1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm người khuyết tật và một số yếu tố liên quan đến dị tật bẩm sinh ở hà tây cũ

20 244 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 786,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội thảo Quốc gia định hướng nâng cao chất lượng dân số Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 do Uỷ ban Dân số - Gia đình & Trẻ em tổ chức nhận định: “Tỷ lệ trẻ sơ sinh và trẻ em bị dị tật, khu

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

KHOA SINH HỌC

Lê Văn Hải

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NGƯỜI KHUYẾT TẬT

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN

DỊ TẬT BẨM SINH Ở HÀ TÂY CŨ

Chuyên ngành: Nhân Chủng Học

Mã số: 60.42.01

luận văn thạc sĩ khoa học

Người hướng dẫn khoa học:

TS LÊ THANH SƠN

Hà Nội – 2009

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nâng cao chất lượng dân số đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế

xã hội là một trong những mục tiêu của phát triển Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X định hướng về phát triển chất lượng dân số: “Tiếp tục kiềm chế tốc

độ gia tăng dân số, phấn đấu đạt chỉ tiêu về chất lượng dân số trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001 - 2010, chú trọng nâng cao chất lượng dân số và phân bố dân cư hợp lý giữa các vùng” Nâng cao chất lượng dân số là công việc của toàn xã hội, đòi hỏi sự tham gia nỗ lực của các ngành, các cấp Hội thảo Quốc gia định hướng nâng cao chất lượng dân số Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 do Uỷ ban Dân

số - Gia đình & Trẻ em tổ chức nhận định: “Tỷ lệ trẻ sơ sinh và trẻ em bị dị tật, khuyết tật ở nước ta hiện đang ở mức cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng con người, chất lượng dân số, vì vậy cần đặc biệt quan tâm chỉ đạo và đầu tư nguồn lực triển khai Chương trình sàng lọc trước sinh và sơ sinh; từng bước kiểm soát, phát hiện, điều trị nhằm giảm thiểu tỷ lệ trẻ sinh ra bị dị tật, dị dạng, mắc các bệnh di truyền, bệnh bẩm sinh.”

Thống kê năm 2003 cho thấy nước ta có khoảng 5,3 triệu người khuyết tật chiếm trên 6% dân số toàn quốc, trong đó có gần 1,5 triệu người là khuyết tật nặng cần được Nhà nước và xã hội giúp đỡ Có gần 8% số hộ gia đình ở Việt Nam có người khuyết tật Số người khuyết tật chiếm tỷ lệ lớn ở 3 nhóm tuổi: Nhóm tuổi (16 -25) chiếm tỷ lệ cao nhất 61%, đây là nhóm tuổi mà người khuyết tật còn khả năng đóng góp cho xã hội Nhóm tuổi trên 60 chiếm tỷ lệ 18% và nhóm tuổi (6 - 12) chiếm tỷ lệ 8% Tổng số trẻ em Việt Nam khuyết tật trong độ tuổi (0 - 17) ước khoảng 1 triệu trẻ em (chiếm 3% tống số trẻ em trong độ tuổi 0 - 17) Ở Việt Nam một nguyên nhân khá đặc biệt là hậu quả chiến tranh Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 2 triệu nạn nhân chất độc da cam, trong đó có khoảng 150.000 trẻ em bị dị tật bẩm sinh Theo nhận xét của một số nhà khoa học, chất độc da cam đã có ảnh hưởng đến thế hệ F2 (cháu của những người đã tiếp xúc với chất độc da cam) Hậu quả của chiến tranh gây khuyết tật ở nam là 27% cao hơn nhiều so với nữ 5% Ngoài ra ở Việt Nam tỷ lệ người đa khuyết tật chiếm tỷ lệ tương đối cao (20%) trong tổng số người khuyêt tật

Trang 3

Tổ chức Y tế thế giới đã tập trung số liệu từ 25 Trung tâm thống kê dị tật bẩm sinh của 16 nước gồm 4.228.718 lần sinh trong đó thấy tỉ lệ dị tật bẩm sinh là 1,73% Ở Việt Nam, một nghiên cứu gần đây của Giáo sư Nguyễn Đức Vy tại Bệnh viện Phụ sản trung ương trong các năm 2001 - 2003 trên đối tượng là toàn bộ các sản phụ tới khám, theo dõi thai tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương cho thấy tỷ lệ thai nhi bị dị tật bẩm sinh chiếm tới 2,7%

