BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN Môn: Kỹ Năng Cơ Bản Của Luật Sư Tham Gia Giải Quyết Các Vụ Việc Dân sự Hồ sơ: LS.DS07 TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN Nguyên đơn: Hoàng Thị Hảo Bị đơn: Nguyễn Văn Nguyệt Họ và tên : Ngày sinh : Lớp : SBD: Ngày diễn án : 13082023 Gv Hướng dẫn Thạc sĩ NGUYỄN ĐỨC TĨNH Tp. Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 08 năm 2023 MỤC LỤC Bài thu hoạch diễn án dân sự HS.DS07 I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 2 II. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN 3 1. Những vấn đề pháp lý cơ bản 3 2. Các vấn đề thống nhất và chưa thống nhất 5 3. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 6 III. KẾ HOẠCH HỎI 7 1. Hỏi bị đơn – Ông Nguyễn Văn Nguyệt 8 2. Hỏi nguyên đơn – Bà Hoàng Thị Hảo 9 3. Hỏi người có nghĩa vụ liên quan 9 4. Hỏi người làm chứng 10 IV. BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN BÀ HOÀNG THỊ HẢO 10 A. BÀI THU HOẠCH I. TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN Ngày 2631999, Bà Hoàn Thị Hảo sinh năm 1976 và Ông Nguyễn Văn Nguyệt sinh năm 1978, sau thời gian tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương. Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hai người sống ly thân hơn 01 năm kể từ năm 2014, không còn quan tâm đến nhau. Bà Hảo và Ông Nguyệt đều xác định tình cảm vợ chồng không còn. Ngày 0212016, Bà Hảo nộp đơn khởi kiện lên tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, yêu cầu được ly hôn với ông Hảo, yêu cầu được nuôi 2 con là Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04012001 và Nguyễn Đức Anh sinh ngày 1362007, không yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất thửa số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. Ngày 1952016 Tòa án tiến hành hòa giải, đã thống nhất về quan hệ vợ chồng, hai ông bà nhất trí ly hôn. Ngày 1762016, Tòa án tiếp tục tiến hành hòa giải các nội dung được thống nhất như sau: về thuận tình ly hôn, về nợ chung còn nợ 20.000.000 đồng, chia hai mỗi người trả 10.000.000 đồng. Ngày 1272016 tòa án tiến hành hòa giải tiếp tục nhưng vẫn không thống nhất thêm được vấn đề gì. • Sau quá trình làm việc tại giai đoạn chuẩn bị xét xử Bà Hảo có trình bày và yêu cầu như sau: Về ly hôn Bà Hảo trình bày do tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống được nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyệt. Về việc nuôi con, Bà Hảo trình bày bà và ông Nguyệt có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (0412001) và cháu Nguyễn Đức Anh (13062007) và có yêu cầu được nuôi cả hai cháu mà không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng. Về việc chia tài sản chung, bà và ông Nguyệt có tài sản chung là nhà đất tại thôn Thượng Trệt I, xã Thượng Đạt. Đất có số thửa 496 tờ bản đồ số 01 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà và ông Nguyệt từ năm 2005. Trên đất có các tài sản là nhà, công trình phụ, tường bao, bể nước, giếng đào, chuồng lợn, chuối và một số cây ăn quả khác. Bà yêu cầu được chia một nửa diện tích đất trên và xin được lấy phần không có tài sản, bà không có yêu chia đối với phần tài sản trên đất. • Sau quá trình làm việc tại giai đoạn chuẩn bị xét xử ông Nguyệt có trình bày và yêu cầu như sau: Về ly hôn ông Nguyệt nhất trí ly hôn với bà Hảo. Về nuôi con ông Nguyệt không đồng ý cho bà Hảo nuôi 02 con chung, đề nghị giao cháu Đức Anh cho ông trực tiếp nuôi dưỡng và hiện nay ông đang trực tiếp nuôi cháu Đức Anh, bà Hảo nuôi cháu Nhi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai. Về tài sản chung đối với phần tài sản trên đất ông thống nhất chia đôi và xin được nhận bằng hiện vật, trả tiền lại cho bà Hảo. Còn phần đất đó là của bố mẹ Ông em ông, không phải là của chung giữa ông và bà Hảo, đề nghị không chia đất cho bà Hảo. Bà Hảo không có một chút công sức nào trong việc tôn tạo, bồi đắp thửa đất mặc dù bà Hảo sống từ năm 1999 đến năm 2014 khi bà Hảo bỏ đi. Và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và bà Hảo vì cho rằng đây là tài sản của cha mẹ Ông em ông Nguyệt và cấp lại cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang. Về nợ, ông Nguyệt và bà Hảo phải thanh toán số tiền còn nợ của Ngân hàng là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) và số tiền lãi phát sinh cho tới khi tất toán hợp đồng vay vào khoảng năm 2014. Bà Hảo và ông Nguyệt đã thế chấp tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất nêu trên để vay 30.000.000 đồng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh Nam sách. Hiện nay ông Nguyệt đã trả được 10.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại là 20.000.000 đồng. Ngày 13082023 tòa án nhân dân Tp. Hải Dương, tỉnh Hải Dương có Quyết định số 732017QĐSTDS đưa vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con và chia tài sản ra xét xử. II. NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN 1. Những vấn đề pháp lý cơ bản 1.1. Đương sự tham gia tố tụng – Nguyên Đơn: Bà NGUYỄN THỊ HẢO. Sinh năm 1978. ĐKHKTT: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Hiện trú tại: Thôn Nam Giang, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương. – Bị Đơn: Ông NGUYỄN VĂN NGUYỆT. Sinh năm 1976. ĐKHKTT: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương – Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Cháu Nguyễn Thị Nhi; Cháu Nguyễn Đức Anh; Bà Nguyễn Thị Thoa; Ông Nguyễn Văn Cang; Ông NguyễnVăn Giới; Ông Nguyễn Văn Quyết; Ông Nguyễn Văn Chuyển; Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương 1.2. Quan hệ pháp luật tranh chấp – Yêu cầu thuận tình ly hôn – Tranh chấp nuôi con chung – Tranh chấp tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân 1.3. Quyền khởi kiện vụ án Bà Hoàng Thị Hảo có quyền khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015. 