong điều kiện
đó, chủ trương của Việt Nam là huy động tối đa nguồn lực cho đầu tư cơ sở hạtầng thông qua chính sách xã hội hóa đầu tư với một trong những kênh chủ yếu
là hình thức PPP Việt Nam đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách về huy động
và quản lý đầu tư theo hình thức này Trong giai đoạn vừa qua ở Việt Nam đãtriển khai thực hiện PPP trong phát triển cơ sở hạ tầng, bước đầu đã thu đượcmột số kết quả nhất định, tuy nhiên, còn nhiều bất cập và đang có dấu hiệuchững lại
Sau đây nhóm chúng em sẽ mang đến những tìm hiểu của mình về Lợi ích củađầu tư theo phương thức đối tác công tư PPP và liên hệ với thực tiễn của ViệtNam trong bối cảnh hiện nay
Trang 5
NỘI DUNG
I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI ÍCH CỦA PHƯƠNG THỨC HỢP TÁC CÔNG TƯ (PPP)
Mô hình đầu tư theo phương thức đối tác công tư PPP là gì ?
PPP (Public - Private Partnership): Đầu tư theo hình thức đối tác công tư là
hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành
dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công
Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và
tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp dịch
vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và người dân Trong mô hình PPP, việc xác lập quan hệ đối tác thông thường là qua một hợpđồng ràng buộc về mặt pháp lý hoặc một số cơ chế khác, trong đó đồng ý chia sẻ các trách nhiệm liên quan đến việc thực hiện và quản lý của các dự án cơ
sở hạ tầng Quan hệ đối tác được xây dựng trên chuyên môn của từng đối tác đáp ứng nhu cầu được xác định rõ ràng thông qua việc phân bổ thích hợp về: tàinguyên, nguồn lực; rủi ro; trách nhiệm; chế độ khen thưởng
2.Hợp đồng dự án PPP và khung pháp lý?
- Khoản 16 điều 3 Luật Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư 2020 có
quy định: Hợp đồng dự án PPP là thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan ký kết
Trang 6hợp đồng với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP về việc Nhà nước nhượng quyền cho nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP thực hiện dự án PPP theo quy định của Luật này.
- Hệ thống luật pháp có liên quan:
+ Hệ thống luật đầu tư chung
+ Hệ thống luật pháp về PPP
+ Hệ thống luật pháp có liên quan đến đầu tư
+ Hệ thống luật pháp liên quan đến đất đai
+ Hệ thống luật pháp liên quan đến xâydựng
3.Các loại hợp đồng PPP
- Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao (Build-Operate-Transfer, gọi
là hợp đồng BOT): là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền kinh doanh công trình trong một thời hạn nhất định; hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước
có thẩm quyền
Trang 7Discover more from:
KTĐT1
Document continues below
Kinh tế đầu tư 1
Đại học Kinh tế Quốc dân
814 documents
Go to course
CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM THAM KHẢO
35
Nhóm câu hỏi 3 - 4 điểm KTĐT1
36
Nhóm-2-Kinh-tế-đầu-tư 04
22
Bài tập KTĐT có lời giải
6
Nhóm câu hỏi 1 điểm KTĐT 1
11
TÀI LIỆU ÔN KTĐT
84
Trang 8- Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh doanh (Build-Transfer-Operate, gọi
là hợp đồng BTO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền
và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định
- Hợp đồng Xây dựng- Sở hữu- Kinh doanh (Build-Own-Operate, gọi là hợp đồng BOO) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định
- Hợp đồng Kinh doanh- Quản lý (Operate-Manage, gọi là hợp đồng O&M) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để kinh doanh một phần hoặc toàn bộ công trình trong một thời hạn chất định
- Hợp đồng Xây dựng- Chuyển giao- Thuê dịch vụ (Build-Transfer-Lease, gọi làhợp đồng BTL) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời gian nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toáncho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại khoản 2 điều 14 nghị định số 15/2015/NĐ-CP
- Hợp đồng Xây dựng- Thuê dịch vụ- Chuyển giao (Build-Lease-Transfer, gọi làhợp đồng BLT) là hợp đồng được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi hoàn thành công trình, nhà đầu tư được quyền cung cấp dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình đó trong một thời gian nhất định; cơ quan nhà nước có thẩm quyền thuê dịch vụ và thanh toán cho nhà đầu tư theo các điều kiện quy định tại khoản
2 điều 14 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP, hết thời hạn cung cấp dịch vụ, nhà đầu
tư chuyển giao đó cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền
- Hợp đồng hỗn hợp
Trang 94.Các lĩnh vực đầu tư theo NĐ 15/2015/NĐ-CP
a) Công trình kết cấu hạ tầng giao thông vận tải và các dịch vụ có liên quan;b) Hệ thống chiếu sáng; hệ thống cung cấp nước sạch; hệ thống thoát nước; hệ thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải; nhà ở xã hội; nhà ở tái định cư; nghĩa trang;
c) Nhà máy điện, đường dây tải điện;
d) Công trình kết cấu hạ tầng y tế, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, văn hóa, thể thao
và các dịch vụ liên quan; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;
đ) Công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khí tượng thủy văn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung; ứng dụng công nghệ thông tin;
e) Công trình kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn và dịch vụ phát triển liên kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp;
g) Các lĩnh vực khác theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Trang 105.Lợi ích của PPP là gì?
