1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng nhân lực, sự hài lòng và một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của nhân viên y tế trung tâm y tế huyện nguyên bình, cao bằng năm 2021

92 13 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng nhân lực, sự hài lòng và một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của nhân viên y tế trung tâm y tế huyện Nguyên Bình, Cao Bằng năm 2021
Tác giả Hoàng Ngọc Sơn
Người hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Bạch Ngọc
Trường học Trường Đại học Thăng Long
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều nghiên cứu trên thế thế giới đã chỉ ra rằng sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng các dịch vụ tại các cơ sở y t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

HOÀNG NGỌC SƠN

THỰC TRẠNG NHÂN LỰC, SỰ HÀI LÒNG

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN

SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN NGUYÊN BÌNH,

CAO BẰNG NĂM 2021

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội – 2022

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC THĂNG LONG

KHOA: KHOA HỌC SỨC KHỎE

BỘ MÔN: Y TẾ CÔNG CỘNG

HOÀNG NGỌC SƠN

THỰC TRẠNG NHÂN LỰC, SỰ HÀI LÒNG

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN

SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ TRUNG TÂM Y TẾ HUYỆN NGUYÊN BÌNH,

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn và bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS TS

Nguyễn Bạch Ngọc, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và luôn có sự phản hồi tỉ mỉ trong thời gian nhanh nhất trong suốt thời gian qua nhằm giúp tôi hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới: Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Bộ môn Y

tế công cộng, các thầy, cô giáo trường Đại học Thăng Long đã giảng dạy và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường

Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình cùng các bạn đồng nghiệp nơi tôi công tác đã tạo điều kiện tốt nhất giúp tôi hoàn thành khóa luận

Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn tới tới gia đình, bạn bè và người thân - những người đã hết sức ủng hộ, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình học tập

đã qua

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Kính gửi:

 Phòng Sau đại học và Quản lý khoa học - Trường Đại học Thăng Long

 Bộ môn Y tế Công cộng - Trường Đại học Thăng Long

 Hội đồng chấm luận văn Cao học - Trường đại học Thăng Long

Tôi tên là: Hoàng Ngọc Sơn

Chuyên ngành: Y tế công cộng

Mã học viên: C01529

Tôi xin cam đoan đề tài luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, do chính bản thân tôi thực hiện Tất cả các số liệu trong luận văn này là trung thực, khách quan và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nếu có điều gì sai trái tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Hoàng Ngọc Sơn

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

(Tổ chức y tế thế giới)

Trang 6

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Một số khái niệm và định nghĩa 3

1.2 Hệ thống tổ chức y tế Việt Nam 3

1.2.1 Phân tuyến kỹ thuật 3

1.2.2 Tổ chức Y tế tuyến huyện 4

1.2.3 Chức năng của trung tâm y tế tuyến huyện 5

1.3 Thực trạng nhân lực y tế trên thế giới và Việt Nam 5

1.3.1 Thực trạng nhân lực y tế trên thế giới 5

1.3.2 Thực trạng nhân lực y tế tại Việt Nam 8

1.4 Các nghiên cứu về sự hài lòng của NVYT và yếu tố liên quan 12

1.4.1 Các nghiên cứu về sự hài lòng của NVYT và yếu tố liên quan trên thế giới 12

1.4.2 Các nghiên cứu về sự hài lòng của NVYT và yếu tố liên quan ở Việt nam 16

1.5 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu 19

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu 21

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 22

2.2 Thiết kế nghiên cứu 22

2.3 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu 22

2.4 Các biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá 23

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 28

2.6 Xử lý, phân tích số liệu 31

2.7 Sai số và biện pháp khắc phục 31

2.8 Đạo đức của nghiên cứu 31

2.9 Hạn chế nghiên cứu 32

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Thực trạng nguồn nhân lực TTYT huyện Nguyên Bình 33

3.2 Sự hài lòng của nhân viên y tế tại Trung tâm y tế huyện Nguyên Bình 37

Trang 7

CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 52

4.1 Thực trạng nguồn nhân lực TTYT huyện Nguyên Bình 52

4.2 Sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc 55

4.3 Một số yếu tố liên quan đến hài lòng của nhân viên y tế 62

KẾT LUẬN 69

KHUYẾN NGHỊ 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

PHỤ LỤC 78

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức các tuyến Y tế Việt Nam hiện nay [16] 4

Sơ đồ 1.2 Mô hình tổ chức Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình 20

Biều đồ 3.1 Tỷ lệ hài lòng tại từng khía cạnh hài lòng của NVYT với công việc 47

Bảng 2.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 23

Bảng 3.1 Số cán bộ nghỉ hưu trong vòng 3 năm (2019-2021) 35

Bảng 3.2 Số cán bộ thôi việc, bỏ việctrong vòng 3 năm (2019-2021) 35

Bảng 3.3 Số cán bộ tuyển dụng mới trong vòng 3 năm (2019-2021) 36

Bảng 3.4 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 37

Bảng 3.5 Đánh giá của nhân viên y tế về công việc 39

Bảng 3.6 Sự hài lòng về môi trường làm việc của nhân viên y tế 41

Bảng 3.7 Đánh giá sự hài lòng về lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp của nhân viên y tế 42

Bảng 3.8 Đánh giá sự hài lòng về quy chế nội bộ, tiền lương, phúc lợi của nhân viên y tế 43

Bảng 3.9 Đánh giá sự hài lòng về công việc, cơ hội học tập và thăng tiến của nhân viên y tế 45

Bảng 3.10 Đánh giá sự hài lòng chung về Trung tâm y tế huyện của nhân viên y tế 46

Bảng 3.11 Đánh giá sự hài lòng của nhân viên y tế đối với 5 khía cạnh của sự hài lòng 47

Bảng 3.12 Một số yếu tố nhân khẩu học liên quan đến sự hài lòng chúng của nhân viên y về công việc 48

Bảng 3.13 Một số yếu tố khác liên quan đến sự hài lòng chung của nhân viên y tế về công việc 49

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Con người (hay nguồn nhân lực) là thành tố quan trọng của mọi tổ chức,

cơ quan nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra Theo Tổ chức Y tế thế giới, nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản cho mọi thành tựu y tế Nhiều nghiên cứu trên thế thế giới đã chỉ ra rằng sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng các dịch vụ tại các cơ

sở y tế Trong những năm gần đây, ngành y tế nước ta đã đạt nhiều thành tựu đáng kể trên nhiều lĩnh vực như: dự phòng, điều trị, sản xuất thuốc, vắc xin Bên cạnh đó cũng nảy sinh nhiều bất cập như: tình trạng quá tải bệnh viện tuyến trên, vấn đề y đức của cán bộ y tế, vấn đề chảy máu chất xám tại các bệnh viện công và sự thu hút nguồn nhân lực về các bệnh viện tư Một nghiên cứu ở 8 tỉnh Duyên hải Nam trung bộ cho thấy: 50% cán bộ y tế công lập muốn chuyển sang

y tế tư nhân và 36,3% lên cơ sở y tế công lập tuyến trên Lý do chủ yếu của sự dịch chuyển là do thu nhập thấp (44,9%); tiếp đến là là không có cơ hội đào tạo

và phát triển nghề nghiệp (28,5%); tiếp theo là điều kiện làm việc không đảm

bộ phận chưa hợp lý [2]

Cùng với sự thiếu hụt về nhân lực tại các Trung tâm Y tế dự phòng, sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế tại các trung tâm này cũng được đề cập tới trong nhiều nghiên cứu Theo đó, tỷ lệ nhân viên y tế hài lòng với công việc nói

Trang 10

chung, trong đó có điều kiện và môi trường làm việc, chế độ lương/thưởng/phúc lợi, cơ hội phát triển, điều kiện trang thiết bị làm việc khá thấp

Năm 2019, thực hiện chủ trương hợp nhất các đơn vị y tế trên địa bàn (bao gồm Bệnh viện đa khoa, Trung tâm y tế dự phòng và Trung tâm Dân số - Kế hoạch hóa gia đình), Trung tâm y tế huyện Nguyên Bình được thành lập và đã nhanh chóng ổn định tổ chức, sắp xếp khoa phòng chuyên môn đi vào hoạt động

nề nếp Tuy nhiên, trong điều kiện của một huyện vùng cao, diện tích lớn, địa hình chia cắt, giao thông tới một số xã chưa thuận tiện, người dân chủ yếu là dân tộc, việc tăng độ bảo phủ nhân lực y tế ở tuyến cơ sở chưa thể đáp ứng đủ nhu cầu cả về số lượng và chất lượng Hơn nữa sự xuất hiện của dịch Covid-19 đã ảnh hưởng nhiều đến công việc và thu nhập của nhân viên, khiến cho bắt đầu xuất hiện một vài biểu hiện sự không hài lòng của nhân viên đối với công việc

Trong bối cảnh khó khăn trên, thực trạng nhân lực y tế ở đây so với định biên như thế nào? Liệu viên chức hài lòng với công việc ở đây tới mức độ nào? Các yếu tố nào liên quan tới sự hài lòng đó? Giải pháp nào để nâng cao hơn nữa

sự hài lòng của viên chức đối với công việc,đồng thời thu hút được cán bộ về làm việc tại Trung tâm Y tế Để trả lời cho những câu hỏi trên, nghiên cứu