1.4. Thẩm quyền giải quyết của toà án – Vụ án thuộc trường hợp yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 2 Điều 29 BLTTDS 2015. – Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37. – Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi bị đơn cư trú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39. Từ các căn cứ trên Toà án có thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm đối với tranh chấp này là Toà án nhân dân TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương. 1.5. Thời hiệu khởi kiện Vụ án này không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 155 Bộ Luật dân sự 2015 1.6. Thủ tục tiền tố tụng Căn cứ điều 52 và Điều 54 Luật Hôn Nhân Gia Đình 2014, Nhà nước và Xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn, nhưng không bắt buộc phải có thủ tục hòa giải trước khi nộp đơn khởi kiện ra tòa trong vụ án này. Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự: Đã có 3 lần hòa giải ngày 19052016, 17062017 và 12072017. 1.7. Văn bản pháp luật áp dụng giải quyết – Bộ Luật Dân sự 2015 – Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 – Án lệ số 032016AL về vụ án ly hôn được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 04 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220QĐCA ngày 06 tháng 04 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. 2. Các vấn đề thống nhất và chưa thống nhất 2.1. Các nội dung đã thỏa thuận được: – Về tình cảm: Nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn. – Về nợ chung: Khoản nợ đối với ngân hàng Agribank: nợ gốc 20.000.000 và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng. Đã hoàn thành trả vào 28062016 và ngân hàng Agribank đã hoàn trả lại GCN QSDĐ đối với thửa đất 496 (BL 148154). – Về tài sản chung: 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại Bãi Nam, khu 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, Tp. Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Ban đầu, bà Hảo đề nghị được sử dụng ½ diện tích được khoán và Ông Nguyệt không đồng ý do Ông Nguyệt là người trực tiếp ký hợp đồng thuê khoán với UBND xã Thượng Đạt, quá trình sử dụng canh tác và hoàn thành các nghĩa vụ nộp tiền thuê, tiền thuế đều do Ông Nguyệt thực hiện; bà Hảo chỉ đóng góp công sức không đáng kể trên diện tích đất này. Tuy nhiên, khi hòa giải, hai bên thống nhất không yêu cầu tòa án giải quyết nội dung này nữa. 2.2. Các nội dung chưa thỏa thuận được: – Về con chung: Có 2 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh 04012001) và Nguyễn Đức Anh (sinh 13062007). Kể từ khi ly thân, cháu Nhi đang sống cùng Bà Hảo, cháu Đức Anh sống cùng Ông Nguyệt. Bà Hảo yêu cầu nuôi cả 2 con chung. Ông Nguyệt không đồng ý cho Bà Hảo nuôi cả 2 con chung, Ông Nguyệt đề nghị Ông Nguyệt nuôi bé Đức Anh, Bà Hảo nuôi bé Nhi. Cả hai bên không yêu cầu bên kia phải cấp dưỡng nuôi con. – Về tài sản chung: Bà Hảo xác định Ông Nguyệt xác định: – Tài sản chung là nhà đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương. – Không có tài sản chung là thửa đất số 496. Ông Nguyệt không đồng ý chia cho Bà Hảo. – Tài sản gắn liền trên đất bao gồm: 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3. Đất đã được cấp GCN QSDĐ mang tên Ông Nguyệt và Bà Hảo. Bà Hảo yêu cầu được chia ½ diện tích đất, lấy phần không có tài sản, tài sản trên đất không yêu cầu chia. – Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3. Ông Nguyệt đồng ý chia đôi tài sản chung này, Ông đề nghị nhận hiện vật, trả tiền cho Bà Hảo. 3. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 3.1. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Ly hôn với Ông Nguyễn Văn Nguyệt; – Nuôi 02 con chung, không yêu cầu Ông Nguyệt cấp dưỡng; – Chia đôi tài sản chung là nhà, đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, không yêu cầu giải quyết các tài sản còn lại. Tại đơn khởi kiện, Bà Hảo có yêu cầu chia đôi nhà đất nhưng sau đó, tại Biên bản hòa giải ngày 12072016, Bà Hảo thay đổi yêu cầu: không yêu cầu chia tài sản trên đất mà chỉ yêu cầu chia ½ diện tích đất và xin được lấy phần không có tài sản. 3.2. Chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Các chứng cứ ban đầu chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp bao gồm: – Bản sao sổ hộ khẩu gia đình số 270056469 (BL 0507) – Xác minh tư cách cá nhân của Bà Hảo; – Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26031999 (BL 02) – Hôn nhân giữa Ông Nguyệt và Bà Hảo là tự nguyện và đúng pháp luật; – Bản sao Giấy khai sinh cháu Nhi số 73 quyển số 2014 và cháu Nguyễn Đức Anh số 38 quyển số 2007 (BL 0304) – Chứng minh về con chung; – Đơn đề nghị của cháu Nhi (BL 30) – Chứng minh mong muốn được ở với mẹ của cháu Nhi; – Đơn đề nghị của cháu Đức Anh (BL 31) – Chứng minh mong muốn được ở với mẹ của cháu Đức Anh; – Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên Ông Nguyễn Văn Nguyệt và Bà Nguyễn Thị Hảo (BL 0811) – Chứng minh về tài sản chung. 3.3. Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyệt đồng ý ly hôn với Bà Hảo. Về con chung: Ông Nguyệt không đồng ý việc Bà Hảo nuôi 02 con, Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đức Anh, giao cháu Nhi cho Bà Hảo nuôi dưỡng, những lý do sau: – Bà Hảo không đủ điều kiện chăm sóc cả 2 con, bằng chứng là Bà đã cho bé Nhi hiện đang ở cùng mẹ phải nghỉ học. Cháu Đức Anh ở với Ông Nguyệt đã có Đơn đề nghị xin tiếp tục ở với bố; – Ông Nguyệt đảm bảo có thể lo được cho cháu Đức Anh. Đồng thời, nhà Ông Nguyệt gần trường học rất tiện lợi cho cháu Đức Anh đi học, có ông bà nội đưa đón đi học. Về tài sản chung, Ông Nguyệt có các ý kiến như sau: – Tài sản chung của vợ chồng chỉ có duy nhất 01 ngôi nhà 18 m² lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10 m² , 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m³, ngoài ra không có gì nữa. Ông Nguyệt đồng ý chia tài sản này, Ông nhận hiện vật, trả tiền cho Bà Hảo. – Về thửa đất 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương theo GCN QSD Đất H497 được UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp cho cả 02 vợ chồng ngày 31122005: Không phải là tài sản chung của vợ. Ông Nguyệt không đồng ý chia đất, yêu cầu hủy GCN QSDĐ của thửa đất 496 đã cấp cho Ông Nguyệt Bà Hảo. Lý do Ông Nguyệt đưa ra: Nguồn gốc đất là của mẹ Ông Nguyệt là bà Nguyễn Thị Thoa đã mua với giá 1.550.000 đồng, trong đó có 1.000.000 đồng là của Ông trai Ông Nguyệt là Ông Nguyễn Văn Quyết, 550.000 đồng là của em trai Ông Nguyệt là Ông Nguyễn Văn Chuyển, mẹ Ông Nguyệt đứng ra thực hiện giao dịch. Năm 1999 bố mẹ Ông Nguyệt cho vợ chồng Ông Nguyệt Bà Hảo xây dựng công trình nhà ở trên đất để tách ra ở riêng; Năm 2005, UBND xã Thượng Đạt và UBND huyện Nam Sách đã tự làm GCN QSDĐ cho vợ chồng Ông Nguyệt Bà Hảo, Ông Nguyệt không đứng ra kê khai để được cấp GCN QSDĐ này. Gia đình không ai biết nên không ai có ý kiến. Sau này, Ông Nguyệt đã thế chấp QSDĐ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn để vay tiền. III. KẾ HOẠCH HỎI Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo Định hướng bảo vệ: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Định hướng, mục đích hỏi: Làm rõ vụ việc, chứng minh các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ cụ thể: làm rõ khả năng nuôi con của nguyên đơn, chứng minh nguồn gốc tài sản chung và công sức đóng góp của Bà Hảo vào tài sản trên. 1. Hỏi bị đơn – Ông Nguyễn Văn Nguyệt 1.1. Ông và bà Hảo kết hôn năm nào? Sau khi ông bà kết hôn thì ông bà ở tại đâu? 1.2. Anh Nguyệt cho biết, anh có thường xuyên chơi bài, uống rượu không? 