1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Hoàn thiện dề tai khkt 18 19 txh đa sua 2

14 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giữ gìn tiếng nói, chữ viết của học sinh dân tộc thiểu số tại xã ..
Trường học Trường TH-THCS
Thể loại Đề tài nghiên cứu khoa học
Năm xuất bản 2018-2019
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 331 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày hôm nay nhóm chúng em đã bước đầu nghiên cứu thực trạng “Giữ gìn tiếng nói, chữ viết của học sinh dân tộc thiểu số tại xã ..” tại địa phương và bước đầu đánh giá được thực trạng, tì

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Kính thưa!

- BGH Trường TH-THCS

- Bố mẹ các bạn trong nhóm.

- Các nghệ nhân tại địa phương

Năm học 2018-2019 là năm học mang lại nhiều dấu ấn cho chúng em nhất, năm học này chúng em tiếp tục nghiên cứu khoa học với tâm trạng nhiều

bỡ ngỡ lo âu nhưng qua một quá trình nghiên cứu chúng em – những học sinh lớp 8 hiểu thêm nhiều kiến thức quý báu trong sách và đặc biệt là được thầy cô hết sức quan tâm, tận tình giúp đỡ và đã trang bị cho chúng em cách thức nghiên cứu khoa học, chúng em cảm thấy tự tin hơn, mạnh dạn sáng tạo hơn trong nhiều lĩnh vực thực tế góp phần làm phong phú thêm cuộc sống

Ngày hôm nay nhóm chúng em đã bước đầu nghiên cứu thực trạng “Giữ

gìn tiếng nói, chữ viết của học sinh dân tộc thiểu số tại xã ” tại địa phương

và bước đầu đánh giá được thực trạng, tìm hiểu nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp để thay đổi nhận thức của học sinh, phụ huynh và đề xuất ý kiến với nhà trường, lãnh đạo địa phương và bảo tồn các giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số Đây là vấn đề gần gũi, thiết thực nên chúng em đã nhận được sự ủng hộ nhiệt tình, sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các các bạn trong trường, bố mẹ thầy cô giáo, nghệ nhân tại địa phương và các bác lãnh đạo ở địa phương

Thay mặt cho các bạn, nhóm chúng em xin chân thành cảm ơn BGH trường đã phê duyệt và công nhận đề tài này Cảm ơn các nghệ nhân tại địa phương và quý thầy cô giáo đã dìu dắt chúng em từ một học sinh chưa biết gì về nghiên cứu khoa học trở thành một nhà khoa học nhỏ Đây là tiền đề cơ bản giúp chúng em có ý tưởng mới để tiếp tục nghiên cứu

Xin cảm ơn bố mẹ các bạn trong nhóm đã thường xuyên chia sẻ động viên, tạo điều kiện và hỗ trợ chúng em thực hiện đề tài này

Mặc dù chúng em đã cố gắng hết sức nhưng đề tài nghiên cứu vẫn chưa hoàn thiện, kính mong Hội đồng khoa học, quý thầy cô góp ý bổ sung giúp chúng em phát triển và mở rộng trong tương lai

Chúng em xin trân trọng cảm ơn!

Trang 2

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

GIỮ GÌN TIẾNG NÓI, CHỮ VIẾT CỦA HỌC SINH DÂN TỘC

THIỂU SỐ TẠI

Phần thứ nhất GIỚI THIỆU TỔNG QUAN TÓM TẮT KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Tiếng nói, chữ viết là linh hồn của mỗi dân tộc nhưng hiện nay sự hòa nhập càng cao trong phạm vi càng rộng thì sự tồn vong của ngôn ngữ, tiếng nói của một dân tộc càng bị chi phối mạnh Một dân tộc có tư tưởng mang tính hẹp hòi, nền sản xuất lạc hậu bao nhiêu thì nguy cơ bị nhấn chìm cao là điều tất yếu

Dưới thời các triều đại phong kiến, tư liệu sản xuất thô sơ, khả năng giao lưu hạn hẹp vì hệ thống giao thông phương tiện di chuyển chỉ bằng đôi chân Chất lượng cuộc sống, truyền thống văn hóa chỉ ảnh hưởng trong phạm vi hẹp, những giá trị văn hóa ấy chưa được truyền bá rộng rãi; chưa có sự so sánh cao thấp, văn minh hay lac hậu bởi vậy những giá trị văn hóa ấy vẫn được trân trọng bảo tồn nhằm phục vụ cuộc sống và tinh thần ngoài thời gian lao động