“Thực trạng nhân lực, sự hài lòng với công việc và một số yếu tố liên quan đến hài lòng của nhân viên y tế Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình, Cao Bằng năm 2021” được thực hiện với mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng nguồn nhân lực tại Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình, Cao Bằng năm 2021

2 Đánh giá sự hài lòng của nhân viên y tế đối với công việc tại địa điểm nghiên cứu

3 Phân tích một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng đối với công việc của đối tượng nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm và định nghĩa

Nhân viên/viên chức y tế: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa

nhân viên y tế (NVYT): Là những người mà hoạt động của họ nhằm mục đích nâng cao sức khỏe Nhân viên y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: Bác sỹ, điều dưỡng, dược sỹ, kỹ thuật viên và những người không trực tiếp cung cấp dịch vụ nhưng rất quan trọng đối với hoạt động của hệ thống y tế, chẳng hạn như người quản lý, tài xế xe cứu thương và kế toán [47]

Sự hài lòng: Có nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng đối với công

việc, ở nghiên cứu này dùng: “Hài lòng đối với công việc là đáp ứng cảm xúc của một người đối với tình trạng công việc, trái lại động cơ làm việc là động lực theo đuổi và thõa mãn nhu cầu” [16]

Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm,

làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [12]

Mạng lưới Y tế cơ sở được xác định bao gồm y tế huyện và y tế xã (bao

gồm cả y tế thôn bản) Y tế cơ sở là tuyến y tế gần dân nhất, là cầu nối giữa ngành y tế và người dân trong cộng đồng, là tuyến y tế có nhiệm vụ trực tiếp chăm sóc sức khoẻ nhân dân [28]

Trong nghiên cứu này tạm sử dụng khái niệm viên chức y tế hay còn gọi

là nhân viên y tế, cán bộ y tế (không tính y tế thôn bản, cô đỡ thôn bản)

1.2 Hệ thống tổ chức y tế Việt Nam

1.2.1 Phân tuyến kỹ thuật

Hiện nay hệ thống Y tế có thể được chia theo nhiều cách khác nhau, tuy nhiên phổ biến nhất được chia làm 4 tuyến: tuyến trung ương, tuyến tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương, quận/huyện/thành phố/thị xã trực thuộc tỉnh, tuyến xã/phường/thị trấn Trong đó tuyến quận/huyện trở xuống được gọi là y tế cơ sở

Trang 12

Sơ đồ 1.1 Sơ đồ tổ chức các tuyến Y tế Việt Nam hiện nay [25]

1.2.2 Tổ chức Y tế tuyến huyện

- Nghị định số 01/1998/NĐ-CP, ngày 03/01/1998 của Chính phủ về hệ

thống tổ chức Y tế địa phương và Thông tư số 02/TTLB-BYT-BTCCBCP-BTC,

ngày 27/6/1998 hướng dẫn thực hiện Theo đó, mô hình tổ chức của y tế

quận/huyện/thị xã/thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là y tế tuyến huyện) chỉ

có một đầu mối duy nhất là Trung tâm Y tế (TTYT), bao gồm phòng khám đa

khoa trung tâm (bệnh viện), nhà hộ sinh, phòng khám đa khoa khu vực

(PKĐKKV), trạm y tế xã/phường/thị trấn và quản lý cả y tế thôn/bản

- Nghị định 172/2004/NĐ-CP, ngày 29/9/2004, y tế tuyến huyện chia tách

thành 3 ba đơn vị: Phòng Y tế huyện trực thuộc Ủy ban nhân dân (UBND)

huyện; Trung tâm Y tế và Bệnh viện đa khoa (BVĐK) huyện trực thuộc Sở Y tế

- Năm 2007, khi Chính phủ quyết định giải tán Uỷ ban Dân số - Gia đình &

Trẻ em và chuyển nhiệm vụ triển khai thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa

gia đình (DS – KHHGĐ) về ngành Y tế thực hiện thì y tế tuyến huyện thêm một

đầu mối nữa đó là Uỷ ban Dân số - Gia đình và Trẻ em huyện (sau đổi thành

Trung tâm DS – KHHGĐ huyện) Ngày 04/02/2008, Chính phủ ban hành Nghị

Đi sâu vào:

- Nghiên cứu khoa học và chỉ đạo khoa học – kỹ thuật

- Kỹ thuật cao, mũi nhọn

- Hỗ trợ cho chuyên môn cho tuyến dưới

-

-

Y tế cơ sở

Y tế chuyên sâu

Trang 13

định số 14/2008/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan thuộc UBND cấp huyện, các thông tư hướng dẫn số 03/2008/TTLT-BYT-BNV và thông tư số 05/2008/TT-BYT, theo đó mô hình tổ chức của hệ thống y tế huyện gồm có bốn đầu mối là: Phòng Y tế, Trung tâm Y tế, Bệnh viện đa khoa, Trung tâm DS – KHHGĐ Các trạm y tế (TYT) xã do Trung tâm Y tế huyện quản lý toàn diện và chỉ đạo mọi mặt

- Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 31/12/2017 và Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 24/01/2018 của Chính phủ hướng dẫn“Thực hiện thống nhất mô hình mỗi cấp huyện chỉ có một trung tâm y tế đa chức năng (trừ các huyện có bệnh viện đạt hạng II trở lên), bao gồm y tế dự phòng, dân số, khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch vụ y tế khác; trung tâm trực tiếp quản lý trạm y tế xã

và phòng khám đa khoa khu vực (nếu có)”

1.2.3 Chức năng của trung tâm y tế tuyến huyện

Thông tư số: 37/2016/TT-BYTngày 25 tháng 10 năm 2016 của Bộ Y tế đã nêu rõ chức năng của TTYT tuyến huyện “cung cấp dịch vụ chuyên môn, kỹ thuật về y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và các dịch

vụ y tế khác theo quy định của pháp luật” Đi kèm theo đó là 18 nhiệm vụ và quyền hạn của TTYT tuyến huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương

1.3 Thực trạng nhân lực y tế trên thế giới và Việt Nam

1.3.1 Thực trạng nhân lực y tế trên thế giới

- Nghiên cứu của Vujicic M và cộng sự (2010) cho thấy số lượng nhân lực

y tế tiếp tục duy trì xu hướng đi lên của thập kỷ qua Số y bác sỹ trên một vạn dân tăng lên (12,52 vào năm 2009 so với 12,23 của năm 2008), số bác sỹ trên vạn dân tăng thêm 0,07 (từ 6,52 lên 6,59) và số lượng điều dưỡng trên một vạn dân cũng tăng (8,82 của năm 2009 so với 7,78 của năm 2008) Về nhân lực dược bậc đại học, do số liệu năm 2009 không bao gồm dược sỹ khu vực sản xuất, kinh doanh dược, nên số dược sỹ trên một vạn dân chỉ còn là 0,38 (năm 2008 số dược

Trang 14

sỹ đại học trên một vạn dân là 1,22) [46] Tuy nhiên, cũng nên hiểu sự tăng đó chưa theo kịp với tốc độ tăng dân số trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Do đó, tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế vẫn khá phổ biến, thậm chí trầm trọng ở một số nước

- Theo số liệu thống kê của các quốc gia, từ các nguồn thống kê và điều tra cho thấy thực trạng nhân lực y tế của thế giới đang thiếu hụt, tỷ lệ bác sỹ/10.000 dân rất khác nhau ở các khu vực trên thế giới, cụ thể là:

 Châu Phi số cán bộ y tế là 1.640.000 người, đạt 2,3 CBYT/10.000 dân

 Châu Âu số cán bộ y tế là 16.630.000 người, đạt 18,9 CBYT/10.000 dân

 Châu Mỹ số cán bộ y tế là 21.740.000 người, đạt 24,8 CBYT/10.000 dân

 Vùng lãnh thổ Địa Trung Hải số cán bộ y tế là 21.100.000 người, đạt 4,0 CBYT/10.000 dân

 Khu vực Tây Thái Bình Dương số cán bộ y tế là 10.070.000 người, đạt 18,9 CBYT/10.000 dân

 Khu vực Đông Nam Á số cán bộ y tế là 16.630.000 người, đạt 18,9

CBYT/10.000 dân [48]

Theo nghiên cứu của Rao và các cộng sự, kết quả của nghiên cứu cho thấy

Ấn Độ đang đối mặt với tình trạng thâm hụt nhân viên y tế ể đáng kể: tỷ lệ bác

sĩ, y tá và nữ hộ sinh chỉ là 0,25 so với tiêu chuẩn 2,3 / 1000 dân số của Tổ chức

Y tế Thế giới Điều quan trọng là, một phần đáng kể các bác sĩ (37%), đặc biệt

là ở khu vực nông thôn (63%) dường như không đủ tiêu chuẩn về chất lượng Lực lượng lao động thiếu hụt cả bác sỹ và điều dưỡng khiến cho việc kết hợp kỹ năng kém hiệu quả Phụ nữ chỉ chiếm một phần ba lực lượng lao động Phần lớn nhân viên y tế làm việc ở khu vực thành thị và khu vực y tế tư nhân Các bang

có kết quả sử dụng dịch vụ và sức khỏe kém hơn có mật độ nhân viên y tế thấp hơn [43] Một nghiên cứu khác của OathoKwa Nkomazana tại Botswana có thể nhận thấy sự thiếu hụt nhân viên y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu

Trang 15

không công bằng của nhân viên y tế, tình trạng di cư và quá ít những nhân viên

y tế được đào tạo Di cư chủ yếu là kết quả của các yếu tố cá nhân và gia đình không thuận lợi, chăm sóc sức khỏe và quản lý nhân lực yếu kém và kém hiệu quả, lương thấp và không đủ khuyến khích cho các dịch vụ y tế ở nông thôn và vùng sâu vùng xa phát triển [39].