1.3. Anh cho biết, trong thời gian hôn nhân, anh có từng có hành vi đánh chị Hảo không? 1.4. Có phải ông và bà Hảo đã ly thân không còn sống chung với nhau nửa phải không? 1.5. Việc bà Hảo yêu cầu ly hôn ông có đồng tình ly hôn hay không? 1.6. Các ông bà có bao nhiêu người con? 1.7. Hiện tại cháu Nhi đang sống với Bà Hảo đúng không ? 1.8. Ông có mặt tại nhà ngày 572016, tòa án thành phố Hải Dương lấy lời khai cháu Đức Anh không? 1.9. Theo lời khai của Bà Hảo và cháu Đức Anh thì ông không cho cháu Đức Anh gặp mẹ, điều này có đúng sự thật hay không? 1.10. Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh có được gặp mẹ không? Cháu được gặp mẹ mấy lần? 1.11. Theo biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Đức Anh ngày 05072016 tại gia đình bố mẹ là ông Cang bà Thoa thì cháu Đức Anh muốn ở với ai sau khi Ông và Bà Hảo ly hôn? 1.12. Vợ chồng ông bà bắt đầu sinh sống tại thửa đất 496 tờ bản đồ số 01 vào thời gian nào? 1.13. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 496, tờ bản đồ số 01 được cấp thời gian nào? 1.14. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp tên ông và bà Nguyệt đúng không? 1.15. Ông cho biết ai là người đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa đất 496 tờ bản đồ số 01? 1.16. Ai là người đóng tiền thuế sử dụng đất hàng năm đối với thửa đất trên? 1.17. Khi nhận giấy chứng nhận ông có ý kiến hay phản đối nào không? 1.18. Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và bà Hảo, gia đình ông có ai phản đối về việc này không? 1.19. Ông cho rằng UBND thành phố Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông và bà Hảo là sai, vậy tại sao thời điểm nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không khiếu nại hay yêu cầu cấp lại? 1.20. Việc Ông Bà xây nhà trên thửa số 496, tờ bản đồ số 01, gia đình Ông có ai phản đối hay không? 1.21. Gia đình Ông có ai phụ tiền hay công sức xây dựng nhà trên thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01 hay không? 1.22. Hai Ông Bà dùng mảnh đất này vay ngân hàng và cùng thực hiện nghĩa vụ trả nợ tại ngân hàng Agribank đúng không? 1.23. Công việc hiện nay của ông là gì? Thu nhập bình quân hàng tháng của ông là bao nhiêu? Có điều gì thể hiện việc này không? 2. Hỏi nguyên đơn – Bà Hoàng Thị Hảo 2.1. Cuộc sống hôn nhân hiện tại của bà và ông Nguyệt có hạnh phúc không? 2.2. Tại sao ông bà lại sống ly thân? 2.3. Ông Nguyệt có giúp bà chăm sóc, nuôi dạy con cái không? 2.4. Ông Nguyệt có khi nào đánh đập con cái không? 2.5. Trong thời gian sống ly thân cháu Đức Anh ở với ông Nguyệt đúng hay không? 2.6. Ông Nguyệt có cho bà gặp cháu thường xuyên hay không? Mỗi lần bà gặp cháu ông Nguyệt có biết không? 2.7. Ông Nguyệt thường xuyên chửa bới, đánh đập vợ con, mỗi lần bà đến thăm cháu Đức Anh việc này có hay không? 2.8. Nguyện vọng sau ly hôn của cháu Nhi và cháu Đức Anh muốn sống chung với bà phải không? 2.9. Bà cho biết hiện tại bà làm nghề gì? Thời gian làm việc của bà như thế nào? Thu nhập như thế nào? 2.10. Bà có thực hiện việc kê khai và nộp thuế quyền sử dụng đất đối với thửa đất 496, tờ bản đồ số 01 hay không? 2.11. Khi vợ chồng bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên gia đình chồng bà có biết hay không? Có ai có ý kiến phản đối hay gì không? 3. Hỏi người có nghĩa vụ liên quan 3.1. Hỏi Bà Nguyễn Thị Thoa – Bà có biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496 không? – Từ lúc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ đến trước khi ly thân, bà có ý kiến gì không? – Bà và chồng đã cho đất Ông Nguyệt và Bà Hảo xây nhà vào thời gian nào? – Việc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo xây nhà trên thửa đất số 496, bà có ý kiến gì không? – Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với thửa đất này không? 3.2. Hỏi Uỷ Ban Nhân Dân Tp. Hải Dương – Ông Nguyệt lên nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ý kiến gì không? – Đến giờ có ai tranh chấp về thửa số 496, tờ bản đồ số 01 này không? 4. Hỏi người làm chứng 4.1. Hỏi ông Bích – Công chức địa chính xã Thượng Đạt – Quy trình cấp GCN QSDĐ cho Ông Nguyệt Bà Hảo được thực hiện như thế nào? Có đúng quy trình pháp luật không? – Sau khi vợ chồng Ông Nguyệt Bà Hảo được cấp GCNQSDĐ, UBND xã có nhận được bất kỳ ý kiến, thư khiếu nại nào không? – Ông cho biết, có tranh chấp gì đối với thửa đất số 496 không? 4.2. Hỏi Ông Tư – cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt – Ông cho biết, việc Ông Nguyệt đánh và không cho cháu Đức Anh gặp Bà Hảo có được nhiều người biết không? IV. BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN BÀ HOÀNG THỊ HẢO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc BẢN LUẬN CỨ (Vv Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo) Kính thưa: Hội đồng xét xử Vị đại diện Viện Kiểm sát Thưa các Luật sư đồng nghiệp Tôi là Luật sư YourName – thuộc Văn phòng Luật sư K24.2N Đoàn Luật Sư thành phố Hồ Chí Minh, tham gia phiên tòa ngày hôm nay với vai trò là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo trong vụ án dân sự “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản” Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ có trong vụ án và diễn biến phiên tòa ngàyhôm nay, tôi xin đưa ra quan điểm để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp cho nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Hảo. Tôi xin khẳng định, các yêu cầu khởi kiện Bà