Nhưng khi giao thông phát triển, các phương tiện giao thông ngày càng hiện đại, tốc độ sự giao lưu của con người càng được mở rộng trên phạm vi rộng lớn Trong quá trình giao lưu và hòa nhập cộng đồng thì những giá trị văn hóa của các dân tộc được đánh giá và so sánh Ví dụ như: Trong hội giao lưu ca hát, bài hát nào hay, giọng hát của người hát hay sẽ được hát mãi, còn bài hát và giọng nói của người hát dở hơn thì ai còn dám mang ra hát nữa

Một điệu dân ca, khi cất lên nó hòa nhập được với tất cả các nhạc cụ thì điệu dân ca đó ắt được lưu truyền mãi cho đến khi còn thích hợp Một điệu dân

ca chỉ hòa nhập được với một thứ nhạc cụ duy nhất thì ắt chẳng hay bằng và có điệu dân ca chỉ cất suông, không có nhạc cụ thì ắt còn dở hơn Bản nhạc đó, bản dân ca đó nếu không có một tổ chức quản lý, tập hợp và điều tiết có hệ thống, có

ý thức thì cái nào dở hơn sẽ bị loại trừ

Sau giải phóng miền Nam thống nhất đất nước Kinh tế khó khăn, thiếu thốn lương thực, thực thực phẩm, người người, nhà nhà, ngành ngành lo cho miếng ăn Do cơ chế bao cấp, nguồn thu không đủ chi Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức chống đói, chống rét.Trong hoàn cảnh ấy, việc bảo tồn truyền thống văn hóa dân tộc không được coi trọng Rồi nền kinh tế nước ta xóa bỏ bao cấp, rồi hội nhập quốc tế, khi đời sống kinh tế được nâng lên, đời sống nhân dân được cải thiện Ngoảnh lại với bản sắc văn hóa dân tộc thì thực trạng truyền thống văn hóa tình hình biến dạng đã đi quá xa Sự hội nhập trong đó có nền văn hóa lai căng, văn minh có, tạp uế có Không có sự suy xét chắt lọc tinh vi có

Trang 3

thể những văn hóa lai căng, tạp uế tưởng là văn minh hiện đại, chấp nhận một cách dễ dàng và còn có ý coi thường phản bội, ruồng bỏ nên văn hóa truyền thống tốt đẹp của mình

Xã hội bị xáo trộn nếp sống văn hóa trong đó dân tộc thiểu số cũng không ngoài chi phối nghiêm trọng

Bây giờ, tận ngóc ngách thôn bản vùng sâu vùng xa nơi đắc địa của người dân tộc thiểu số trong đó có quê hương của người dân tộc thiểu sốTày, Nùng, Mường, Thái, khi đứa trẻ được sinh ra chập chững tập nói thì cha mẹ và người thân trong gia đình của họ của họ cũng chỉ nói tiếng Việt với đứa trẻ Trong bữa tiệc trà hay ăn uống thậm chí không có mặt người Kinh nào, đôi khi họ cũng nói tiếng Việt với nhau vì dễ diễn đạt hơn tiếng nói của dân tộc mình

Đặc biệt nghiêm trọng, có những người đi học hoặc mưu sinh cuộc sống

đi xa làm ăn còn tỏ ra trôn dấu không mốn mọi người biết mình là dân tộc thiểu

số thay vì mình phải học giỏi, làm việc sáng tạo thông minh để vinh thăng cho dân tộc mình thì ngược lại họ sợ bị coi thường Sợ là dân tộc thiểu số không được vinh thăng nhưng họ không hề biết họ không đủ tài năng để được vinh thăng

Trên đây chỉ là một số tư tưởng đạo đức bị băng hoại Vô trách nhiệm với dân tộc mình, không to son, phát triển cho truyền thống văn hóa của dân tộc mình, muốn hưởng hữu vinh quang cá nhân nhưng rất tiếc những người đó chẳng bao giờ vinh quang được