Tại Iran, các nghiên cứu của SefiddashtiSE và các cộng sự cho thấy có sự gia tăng bất bình đẳng trong phân bổ các nguồn lực trong lĩnh vực y tế theo thời gian Do khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh và xu hướng hoạt động của khu vực này ở các nơi phát triển hơn, gây nên sự bất bình đẳng trong phân bổ nhân lực y tế Các tác giả khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách y tế cần liên tục đánh giá phân bổ nguồn nhân lực và sắp xếp kế hoạch cụ thể để phân bổ nguồn nhân lực trong ngành y tế hợp lý, đáp ứng nhu cầu của người dân [44].Cũng tại I-ran, một nghiên cứu khác cho thấy mặc dù Bộ Y tế đã cố gắng giảm sự thiếu hụt nguồn nhân lực và mất cân đối, đồng thời đã mở rộng nâng cao năng lực trong hoạch định nguồn nhân lực, nhưng các nhà hoạch định chính sách vẫn chưa có đủ kiến thức và kỹ năng thực tế để thay đổi tình trạng Các tác giả khuyến cáo việc tăng cường quản trị nguồn nhân lực nên nằm trong số các

ưu tiên trong chiến lược quốc gia về y tế và chính phủ cần có quan điểm dài hạn,

và tất cả các nhân tố chính trong chính phủ, xã hội dân sự, giới học thuật và các bên liên quan khác nên tham gia vào quá trình hoạch định chính sách nguồn nhân lực và sự tham gia của họ nên được chấp nhận như một văn hóa [36]

Tại châu Phi, hệ thống y tế vốn đã thiếu thốn của châu Phi, đặc biệt là châu Phi cận Sahara, đã bị tổn hại nặng nề do sự di cư của các chuyên gia y tế của họ

Có 57 quốc gia đang thiếu hụt nghiêm trọng nhân viên y tế, thiếu 2,4 triệu bác sĩ

và y tá Châu Phi có 2,3 nhân viên y tế trên 1000 dân, so với Châu Mỹ, có 24,8 nhân viên y tế trên 1000 dân Chỉ 1,3% nhân viên y tế trên thế giới chăm sóc cho những người phải trải qua 25% gánh nặng bệnh tật toàn cầu Những hậu quả đối với một số quốc gia do mất nhân viên y tế ngày càng được ghi nhận và hiện đang được công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng Các

Trang 16

dịch vụ y tế của một châu lục vốn đã phải đối mặt với những thách thức khó khăn đối với việc cung cấp các tiêu chuẩn chăm sóc sức khỏe tối thiểu hiện nay cũng đang bị HIV/AIDS đe dọa [37].

Tình trạng thiếu hụt trầm trọng nhân lực y tế ở Châu Phi được Tổ chức Y

tế thế giới khái quát qua các số liệu sau: Tại thời điểm năm 2015, Khu vực Châu Phi có trung bình 1,30 nhân viên y tế trên 1000 dân , thấp hơn nhiều so với mức 4,5 trên 1000 người cần thiết cho các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs) Trong số nhân lực y tế toàn cầu ước tính thiếu 14,5 triệu cần thiết cho Bảo hiểm

Y tế Toàn dân (UHC) và SDGs, Khu vực Châu Phi có tình trạng thiếu hụt nhân lực y tế trầm trọng nhất, ước tính lên tới 6,1 triệu vào năm 2030 Điều này trái ngược với bối cảnh tầm nhìn đảm bảo đến năm 2030, tất cả cộng đồng đều được tiếp cận phổ cập với nhân viên y tế [49]

Tại Mỹ, một trong năm thách thức đối với hệ thống y tế là thiếu hụt nhân lực Tình trạng thiếu bác sĩ ngày càng tăng hàng năm Trên thực tế, Hoa Kỳ có thể thiếu tới 120.000 bác sĩ vào năm 2030 Hơn 90% số người được hỏi nói rằng trong vòng ba năm tới sẽ có sự thiếu hụt về số lượng các chuyên gia, bác sĩ, y tá

và bác sĩ lâm sàng được đào tạo bài bản Hơn 40% giám đốc điều hành chăm sóc sức khỏe tham gia cuộc khảo sát của Hiệp hội Quản lý Tài chính Chăm sóc Sức khỏe (HFMA) và Navigant năm 2018 cho biết tình trạng thiếu điều dưỡng đang trở nên trầm trọng hơn qua từng năm 48% người trả lời cuộc khảo sát của Economist Intelligence Unit cho biết y tá chuyên khoa là những nhân viên khó tìm nhất 61% người trả lời cuộc thăm dò MGMA năm 2018 cho biết họ phải đối mặt với tình trạng thiếu ứng viên đủ tiêu chuẩn cho các vị trí phi lâm sàng trong năm qua [30]

1.3.2 Thực trạng nhân lực y tế tại Việt Nam

Hiệu quả và năng suất của nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố, và

sự hài lòng trong công việc là một trong những yếu tố quan trọng nhất Nguồn nhân lực trong bất kỳ tổ chức nào là tài sản quý giá nhất và nó hoạt động như

Trang 17

chất lượng, cơ cấu và phân bố hợp lý được Bộ Y tế xác định là mục tiêu chính trong Quy hoạch phát triển nhân lực giai đoạn 2011–2020 Theo đó, mục tiêu đến năm 2020, tổng số cán bộ y tế có khoảng 500 nghìn người, trong đó số bác

sỹ khoảng từ 96 - 97 nghìn người (đạt 52 cán bộ y tế/10.000 dân, trong đó đạt khoảng 10 bác sĩ/10.000 dân) [3]

Báo cáo Tổng quan quốc gia về Nhân lực y tế Việt Nam cho thấy nhân lực

y tế ở Việt Nam phân bố không đều theo các vùng kinh tế xã hội (6 vùng: vùng Đồng bằng sông Hồng, Đồng bằng Sông Cửu Long, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc trung bộ và duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam bộ) Năm

2013, số lượng NVYT có nhiều ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (58.008) và vùng Đồng bằng Sông Hồng (61.085); có ít nhất ở vùng Tây Nguyên (18.382) Tuy nhiên con số đó không phản ánh được sự đáp ứng với nhu cầu của dân cư Tính theo mật độ nhân lực y tế trên một vạn dân, Đông Nam Bộ có tỷ lệ cao nhất với

71 cán bộ y tế/1 vạn dân, vùng có tỷ lệ thấp nhất là Đồng Bằng Sông Cửu Long (42 cán bộ y tế/1 vạn dân) và Tây Nguyên (43 cán bộ y tế/1 vạn dân) [28]

Không chỉ thiếu về số lượng, những khu vực khó khăn như vùng núi Tây Bắc, Tây Nguyên có tỷ lệ cán bộ y tế trình độ cao như bác sĩ, bác sĩ chuyên khoa thấp hơn các vùng khác rất nhiều Theo số liệu thống kê y tế cho thấy điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, dược sĩ ở những vùng núi khó khăn chủ yếu là trình độ trung cấp, thậm chí trình độ sơ cấp Bên cạnh đó, bác sĩ làm việc ở vùng khó khăn chủ yếu là những y sĩ được đào tạo liên thông với thời gian đào tạo ngắn và thực hành ít Nhân lực trình độ cao như tiến sĩ, thạc sĩ, bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa và tương đương, dược sĩ, điều dưỡng, hộ sinh đại học chủ yếu làm việc ở các bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh Năm 2011, cả nước có 1226 tiến sĩ y khoa, trong đó 850 đang làm việc ở tuyến trung ương, chiếm 69,3% Đối với ngành dược tỷ lệ này còn cao hơn, cả nước có 247 tiến sĩ dược, trong đó có 239 đang làm việc ở tuyến trung ương, chiếm 96,76% [28]

Theo nghiên cứu của Phạm Trí Dũng và cộng sự về thực trạng nguồn nhân lực và sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại TTYTPD tuyến

Trang 18

huyện, tỉnh Bình Thuận (2010): các TTYTDP tuyến huyện chỉ mới đạt 92,9% chỉ tiêu số biên chế quy định, thiếu 74 biên chế Theo thông tư liên tịch

62,9%-số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, cơ cấu nhân viên y tế các bộ phận chưa hợp lý

Tỷ lệ nhân viên bộ phận xét nghiệm rất thấp Tỷ lệ nhân viên bộ phận quản lý, hành chính chiếm tỷ lệ cao hơn gấp đôi so với quy định Theo cơ cấu chuyên môn, tỷ lệ bác sỹ phải trên 20% nhưng chỉ có 02 huyện là đạt chỉ tiêu Đối với tỷ

lệ kỹ thuật viên xét nghiệm phải trên 10% nhưng chỉ có 01 huyện là đạt chỉ tiêu [7]