Nguyễn Thị Hảo đưa ra là hoàn toàn có căn cứ và hợp pháp. 1. Về yêu cầu ly hôn Bà Nguyễn Thị Hảo và Ông Nguyễn Văn Nguyệt đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau trên cơ sở tự nguyện theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 26031999. Theo như lời trình bày của cả hai bên thì quan hệ hôn nhân của vợ chồng Ông Nguyệt và Bà Hảo đã mâu thuẫn đến mức đỉnh điểm, không thể hòa giải được. Cụ thể thì sau khi cưới được khoảng thời gian 02 năm thì Ông Nguyệt và Bà Hảo bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do Ông Nguyệt chơi bời, về nhà đánh chửi mẹ con Bà Hảo. Điều này được thể hiện qua các lời khai của bà Hảo,của cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt trong biên bản xác minh ngày 09032016. Gia đình Ông Nguyệt biết mâu thuẫn này đã nhiều lần khuyên can Ông Nguyệt và hòa giải mối quan hệ vợ chồng nhưng không thành. Đời sống chung không thể kéo dài. Khi tình trạng của vợ chồng đã phát sinh mẫu thuẫn trầm trọng, ông Nguyệt không những không nhận ra lỗi lầm của mình mà vẫn tiếp tục chứng nào tật đấy. Chính vì vậy mà ông Nguyệt và bà Hảo đã sống ly thân từ ngày 14122014, Bà Hảo về sống tại nhà mẹ đẻ cho đến nay. Việc ông Nguyệt và bà Hảo sống ly thân đã được cả ông Nguyệt, bà Hảo cũng như những người có liên quan thừa nhận trong các bản tự khai, biên bản lấy lời khai. Theo các lời khai của anh, em ông Nguyệt thì bà Hảo là người phụ nữ ngoan hiền, chịu thương, chịu khó, chăm chỉ làm ăn, vun vén hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân không thể hạnh phúc nếu chỉ một chỉ một người vun vén. Hơn nữa, việc ông Nguyệt chơi bời, không lo làm ăn, đánh đập, chửi bới vợ con làm cho bà Hảo không thể sống chung với ông Nguyệt nữa do đó mà dẫn đến việc ly thân. Do vậy, có thể khẳng định rằng cả hai bên không thể tiếp tục sống chung, cuộc sống hôn nhân của ông Nguyệt và bà Hảo hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình 2014 và các chứng cứ tại hồ sơ cũng như tại phiên tòa hôm nay, xem xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của Ông Nguyệt và Bà Hảo. 2. Về việc nuôi con chung 2.1. Về việc nuôi dưỡng cháu Nhi Trong quá trình giải quyết vụ án, Ông Nguyệt và Bà Hảo đã đạt được thỏa thuận về việc Bà Hảo sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04012001, là con chung của Ông Nguyệt và Bà Hảo trong thời kỳ hôn nhân, thể hiện tại biên bản hòa giải ngày 12072016. Đồng thời, cháu Nhi cũng có đề nghị được ở với mẹ là bà Hoàng Thị Hảo nếu bà Hảo và ông Nguyệt không sống chung với nhau nữa thông qua Đơn đề nghị ngày 20012016. Khả năng kinh tế cũng như các yếu tố khác của Bà Hảo có thể đáp ứng tốt việc nuôi dạy cháu Nhi. 2.2. Về việc nuôi dưỡng cháu Đức Anh Căn cứ theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét được nguyện vọng của các con. Cháu Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13062007, tính đến thời điểm hiện tại cháu Đức Anh đã trên 16 tuổi. Thứ nhất, về nguyện vọng của cháu Đức Anh. Theo Đơn đề nghị ngày 22012016 và Biên bản lấy lời khai ngày 05072016 (có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị Thoa là bà nội của cháu) thì nguyện vọng của cháu Đức Anh là cháu muốn ở với mẹ nếu bố mẹ cháu ly hôn. Thứ hai, về vấn đề tinh thần và tâm lý. Hiện nay cháu Đức Anh đã được 16 tuổi. Đây là độ tuổi dễ bị ảnh hưởng về tâm lý, đang trong giai đoạn phát triển nhận thức và nhân cách; cháu rất cần sự chăm sóc, tình yêu thương của người mẹ. Trong bối cảnh cha mẹ ly hôn, việc cháu được ở cùng với mẹ và Bà gái sẽ dễ dàng chia sẻ tình cảm sẽ tốt hơn cho sự phát triển của cháu. Trong khi đó Ông Nguyệt thường xuyên tụ tập ăn chơi, không chăm lo cho con cái, có những hành động bạo lực trong suốt quá trình hôn nhân như đánh đập, chửi bới vợ con. Khi Bà Hảo đến thăm cháu Đức Anh thì Ông Nguyệt đánh cả cháu. Với cách hành xử thô bạo như vậy cháu Đức Anh rất dễ bị ảnh hưởng tâm sinh lý và khả năng phát triển bình thường của cháu. Thứ ba, về vấn đề kinh tế và khả năng nuôi dưỡng. Hiện nay, Bà Hảo có nơi ở ổn định, Bà đang sống ở nhà mẹ đẻ, có công việc ổn định với mức lương khá, cùng với đó là sự giúp đỡ của mẹ ruột Bà trong việc nuôi dạy các cháu, đưa đón cháu đi học. Điều này thể hiện ở phần xét hỏi tại phiên tòa ngày hôm nay, các biên bản lấy lời khai của Bà Hảo. Trong khi đó thu nhập của Ông Nguyệt không ổn định phụ thuộc vào chăn nuôi. Bà Hảo hoàn toàn có đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Đức Anh tốt hơn Ông Nguyệt. Ngoài ra, trong thời gian qua khi cháu Đức Anh ở với bố, Ông Nguyệt đã không cho Bà Hảo gặp cháu, nếu Bà Hảo gặp thì Ông Nguyệt sẽ đánh cháu. Điều này chính quyền và bà con hàng xóm láng giềng đều biết và ông Đỗ Văn Tư Cán bộ tư pháp xã Thượng Đạt cũng đã xác nhận thực tế này thông qua biên bản xác minh ngày 09032016. Đối với một đứa trẻ đang tuổi phát triển thì hành vi của ông Nguyệt sẽ gây ra những ảnh hưởng tới sự phát triển của cháu Anh. Mặt khác, hiện dù chỉ mới ly thân nhưng ông Hảo còn không cho cháu Đức Anh gặp mẹ, Nếu như Ông Nguyệt được giao nuôi cháu Đức Anh thì sau khi ly hôn, quyền được thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Đức Anh của Bà Hảo theo Khoản 2 Điều 83 Luật HNGĐ 2014 không được bảo đảm. Chính vì những lẽ trên có thể thấy việc giao cả hai con chung là Cháu Nhi và Đức Anh cho bà Hảo trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc sẽ giúp các cháu phát triển một cách toàn diện và đầy đủ hơn, đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho cả hai cháu và không cần cấp dưỡng là hoàn toàn phù hợp với các quy định pháp luật cũng như thực tế hiện tại và mong muốn của cháu Đức Anh và cháu Nhi. 3. Về tài sản chung Căn cứ vào tất cả các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như qua lời khai của các bên trong quá trình tố tụng, tôi xin khẳng định đối với yêu cầu chia tài sản chung là đất và tài sản trên đất có số thửa 496 tờ bản đồ số 01 được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa ông Nguyệt và bà Hảo là hoàn toàn có căn cứ. 3.1. Thửa đất số 496 là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân của Ông Nguyệt và Bà Hảo • Vợ chồng Ông Nguyệt – Bà Hảo được ông Cang – bà Thoa cho thửa đất số 496 để xây nhà và sinh sống lâu dài, công khai, ổn định trên thửa