*Lợi ích của hình thức Đối tác công tư (PPP) có thể được phân loại theo các nhóm chính sau:
- Đối với Chính phủ:
+ Giảm gánh nặng tài chính: PPP cho phép Chính phủ chia sẻ rủi ro và nguồn
lực tài chính với đối tác tư nhân, giảm áp lực tài chính lên ngân sách quốc gia Điều này cho phép Chính phủ sử dụng nguồn lực của mình một cách hiệu quả hơn và tập trung vào việc cung cấp các dịch vụ công cơ bản khác
+ Tối thiểu hóa chi phí: bằng việc tích hợp, đồng bộ hóa tất cả các hoạt động trong vòng đời của dự án ( thiết kế, xây dựng, vận hành, bảo trì )
+ Đảm bảo giá cả các dịch vụ cơ bản hợp lí: vì khả năng tiếp cận nhiều doanhnghiệp/ dịch vụ hơn mà có thể có nhiều lựa chọn về nguồn chi, việc tối thiểu hóa chi phí sẽ làm cho các dịch vụ công của chính phủ sẽ tốn ít chi phí hơn, chính vì thế, giá dịch vụ thu lại từ các sản phẩm dịch vụ này cũng sẽ hợp lý hơn
về giá cả
+ Nâng cao tính công khai, minh bạch thông qua việc các bên phải đảm bảo đầu
ra của mình
Trang 11+ Tăng cường khả năng thực hiện dự án: Khi hợp tác với tư nhân, Chính phủ có
thể sử dụng kinh nghiệm, tài chính và nguồn lực quản lý của đối tác để hoàn thành dự án một cách hiệu quả và đúng tiến độ Điều này giúp Chính phủ nâng cao khả năng triển khai các dự án quan trọng mà không gặp phải những khó khăn về tài chính hay quản lý
+ Tạo ra nhiều nguồn vốn hơn cho đầu tư phát triển: Nhà nước giảm được gánhnặng tìm kiếm, sắp xếp và phân bổ nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cho đầu tư phát triển Từ đó có thể tiến hành nhiều dự án đầu tư hơn hoặc tăng quy mô cho các dự án, giúp tăng trưởng kinh tế địa phương
+ Có cơ hội tiếp cận và nắm bắt các công nghệ tiên tiến ( cả phần cứng lẫn phầnmềm)
+ Cải thiện phúc lợi công cộng: Việc các dự án được hoàn thành nhanh/ kết quả tốt, có thể phục vụ nhiều hơn cho người dân, cải thiện phục vụ và chi phí công, đây là một trong những lợi ích tiêu biểu nhất cho việc cải thiện các phúc lợi công cộng
- Đối với tư nhân:
+ Đảm bảo quy trình quản lý điều tiết ổn định, minh bạch: Khi có thể hợp tác với Chính phủ, việc quản lý điều tiết trong quá trình diễn ra đấu thầu và diễn ra hoạt động thực hiện dự án sẽ có sự tham dự và kiểm soát của nhà nước, từ đó khiến cho việc quản lý trở nên minh bạch hơn
+ Cơ hội kinh doanh, đầu tư: PPP mở ra cơ hội kinh doanh và tiềm năng lợi
nhuận cho các công ty tư nhân Họ có thể tham gia vào các dự án quan trọng và được hưởng lợi từ hoạt động kinh doanh dài hạn, cùng với sự hỗ trợ và bảo vệ pháp lý từ Chính phủ
+ Đảm bảo phân bổ tài sản và tái cơ cấu tổ chức đem lại hoạt động hiệu quả: Việc nhà đầu tư được hợp tác với chính phủ sẽ đảm bảo lượng vốn đầu tư ổn định, tài sản khi được phân bổ vào các dự án này cũng sẽ được mang đi tái cơ cấu cho những dự án khác cũng mang tính chất hợp tác cùng chính phủ, lợi nhuận nhà đầu tư thu được sẽ có khả năng tái cơ cấu, tái tổ chức hoạt động doanh nghiệp, từ đó đem lại lượng hiệu quả cao hơn đối với các nguồn vốn đầu
tư này
+ Cung cấp nguồn nhân lực đã được đào tạo: Nguồn nhân lực mới được cung cấp cho doanh nghiệp từ chính phủ và từ doanh nghiệp đều là những người đã
Trang 12được trải qua quá trình đào tạo chất lượng cao để đảm bảo quá trình diễn ra dự
án được thuận lợi và thu được kết quả tốt nhất
+ Phạm vi thị trường mở rộng: Thông qua PPP, các công ty tư nhân có thể tiếp