Nghiên cứu của tác giả Ngô Thị Kim Yến (2014) cho thấy nguồn nhân lực cho ngành y tế đang thiếu hụt trầm trọng Các TTYT dự phòng của quận huyện chỉ đạt 50-84,4% chỉ tiêu biên chế theo định mức Thông tư 08/2007 Phần lớn các TTYT dự phòng quận huyện đều bố trí nhân lực ít hơn số được giao, cơ cấu nhân viên y tế các bộ phận chưa hợp lý [29]

Một nghiên cứu khác tiến hành trên 363 NVYT tại TTYT quận Hai Bà Trưng (2015) có kết quả: Số lượng cán bộ tương đối đủ ở các khối, trừ khối TTYT: còn thiếu 6,2% theo biên chế được giao của Sở Nội vụ, nhưng lại vượt 22% so quy định của Bộ Y tế Cơ cấu nhân lực chưa hợp lý: tỷ lệ hành chính quá cao (31,2%) so với quy định (15 – 20%); trong khi đó tỷ lệ khối xét nghiệm (6,6%) còn thiếu nhiều (20%) Về chuyên môn, toàn bộ TTYT có xấp xỉ ¼ cán

bộ có trình độ đại học và trên đại học Tỷ lệ này khá cao ở khối TTYT (50,9%)

Tỷ lệ trung cấp khá cao (62%), trong đó ở khối PK – NHS là 52,3% và TYT phường là 78,5% Tỷ lệ bác sỹ/điều dưỡng là 1/3 Tỷ lệ Kỹ thuật viên Y chỉ chiếm 1,4% trên tổng số cán bộ [11]

Kết quả nghiên cứu tại Đại học Y dược Thái Nguyên cho thấy đa số điều dưỡng đang làm việc có trình độ trung cấp (84,4%) và thời gian làm việc chiếm

từ 3-6 năm là chủ yếu (64,4%), đây là một thách thức lớn đối với đơn vị vì đội ngũ nhân viên có cả tuổi đời và tuổi nghề còn khá trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm lâm sàng [18]

Trang 19

Các kết quả ngiên cứu tại một quận thuộc Hà Nội cho biết tỷ lệ kỹ thuật viên Y của khối Trung tâm Y tế quận Hai Bà Trưng chỉ chiếm 1,38% so với yêu cầu 10% Điều dưỡng, Hộ sinh, Kỹ thuật viên có trình độ trung cấp chiếm tỷ lệ

đa số (84,25%), trình độ đại học và cao đẳng chiếm 13,01% Vẫn còn trình độ

sơ cấp (2,74%) Chưa có nhiều cán bộ (9,6%) có cơ hội được nâng cao trình độ chuyên môn dài hạn, trong đó chỉ có 02 cán bộ (0,6%) đang tham dự đào tạo Tiến sỹ, Thạc sỹ và không có cán bộ nào đang tham dự khóa đào điều dưỡng,

hộ sinh đại học, cao đẳng Tỷ lệ cán bộ tham gia nghiên cứu khoa học rất ít, chỉ chiếm 3,9% trung bình hàng năm Các lớp tập huấn hàng năm có thời gian rất ngắn (nửa buổi), ít có giá trị phát triển chuyên môn [11]

Việc huy động nhân viên y tế nói chung, đặc biệt là bác sỹ làm việc ở các trạm y tế ở vùng sâu, vùng xa càng khó khăn bởi gặp niều rào cản Đó là thiếu

cơ hội được đào tạo liên tục, nâng cao kiến thức, điều kiện làm việc rất nghèo nàn, thiếu trang thiết bị, chế độ đãi ngộ thấp… việc giữ chân họ làm việc ở các nơi này còn khó hơn [38]

Theo khảo sát nhân viên các TTYT dự phòng Thành phố Cần Thơ năm

2016, số lượng có trình độ chuyên môn là trung học, cao đẳng chiếm tỷ lệ cao nhất với 55,8%, các đối tượng này chủ yếu làm việc ở vị trí là điều dưỡng, còn các đối tượng có trình độ chuyên môn là đại học, sau đại học lần lượt chiếm tỷ lệ

là 26,4%;17,9% trong tổng số đối tượng khảo sát [9]

Trong Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai

đoạn 2016–2020, chỉ tiêu đến 2020 có trên 90% số TYT xã có bác sỹ làm việc;

trên 95% số TYT xã có nữ hộ sinh hoặc y sỹ sản nhi, phấn đấu trên 90% số thôn bản trong toàn quốc có nhân viên y tế hoạt động, có 9,0 bác sỹ trên/10.000 dân,

có 2,5 dược sỹ đại học/10.000 dân [3] Theo báo cáo “Thực trạng đào tạo nhân lực y tế, tình hình nhân lực điều dưỡng, nhân viên chăm sóc trong nước và xu hướng thế giới” của Bộ y tế, dân số Việt Nam là 94,66 triệu người, tổng số cán

bộ y tế là 472558 người Trong đó, tỷ lệ bác sĩ là 82043(8,7 bác sĩ/vạn dân), điều dưỡng là 108113(11,4 điều dưỡng/vạn dân), tỷ lệ điều dưỡng/Bác sĩ là 1,3(

Trang 20

hiện nay khoảng 1,4) Tỷ lệ điều dưỡng/ bác sỹ của Việt Nam thuộc nhóm nước

có tỷ lệ thấp dưới ngưỡng khuyến cáo của tổ chức OECD ( Các quốc gia thuộc

Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế) Theo khuyến nghị của OECD ngưỡng tối thiểu về tỷ lệ điều dưỡng/bác sĩ là 2,8 Việt Nam được xếp vào quốc gia có tỷ lệ điều dưỡng/vạn dân thấp nhất trên thế giới Thực tế tại các bệnh viện (đặc biệt là các bệnh viện tuyến TW) thường xảy ra tình trạng quá tải, NVYT không đảm đương hết các công việc theo phân cấp; nhu cầu ngày càng tăng đối với các cơ

sở y tế phục vụ các đối tượng là người cao tuổi, người mắc bệnh mạn tính, người giảm hoặc mất chức năng vận động, người bệnh cần phục hồi chức năng [4]

1.4 Các nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên y tế và yếu tố liên quan

1.4.1 Các nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên y tế và yếu tố liên quan trên thế giới

Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại các cơ sở y tế công cộng tại Punjab, Ấn Độ cho thấy 66% (n = 307) người được hỏi hài lòng với công việc hiện tại của họ, chỉ 2,8% (n = 13) là không hài lòng trong khi 31,2% (n = 145) là xung quanh Trong số những người được hỏi hài lòng, phần lớn là kỹ thuật viên phòng thí nghiệm (77%; n = 67) và nhân viên y tế (72%; n = 103), tiếp theo là dược sĩ (56,3%; n = 76) và y tá (55,4%; n = 51) Mức độ hài lòng của nhân viên

y tế có mối liên hệ đáng kể với tình trạng hôn nhân hiện tại, trình độ học vấn và không chuyển nơi làm việc trong 5 năm qua Các thành phần khác như độ tuổi, ở cùng gia đình ở cùng thị trấn và thành phố hiện tại chỉ chiếm một phần đáng kể Hơn nữa, điểm trung bình thu được trên thang điểm Likert cho các câu hỏi được điều chỉnh để hỏi về các khía cạnh của dịch vụ y tế của chính phủ của những người tham gia được xác định là hài lòng hoặc không hài lòng theo hệ thống cho điểm JSS được so sánh để đánh giá mức độ hài lòng của họ về Chính phủ việc làm, đây là sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [45]

Nghiên cứu về sự hài lòng đối với công việc của nhân viên chăm sóc sức khỏe ở Serbia cho thấy: Những người được hỏi đang làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe ban đầu, cho biết mức độ hài lòng với công việc trung bình

Trang 21

là 3,08 +/- 0,67 trên thang điểm 5 Những người được hỏi đang làm việc tại các bệnh viện đa khoa, cho biết mức độ hài lòng với công việc trung bình thấp hơn

là 2,96 +/- 0,63 Mức độ hài lòng được báo cáo là cao nhất để họ có cơ hội sử dụng khả năng của mình, hợp tác với đồng nghiệp và đồng nghiệp và tự do lựa chọn phương pháp làm việc của riêng mình Các bác sĩ làm việc tại các trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu cho biết mức độ hài lòng với công việc cao hơn các bác sĩ bệnh viện Nhìn chung, mức độ hài lòng với công việc của các bác sĩ

và y tá là tương đối thấp Nhìn chung, mức độ hài lòng với công việc của các bác sĩ và y tá là tương đối thấp Tỷ lệ trả lương tăng và trang thiết bị đầy đủ hơn, cũng như khả năng giáo dục và cải thiện nghề nghiệp, sẽ nâng cao sự hài lòng trong công việc của họ [35]