đất này từ năm 1999. Bà Hảo, Ông Nguyệt, các thành viên trong gia đình Ông Nguyệt đều thống nhất rằng nguồn gốc thửa đất này là của gia đình ông Nguyệt mua của UBND xã Thượng Đạt. Ông Nguyệt Bà Hảo đã được bố mẹ chồng là bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang cho vợ chồng Ông Bà xây dựng nhà và công trình phụ để ra ở riêng từ năm 1999 sau khi kết hôn. Theo bà Hảo trình bày thì gia đình ông Nguyệt trước đây đã tuyên bố cho vợ chồng ông bà nhưng không làm giấy tờ Điều này cũng đã được thể hiện qua Biên bản lấy lời khai của ông Ông Đỗ Văn Tỏ, Biên bản lấy lời khai của ông Nguyễn Văn Giới và một số thợ khác đã xây nhà và công trình phụ cho hai vợ chồng năm 1999. • Thửa đất này đã được cấp GCNQSDĐ cho hai vợ chồng Bà Hảo và Ông Nguyệt từ năm 2005 một cách hợp pháp, đúng thủ tục pháp luật: – Ngày 31122005, UBND huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương đã cấp cho ông NguyễnVăn Nguyệt và bà Nguyễn Thị Hảo GCNQSDĐ đối với thửa đất số 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt. – Công văn ngày 1062016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND TP. Hải Dươngđã xác nhận về việc cấp GCNQSDĐ cho thửa số 496 nói trên cho Ông Nguyệt và Bà Hảo trong khuôn khổ cấp đồng loạt cho cả 30 hộ dân trong xã Thượng Đạt, bảo đảmđúng quy định của pháp luật và không chấp nhận yêu cầu hủy GCNQSDĐ này của Ông Nguyệt, bà Thoa và ông Cang. • Trong suốt thời gian sinh sống, cũng như từ khi Ông Nguyệt Bà Hảo được cấp GCN QSDĐ đến nay không phát sinh bất kỳ tranh chấp, khiếu nại nào. – Trong Công văn 1062016 của Phòng Tài nguyên và Môi trường UBND TP. HảiDương nêu rõ: ông Cang, bà Thoa đã biết việc Ông Nguyệt Bà Hảo được cấp GCNQSDĐ nhưng tất cả đều không có ý kiến về việc cấp GCNQSDĐ nêu trên; đồng thời các thành viên trong gia đình ông Cang, bà Thoa không ai có tranh chấp hay ý kiến phản đối gì. – Tại buổi hòa giải ngày 1952016, bà Thoa nêu rằng đã biết việc Ông Nguyệt và Bà Hảođược cấp GCNQSĐ và bà Thoa và mọi người trong gia đình không ai có ý kiến phản đối hay thắc mắc gì, không ai tranh chấp gì. – Tại biên bản xác minh ngày 2362016, ông Bích cán bộ địa chính xã Thượng Đạt xácnhận kể từ khi được cấp GCNQSDĐ đến nay Ông Nguyệt và Bà Hảo sử dụng đất ổn định không có tranh chấp với các hộ giáp rÔng cũng như với ông Cang, bà Thoa và các thành viên khác trong gia đình Ông Nguyệt. • Trong thời gian sống trên thửa đất số 496, Bà Hảo góp công cùng Ông Nguyệt tôn tạo cho thửa đất để biến thửa đất từ đất vùng trũng thành đất ở như hiện nay. Lúc ban đầu thửa đất này là đất vùng trũng sâu (đất ao) mới chỉ được san lấp được một phần để xây nhà và công trình phụ. Hai vợ chồng Bà Hảo và Ông Nguyệt hàng năm đã bỏ công sức và tiền ra tôn tạo mảnh đất mới được như hiện nay. – Tại bản xác minh ngày 09032016, ông Nguyễn Văn Bích, là cán bộ địa chính xã Thượng Đạt đã xác nhận rằng thửa đất này trước đây là vùng trũng. – Tại biên bản lấy lời khai ngày 09032016, ông Đỗ Văn Tạo, là hàng xóm của hai vợ chồng, đã nêu rõ tại thời điểm năm 2002 Bà Nguyệt và Ông Hảo đã ở trên thửa đất được một thời gian và khi đó diện tích vùng trũng chiếm khoảng ¾ thửa đất, ông Tạo đã giúp phun bùn bồi lắp và đến năm 2004 có thấy hai vợ chồng tiếp tục đắp thêm cho thửa đất vùng trũng này. Như vậy, các tài liệu và chứng cứ nêu trên cho thấy rõ ràng rằng bà Thoa và ông Cang đã giao lại toàn bộ thửa đất số 496 cho vợ chồng Bà Hảo và Ông Nguyệt sau khi hai người kết hôn năm 1999. Hai vợ chồng đã xây dựng một nhà để ở trên diện tích đất này. Bà Thoa, ông Cang và các thành viên trong gia đình Ông Nguyệt đều biết việc xây dựng này và không ai có ý kiến hay phản đối. Kể từ khi được cấp GCNQSDĐ năm 2005 đến khi có việc ly hôn của Bà Hảo và Ông Nguyệt đã hơn 10 năm, vợ chồng Bà Hảo và Ông Nguyệt đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định, gia đình bà Thoa, ông Cang cũng không ai có khiếu nại gì về việc cấp đất, xây nhà này. Điều đó thể hiện ý chí của gia đình bà Thoa, ông Cang là đã cho vợ chồng Bà Hảo Ông Nguyệt diện tích đất nêu trên. Trường hợp này, việc phân định thửa đất số 496 có thể được dẫn chiếu theo Án lệ số 032016AL: “Trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.” Từ những căn cứ nêu trên có thể khẳng định vợ chồng Ông Nguyệt – Bà Hảo được coi là được tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất 496, tờ bản đồ số 01. Theo Khoản 1 Điều 33 Luật HNGĐ 2014: “Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động,hoạt động sản xuất, kinh doÔng, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sảnkhác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng,trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.” Do đó căn cứ theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng thì quyền sử dụng đất này là phần tài sản chung của vợ chồng bà Hảo và ông Nguyệt. 3.2. Yêu cầu chia đôi thửa đất 496 của Bà Hảo là hợp pháp và hợp lý Về công sức đóng góp, tôn tạo thửa đất, tại các Biên bản ghi lời khai của Ông Quyết, Ông Cương, Ông Chuyển đều khẳng định thửa đất 496 khi mới mua về là vùng trũng, Bà Hảo đã có công sức cùng chồng lấp đất để san phẳng mặt bằng như hiện nay. Cùng với đó các lời khai cũng khẳng định Bà Hảo là người phụ nữ tần tảo, lo toan, vun vén cho gia đình. Vì vậy có thể khẳng định tài sản trên hình thành dựa trên công sức đóng góp của Bà Hảo trong thời kỳ hôn nhân. Theo Khoản 2, 3 Điều 59 Luật HNGĐ 2014: “Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn 1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sảndo các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của haivợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60,61, 62, 63 và 64 của Luật này. 2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sảnchung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doÔng và nghề nghiệp đểcác bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. 