cận các thị trường mới, đặc biệt là trong lĩnh vực công trình công ích và cơ sở
hạ tầng Điều này giúp mở rộng phạm vi hoạt động kinh doanh và tạo ra cơ hội tăng trưởng bền vững
+ Chia sẻ rủi ro: PPP cho phép tư nhân chia sẻ rủi ro với Chính phủ Điều này
giúp giảm thiểu rủi ro tài chính và quản lý cho các công ty tư nhân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để họ đầu tư vào các dự án có tính khả thi cao
- Đối với cộng đồng và xã hội:
+ Tiến bộ kinh tế và giảm nghèo đói: PPP tạo ra các dự án cơ sở hạ tầng mới,
góp phần kiến tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
và giảm nghèo đói
+ Đảm bảo đối xử công bằng với người lao động hiện tại: Các công việc đượcgiám sát bởi 2 nguồn: cả Chính phủ và doanh nghiệp sẽ đảm bảo tốt hơn trong việc quản lý giữa người lao động với nhau
+ Đảm bảo giá cả hợp lý: Với việc tìm được các doanh nghiệp với giá dịch vụ hợp lý, uy tín sẽ làm cho chi phí bỏ ra cho việc hợp tác thực hiện các dịch vụ công thấp hơn, việc thu hồi các khoản chi phí cũng không còn là vấn đề quá lớn làm cho giá cả đưa ra dành cho các dịch vụ được đảm bảo hợp lý cho người tiêudùng
+ Cải thiện chất lượng và độ tin cậy của dịch vụ: Được đảm bảo, kiểm soát và
thực hiện bởi cả Chính phủ và tư nhân sẽ giúp người dân yên tâm hơn trong việc thực hiện xây dựng và hoàn thành, chất lượng của dịch vụ, được đảm bảo bởi Chính phủ cũng là một trong những lý do tăng độ tin cậy của người dân đối với các dịch vụ này
+ Tạo việc làm và đào tạo: PPP tạo ra cơ hội việc làm mới và đào tạo nguồn
nhân lực, góp phần giải quyết vấn đề thất nghiệp và nâng cao trình độ công nhân
II Phân tích lợi ích của PPP tại Việt Nam giai đoạn 2010-2023
1.Thực trạng đầu tư PPP tại Việt Nam giai đoạn 2010-2023
Tại Hội thảo “Thúc đẩy đầu tư theo phương thức đối tác công- tư (PPP) trongphát triển một số lĩnh vực kinh tế- xã hội của Việt Nam” vừa được tổ chức tại
Trang 13Hà Nội, ông Dương Bá Đức - Vụ trưởng Vụ Đầu tư (Bộ Tài chính) cho biết,giai đoạn 2010-2014 là giai đoạn số lượng dự án PPP được ký kết nhiều nhất,giai đoạn này hợp đồng PPP tập trung chủ yếu là dự án Xây dựng - Vận hành -Chuyển giao (BOT), Xây dựng - Chuyển giao (BT) trong lĩnh vực giao thông
Ông Dương Bá Đức - Vụ trưởng Vụ Đầu tư (Bộ Tài chính)
Vài năm trở lại đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng (CSHT) Bên cạnh huy đô ‰ng nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, Viê ‰tNam đã tích cực huy đô ‰ng vốn từ các thành phần ngoài nhà nước, các doanhnghiệp thực hiê ‰n các dự án CSHT theo hình thức PPP Tính đến cuối năm 2016,tại Viê ‰t Nam đã có 19 dự án điện với công suất thiết kế khoảng 20.000 MW, 58
dự án trong lĩnh vực giao thông với tổng chiều dài là 1.700km đường bộ… đãtriển khai thực hiê ‰n theo hình thức PPP
Giai đoạn 2015-2020, tập trung chủ yếu tiếp tục đàm phán một vài dự án BOTđiện có vướng mắc trong giai đoạn trước và xử lý các vướng mắc của các dựPPP đã ký hợp đồng
Theo báo cáo của Chính phủ, tính đến năm 2019, cả nước có 336 dự án PPP,trong đó có 140 dự án theo hợp đồng BOT, 188 dự án theo hợp đồng BT và 8 dự
án được áp dụng các loại hợp đồng khác; huy động được khoảng 1,6 triệu tỷđồng vào đầu tư kết cấu hạ tầng quốc gia Phương thức PPP đã góp phần quantrọng huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư xây dựng hạ tầng hiện đại, thúc đẩyphát triển kinh tế - xã hội