Hiện nay chính sách của Đảng và Nhà nước ta đang ra sức bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc đặc biệt là lưu truyền tiếng nói chữ viết nhưng tiếc thay sức hút của nó quá yếu ớt trước cơn bão hội nhập trước những tinh hoa văn minh hơn, hiện đại hơn của cả thế giới Tuy người già rất ủng hộ nhưng người già lại không tồn tại mãi với thời gian, thế giới đang được định đoạt bởi tuổi trẻ Thế giới ngày mai thuộc về trẻ em hôm nay Nhưng thanh thiếu niên và học sinh hiện nay đang quên đi văn hóa của dân tộc mình trong đó

có tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình

Huyện trong đó có xã là một huyện trước năm 1990, đất rộng người thưa, đất đai phì nhiêu, khí hậu ôn hòa quanh năm Đó là lí do thu hút người người nông dân trên khắp mọi miền đất nước kéo đến đây mưu sinh và ổn định cộc sống trong đó các đồng bào dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Mường, Thái Họ vào đây chỉ mang theo bàn tay và khối óc chứ chưa mang theo được bản sắc văn hóa dân tộc của họ Vì mưu sinh đến đất khách quê người họ phải giao lưu tiếp xúc với nhiều dân tộc Mải lo toan đời sống kinh tế gia đình, họ phó mặc cho truyền thống văn hóa của mình Con cái của họ, đưa lớn từ quê vào còn ảnh hưởng chút ít, đưa nhỏ thì thì chẳng nhớ gì, đưa được sinh ra và lớn lên tại đây càng không biết Thanh niên và học sinh lại càng không biết từng tồn tại một

Trang 4

bản sắc văn hóa dân tộc nào đấy của dân tộc mình.Và tệ hại hơn, chúng em thấy giữa dân tộc mình và dân tộc khác cùng khu dân cư chẳng khác gì khác nhau

Là một học sinh dân tộc thiểu số tại xã B’Lá, Chúng em muốn tìm hiểu hiểu để biết nhiều hơn về hiện trạng, nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp thông qua hiểu biết này để có thể góp phần nhỏ bé đánh thức các bạn học sinh

và phụ huynh trước nguy cơ mai một của tiếng nói chữ viết của các học sinh dân tộc thiểu số

II TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1 Lịch sử của vấn đề nghiên cứu

Bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số vấn đề cấp bách đặt ra trong xu thế hội nhập và phát triển - ThS: Nguyễn Cao Thịnh (28-9-2011)

Bảo tồn tiếng nói chữ viết của dân tộc thiểu số ở Việt Nam- Cổng thông tin điện tử - ủy ban dân tộc thiểu số (10-9-2012)

Bảo tồn ngôn ngữ các dân tộc thiểu số - PGS-TS Tạ Văn Thông (Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam)- Báo nhân dân (11/7/2014)

Bảo tồn tiếng nói chữ viết của dân tộc thiểu số -TS Lê Kim Khôi – tạp chí điện tử - Thế giới di sản

Bảo tồn tiếng nói và chữ viết của dân tộc thiểu số - Thảo My- Báo công thương (27/05/2015)

Bảo tồn chữ viết của dân tộc thiểu số Báo dân vận (5/9/2017)

Bảo tồn phát huy những giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số thông qua tiếng nói và chữ Viết – Phúc Hằng - báo dân tộc và miền núi (8/ 10/2017)

Các đề tài trên dù viết dù nghiên cứu ở những góc độ khác nhau song ít nhiều đều đề cập đến vai trò, ý nghĩa nguyên nhân của việc giữ gìn bảo tồn tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số Các đề tài trên sẽ là nguồn tham khảo quý báu giúp chúng em có cơ sở để giải quyết tốt vấn đề nghiên cứu của mình

2 Để hoàn thành đề tài “Giữ gìn tiếng nói, chữ viết của học sinh dân

tộc thiểu số” ngoài nghiên cứu các đề tài liên quan trên, chúng em còn tìm hiểu

tiếng nói chữ viết, khảo sát tình hình thực tế của học sinh dân tộc thiểu số tại địa phương

- Tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến các thực trạng học sinh không biết không nói được và chỉ có thể nghe và không biết chữ viết của dân tộc mình