Mặc dù ở tỉnh Hà Tây chưa có nghiên cứu cụ thể nào về tỷ lệ dị tật bẩm sinh nhưng ước tính số trẻ mắc các dị tật bẩm sinh theo các tỷ lệ trên thì hằng năm Hà Tây hiện đang cho ra đời khoảng 800 tới 1.000 trẻ sơ sinh có dị tật bẩm sinh các loại và trở thành gánh nặng cho gia đình và gánh nặng kinh tế chung cho cả tỉnh Nếu được chẩn đoán phát hiện sớm những dị tật ở trẻ sơ sinh, phát hiện sớm những bất thường thời kỳ thai nhi và có can thiệp kịp thời sẽ giảm mạnh được tỷ lệ trẻ em

bị dị tật, khuyết tật bẩm sinh Do đó, việc triển khai sàng lọc trước sinh để phát hiện các dị tật bẩm sinh, can thiệp sớm là rất cần thiết nhằm giảm các chi phí y tế, chăm sóc của gia đình và xã hội, đồng thời nhằm nâng cao chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển

Để góp phần cung cấp các số liệu cụ thể và một số phân tích khách quan cho chương trình nâng cao chất lượng dân số ở Hà Tây nói riêng và cả nước nói chung, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm người khuyết tật và một số yếu tố liên quan đến di tật bẩm sinh ở Hà Tây” Đề tài được thực hiện với các mục tiêu:

- Mô tả thực trạng bao gồm các đặc điểm về tỷ lệ, cơ cấu và phân bố của người khuyết tật trong toàn tỉnh Hà Tây

- Phân tích tình trạng khuyết tật bẩm sinh và yếu tố liên quan

- Tìm hiểu nhận thức của cộng đồng về các biện pháp hạn chế khuyết tật bẩm sinh

Trang 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 KHÁI NIỆM VÀ PHÂN LOẠI KHUYẾT TẬT

Khuyết tật được định nghĩa là sự thiếu hụt về thể chất và tinh thần khiến cho người đó không có khả năng thực hiện công việc và trở thành người tàn tật trong giai đoạn ngắn hoặc dài Điều đó có thể gây ra do ốm, do những suy giảm như ung thư, đái tháo đường, hen suyễn, rối loạn thần kinh, mù, điếc, chứng liệt, AIDS [63], [34]

Ở Mỹ, khái niệm khuyết tật đã có trong các cuộc điều tra dân số 10 năm một lần từ năm 1830 bằng việc phỏng vấn những người mù, điếc hoặc câm Thuật ngữ khuyết tật lần đầu tiên được sử dụng trong cuộc điều tra năm 1880 và khác với định nghĩa khuyết tật ngày nay Khái niệm khuyết tật lúc đó chỉ tập trung vào các điều kiện sức khỏe như các bệnh liên quan đến giác quan (mắt, tai), trạng thái tinh thần, các dị tật chân tay mà không tập trung vào mối quan hệ giữa sức khỏe, chức năng

và sự tham gia vào các hoạt động xã hội của cá nhân đó Được điều chỉnh lại trong cuộc điều tra năm 1970, nội dung khuyết tật tập trung vào sự hạn chế khả năng làm việc của cá nhân [42], [57]