Nghiên cứu về sự hài lòng trong công việc đối với các nhân viên y tế công cộng của Ramesh Kumar và các cộng sự tiến hành vào năm 2013 tại Pakistan cho thấy hiệu quả và năng suất của nguồn nhân lực phụ thuộc vào nhiều yếu tố,

và sự hài lòng trong công việc là một trong những yếu tố quan trọng nhất; sự hài lòng của các chuyên gia y tế công cộng trong công việc của họ sẽ quyết định chất lượng của việc cung cấp dịch vụ cho cộng đồng của họ Các chuyên gia y tế công cộng hiện đang được tuyển dụng dường như cũng không hài lòng hơn do nhiều yếu tố chưa được xác định và do đó có mối đe dọa thường xuyên về sự hao mòn 59% người tham gia không hài lòng với công việc của họ (bao gồm 14% hoàn toàn không hài lòng và 45% hài lòng phần nào) Chỉ một nửa số người được hỏi hài lòng với môi trường làm việc của họ, trong khi 68% hài lòng với trách nhiệm của họ Đa số (71%) không hài lòng với chất lượng dịch vụ mà

họ đã cung cấp cho khách hàng trong công việc của họ; 66% người tham gia không hài lòng do các nhiệm vụ được giao không liên quan và thiếu quyết định trong công việc của họ Khoảng 2/3 các chuyên gia y tế công không hài lòng với các cơ hội nghề nghiệp, nguồn lực và lịch làm việc Không có mối liên hệ đáng

kể nào được tìm thấy giữa các đặc điểm nhân khẩu học xã hội và các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong công việc [42]

Trang 22

Nghiên cứu được thực hiện tại hai bang tại Ấn Độ làm việc trong khu vực công và tư Kết quả cho thấy có sự khác biệt cao trong xếp hạng cho các lĩnh vực hài lòng và động lực trên các cơ sở thực hành khác nhau, nhưng cũng có những điểm chung Bốn nhóm yếu tố đã được xác định, trong đó những yếu tố liên quan đến nội dung công việc và môi trường làm việc được coi là những đặc điểm quan trọng nhất của công việc lý tưởng và được đánh giá cao hơn mức thu nhập tốt Ở cả hai bang, nhân viên y tế khu vực công đánh giá "lợi ích việc làm tốt" quan trọng hơn đáng kể so với nhân viên khu vực tư nhân, cũng như "cấp trên công nhận công việc" Có sự khác biệt lớn về việc liệu những yếu tố này có được coi là hiện diện trong công việc hay không, đặc biệt là giữa nhân viên y tế khu vực công và tư nhân ở Uttar Pradesh, nơi mà khu vực công luôn thấp hơn (p<0,001) [40]

Nghiên cứu về “Sự hài lòng trong công việc của người lao động chăm sóc sức khỏe tại các trung tâm y tế ở thủ đô Vientiane và tỉnh Bolikhamsai, CHDNCN Lào” vào năm 2011 cho thấy rằng nhân viên y tế ở hai tỉnh nói chung hài lòng với công việc của họ Ba mức độ hài lòng cao nhất là quyền tự do lựa chọn phương pháp làm việc, mức độ đa dạng của công việc và mức độ trách nhiệm ngoại trừ mức lương của họ, các nhân viên y tế tại các trung tâm y tế ở thủ đô Viêng Chăn và tỉnh Bolikhamsai, CHDCND Lào, nhìn chung hài lòng với công việc của họ Các yếu tố chính liên quan đến sự hài lòng tổng thể trong công việc của nhân viên chăm sóc sức khỏe là giải quyết xung đột tại nơi làm việc, hỗ trợ từ người giám sát của một người và mối quan hệ với đồng nghiệp [34]

Một nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ lực lương nhân lực lao động trong lĩnh vực Y tế công cộng trên toàn quốc thực hiện tại Mỹ vào năm 2014 (n=10246) cho thấy phần lớn người trả lời khảo sát rất hài lòng với công việc của họ và có điểm JIG trung bình tổng thể là 37,19 (điểm của Thang điểm JIG trên 27 cho thấy mức độ hài lòng) Không có sự khác biệt đáng kể trong Điểm thang đo JIG theo giới tính hoặc trình độ học vấn Có sự khác biệt đáng kể trong

Trang 23

thang điểm JIG giữa những người có mức lương từ 35 000 đô la trở xuống, 35 000,01- 55 000 đô la và 95 000 đô la trở lên (P <0,01) Cũng có sự khác biệt đáng kể trong thang điểm JIG giữa không giám sát viên và giám sát viên và giữa các nhà quản lý và giám đốc điều hành (P <0,01) Ngoài ra, có sự khác biệt đáng

kể giữa giám đốc điều hành và các hạng mục khác (trưởng nhóm, giám sát và quản lý; P <0,01) Trong cả hai trường hợp, mức độ tư cách giám sát cao hơn và mức lương cao hơn có liên quan đến điểm Thang đo JIG cao hơn Có nhiệm kỳ với cơ quan từ 0 đến 5 năm có liên quan đến điểm Thang đo JIG cao hơn so với nhiệm kỳ với cơ quan từ 6-10 hoặc 11-15 năm (P <0,01) Nhân viên da trắng có điểm thang điểm JIG cao hơn đáng kể so với nhân viên da màu (P <0,01) Nhân viên trẻ hơn (những người dưới 25 tuổi) có điểm thang điểm JIG cao hơn đáng

kể so với những người từ 31 đến 65 tuổi (P <0,03) Cũng có sự khác biệt đáng

kể khi so sánh cơ cấu các đơn vị của SHA Cả các tổ chức nhỏ và lớn đều có điểm số Thang điểm JIG cao hơn đáng kể so với các tổ chức quy mô vừa (P

<0,01.) Về mặt địa lý, vùng New England và Đại Tây Dương có điểm thấp hơn đáng kể điểm của Thang điểm JIG hơn các vùng Miền núi / Trung Tây (HHS 7

& 8) (p <0,01) [33]

Nghiên cứu về “Đo lường sự hài lòng trong công việc của nhân viên chăm sóc sức khỏe ở Hoa Kỳ: phân tích yếu tố xác nhận về sự hài lòng của nhân viên trong ngành chăm sóc sức khỏe” vào năm 2015 của Eva Chang và các cộng sự, đánh giá mức độ hài lòng của nhân viên y tế dựa trên thang đo Liker và tổng điểm trung bình là 100 cho thấy: Tổng điểm trung bình là 77,6 (SD: 19,0) Điểm trung bình của các mục dao động từ 61,4 đến 87,9 trên thang điểm 100 Mục có phản hồi trung bình tích cực nhất là "Đồng nghiệp của tôi và tôi cùng làm việc tốt" và mục có phản hồi trung bình ít tích cực nhất là "Tôi hài lòng với cơ hội được thăng chức" [31]

Trang 24

1.4.2 Các nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên y tế và yếu tố liên quan ở Việt nam

Khảo sát mức độ hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng viên tại bệnh viện trường đại học Y Dược Thái Nguyên của Phạm Thị Phương Thảo cho thấy: Đa

số điều dưỡng đồng ý về yêu cầu tính chất nghề nghiệp (93,33%), môi trường làm việc( 71,11%), trong quan hệ xã hội với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân(71,11%) với đồng nghiệp (86,70%), với lãnh đạo (91,11%) Tuy nhiên, nhân viên điều dưỡng còn kém đồng tình với chế độ lương thưởng (31,11%) và

cơ hội đào tạo thăng tiến (55,56%) Điều dưỡng đều có sự hài lòng cao đối với nghề nghiệp (84,44%), đồng thời sự hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng có mối liên quan đồng biến tương đồng đối chặt chẽ với tính chất công việc ( r=0,407, p<0,01), với cơ hội đào tạo, thăng tiến (r=0,469; p<0,01) và với mối quan hệ với đồng nghiệp( r=0,462, p<0,01) [18]

Nghiên cứu của Phạm Trí Dũng và cộng sự tiến hành tại các Trung tâm Y

tế Dự phòng tỉnh Bình Thuận cho thấy: Tỷ lệ nhân viên hài lòng với công việc đạt thấp: Hài lòng với cơ sở vật chất đạt 6,7 %; Lương và phúc lợi 17,6 %, quan

hệ với lãnh đạo 27,5 %, học tập và khẳng định 36,9 %, kiến thức, kỹ năng và kết quả công việc 47,5 %, cao nhất là mối quan hệ với đồng nghiệp 51,8 Tuy nhiên,

tỷ lệ hài lòng chung với công việc đạt cao là 63,5% Có mối liên quan giữa tỷ lệ hài lòng đối với công việc giữa các nơi công tác và các nhóm loại công việc Sự hài lòng chung đối với công việc có mối liên quan với cả 7 yếu tố về sự hài lòng đối với công việc (p<0,05) [7]

Theo Ngô Thị Kim Yến và cộng sự, kết quả nghiên cứu tại 7 đội y tế dự phòng tuyến quận/huyện Thành phố Đà Nẵng năm 2014 đánh giá sự hài lòng của các nhân viên y tế cho thấy trong các yếu tố được đánh giá sự hài lòng, chỉ

có mối quan hệ với đồng nghiệp đạt tỷ lệ hài lòng cao (61.3%) Các yếu tố còn lại mức độ hài lòng khá thấp: mối quan hệ với Phòng Y tế đạt 30.1%; Mức thu nhập đạt 22.6% và cơ sở vật chất, trang thiết bị đạt 23.7% Tuy nhiên, phần lớn các ĐTNC đều dự định tiếp tục công tác tại đơn vị (69,2%), một số mong muốn

Trang 25

đi học nâng cao trình độ chuyên môn (20.4%) Không có mối liên quan giữa sự hài lòng với các yếu tố nghề nghiệp (Mức thu nhập; Cơ sở vật chất - trang thiết bị; Mối quan hệ đồng nghiệp) đối với dự định về công việc (p>0.05) [29]