- Gặp gỡ các nghệ nhân để tìm hiểu các nội dung của đề tài Tìm hiểu sưu tầm tư liệu, tranh ảnh liên quan đến đề tài

- Từ thực trạng tuyên truyên truyền đến các bạn học sinh, các bậc phụ huynh để thay đổi nhận thức

- Đưa ra một số giải pháp để thay đổi nhận thức của học sinh, tham mưu với nhà trường đề xuất với trung tâm học tập cộng đồng mở các lớp dạy tiếng dân tộc

Trang 5

III KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

Từ ngày 22/08/2018 đến ngày 8/9/2018 tìm hiểu tiếng nói và chữ viết

Từ ngày 11/9/2018 đến ngày 27/9/2018 tiến hành khảo sát và xử lí số liệu khảo sát thực tế

Từ ngày 30/9/2018 đến ngày 30/10/2018 tiến hành tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng

Từ ngày 02/11/2018 đến ngày 12/11/2018 gặp gỡ các nghệ nhân biết về ngôn ngữ để tìm hiểu và học tập

Từ ngày 13/11/2018 đến ngày 22/11/2018 viết đề tài

Từ ngày 24/11/2018 đến ngày 30/11 /2018 tiếp tục bổ sung, hoàn thiện

đề tài với các nghệ nhân, các tài liệu thu thập

Phần thứ hai GIẢ THUYẾT VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

I GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

- Tại sao trước đây còn ngôn ngữ của các dân tộc được bảo tồn còn hiện nay đứng trước nguy cơ mai một?

- Tại sao các học sinh dân tộc thiểu số lại không thích dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình?

- Có phải tất cả tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số đều đang bị mai một không?

- Nếu các học sinh dân tộc thiểu số tại địa phương không còn nói được mà chỉ có thể hiểu tiếng và không biết chữ viết của các dân tộc mình thì sẽ như thế nào?

- Vậy có thể thay đổi nhận thức của các bậc phụ huynh học sinh hay không thông qua thực trang vấn đề nghiên cứu tác động bằng các hình thức tuyên truyền, tổ chức các hội thi tìm hiểu truyền thống các dân tộc thiểu số để thay đổi nhận thức của học sinh và phụ huynh hay không

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

- Giúp học sinh biết sự hình thành và phát triển của tiếng nói chữ viết của dân tộc mình

- Giúp học sinh biết được thực trạng không biết nói và sử dụng tiếng nói chữ viết của thế hệ trẻ trong đó có học sinh là điều tất yếu dẫn đến mai một của tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình

- Giúp cho học sinh hiểu được vai trò của việc giữ gìn của tiếng nói, chữ viết để giữ gìn, bảo tồn, truyền tải các giá trị văn hóa, bản sắc văn hóa của dân tộc mình và góp phần làm phong phú văn hóa dân tộc

- Giúp học sinh hiểu được vai trò và trách nhiệm của bản thân thế hệ tiếp tục giữ gìn và bảo vệ và phát huy làm rạng rỡ các giá trị văn hóa của dân tộc mình

Trang 6

- Thông qua nghiên cứu đề tài này góp phần nhỏ bé của mình đánh các bạn học sinh và phụ huynh Giúp thay đổi nhận thức của các bậc phụ huynh trong việc giáo dục con cháu trong việc giữ gìn tiếng nói, chữ viết

Phần thứ ba PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN

I NGHIÊN CỨU TIẾNG NÓI, CHỮ VIẾT CỦA HỌC SINH DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI

1.Tiếng nói và chữ viết của dân tộc Tày - Nùng

- Người Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ: Tày- Thái

-Trong tổng số 98 học sinh dân tộc được khảo sát có 72 học sinh là người dân tộc Tày - Nùng, chính vì vậy mà chúng em tập trung nghiên cứu tiếng nói chữ viết của người Tày-Nùng

* Sự ra đời của tiếng Tày - Nùng

Sau cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

ra đời, do tính chất của đặc thù của cuộc cách mạng, nhà nước ta trên cấp tỉnh còn có một cấp gọi là khu tự trị Dân tộc Tày Nùng phân bố ở các tỉnh thuộc khu

tự trị Việt Bắc Khu tự trị Viêt Bắc đã tạo ra một chữ vết La tinh ghép vần trên

cơ sở chữ tiếng Việt để thể hiện phát âm một số âm tiết mà chữ quốc ngữ chưa

có, được phổ cập vào sách giao khoa trong chương trình học từ lớp vỡ lòng đến cấp hai