Như chúng ta biết thì khuyết tật ở con người là một hiện tượng y học, xã hội bình thường, nó tồn tại trong tất cả các xã hội Tỷ lệ đó trong mỗi quần thể dân số

có thể dự đoán và xác định được Do đó, người ta có thể ước tính cơ cấu, tỷ lệ người khuyết tật trong mỗi quần thể dân số Từ đó, nhà nước và các cấp ngành liên quan đưa ra những chính sách cần thiết để hạn chế tỷ lệ người khuyết tật Tuy nhiên, các chính sách chưa thiết thực do khuyết tật là một hiện tượng liên quan đến y học, xã hội và môi trường Nó chưa được phân tích và hiểu một cách đầy đủ Trước những bất cập đó, WHO đã và đang có nhiều nỗ lực để cải thiện sự hiểu biết của chúng ta

về khuyết tật Năm 1980, có một bước ngoặt quan trọng đó là WHO đưa ra sự phân loại quốc tế về khuyết tật, tàn tật và tật nguyền để kết hợp chặt chẽ các ảnh hưởng

cá nhân, các nhân tố xã hội và môi trường đối với những người khuyết tật Sự phân

Trang 5

loại ấy giúp cho việc phân tích tình hình khuyết tật phù hợp với thực tế hơn Sự phục hồi y học, các dụng cụ hỗ trợ, sự giúp đỡ của cộng đồng có thể làm giảm những hạn chế về mặt chức năng của người khuyết tật, tăng khả năng lao động của

họ, các chính sách về môi trường - xã hội làm thay đổi điều kiện sống của người khuyết tật, do đó làm tăng sự tiếp cận kinh tế và xã hội của họ Sự phân loại đó như sau:

- Khuyết tật (impairment): Xét ở mức độ cơ quan là sự mất hoặc bất thường

về cấu trúc cơ thể hoặc chức năng tâm lí hay sinh lí (mất chi hay mất khả năng nhìn ) Nguyên nhân khuyết tật có thể do bệnh tật hoặc do tai nạn, yếu tố bẩm sinh hoặc do các tác nhân môi trường

- Tàn tật (disability): Xét ở mức độ cơ thể là sự giảm hoặc mất khả năng thực hiện hoạt động trong sinh hoạt, trong công việc do hậu quả của khuyết tật Sự hạn chế hoặc vắng mặt một chức năng nào đó (vận động, nghe, hoặc giao tiếp ) so với giới hạn của người bình thường

- Tật nguyền (handicap): Xét ở mức độ xã hội là những bất lợi, hạn chế hoặc ngăn cản sự hoàn thành vai trò bình thường của một cá nhân Đó là kết quả của sự tác động giữa khuyết tật, người tàn tật và các rào cản xã hội, môi trường vật lí, văn hóa đến nỗi mà người đó không tham gia được vào các hoạt động trong cộng đồng

xã hội như những người bình thường tùy thuộc vào tuổi, giới tính, các nhân tố xã hội và môi trường [50], [63], [34]

Những thuật ngữ đó làm cơ sở cho nhiều cuộc điều tra tình hình khuyết tật sau đó Mặc dù gần đây tổ chức WHO đã định nghĩa thuật ngữ “hoạt động” một cách trung tính hơn thay thế cho thuật ngữ “khuyết tật”, “tham gia” thay thế cho “tật nguyền” Để chặt chẽ hơn, cùng với những tiến bộ trong hiểu biết về sự tương tác giữa bệnh tật với các nhân tố môi trường - xã hội, cá nhân người khuyết tật Sau 9 năm nỗ lực sửa lại, vào ngày 22/5/2001, tổ chức Y tế Thế giới đã đồng ý đưa ra sự phân loại chức năng và viết tắt của nó là “ICF” để thay thế cho khung ICIDH, đó là

sự phân loại các thành phần chức năng và bệnh tật (International Classification of Function) Nó chứa các thông tin về triệu chứng và các căn bệnh nhưng chỉ tập trung vào chức năng ICD và ICF tạo thành sự phân loại trung tâm trong nhóm phân loại quốc tế của WHO [34]