Nghiên cứu của Bế Thị Cúc và cộng sự tiến hành tại Bệnh viện đa khoa tỉnh An Giang năm 2017 cho thấy tỷ lệ nhân viên hài lòng với công việc đạt khá cao: sự hài lòng về môi trường làm việc đạt 74,5 %; sự hài lòng về quy chế nội

bộ, tiền lương, phúc lợi đạt 78,6%, sự hài lòng về lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp đạt 77.3 %, sự hài lòng về công việc, cơ hội học tập và thăng tiến 75,7

%, hài lòng chung về bệnh viện đạt 90,1% [5]

Để đánh giá sự hài lòng và các yếu tố liên quan đến hài lòng với công việc, Trần Văn Bình và cộng sự tiến hành nghiên cứu “Sự hài lòng của nhân viên y tế tại các bệnh viện, Trung tâm y tế tuyến huyện có giường bệnh thuộc tỉnh Kon Tum năm 2016” trên 1.320 người trong thời gian nghiên cứu từ tháng 1-12/2016 Kết quả cho thấy điểm trung bình và tỷ lệ hài lòng chung của 5 mục (cơ sở vật chất, lương và phúc lợi, quan hệ với lãnh đạo, học tập và khẳng định bản thân, kiến thức và kỹ năng) là 3,94 ± 0,09 và 86,2% NVYT hài long về cả 5 tiêu chí đánh giá chung về cơ sở y tế Có mối liên quan giữa sự hài lòng của NVYT với các yếu tố: Đơn vị công tác, số năm công tác tại đơn vị hiện nay, vị trí công tác hiện tại và số lần trực trong 1 tháng [2]

Nghiên cứu tổng quan các đánh giá về hài lòng của người bệnh với bệnh viện cho thấy sự hài lòng chung đối với chất lượng dịch vụ y tế đều ở mức trung bình Về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng, các nghiên cứu có đưa ra các nhận xét khác nhau nhưng nhìn chung sự hài lòng ít liên quan tới các yếu tố về mặt thông tin chung như: tuổi, giới, tình trạng hôn nhân…và liên quan nhiều đến các yếu tố về chất lượng dịch vụ, chất lượng cơ sở, tương tác với cán bộ y tế [17]

Đánh giá sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế tại một trung tâm y

tế quận, tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu cho biết có 5 yếu tố liên quan đến hài lòng gồm: Thương hiệu và uy tín của tổ chức; Điều kiện môi trường và điều kiện làm

Trang 26

việc; Hình thức trả lương; Quan hệ đồng nghiệp; Cơ hội đào tạo và thăng tiến [9].

Nghiên cứu được thực hiện trên 142 nhân viên y tế tuyến cơ sở đang làm việc ở Bệnh viện đa khoa, Trung tâm Y tế Dự phòng huyện và các trạm y tế xã tại một huyện thuộc tỉnh Vĩnh Phúc với bộ công cụ gồm 40 mục thuộc 7 yếu tố

có giá trị dự đoán sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế cơ sở với độ tin cậy cao; ngoài ra, mục “hài lòng chung đối với công việc” được sử dụng để tìm hiểu mối liên quan giữa sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế và các biến xã hội- nhân khẩu/ nghề nghiệp và các yếu tố về sự hài lòng với các công việc Kết quả nghiên cứu cho thấy nhân viên y tế chưa thực sự hài lòng đối với công việc, tỷ lệ hài lòng từng yếu tố đạt thấp: Lương và phúc lợi (32,4%);

Cơ sở vật chất (39,4%); Kiến thức, kỹ năng và kết quả công việc (50,0%); Mối quan hệ với lãnh đạo (52,1%); Học tập, phát triển và khẳng định (52,5%); Môi trường tương tác của cơ quan (53,5%); Mối quan hệ với đồng nghiệp (67,6%) Tuy nhiên, tỷ lệ nhân viên y tế hài lòng chung đối với công việc đạt tương đối cao 71,1% Sự hài lòng chung đối với công việc có mối liên quan đối với nhóm tuổi và 7 yếu tố (P=0,001) Nghiên cứu của Lê Trí Khải cho thấy có mối liên quan giữa sự hài lòng chung đối với công việc và các yếu tố: Đơn vị công tác, nhóm tuổi, thời gian làm việc và loại công việc [12]

Nghiên cứu với thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính được thực hiện tại 7 Đội Y tế dự phòng quận/ huyện thành phố Đà Nẵng với mục tiêu: (1) Thực trạng mô hình tổ chức và nhân lực y tế dự phòng các quận, huyện thành phố Đà Nẵng; (2) Sự hài lòng đối với công việc và mối liên quan đến dự định về công việc của nhân viên y tế dự phòng quận/huyện thành phố Đà Nẵng.Kết quả cho thấy nhân lực cho hoạt động y tế dự phòng đang thiếu hụt trầm trọng Các trung tâm y tế (TTYT) dự phòng quận/ huyện chỉ mới đạt 50- 84,4% chỉ tiêu số biên chế theo định mức Thông tư 08/2007 Phần lớn các TTYT dự phòng quận/ huyện đều bố trí nhân lực ít hơn số được giao, cơ cấu nhân viên y tế các bộ phận chưa hợp lý Trong các yếu tố được đánh giá sự hài

Trang 27

lòng, chỉ có mối quan hệ với đồng nghiệp đạt tỷ lệ hài lòng cao (61.3%) Các yếu tố còn lại mức độ hài lòng khá thấp: Mối quan hệ với Phòng Y tế đạt 30.1%; Mức thu nhập đạt 22.6% và Cơ sở vật chất, trang thiết bị đạt 23.7% Tuy nhiên, phần lớn các ĐTNC đều dự định tiếp tục công tác tại đơn vị (69,2%), một số mong muốn đi học nâng cao trình độ chuyên môn (20.4%) Không có mối liên quan giữa sự hài lòng với các yếu tố nghề nghiệp (Mức thu nhập; Cơ sở vật chất

- trang thiết bị; Mối quan hệ đồng nghiệp) đối với dự định về công việc (p>0.05) [29]

Tại tỉnh Cao Bằng nói chung và huyện Nguyên Bình nói riêng chưa có nghiên cứu nào về các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của viên chức y tế đối

với công việc

1.5 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình được thành lập theo QĐ số UBND ngày 31 tháng 01 năm 2019 của UBND tỉnh Cao Bằng trên cơ sở hợp nhất Trung tâm y tế, Bệnh viện đa khoa và Trung tâm dân số kế hoạch hóa gia đình huyện Nguyên Bình Nhân lực của Trung tâm Y tế huyện đến ngày

119/QĐ-30/3/2021 có 172 người được chia thành các đơn vị, bộ phận như sau:

Trang 28

Sở Y tế tỉnh Cao Bằng

UBND huyện (PYT)

Sơ đồ 1.2 Mô hình tổ chức Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình

Chức năng nhiệm vụ của Trung tâm Y tế thực hiện theo hướng dẫn tại Thông tư số: 37/2016/TT-BYTngày 25 tháng 10 năm 2016 của Bộ Y tế [21] Nhiệm vụ có sự thay đổi, bổ sung, điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực theo hướng dẫn của Sở Y tế tỉnh và các văn bản hiện hành

Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp về tổ chức, nhân lực, hoạt động, tài chính và cơ sở vật chất của Sở Y tế; chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của các đơn vị y tế tuyến tỉnh và Trung ương; chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân huyện Nguyên Bình theo quy định của pháp luật

Ban giám đốc TTYT Nguyên Bình

Trang 29

1.6 Khung lý thuyết nghiên cứu

- Điều kiện làm việc

- Cơ hội học tập và thăng

tiến

Hài lòng của nhân viên y tế tại Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình

Trang 30

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Tất cả nhân viên y tế đang công tác tại các đơn vị thuộc TTYT huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng năm 2021

- Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu (ĐTNC): Tất cả các NVYT

có thời gian làm việc trên 6 tháng (gồm cả biên chế + hợp đồng) tại các đơn vị

thuộc Trung tâm gồm: Khối bệnh viện, khối dự phòng, PKĐKKV, trạm y tế xã

- Tiêu chuẩn loại trừ: Những cán bộ, viên chức có thời gian làm việc tại

Trung tâm Y tế dưới 6 tháng, những người đi học hoặc không có mặt nhiều ngày

trong thời gian nghiên cứu

2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ tháng 5/2021 đến tháng 8/2021 tại Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp hồi cứu số liệu

2.2.2 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu

Cỡ mẫu: Toàn bộ nhân viên y tế có thời gian làm việc từ 6 tháng trở lên tại các

đơn vị trực thuộc TTYT huyện Nguyên Bình

Phương pháp chọn mẫu:

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ Chọn toàn bộ các cán bộ lãnh đạo/quản lý, nhân viên của bệnh viện đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn đưa vào nghiên cứu dựa trên danh sách NVYT của đơn vị do phòng tổ chức hành chính cung cấp

Tổng số nhân viên y tế của TTYT huyện Nguyên Bình là 175 người Tại thời điểm thực hiện nghiên cứu, trừ những cán bộ được cử đi học, nghỉ thai sản,

Trang 31

nghỉ không lương, vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu, thực tế số lượng cán bộ tham gia nghiên cứu là 161 người