Ví dụ như (âm bjooc hoa) bông hoa: nậu bjooc Từ nậu vẫn viết và ghép vần như tiếng Việt nhưng từ hoa bjooc được ghép thêm chữ j (gi) và thêm hai chữ o, không có dấu sắc Sau khi giải phóng đất nước 1975, thống nhất đất nước, xóa bỏ khu tự trị và cấp khu Việt Bắc cũng không tồn tại và chữ viết Tày, Nùng cũng không còn trong trường phổ thông Tuy nhiên những người được sinh ra và lớn lên trong thời bấy giờ đến nay, khi viết thư, hay sáng tác thơ vẫn

sử dụng

Chắc chắn rằng thế hệ của lớp người này, người cuối cùng chấm dứt cuộc sống sẽ không tồn tại chữ viết của dận tộc nữa, may ra nó còn hiện hữu trên những trang sách thơ ca, truyện được lưu giữ trong các thư viện Hiện nay, người có am hiểu sâu rộng và có phương pháp hướng dẫn tìm hiểu về loại chữ này là ông Nông Phúc Tương tại Lộc Thắng- Bảo Lâm

Trong thư viện Đại học quốc gia Hà Nội còn lưu giữ được chữ viết của người Tày Nùng Cổ, hình tượng chữ không phải như chữ Nôm mà là dạng như chữ Ấn Độ, Mi-an-ma, Ai Lao, Cao Miên và Thái Lan mà người ta hay gọi là chữ Giun Lịch sử ra đời trước chữ Nôm

- Người Nùng, Tày dùng chữ Hán hay chữ Nôm Nùng Hiện nay chỉ còn 2 người có thể đọc viết được, đọc được chữ Nôm Nùng, trong đó chỉ có một người

Trang 7

có thể hướng dẫn là ông Trần Văn Tân tại thôn 3, xã B’Lá nhưng hiện nay không có ai theo học

* Đặc điểm tiếng Tày- Nùng

Tiếng Tày: Người dân tộc Tày chỉ có một ngành nhưng lại chi phối đặc thù của địa phương hoặc khu vực mà phát âm nặng hay nhẹ khác nhau Thậm chí tên gọi của một số thực vất khác hẳn hoàn toàn Hầu như mỗi huyện có một phương ngữ khác nhau và mỗi tỉnh lại có phương ngữ khác nhau Nếu người Tày từ tỉnh này qua tỉnh khác mà chưa từng được giao lưu trước đây sẽ rất khó nghe, khó hiểu hết một cuâ nói của người Tày ở nơi mới đến Phải có quá trình tiếp xúc và giao lưu nhất định mới có thể hòa nhập được

Tuy nhiên họ nhận ra dân tộc mình bằng nếp sống văn hóa, tập tục trang phục và nghi lễ

Tiếng Nùng: Khác với người dân tộc Tày, dân tộc Nùng có rất nhiều ngành Tuy nhiên cùng sinh sống cùng sinh sống trong khu vực ngoài khác tiếng nói, họ cùng chung truyền thống văn hóa, nếp sống và tập tục

2 Tiếng nói và chữ viết của người Mạ

- Người Mạ thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khmer Ngôn ngữ Cơ Ho (Tiếng

Mạ, Cơ Ho) Chữ viết của họ cũng là dùng chữ La-tinh Đa số người trẻ, trong

đó có học sinh có thể nói và viết tiếng Mạ

Trang 8

II NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ VÀ NGUYÊN NHÂN

1 Tiếng nói và chữ viết

- Đối với các học sinh dân tộc Mạ 100 % đều nói và nghe được tiếng mẹ đẻ của mình và còn đọc hiểu một phần chữ viết của dân tộc mình

- Đối với học sinh dân tộc Tày, Nùng : 30 % có thể hiểu và nói tiếng mẹ đẻ, 70% chỉ có thể nghe và không hiểu hết nghĩa, thậm chí không hiểu