Trang 6

Sự phân loại chức năng (ICF) được cấu thành từ các thành phần khái quát bao gồm: - Cấu trúc và chức năng cơ thể; - Các hoạt động (liên quan đến nhiệm vụ

và hành động của cá nhân) và sự tham gia của họ (liên quan đến các tình huống trong cuộc sống); - Các thông tin về mức độ ảnh hưởng của khuyết tật và các nhân

tố môi trường

Bệnh tật và khuyết tật được xem xét như là sự tương tác phức tạp giữa bệnh tật và các tác nhân môi trường cũng như với các nhân tố cá nhân Sơ đồ này được tạo ra bởi tổ hợp các nhân tố trên và các chiều tác động Mặc dù khung ICF không phải là dụng cụ đo nhưng nó cho phép đánh giá mức độ khuyết tật và có thể áp dụng với tất cả mọi người, với bất kì bệnh tật nào Ngôn ngữ của ICF rất tự nhiên như là thuyết nguyên nhân, nhấn mạnh vào chức năng hơn là bệnh tật Nó cũng được thiết

kế cẩn thận để không chỉ phù hợp với các văn hóa khác nhau mà còn phù hợp với cả các nhóm tuổi và giới tính, từ đó tạo nên sự thích hợp cho các quần thể dân số khác nhau

Trong một khung ICF, thì bệnh tật được định nghĩa là sự rối loạn hoặc các bệnh, các cấu trúc cơ thể là các phần giải phẫu của cơ thế Sự hoạt động là sự thực hiện nhiệm vụ, công việc của cá nhân Sự tham gia là những liên quan các tình huống trong cuộc sống Các nhân tố môi trường bao gồm môi trường vật lí, xã hội

và thái độ ở đó con người sống và tiến hành cuộc sống của họ Các nhân tố cá nhân bao gồm giới tính, chủng tộc, tuổi, thói quen sinh hoạt, trình độ học vấn, sự hiểu biết xã hội…

Chức năng cá nhân ở mức độ cơ thể và khả năng của người đó thực hiện các nhiệm vụ, tham gia các tình huống trong cuộc sống là tất cả các chức năng của các mối quan hệ phức tạp giữa bệnh tật với các nhân tố cá nhân, môi trường Khái niệm này cho phép xác định:

- Những người có mang khuyết tật mà không có những hạn chế về mặt hiểu biết (chẳng hạn sự biến dạng trong bệnh phong có thể không ảnh hưởng đến sự hiểu biết của người đó)

- Những người có khó khăn trong thực hiện hoạt động, hạn chế về nhận thức nhưng lại không biểu hiện khuyết tật rõ ràng (ví dụ như sự giảm khả năng thực hiện các hoạt động hằng ngày liên quan đến nhiều bệnh tật)

Trang 7

- Người khó khăn trong thực hiện hoạt động, nhưng không mang khuyết tật hoặc các hạn chế về nhận thức (ví dụ người mắc HIV hoặc các bệnh nhân được phục hồi khỏi bệnh thần kinh, hoặc sự phân biệt đối xử trong quan hệ)

- Người có hạn chế trong nhận thức mà thiếu trợ giúp và không có các vấn đề thực hiện trong môi trường hiện tại (chẳng hạn cá nhân hạn chế trong vận động, có

lẽ sẽ được xã hội cung cấp dụng cụ hỗ trợ để giúp họ vận động dễ dàng hơn) Tuy vậy, ảnh hưởng ngược lại đó là khi thiếu sử dụng chân tay có thể gây nên teo cơ, việc đưa vào các tổ chức từ thiện có thể dẫn đến mất các kĩ năng xã hội cho người khuyết tật

Các thuật ngữ “khuyết tật”, “tàn tật”, “tật nguyền” có thể dùng thay thế cho nhau hoặc có thể bị thay đổi Nhưng chúng lại có ý nghĩa khác nhau, tùy mục đích của cuộc điều tra và các đơn vị điều tra mà có các định nghĩa và các tiêu chuẩn về khuyết tật khác nhau

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra khuyết tật như tai nạn, bệnh tật, nhiễm độc,

di truyền trong đó khuyết tật có nguyên nhân di truyền sẽ tạo ra các loại di tật bẩm sinh

Có nhiều cách phân loại DTBS: [56], [43], [46], [59], [31]

- Phân loại theo hình thái lâm sàng (quái thai, u phôi, )

- Phân loại theo thời kỳ phát triển phôi

- Phân loại theo sinh bệnh học (do di truyền, do sai sót trong quá trình phát triển )

- Phân loại theo hệ thống cơ quan: Phân loại quốc tế ICD 10 (International Classification of Diseases), các loại di tật bẩm sinh gồm:

+ Dị tật của hệ thần kinh (Q00-Q07)

+ Dị tật tai, mắt, cổ (Q10-Q18)

+ Dị tật hệ tuần hoàn (Q20-Q28)

+ Dị tật hệ hô hấp (Q30-Q34)

+ Dị tật sứt môi, hở vòm miệng (Q35-Q37)

Trang 8

+ Dị Tật hệ tiêu hoá (Q38-Q45)

+ Dị tật hệ sinh dục (Q50-Q59)

+ Dị tật hệ tiết niệu (Q60-Q64)

+ Dị tật hệ cơ - xương (Q65-Q79)

+ Dị tật khác (Q80-Q89)

+ Những rối loạn nhiễm sắc thể (Q90-Q99)

+ Rối loạn chuyển hoá bẩm sinh (E70-E90)

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN THẾ GIỚI

1.2.1 Số liệu về người khuyết tật trên thế giới

Theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới và Liên Hợp Quốc năm 1996 trên thế giới có khoảng 490 triệu người khuyết tật (chiếm khoảng 10% dân số), trong đó

có 140 triệu trẻ em khuyết tật, trên 340 triệu người khuyết tật ở các nước đang phát triển và hơn 98% người khuyết tật bị lãng quên Riêng khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 100 triệu người khuyết tật, trong đó 75% chưa có phục hồi chức năng về y tế và xã hội Theo thống kê của tổ chức UNICEF về số trẻ em khuyết tật

ở Bắc Mỹ: 6 triệu, Châu Âu: 11 triệu, Châu Mỹ Latinh: 13 triệu, Châu Phi: 18 triệu

và Châu Á: 88 triệu [25], [7], [52], [49], [58], [61]

Ở hầu hết các nước, cứ 10 người thì ít nhất có 1 người bị thiểu năng về tinh thần, thể hình hoặc giác quan, và ít nhất có 25% dân số của mọi quốc gia ít nhiều bị ảnh hưởng bởi sự hiện hữu của vấn đề khuyết tật [34]

Theo cục điều tra dân số Mỹ năm 2004, Mỹ có 32 triệu người khuyết tật là người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên chưa kể 5 triệu trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi [49] Các chuyên gia đồng ý rằng tình hình khuyết tật ở các nước đang phát triển cao hơn ở các quốc gia phát triển do chưa có các biện pháp hữu hiệu, hạn chế người khuyết tật, vấn đề chi phí và dịch vụ cho người khuyết tật vẫn còn nan giải

1.2.2 Nguyên nhân của tình trạng khuyết tật trên thế giới

Nguyên nhân của thiểu năng rất khác nhau ở các nơi trên thế giới, tính chất phổ biến và hậu quả của khuyết tật cũng đa dạng như vậy Những sự khác nhau đó

Trang 9

là do sự chi phối của hoàn cảnh kinh tế, xã hội và sự khác nhau trong việc cung cấp dịch vụ phúc lợi cho các thành viên của mỗi xã hội Một cuộc điều tra được các chuyên gia tiến hành đã đưa ra một con số khoảng 350 triệu người khuyết tật hiện đang sống trong các khu vực chưa có các dịch vụ cần thiết để giúp họ vượt qua được các hạn chế của bản thân [61] Trên một phạm vi lớn, người khuyết tật dang phải đối mặt với các rào cản về vật chất, văn hóa và xã hội gây thiệt thòi cho cuộc sống của họ thậm chí ngay cả khi có sự trợ giúp phục hồi chức năng Có nhiều yếu

tố làm tăng số người khuyết tật và đẩy họ ra ngoài lề của xã hội Bao gồm:

- Chiến tranh cùng với hậu quả chiến tranh và các hình thức khác của bạo lực, sự tàn phá, nghèo đói, bệnh dịch, sự thay đổi nhanh về dân số

- Những gia đình bần cùng có nhiều gánh nặng chiếm tỷ lệ cao, điều kiện sống, nơi ở quá đông đúc và kém vệ sinh