3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiệnvật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.” Vợ chồng Ông Nguyệt Bà Hảo khi kết hôn không có bất cứ thỏa thuận này về chế độ tài sản của vợ chồng trong hôn nhân, cũng như không thể thỏa thuận được việc phân chia tài sản thông qua hòa giải. Như vậy đối với tài sản chung là thửa đất số 496, căn cứ theo quy định tại Luật hôn nhân gia đình năm 2014, có tính đến các yếu tố hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng, công sức đóng góp của vợ chồng trong việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản chung, yêu cầu chia đôi thửa đất bằng hiện vật của Bà Hảo là hoàn toàn hợp pháp và hợp lý. Từ những phân tích nêu trên, toàn bộ yêu cầu của Bà Hảo, cụ thể là: i) Ly hôn ÔngNguyễn Văn Nguyệt; ii) Nuôi 02 con chung và không yêu cầu Ông Nguyệt cấp dưỡng; iii) Chia đôi tài sản chung là thửa đất số 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2, có địa chỉ tại xãThượng Đạt, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương bằng hiện vật là hoàn toàn hợp pháp và hợp lý. Vì vậy, tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Hảo. Thưa Hội đồng xét xử, trên đây là phần trình bày quan điểm của tôi đối với vụ án, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn. Tôi xin trân trọng cảm ơn Hội đồng xét xử, những người tham gia tố tụng và tham gia phiên tòa đã chú ý lắng nghe ý kiến của tôi Tp. Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 08 năm 2023 Luật sư (đã ký) YourName B. NHẬN XÉT DIỄN ÁN 1. Nhận xét chung về phiên tòa 2. Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa 3. Các hội thẩm nhân dân 4. Thư ký phiên tòa 5. Đại diện Viện kiểm sát 6. Nguyên đơn 7. Bị đơn 8. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn 9. Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn 10. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan
Trang 1BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU
ÁN
Môn: Kỹ Năng Cơ Bản Của Luật Sư Tham Gia
Giải Quyết Các Vụ Việc Dân sự
Hồ sơ: LS.DS-07 TRANH CHẤP
LY HÔN, NUÔI CON, CHIA TÀI SẢN
Nguyên đơn: Hoàng Thị Hảo
Bị đơn: Nguyễn Văn Nguyệt
Gv Hư ng d n ớng dẫn ẫn
Th c s NGUY N ạc sĩ NGUYỄN ĐỨC TĨNH ĩ NGUYỄN ĐỨC TĨNH ỄN ĐỨC TĨNH ĐỨC TĨNH C T NH ĨNH
Ngày diễn án : 13/08/2023
Trang 2Tp Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 08 năm 2023
MỤC LỤC
Bài thu hoạch diễn án dân sự HS.DS-07
I TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN 2
II NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN 3
1 Những vấn đề pháp lý cơ bản 3
2 Các vấn đề thống nhất và chưa thống nhất 5
3 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 6
III KẾ HOẠCH HỎI 7
1 Hỏi bị đơn – Ông Nguyễn Văn Nguyệt 8
2 Hỏi nguyên đơn – Bà Hoàng Thị Hảo 9
3 Hỏi người có nghĩa vụ liên quan 9
4 Hỏi người làm chứng 10
IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO NGUYÊN ĐƠN - BÀ HOÀNG THỊ HẢO 10
A BÀI THU HOẠCH
Trang 3Ngày 26/3/1999, Bà Hoàn Thị Hảo sinh năm 1976 và Ông Nguyễn Văn Nguyệt sinh năm 1978, sau thời gian tìm hiểu và tự nguyện đăng ký kết hôn tại Xã Thượng Đạt, huyện Nam Sách (nay là thành phố Hải Dương), tỉnh Hải Dương
Sau khi kết hôn và chung sống hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn, hai người sống ly thân hơn 01 năm kể từ năm 2014, không còn quan tâm đến nhau Bà Hảo và Ông Nguyệt đều xác định tình cảm vợ chồng không còn
Ngày 02/1/2016, Bà Hảo nộp đơn khởi kiện lên tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, yêu cầu được ly hôn với ông Hảo, yêu cầu được nuôi 2 con là Nguyễn Thị Nhi sinh ngày 04/01/2001 và Nguyễn Đức Anh sinh ngày 13/6/2007, không yêu cầu cấp dưỡng, yêu cầu chia đôi tài sản chung là nhà đất thửa số 496, tờ bản đồ số
01, diện tích 216 m2 đất tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương
Ngày 19/5/2016 Tòa án tiến hành hòa giải, đã thống nhất về quan hệ vợ chồng, hai ông bà nhất trí ly hôn Ngày 17/6/2016, Tòa án tiếp tục tiến hành hòa giải các nội dung được thống nhất như sau: về thuận tình ly hôn, về nợ chung còn
nợ 20.000.000 đồng, chia hai mỗi người trả 10.000.000 đồng Ngày 12/7/2016 tòa
án tiến hành hòa giải tiếp tục nhưng vẫn không thống nhất thêm được vấn đề gì
Sau quá trình làm việc tại giai đoạn chuẩn bị xét xử Bà Hảo có trình bày
và yêu cầu như sau:
Về ly hôn Bà Hảo trình bày do tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống được nên yêu cầu được ly hôn với ông Nguyệt.
Về việc nuôi con, Bà Hảo trình bày bà và ông Nguyệt có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Nhi (04/1/2001) và cháu Nguyễn Đức Anh (13/06/2007) và có yêu cầu được nuôi cả hai cháu mà không yêu cầu ông Nguyệt cấp dưỡng.
Về việc chia tài sản chung, bà và ông Nguyệt có tài sản chung là nhà đất tại thôn Thượng Trệt I, xã Thượng Đạt Đất có số thửa 496 tờ bản đồ số 01 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà và ông Nguyệt từ năm 2005 Trên đất có các tài sản là nhà, công trình phụ, tường bao, bể nước, giếng đào, chuồng lợn, chuối và một số cây ăn quả khác Bà yêu cầu được chia một nửa diện tích đất trên và xin được lấy phần không có tài sản, bà không có yêu chia đối với phần tài sản trên đất
Sau quá trình làm việc tại giai đoạn chuẩn bị xét xử ông Nguyệt có trình bày và yêu cầu như sau:
Về ly hôn ông Nguyệt nhất trí ly hôn với bà Hảo
Về nuôi con ông Nguyệt không đồng ý cho bà Hảo nuôi 02 con chung, đề nghị giao cháu Đức Anh cho ông trực tiếp nuôi dưỡng và hiện nay ông đang trực tiếp nuôi cháu Đức Anh, bà Hảo nuôi cháu Nhi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Về tài sản chung đối với phần tài sản trên đất ông thống nhất chia đôi và xin được nhận bằng hiện vật, trả tiền lại cho bà Hảo Còn phần đất đó là của bố mẹ
Trang 4Ông em ông, không phải là của chung giữa ông và bà Hảo, đề nghị không chia đất cho bà Hảo Bà Hảo không có một chút công sức nào trong việc tôn tạo, bồi đắp thửa đất mặc dù bà Hảo sống từ năm 1999 đến năm 2014 khi bà Hảo bỏ đi Và yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và bà Hảo vì cho rằng đây là tài sản của cha mẹ Ông em ông Nguyệt và cấp lại cho hộ gia đình bà Nguyễn Thị Thoa và ông Nguyễn Văn Cang.
Về nợ, ông Nguyệt và bà Hảo phải thanh toán số tiền còn nợ của Ngân hàng là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) và số tiền lãi phát sinh cho tới khi tất toán hợp đồng vay vào khoảng năm 2014 Bà Hảo và ông Nguyệt đã thế chấp tài sản chung của vợ chồng là quyền sử dụng đất nêu trên để vay 30.000.000 đồng tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn – chi nhánh Nam sách Hiện nay ông Nguyệt đã trả được 10.000.000 đồng, số tiền nợ còn lại là 20.000.000 đồng.