III CÁC GIẢI PHÁP

1.Tuyên truyền cho các học sinh về vai trò của của tiếng nói, chữ viết và nghệ thuật truyền thống trong việc bảo tồn các giá trị của dân tộc mình, bảo tồn

và giữ gìn nó chính là giữ lại bản sắc riêng của dân tộc mình qua đó giáo dục lòng tự tôn, tự hào về dân tộc mình

2.Tăng cường học nói trong giao tiếp sinh hoạt hàng ngày

3.Tự học tìm hiểu qua các báo thiếu nhi dân tộc, măng non về tiếng mẹ

đẻ, truyền thống của mình tại thư viện Thông qua đó trao đổi, luyện nói với nhau

4.Tham mưu cho nhà trường đề xuất với trung tâm học tập cộng đồng mở các lớp dạy học tiếng dân tộc do các giáo viên là người dân tộc thiểu số phụ trách

5 Tuyên truyền đến phụ huynh để thay đổi nhận thức trong việc giáo dục con

em về truyền thống của dân tộc đặc biệt về tiếng nói và chữ viết

Phần thứ tư KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

I KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Sau khi phân tích các nguyên nhân dẫn đến thực trạng và đưa ra các giải pháp để thực hiện dự án các bạn trong trường đã có chuyển biến tích cực trong nhận thức, hành động trong việc giữ gìn, bảo tồn tiếng nói, chữ viết và diễn xướng dân gian và nghề truyền thống

Trang 9

Nội dung Nghe hiểu và nói được Nghe hiểu và không nói được

Dân tộc Tày, Nùng 41.9 % 58.1%

II BÀN LUẬN

1 Khi chúng em nghiên cứu đề tài này nhận được sự quan tâm, động viên giúp đỡ nhiệt tình từ các lãnh đạo của địa phương các cơ quan của xã

2 Các nghệ nhân, những người hiểu biết về văn hóa các dân tộc trên địa bàn rất quan tâm và ủng hộ nhiệt tình, động viên chúng em tìm hiểu

3 Các bạn học sinh trong các lớp quan tâm, giới thiệu các địa chỉ và sưu tầm các nguồn tư liệu từ ông bà, bố mẹ cung cấp cho nhóm chúng em

4 Các thầy cô giáo trong nhà trường đặc biệt là các thầy cô giáo người dân tộc thiểu số cũng giúp đỡ và cung cấp các tư liệu

5 Học sinh và phụ huynh rất hào hứng tham gia đề tài và thu được kết quả cao hơn mong đợi

Phần thứ năm KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN

I KẾT LUẬN

Xuất phát từ thực tế học sinh dân tộc thiểu số không quan tâm đến việc sử

dụng tiếng nói chữ viết của dân tộc mình Qua một thời gian nghiên cứu tìm

hiểu chúng em đã tìm ra được một số nguyên nhân của thực trạng và đưa ra một

số giải pháp thay đổi nhận thức của các bạn học sinh, phụ huynh Chúng em thấy các bạn học sinh đã đã bắt đầu quan tâm tìm hiểu và tích cực học nói tiếng

mẹ đẻ của mình Đồng thời việc nghiên cứu để bảo tồn tiếng nói, chữ viết có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy nền văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia góp chung vào việc làm nên một nền văn hóa đa bản sắc của đất nước Việt Nam và toàn thế giới

II HƯỚNG PHÁT TRIỂN

Đề tài này có thể tiếp tục nghiên cứu ở mở rộng ở một số đặc trưng văn hóa khác, các địa phương khác tại huyện nhà để bổ sung các số liệu tư liệu để mang tính khách quan hơn, cụ thể hơn và đề xuất với các cấp lãnh đạo mở các

để bảo tồn những di sản văn hóa quý báu của các dân tộc

B’Lá, ngày 30 tháng 11 năm 2018

Trang 10

SỞ GD&ĐT LÂM ĐỒNG

PHÒNG GD&ĐT BẢO LÂM

TRƯỜNG TH&THCS BẾ VĂN ĐÀN

KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

GIỮ GÌN TIẾNG NÓI, CHỮ VIẾT CỦA HỌC SINH DÂN TỘC

THIỂU SỐ TẠI ĐỊA PHƯƠNG B’LÁ.