- Tỷ lệ người mù chữ cao và kém hiểu biết về các dịch vụ xã hội cơ bản hoặc các biện pháp y tế và giáo duc

- Thiếu kiến thức đúng đắn về khuyết tật, về các nguyên nhân, cách phòng ngừa và điều trị, kể cả những sự khinh thị, phân biệt đối xử và những ý nghĩ lệch lạc

về người khuyết tật

- Thiếu các chương trình về dịch vụ và chăm sóc sức khoẻ cơ bản

- Nhiều hạn chế bao gồm thiếu nguồn lực, khoảng cách về địa lý, các rào cản

về vật chất và xã hội khiến nhiều người không thể sử dụng được các dịch vụ có sẵn

- Dành các nguồn lực cho các dịch vụ quá chuyên sâu không phù hợp với nhu cầu của đại đa số những người cần được giúp đỡ

- Cơ sở hạ tầng các dịch vụ liên quan đến trợ giúp của xã hội, chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, đào tạo nghề và bố trí việc làm thiếu hoặc yếu

- Ưu tiên thấp đối với các hoạt động liên quan tới việc tạo ra sự công bằng về

cơ hội, phòng ngừa khuyết tật và phục hồi chức năng trong chương trình phát triển kinh tế, xã hội

- Các tai nạn có liên quan tới công nghiệp, nông nghiệp và giao thông

Trang 10

- Động đất và thảm hoạ thiên nhiên

- Ô nhiễm môi trường vật chất

- Trạng thái căng thẳng và các vấn đề tâm lý - xã hội khác đi kèm với sự chuyển đổi từ một xã hội truyền thống sang một xã hội hiện đại

- Khinh xuất trong việc sử dụng thuốc, sử dụng sai các dược liệu, sử dụng bất hợp pháp chất gây nghiện và chất kích thích

- Điều trị không đúng cho những người bị thương khi có thảm hoạ là nguyên nhân của những khuyết tật có thể tránh được

- Đô thị hoá, tăng dân số và các yếu tố gián tiếp khác

Vấn đề người khuyết tật tại các nước đang phát triển cũng cần phải được làm

rõ Có khoảng 80% những người khuyết tật đang sống ở những vùng nông thôn heo hút ở các nước đang phát triển Ở một số nước này tỷ lệ người khuyết tật ước tính cao tới 20% và nếu tính cả gia đình và người thân của họ thì có tới 50% số đân đã bị ảnh hưởng bất lợi bởi khuyết tật [45] Vấn đề càng trở nên phức tạp hơn bởi một thực tế là hầu như ở tất cả mọi nơi người khuyết tật là những người rất nghèo Họ thường sống ở những nơi có rất ít hoặc thậm chí là hoàn toàn không có các dịch vụ

y tế và các dịch vụ liên quan khác thậm chí ở những nơi mà sự khuyết tật không được, hoặc không thể được phát hiện kịp thời Khi họ thực sự nhận được sự quan tâm về y tế, mà nếu họ có được nhận đầy đủ đi chăng nữa thì sự suy giảm chức năng là điều khó tránh khỏi Ở nhiều nước không có đủ nguồn lực để phát hiện và phòng ngừa khuyết tật cũng như đáp ứng nhu cầu trợ giúp và phục hồi chức năng của người khuyết tật Đội ngũ những người hỗ trợ, những nghiên cứu ứng dụng các

kỹ thuật và công nghệ mới hơn và hiệu quả hơn, các phương pháp phục hồi chức năng, trợ giúp hòa nhập, cung cấp thiết bị cho người khuyết tật bị thiếu hụt nghiêm trong

Tại những nước đang phát triển khó khăn của người khuyết tật càng trầm trọng hơn bởi nạn bùng nổ dân số, làm cho người khuyết tật tăng cả về tỷ lệ lẫn số lượng Do đó, đối với những nước này, nhu cầu cấp bách là phải ưu tiên phát triển các chính sách nhân khẩu học để ngăn chặn sự gia tăng số lượng người khuyết tật

và để phục hồi chức năng và cung cấp dịch vụ cho những người đã bị khuyêt tật

Ngày đăng: 23/06/2016, 09:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w