Ngày 13/08/2023 tòa án nhân dân Tp Hải Dương, tỉnh Hải Dương có Quyết định số 73/2017/QĐST-DS đưa vụ án tranh chấp về ly hôn, nuôi con và chia tài sản
ra xét xử
1 Những vấn đề pháp lý cơ bản
– Nguyên Đơn: Bà NGUYỄN THỊ HẢO Sinh năm 1978
ĐKHKTT: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Hiện trú tại: Thôn Nam Giang, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
– Bị Đơn: Ông NGUYỄN VĂN NGUYỆT Sinh năm 1976
ĐKHKTT: Thôn Thượng Triệt I, xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
– Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm: Cháu Nguyễn Thị Nhi; Cháu
Nguyễn Đức Anh; Bà Nguyễn Thị Thoa; Ông Nguyễn Văn Cang; Ông NguyễnVăn Giới; Ông Nguyễn Văn Quyết; Ông Nguyễn Văn Chuyển; Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi nhánh khu Tiền Trung, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
– Yêu cầu thuận tình ly hôn
– Tranh chấp nuôi con chung
– Tranh chấp tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
Bà Hoàng Thị Hảo có quyền khởi kiện vụ án theo quy định tại Điều 186 BLTTDS 2015
Trang 5– Vụ án thuộc trường hợp yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 2 Điều 29 BLTTDS 2015
– Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 37
– Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi bị đơn cư trú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39
Từ các căn cứ trên Toà án có thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm đối với tranh chấp này là Toà án nhân dân TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Vụ án này không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 155 Bộ Luật dân sự 2015
Căn cứ điều 52 và Điều 54 Luật Hôn Nhân & Gia Đình 2014, Nhà nước và
Xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn, nhưng không bắt buộc phải có thủ tục hòa giải trước khi nộp đơn khởi kiện ra tòa trong vụ
án này
Sau khi đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án tiến hành hòa giải theo quy
định của pháp luật về tố tụng dân sự: Đã có 3 lần hòa giải ngày 19/05/2016, 17/06/2017 và 12/07/2017
– Bộ Luật Dân sự 2015
– Luật Hôn nhân và Gia đình 2014
– Án lệ số 03/2016/AL về vụ án ly hôn được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 06 tháng 04 năm 2016 và được công bố theo Quyết định 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 04 năm 2016 của Chánh án Tòa
án nhân dân tối cao
2 Các vấn đề thống nhất và chưa thống nhất
– Về tình cảm: Nguyên đơn và bị đơn thuận tình ly hôn
– Về nợ chung: Khoản nợ đối với ngân hàng Agribank: nợ gốc 20.000.000 và số tiền lãi phát sinh cho đến khi tất toán hợp đồng Đã hoàn thành trả vào 28/06/2016 và ngân hàng Agribank đã hoàn trả lại GCN QSDĐ đối với thửa đất
496 (BL 148-154)
– Về tài sản chung: 1965m2 đất ruộng, ao khoán có địa chỉ tại Bãi Nam, khu 02 Thượng Triệt, xã Thượng Đạt, Tp Hải Dương để sử dụng vào mục đích chuyển đổi cơ cấu cây trồng Ban đầu, bà Hảo đề nghị được sử dụng ½ diện tích được khoán và Ông Nguyệt không đồng ý do Ông Nguyệt là người trực tiếp ký hợp đồng thuê khoán với UBND xã Thượng Đạt, quá trình sử dụng canh tác và hoàn
Trang 6thành các nghĩa vụ nộp tiền thuê, tiền thuế đều do Ông Nguyệt thực hiện; bà Hảo chỉ đóng góp công sức không đáng kể trên diện tích đất này Tuy nhiên, khi hòa giải, hai bên thống nhất không yêu cầu tòa án giải quyết nội dung này nữa
– Về con chung: Có 2 con chung là Nguyễn Thị Nhi (sinh 04/01/2001) và Nguyễn Đức Anh (sinh 13/06/2007) Kể từ khi ly thân, cháu Nhi đang sống cùng Bà Hảo, cháu Đức Anh sống cùng Ông Nguyệt
Bà Hảo yêu cầu nuôi cả 2 con chung
Ông Nguyệt không đồng ý cho Bà Hảo nuôi cả 2 con chung, Ông Nguyệt đề nghị Ông Nguyệt nuôi bé Đức Anh, Bà Hảo nuôi bé Nhi
Cả hai bên không yêu cầu bên kia phải cấp dưỡng nuôi con
– Về tài sản chung:
– Tài sản chung là nhà đất có số thửa
496, tờ bản đồ số 01, diện tích
216m2 tại xã Thượng Đạt, thành
phố Hải Dương
– Không có tài sản chung là thửa đất
số 496 Ông Nguyệt không đồng ý chia cho Bà Hảo
– Tài sản gắn liền trên đất bao gồm:
01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian
bếp và nhà vệ sinh khoảng 10m2, 1
giếng khơi, 1 bể xây gạch xi măng
khoảng 1,6m3 Đất đã được cấp
GCN QSDĐ mang tên Ông Nguyệt
và Bà Hảo Bà Hảo yêu cầu được
chia ½ diện tích đất, lấy phần không
có tài sản, tài sản trên đất không yêu
cầu chia
– Tài sản chung chỉ bao gồm 01 ngôi nhà 18m2 lợp ngói, 1 gian bếp và nhà
vệ sinh khoảng 10m2, 1 giếng khơi, 1
bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m3 Ông Nguyệt đồng ý chia đôi tài sản chung này, Ông đề nghị nhận hiện vật, trả tiền cho Bà Hảo
3 Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
– Ly hôn với Ông Nguyễn Văn Nguyệt;
– Nuôi 02 con chung, không yêu cầu Ông Nguyệt cấp dưỡng;
– Chia đôi tài sản chung là nhà, đất có số thửa 496, tờ bản đồ số 1, diện tích 216m2
tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương, không yêu cầu giải quyết các tài sản còn lại Tại đơn khởi kiện, Bà Hảo có yêu cầu chia đôi nhà đất nhưng sau đó, tại Biên bản hòa giải ngày 12/07/2016, Bà Hảo thay đổi yêu cầu: không yêu cầu chia tài sản trên đất mà chỉ yêu cầu chia ½ diện tích đất và xin được lấy phần không có tài sản
Trang 7Các chứng cứ ban đầu chứng minh yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ
và hợp pháp bao gồm:
– Bản sao sổ hộ khẩu gia đình số 270056469 (BL 05-07) – Xác minh tư cách cá nhân của Bà Hảo;
– Bản sao Giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/03/1999 (BL 02) – Hôn nhân giữa Ông Nguyệt và Bà Hảo là tự nguyện và đúng pháp luật;
– Bản sao Giấy khai sinh cháu Nhi số 73 quyển số 2014 và cháu Nguyễn Đức Anh
số 38 quyển số 2007 (BL 03-04) – Chứng minh về con chung;
– Đơn đề nghị của cháu Nhi (BL 30) – Chứng minh mong muốn được ở với mẹ của cháu Nhi;
– Đơn đề nghị của cháu Đức Anh (BL 31) – Chứng minh mong muốn được ở với
mẹ của cháu Đức Anh;
– Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 496 đứng tên Ông Nguyễn Văn Nguyệt và Bà Nguyễn Thị Hảo (BL 08-11) – Chứng minh về tài sản chung
3.3 Ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyệt đồng ý ly hôn với Bà Hảo
Về con chung: Ông Nguyệt không đồng ý việc Bà Hảo nuôi 02 con, Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đức Anh, giao cháu Nhi cho Bà Hảo nuôi dưỡng, những lý do sau:
– Bà Hảo không đủ điều kiện chăm sóc cả 2 con, bằng chứng là Bà đã cho bé Nhi hiện đang ở cùng mẹ phải nghỉ học Cháu Đức Anh ở với Ông Nguyệt
đã có Đơn đề nghị xin tiếp tục ở với bố;
– Ông Nguyệt đảm bảo có thể lo được cho cháu Đức Anh Đồng thời, nhà Ông Nguyệt gần trường học rất tiện lợi cho cháu Đức Anh đi học, có ông bà nội đưa đón đi học
Về tài sản chung, Ông Nguyệt có các ý kiến như sau:
– Tài sản chung của vợ chồng chỉ có duy nhất 01 ngôi nhà 18 m² lợp ngói, 01 gian bếp và nhà vệ sinh khoảng 10 m² , 01 giếng khơi, 01 bể xây gạch xi măng khoảng 1,6m³, ngoài ra không có gì nữa Ông Nguyệt đồng ý chia tài sản này, Ông nhận hiện vật, trả tiền cho Bà Hảo
– Về thửa đất 496, tờ bản đồ số 01, diện tích 216m2 tại xã Thượng Đạt, thành phố Hải Dương theo GCN QSD Đất H497 được UBND huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương cấp cho cả 02 vợ chồng ngày 31/12/2005: Không phải là tài sản chung của vợ Ông Nguyệt không đồng ý chia đất, yêu cầu hủy GCN QSDĐ của thửa đất 496 đã cấp cho Ông Nguyệt Bà Hảo Lý do Ông Nguyệt đưa ra:
Nguồn gốc đất là của mẹ Ông Nguyệt là bà Nguyễn Thị Thoa đã mua với giá 1.550.000 đồng, trong đó có 1.000.000 đồng là của
Trang 8Ông trai Ông Nguyệt là Ông Nguyễn Văn Quyết, 550.000 đồng là của em trai Ông Nguyệt là Ông Nguyễn Văn Chuyển, mẹ Ông Nguyệt đứng ra thực hiện giao dịch Năm 1999 bố mẹ Ông Nguyệt cho vợ chồng Ông Nguyệt Bà Hảo xây dựng công trình nhà ở trên đất để tách ra ở riêng;
Năm 2005, UBND xã Thượng Đạt và UBND huyện Nam Sách đã
tự làm GCN QSDĐ cho vợ chồng Ông Nguyệt Bà Hảo, Ông Nguyệt không đứng ra kê khai để được cấp GCN QSDĐ này Gia đình không ai biết nên không ai có ý kiến Sau này, Ông Nguyệt
đã thế chấp QSDĐ cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn để vay tiền
Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên
đơn là bà Hoàng Thị Hảo
Định hướng bảo vệ: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của
nguyên đơn
Định hướng, mục đích hỏi: Làm rõ vụ việc, chứng minh các yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn là có căn cứ cụ thể: làm rõ khả năng nuôi con của nguyên đơn, chứng minh nguồn gốc tài sản chung và công sức đóng góp của Bà Hảo vào tài sản trên
1 Hỏi bị đơn – Ông Nguyễn Văn Nguyệt
1.1. Ông và bà Hảo kết hôn năm nào? Sau khi ông bà kết hôn thì ông bà ở tại
đâu?
1.2. Anh Nguyệt cho biết, anh có thường xuyên chơi bài, uống rượu không?
1.3. Anh cho biết, trong thời gian hôn nhân, anh có từng có hành vi đánh chị
Hảo không?
1.4. Có phải ông và bà Hảo đã ly thân không còn sống chung với nhau nửa
phải không?
1.5. Việc bà Hảo yêu cầu ly hôn ông có đồng tình ly hôn hay không?
1.6. Các ông bà có bao nhiêu người con?
1.7. Hiện tại cháu Nhi đang sống với Bà Hảo đúng không ?
1.8. Ông có mặt tại nhà ngày 5/7/2016, tòa án thành phố Hải Dương lấy lời
khai cháu Đức Anh không?
1.9. Theo lời khai của Bà Hảo và cháu Đức Anh thì ông không cho cháu Đức
Anh gặp mẹ, điều này có đúng sự thật hay không?
1.10 Kể từ khi ly thân, cháu Đức Anh có được gặp mẹ không? Cháu được gặp
mẹ mấy lần?
1.11 Theo biên bản lấy lời khai cháu Nguyễn Đức Anh ngày 05/07/2016 tại
gia đình bố mẹ là ông Cang bà Thoa thì cháu Đức Anh muốn ở với ai sau khi Ông và Bà Hảo ly hôn?
Trang 91.12 Vợ chồng ông bà bắt đầu sinh sống tại thửa đất 496 tờ bản đồ số 01 vào
thời gian nào?
1.13 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 496, tờ bản đồ số 01 được
cấp thời gian nào?
1.14 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp tên ông và bà Nguyệt đúng
không?
1.15 Ông cho biết ai là người đăng ký kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa
đất 496 tờ bản đồ số 01?
1.16 Ai là người đóng tiền thuế sử dụng đất hàng năm đối với thửa đất trên? 1.17 Khi nhận giấy chứng nhận ông có ý kiến hay phản đối nào không?
1.18 Khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông và bà
Hảo, gia đình ông có ai phản đối về việc này không?
1.19 Ông cho rằng UBND thành phố Hải Dương cấp Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất cho ông và bà Hảo là sai, vậy tại sao thời điểm nhận được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông không khiếu nại hay yêu cầu cấp lại?
1.20 Việc Ông Bà xây nhà trên thửa số 496, tờ bản đồ số 01, gia đình Ông có
ai phản đối hay không?
1.21 Gia đình Ông có ai phụ tiền hay công sức xây dựng nhà trên thửa đất số
496, tờ bản đồ số 01 hay không?
1.22 Hai Ông Bà dùng mảnh đất này vay ngân hàng và cùng thực hiện nghĩa
vụ trả nợ tại ngân hàng Agribank đúng không?
1.23 Công việc hiện nay của ông là gì? Thu nhập bình quân hàng tháng của
ông là bao nhiêu? Có điều gì thể hiện việc này không?
2 Hỏi nguyên đơn – Bà Hoàng Thị Hảo
2.1. Cuộc sống hôn nhân hiện tại của bà và ông Nguyệt có hạnh phúc không?
2.2. Tại sao ông bà lại sống ly thân?
2.3. Ông Nguyệt có giúp bà chăm sóc, nuôi dạy con cái không?
2.4. Ông Nguyệt có khi nào đánh đập con cái không?
2.5. Trong thời gian sống ly thân cháu Đức Anh ở với ông Nguyệt đúng hay
không?
2.6. Ông Nguyệt có cho bà gặp cháu thường xuyên hay không? Mỗi lần bà
gặp cháu ông Nguyệt có biết không?
2.7. Ông Nguyệt thường xuyên chửa bới, đánh đập vợ con, mỗi lần bà đến
thăm cháu Đức Anh việc này có hay không?
2.8. Nguyện vọng sau ly hôn của cháu Nhi và cháu Đức Anh muốn sống
chung với bà phải không?
2.9. Bà cho biết hiện tại bà làm nghề gì? Thời gian làm việc của bà như thế
nào? Thu nhập như thế nào?
Trang 102.10 Bà có thực hiện việc kê khai và nộp thuế quyền sử dụng đất đối với thửa
đất 496, tờ bản đồ số 01 hay không?
2.11 Khi vợ chồng bà được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên gia
đình chồng bà có biết hay không? Có ai có ý kiến phản đối hay gì không?
3 Hỏi người có nghĩa vụ liên quan
– Bà có biết việc anh Nguyệt và chị Hảo được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số
496 không?
– Từ lúc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo được cấp GCNQSDĐ đến trước khi ly thân, bà có ý kiến gì không?
– Bà và chồng đã cho đất Ông Nguyệt và Bà Hảo xây nhà vào thời gian nào? – Việc vợ chồng anh chị Nguyệt – Hảo xây nhà trên thửa đất số 496, bà có ý kiến
gì không?
– Từ năm 1999 đến nay, bà có thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đối với thửa đất này không?
– Ông Nguyệt lên nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có ý kiến gì không? – Đến giờ có ai tranh chấp về thửa số 496, tờ bản đồ số 01 này không?
4 Hỏi người làm chứng
– Quy trình cấp GCN QSDĐ cho Ông Nguyệt Bà Hảo được thực hiện như thế nào? Có đúng quy trình pháp luật không?
– Sau khi vợ chồng Ông Nguyệt Bà Hảo được cấp GCNQSDĐ, UBND xã có nhận được bất kỳ ý kiến, thư khiếu nại nào không?
– Ông cho biết, có tranh chấp gì đối với thửa đất số 496 không?
– Ông cho biết, việc Ông Nguyệt đánh và không cho cháu Đức Anh gặp Bà Hảo
có được nhiều người biết không?
NGUYÊN ĐƠN - BÀ HOÀNG THỊ HẢO
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN LUẬN CỨ
(V/v Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nguyên đơn là bà Hoàng Thị Hảo)