A Lý do chọn đề tài:

Tiếng nói, chữ viết là linh hồn của mỗi dân tộc nhưng hiện nay sự hòa nhập càng cao trong phạm vi càng rộng thì sự tồn vong của ngôn ngữ, tiếng nói của một dân tộc càng bị chi phối mạnh Một dân tộc có tư tưởng mang tính hẹp hòi, nền sản xuất lạc hậu bao nhiêu thì nguy cơ bị nhấn chìm cao là điều tất yếu

Trong quá trình giao lưu và hòa nhập cộng đồng thì những giá trị văn hóa của các dân tộc được đánh giá và so sánh Ví dụ như: Trong hội giao lưu ca hát, bài hát nào hay, giọng hát của người hát hay sẽ được hát mãi, còn bài hát và giọng nói của người hát dở hơn thì ai còn dám mang ra hát nữa

Bây giờ, tận ngóc ngách thôn bản vùng sâu vùng xa nơi đắc địa của người dân tộc thiểu số trong đó có quê hương của người dân tộc thiểu sốTày, Nùng, Mường, Thái, khi đứa trẻ được sinh ra chập chững tập nói thì cha mẹ và người thân trong gia đình của họ của họ cũng chỉ nói tiếng Việt với đứa trẻ Trong bữa tiệc trà hay ăn uống thậm chí không có mặt người Kinh nào, đôi khi họ cũng nói tiếng Việt với nhau vì dễ diễn đạt hơn tiếng nói của dân tộc mình

Hiện nay chính sách của Đảng và Nhà nước ta đang ra sức bảo tồn các giá trị truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc đặc biệt là lưu truyền tiếng nói chữ viết nhưng tiếc thay sức hút của nó quá yếu ớt trước cơn bão hội nhập trước những tinh hoa văn minh hơn, hiện đại hơn của cả thế giới Tuy người già rất ủng hộ nhưng người già lại không tồn tại mãi với thời gian, thế giới đang được định đoạt bởi tuổi trẻ Thế giới ngày mai thuộc về trẻ em hôm nay Nhưng thanh thiếu niên và học sinh hiện nay đang quên đi văn hóa của dân tộc mình trong đó

có tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình

Là một học sinh dân tộc thiểu số tại xã B’Lá, Chúng em muốn tìm hiểu hiểu để biết nhiều hơn về hiện trạng, nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp thông qua hiểu biết này để có thể góp phần nhỏ bé đánh thức các bạn học sinh

và phụ huynh trước nguy cơ mai một của tiếng nói chữ viết của các học sinh dân tộc thiểu số

Từ thực tế chúng em đã tìm hiểu để thực hiện nghiên cứu: “Giữ gìn tiếng

nói, chữ của học sinh dân tộc thiểu số tại xã B’Lá”.

B Giả thuyêt khoa học – mục đích nghiên cứu:

I Giả thuyết khoa học:

Ngày đăng: 17/10/2023, 20:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Cổng thông tin điện tử chính phủ về chính sách dân tộc Khác
3. Bảo tồn ngôn ngữ dân tộc thiểu số vấn đề cấp bách đặt ra trong xu thế hội nhập và phát triển- ThS: Nguyễn Cao Thịnh (28-9-2011) Khác
4. Bảo tồn tiếng nói chữ viết của dân tộc thiểu số ở Việt Nam- Cổng thông tin điện tử - ủy ban dân tộc thiểu số ( 10-9-2012) Khác
5. Bảo tồn ngôn ngữ các dân tộc thiểu số - PGS-TS Tạ văn Thông (Viện Hàn Lâm khoa học xã hội Việt Nam) -Báo nhân dân (11/7/2014) Khác
6. Bảo tồn tiếng nói chữ viết của dân tộc thiểu số -TS Lê Kim Khôi – tạp chí điện tử - Thế giới di sản Khác
7. Bảo tồn tiếng nói và chữ viết của dân tộc thiểu số - Thảo My- Báo công thương (27/05/2015) Khác
8. Bảo tồn chữ viết của dân tộc thiểu số. Báo dân vận (5/9/2017) Khác
9. Bảo tồn phát huy những giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số thông qua tiếng nói và chữ Viết – Phúc Hằng- báo dân tộc và miền núi ( 8/ 10/2017) Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w