2.3 Các biến số, chỉ số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá

2.3.1 Các biến số và chỉ số nghiên cứu

STT Biến số Định nghĩa Loại biến Chỉ số PP thu

thập Biến độc lập

A.1

dương lịch của ĐTNC

Định lượng rời rạc

Tỷ lệ % nhóm tuổi

Tỷ lệ % ĐTNC theo trình độ chuyên môn

Định lượng rời rạc

Tỷ lệ % ĐTNC theo thu nhập

Tỷ lệ % ĐTNC theo

số năm công tác

Bộ câu

hỏi PV

B.1 Chỉ số chung

Trang 32

STT Biến số Định nghĩa Loại biến Chỉ số PP thu

Định lượng rời rạc

Tỷ lệ NVYT trên 1 vạn dân Sổ sách,

Tỷ lệ bác sỹ trên 1 vạn dân Sổ sách,

Tỷ lệ dược sỹ trên 1 vạn dân Sổ sách,

Liên tục

Số lượng NVYT tại BVĐK

Sổ sách, báo cáo

Định lượng rời rạc

Tỷ lệ % số NVYT bộ phận LS

Sổ sách, báo cáo

so với tổng số NVYT công tác tại BVĐK trung tâm

Định lượng rời rạc

Tỷ lệ % số NVYT bộ

Sổ sách, báo cáo

Trang 33

STT Biến số Định nghĩa Loại biến Chỉ số PP thu

LS so với tổng số NVYT công tác tại PKĐKKV

Định lượng rời rạc

Tỷ lệ % NVYT bộ

so với tổng số NVYT công tác tại PKĐKKV

Định lượng rời rạc

Liên tục

Số lượng NVYT tại các TYT

Sổ sách, báo cáo

số TYT trên địa bàn huyện

Định lượng rời rạc

Tỷ lệ % TYT

đủ số lượng NVY theo Thông tư 08 của Bộ y tế

Sổ sách, báo cáo

Định lượng rời rạc

Định lượng rời

Tỷ lệ % TYT

có NHS hoặc

Sổ sách, báo cáo

Trang 34

STT Biến số Định nghĩa Loại biến Chỉ số PP thu

Thứ bậc Số lượng, Tỷ

lệ % ĐTNC chia theo 5 mức độ hài lòng về điều kiện làm việc

Bộ câu hỏi PV

tố lãnh đạo, đồng nghiệp

Thứ bậc Số lượng, Tỷ

lệ % ĐTNC chia theo 5 mức độ hài lòng về lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp

Bộ câu hỏi PV

tố quy chế nội bộ, tiền lương, phúc lợi

Thứ bậc Số lượng, Tỷ

lệ % ĐTNC chia theo 5 mức độ hài lòng về quy chế nội bộ tiền lương, phúc lợi

Bộ câu hỏi PV

tố công việc, cơ hội học tập và

Thứ bậc Số lượng, Tỷ

lệ % ĐTNC chia theo 5 mức độ hài

Bộ câu hỏi PV

Trang 35

STT Biến số Định nghĩa Loại biến Chỉ số PP thu

thập

tập và thăng

tiến (7 tiểu

mục)

việc cơ hội học tập, thăng tiến

y tế

Thứ bậc Số lượng, Tỷ

lệ % ĐTNC chia theo 5 mức độ hài lòng chung về TTYT

Bộ câu hỏi PV

Mục tiêu 2 Một số yếu tố liên quan đến hài lòng của viên chức

D.1 Giới tính, tuổi, năm công tác, thu nhập trung

bình, đơn vị công tác

OR,95% CI, p

Phân tích

số liệu

D.2 Điều kiện làm việc

D.3 Quan hệ với lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp

D.4 Quy chế nội bộ, tiền lương, phúc lợi

D.5 Công việc, cơ hội học tập và thăng tiến

D.6 Sự hài lòng chung

2.3.2 Tiêu chuẩn đánh giá

Cơ sở để đánh giá sự hài lòng của nhân viên y tế dựa vào các văn bản sau:

- Đánh giá nguồn nhân lực dựa vào Thông tư số 08/2007/TTLT-BNV-BYT ngày 05/06/2007 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ, hướng dẫn định mức biên chế

sự nghiệp trong các cơ sở y tế nhà nước [20]

- Phân tích sự hài lòng của viên chức đối với công việc: Dùng thang điểm Likert gồm 5 mức độ: 1: Rất không hài lòng; 2: Không hài lòng; 3: Bình thường; 4: Hài lòng; 5: Rất hài lòng, sẽ được mã hóa thành 2 nhóm: Nhóm

Trang 36

chưa hài lòng (1-3 điểm) và nhóm hài lòng (4-5 điểm) đối với từng tiểu mục, từ đó tính tỷ lệ hài lòng đối với công việc theo từng tiểu mục

- Cách tính tỷ lệ hài lòng chung (tối đa 100%):

+ Tỷ lệ hài lòng chung = [ (Tổng số câu hỏi có trả lời mức 4 + Tổng số câu hỏi trả lời mức 5) / (Tổng số người trả lời)] x 100

- Tỷ lệ hài lòng theo từng khía cạnh: áp dụng cách tính tương tự

2.4 Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1 Công cụ thu thập thông tin

- Mô tả thực trạng nhân lực: phân tích số liệu thứ cấp về biến động nhân lực của TTYT và các báo cáo của trung tâm do Phòng Tổ chức cán bộ cung cấp

- Đánh giá mức độ hài lòng: sử dụng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn theo mẫu số 3 (Ban hành kèm theo Quyết định số 3869/QĐ-BYT ngày 28/8/2019 của

Bộ Y tế ban hành các mẫu phiếu và hướng dẫn khảo sát hài lòng người bệnh và NVYT) (phụ lục 2)

- Phân tích các yếu tố liên quan: bằng bảng hỏi bán cấu trúc về thông tin

cá nhân và đánh giá của NVYT đối với điều kiện làm việc Các câu hỏi được xây dựng nhằm mục đích tìm hiểu tại sao NVYT hài lòng/không hài lòng với công việc của họ (Phụ lục 1)

2.4.2 Kỹ thuật thu thập thông tin

- Phát phiếu tự điền vào bộ câu hỏi và hồi cứu số liệu

2.4.3 Quy trình thu thập số liệu và sơ đồ nghiên cứu

- Đối với mục tiêu 1: Sử dụng số liệu thứ cấp từ sổ sách (định biên, số tuyển vào/chuyển đi/thôi việc, bỏ việc ), các báo cáo của TTYT (báo cáo hàng năm, báo cáo chuyên đề) trong 3 năm 2019, 2020, 2021

- Đối với mục tiêu 2 và 3: Đánh giá sự hài lòng của viên chức và một số yếu tố liên quan: Nghiên cứu viên phối hợp với cán bộ phòng Tổ chức – Hành chính lập danh sách nhân viên y tế đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, xây dựng

và chuẩn hóa bộ công cụ

Trang 37

Quá trình thu thập thông tin được thực hiện sau khi tiếp cận và mời được nhân viên y tế đồng ý tham gia cuộc khảo sát

Nhân viên y tế tham gia đánh giá sẽ được điều tra viên giải thích lý do, hướng dẫn và giải đáp những thắc mắc ( nếu có) trước khi cuộc khảo sát được thực hiện

Số liệu được thu thập bởi điều tra viên dưới sự giám sát của nghiên cứu viên để đảm bảo tính chính xác và hỗ trợ cho điều tra viên trong quá trình thu thập

Nghiên cứu viên là người triển khai việc tập huấn cho các điều tra viên để

tổ chức thu thập số liệu phục vụ cho mục đích nghiên cứu Nghiên cứu viên đã trình bày nội dung nghiên cứu, lập kế hoạch với Ban lãnh đạo của Trung tâm Y

tế huyện Nguyên Bình trong đó tập trung vào mục tiêu nghiên cứu, cách thức thu thập số liệu, dự kiến kế hoạch và thời gian nghiên cứu

Tiến hành thu thập số liệu theo các bước sau:

Bước 1: Các ĐTV phát phiếu và hướng dẫn nhân viên tự điền độc lập, có

sự giám sát của nghiên cứu viên

Bước 2: Điều tra viên thu phiếu tại chỗ từ các nhân viên y tế, kiểm tra lại phiếu để chắc chắn tất cả các câu hỏi đều được trả lời

Bước 3: Kết thúc thu thập thông tin Cảm ơn đối tượng đã tham gia nghiên cứu

Trang 38

SƠ ĐỒ NGHIÊN CỨU (cho mục tiêu 2)

NVYT đang công tác tại TTYT huyện Nguyên Bình

Phát vấn (theo bộ câu hỏi)

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự

hài lòng của NVYT

Sự hài lòng về công việc

+ Cơ chế chính sách

Yếu tố môi trường + Cơ sở vật chất

+ Môi trường làm việc

Môi trường làm việc

Lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp

Quy chế nội bộ, tiền lương, phúc lợi

Công việc,

cơ hội học tập thăng tiến

Sự hài lòng chung

Xử lý số liệu

Kết quả

Trang 39

- Phần mô tả: bảng, biểu thể hiện tần số của các biến số nghiên cứu

- Phần phân tích: Kiểm định χ2 , OR, 95% CI được sử dụng để mô tả mối liên quan

2.6 Sai số và biện pháp khắc phục

2.6.1 Sai số:

- Sai số trong sử dụng bộ công cụ nghiên cứu,

- Sai số trong quá trình nhập liệu

2.6.2 Cách khắc phục

- Lựa chọn Điều tra viên theo đúng tiêu chuẩn đã đề ra,

- Tập huấn kỹ càng cho Điều tra viên tham gia nghiên cứu

- Giám sát chặt chẽ việc thu thập số liệu

- Nhập liệu, xử lý số liệu chính xác, các chỉ số đầu ra phù hợp với dự kiến kết quả

2.7 Đạo đức của nghiên cứu

- Đề cương nghiên cứu được Hội đồng xét duyệt đề cương Trường Đại học Thăng Long thông qua

- Được sự cho phép thực hiện nghiên cứu của Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình

- Các đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu và tự nguyện tham gia

Trang 40

- Bộ câu hỏi không ghi tên đảm bảo tính bí mật cho người cung cấp thông tin, các số liệu, thông tin chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không sử dụng cho mục đích khác

2.8 Hạn chế nghiên cứu

Đề tài chỉ nghiên cứu trên địa bàn huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng

nên các kết quả nghiên cứu mang tính đặc trưng riêng cho huyện Nguyên Bình, không đại diện cho toàn tỉnh

Không xác định được mối quan hệ nhân quả do sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích

Ngày đăng: 16/08/2023, 21:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh viện ĐKKV Tháp Mười (2021), "Báo cáo Kết quả khảo sát hài lòng nhân viên Y tế năm 2021". Sở Y tế tỉnh Tháp Mười Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Kết quả khảo sát hài lòng nhân viên Y tế năm 2021
Tác giả: Bệnh viện ĐKKV Tháp Mười
Năm: 2021
2. Trần Văn Bình và các cộng sự. (2016), "Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế cơ sở tỉnh Kon Tum năm 2016", Sở Y tế tỉnh Kon Tum. Tạp chí Y học dự phòng. Tập 27, số 8-2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế cơ sở tỉnh Kon Tum năm 2016
Tác giả: Trần Văn Bình và các cộng sự
Năm: 2016
3. Bộ Y tế (2016), "Kế hoạch số 139/KH-BYT ngày 01/3/2016 của Bộ Y tế về bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2016 – 2020". https://thuvienphapluat.vn/van-ban/The-thao-Y-te/Ke-hoach-139-KH-BYT-bao-ve-cham-soc-nang-cao-suc-khoe-nhan-dan-2016-2020-304953.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch số 139/KH-BYT ngày 01/3/2016 của Bộ Y tế về bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2016 – 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2016
4. Bộ Y tế (2020), "Thực trạng đào tạo nhân lực y tế, tình hình nhân lực điều dưỡng, nhân viên chăm sóc trong nước và xu hướng thế giới ".https://moh.gov.vn/documents/176127/0/NGTK+2018+final_2018.pdf/29980c9e-d21d-41dc-889a-fb0e005c2ce9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng đào tạo nhân lực y tế, tình hình nhân lực điều dưỡng, nhân viên chăm sóc trong nước và xu hướng thế giới
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2020
5. Bế Thị Cúc và Đặng Thị Kim Thoa và cộng sự (2017), "Đánh giá sự hài lòng của nhân viên y tế Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang". Tạp chí Y tế công cộng. 17, tr. 4-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sự hài lòng của nhân viên y tế Bệnh viện đa khoa trung tâm An Giang
Tác giả: Bế Thị Cúc và Đặng Thị Kim Thoa và cộng sự
Năm: 2017
6. Lê Thị Cam Phúc (2014), "Mô tả sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại trung tâm y tế huyện Cam Lâm, Tỉnh Khánh Hòa năm 2014", Luận văn Thạc sĩ Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế và một số yếu tố liên quan tại trung tâm y tế huyện Cam Lâm, Tỉnh Khánh Hòa năm 2014
Tác giả: Lê Thị Cam Phúc
Năm: 2014
7. Phạm Trí Dũng, Đặng Thị Như Hằng và Nguyễn Trí và cộng sự (2010), "Thực trạng nguồn nhân lực và sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại các Trung tâm Y tế dự phòng tuyến huyện tỉnh Bình Thuận&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nguồn nhân lực và sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại các Trung tâm Y tế dự phòng tuyến huyện tỉnh Bình Thuận
Tác giả: Phạm Trí Dũng, Đặng Thị Như Hằng, Nguyễn Trí
Năm: 2010
8. Nguyễn Thị Hạnh (2020), "Sự hài lòng của nhân viên y tế tại Trung tâm y tế Huyện Yên Lập - Tỉnh Phú Thọ năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng", Luận văn Chuyên khoa II Tổ chức quản lý y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hài lòng của nhân viên y tế tại Trung tâm y tế Huyện Yên Lập - Tỉnh Phú Thọ năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Năm: 2020
9. Nguyễn Ngọc Hiếu (2016), "Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên tại Trung tâm y tế dự phòng quận Ô Môn, thành phố Cần thơ", Luận văn thạc sỹ kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên tại Trung tâm y tế dự phòng quận Ô Môn, thành phố Cần thơ
Tác giả: Nguyễn Ngọc Hiếu
Năm: 2016
10. Cung Thị Quỳnh Hoa và Nguyễn Bạch Ngọc (2015), "Thực trạng nhân lực tại hệ thống y tế cơ sở quân Hai Bà Trưng năm 2015", Tạp chí Y học Việt Nam. 452, tr. 7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhân lực tại hệ thống y tế cơ sở quân Hai Bà Trưng năm 2015
Tác giả: Cung Thị Quỳnh Hoa và Nguyễn Bạch Ngọc
Năm: 2015
11. Cung Thị Quỳnh Hoa và Nguyễn Bạch Ngọc (2017), "Thực trạng nhân lực tại TTYT cơ sở quận Hai Bà Trưng, năm 2015 ". Tạp chí Y học Việt Nam.Tháng 3, 2017. Tập 452. tr. 88-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhân lực tại TTYT cơ sở quận Hai Bà Trưng, năm 2015
Tác giả: Cung Thị Quỳnh Hoa và Nguyễn Bạch Ngọc
Năm: 2017
13. Đặng Hùng Mạnh (2016), "Thực trạng nguồn nhân lực y tế, sự hài lòng đối với công việc tại Bệnh viện đa khoa Sơn Tây năm 2016", Luận văn Thạc sĩ Quản lý bệnh viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nguồn nhân lực y tế, sự hài lòng đối với công việc tại Bệnh viện đa khoa Sơn Tây năm 2016
Tác giả: Đặng Hùng Mạnh
Năm: 2016
14. Nguyễn Thị Thúy Nga và Nguyễn Thị Bình An (2014), "Các yếu tố ảnh hưởng đến duy trì và phát triển nguồn nhân lực", Tạp chí Y tế công cộng.9, tr. 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố ảnh hưởng đến duy trì và phát triển nguồn nhân lực
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Nga, Nguyễn Thị Bình An
Nhà XB: Tạp chí Y tế công cộng
Năm: 2014
16. Lê Thanh Nhuận và Lê Cự Linh (2009), "Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở", Tạp chí Y tế công cộng. 9(13), tr. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tuyến cơ sở
Tác giả: Lê Thanh Nhuận và Lê Cự Linh
Năm: 2009
17. Nguyễn Hữu Thắng và các cộng sự. (2018), "Sự hài lòng của người bệnh đối với chất lượng bệnh viện tại Việt Nam: nghiên cứu tổng quan có hệ thống, giai đoạn 2000-2015", Tạp chí Y tế công cộng. 45, tr. 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hài lòng của người bệnh đối với chất lượng bệnh viện tại Việt Nam: nghiên cứu tổng quan có hệ thống, giai đoạn 2000-2015
Tác giả: Nguyễn Hữu Thắng và các cộng sự
Năm: 2018
18. Phạm Thị Phương Thảo (2014), "Khảo sát mức độ hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng viên tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên", Đại học Y Dược Thái Nguyên. Tạp chí KHOA HỌC &amp; CÔNG NGHỆ.134(04) ,tr 187-191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát mức độ hài lòng nghề nghiệp của điều dưỡng viên tại bệnh viện trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
Tác giả: Phạm Thị Phương Thảo
Năm: 2014
21. Thông tư số 37/2016/TT-BYT ngày 25/10/2016 của Bộ Y tế, "Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trung tâm y tế huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và cơ cấu tổ chức của trung tâm y tế huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2016
23. Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình (2020), "Biểu báo cáo tổ chức bộ máy, biên chế và số lượng, chất lượng đội ngũ công chức viên chức trung tâm y tế Nguyên Bình năm 2020&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu báo cáo tổ chức bộ máy, biên chế và số lượng, chất lượng đội ngũ công chức viên chức trung tâm y tế Nguyên Bình năm 2020
Tác giả: Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình
Năm: 2020
24. Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình (2021), "Biểu báo cáo tổ chức bộ máy, biên chế và số lượng, chất lượng đội ngũ công chức viên chức trung tâm y tế Nguyên Bình năm 2021&#34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu báo cáo tổ chức bộ máy, biên chế và số lượng, chất lượng đội ngũ công chức viên chức trung tâm y tế Nguyên Bình năm 2021
Tác giả: Trung tâm Y tế huyện Nguyên Bình
Năm: 2021
12. Luật Viên chức số 50/2010/QH12. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Luat-vien-chuc-2010-115271.aspx Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN