A. BÀI THU HOẠCH I. TÓM TẮT VỤ ÁN 1. Nội dung vụ án Bà Nguyễn Thị Tuyết là chủ hộ kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dân có tên Hoàng Lan tại Tổ 9, Phường Đồng Lân, thành phố P, tỉnh G. L, được Uỷ ban nhân dân thành phố P, tỉnh G. L cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 19112012. Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 23122013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G. L đến kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan. Sau khi kiểm tra tra, Đoàn kiểm tra đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 11BBVPHC, với nội dung: “Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phòng 11 có ông Nguyễn Văn Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục). Phòng số 09 có ông Phan Văn và và Nguyễn Thị Thuỳ không có giấy kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi. Tại thời điểm kiểm tra phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành. Kết luận chủ cơ sở nhà trọ đăng ký Hoàng Lan thiếu tinh thần trách nhiệm để xảy ra vi phạm như trên”. Do cần xác minh thêm, nên ngày 16012014, Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G. L đã có Tờ trình số 02TTTTr, đề nghị Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt đến hết ngày 1132014 và đã được Giám đốc Sở phê duyệt. Căn cứ biên bản vi phạm trên, Ngày 1032014, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định số 23QĐXPHC ngày 1032014 xử phạt bà Nguyễn Thị Tuyết với lý do: “Đã có hành vi vi phạm hành chính: Tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm, ma túy, cờ bạc hoặc các hoạt động khác trái pháp luật. (Áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 1672013NĐCP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ.) Ngày 1832014, Thanh tra Sở Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh GL đã ban hành công văn số 022014CVTTr gửi đến bà Nguyễn Thị Tuyết để đính chính về mặt hình thức và nội dung của Quyết định số 23QĐXPHC. Ngày 2432014 bà Nguyễn Thị Tuyết gửi Đơn khiếu nại đến Chánh thanh tra sở, Giám đốc sở VHTTDL và Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ công an tỉnh G.L theo đó không đông ý với mức phạt trong quyết định. Ngày 07042014, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L có Công văn số 167CVVHTTDL trả lời lời đơn khiếu nại của bà Tuyết thanh tra sở ra quyết định sử phạt là đúng qui định pháp luật. Ngày 1142014 , bà Tuyết tiếp tục có đơn khiếu nại gửi đến Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh G.L, Giám Đốc sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh G.L, Giám Đốc sở công an tỉnh G.L. Ngày 2042014, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L đã ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 01QĐTTr đối với đơn khiếu nại của bà Tuyết với nội dung Giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23QĐXPHC ngày 1032014 của Chánh tranh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L. Bà Tuyết không đồng ý với nội dung của giải quyết khiếu nại của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L, ngày 0252014 đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23QĐXPHC ngày 1032014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Ngày 1352014, Tòa Hành chính – Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 012014TLHCST theo đơn khởi kiện của bà Tuyết. 2. Yêu cầu khởi kiện Yêu cầu Tòa án tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo Đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết cụ thể: Tuyên hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23QĐXPHC ngày 10032014. II. CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ 1. Đương sự trong vụ án 1.1. Người khởi kiện • Bà Nguyễn Thị Tuyết Sinh năm 1982 Địa chỉ: 266 Nguyễn Biểu, Thành phố P, tỉnh G.L • Người được ủy quyền: Mai Anh Tuấn Địa chỉ: 33 Minh Khai, Phường Bùi Thị Xuân, Tp.P, tỉnh G.L. Theo Giấy ủy quyền ngày 19052014 1.2. Người bị kiện • Trần Ngọc Minh Chức vụ: Phó giám đốc, kiêm Chánh Thanh tra. Đơn vị: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L • Người được ủy quyền: Dương Văn Thành Chức vụ: Phó Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch tỉnh G.L Địa chỉ: 06 Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnh G.L. 1.3. Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Thường; Bà Nguyễn Thị Lành; Ông Phan Văn; Bà Nguyễn Thị Thùy. 2. Đối tượng bị kiện Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23QĐXPHC ngày 10032014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L. 3. Điều kiện khởi kiện 3.1. Quyền khởi kiện và chủ thể khởi kiện Quyền khởi kiện: Căn cứ Điều 5, Điều 8, Khoản 1 Điều 115 Bộ luật TTHC 2015. • Quyết định số 23QĐXPHCQĐXPHC ngày 1032014 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Tuyết nên bà Tuyết có quyền khởi kiện. Chủ thể khởi kiện: Căn cứ Điều 54 Bộ luật TTHC 2015 • Đủ năng lực pháp luật: Khoản 1 điều 54 Bộ luật TTHC 2015; • Đủ năng lực hành vi: Khoản 2 điều 54 Bộ luật TTHC 2015 3.2. Thời hiệu khởi kiện Căn cứ Theo điểm a khoản 2 điều 116 Bộ luật TTHC 2015 Thời hiệu: 01 năm kể từ ngày Bà Nguyễn Thị Tuyết nhận được hoặc biết được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23QĐXPHCQĐXPHC Ngày nhận quyết định của bà Tuyết là 1732014, ngày 02052014 gửi đơn kiện tới Tòa án nhân dân. Như vậy vụ án của bà Tuyết vẫn trong thời hạn khởi kiện. Do đó, việc Bà Nguyễn Thị Tuyết nộp Đơn khởi kiện ngày 0252019 là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật. Tòa Hành chính – Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 012014TLHCST là phù hợp với quy định của pháp luật 4. Thẩm quyền tòa án Về thẩm quyền theo vụ việc: Căn cứ vào quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì khiếu kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Về thẩm quyền theo các cấp Tòa án: Theo khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm là Tòa Hành Chính – Tòa án nhân dân tỉnh G.L vì người khởi kiện kiện quyết định hành chính của Cơ quan hành chính cấp tỉnh (Chánh Thanh Tra Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch tỉnh GL) nên Tòa án có thẩm quyền là Tòa án hành chính thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định nơi người bị kiện có trụ sở 5. Các văn bản pháp luật áp dụng 5.1. Văn bản Pháp luật Tố tụng Luật Tố tụng hành chính 2010 có hiệu lực ngày 0172011 (có hiệu lực áp dụng tại thời điểm xảy ra vụ việc); Nghị quyết 022011NQHĐTP hướng dẫn thi hành Luật tố tụng hành chính do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 2972011 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 02); Luật Tố tụng hành chính 2015 có hiệu lực ngày 0172016 (do vụ án được xét xử tại thời điểm hiện nay nên áp dụng khoản 1 Điều 1 NQ 1042015QH13 thì áp dụng Luật tố tụng hành chính 2015); Nghị quyết số 1042015QH13 về việc Thi hành Luật Tố tụng Hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 104); Luật Khiếu nại 2011 có hiệu lực ngày 0172012 (Sau đây gọi tắt là Luật khiếu nại). 5.2. Văn bản Pháp luật nội dung Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 có hiệu lực ngày 0172013 (sau đây gọi tắt là Luật xử lý vi phạm hành chính); Nghị định số 812013NĐCP do Chính phủ ban hành ngày 1972013 quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị định 81); Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 102003PLUBTVQH11 ngày 1732003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh phòng, chống mại dâm); Nghị định số 1782004NĐCP do Chính phủ ban hành ngày 15102004 quy định chỉ tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm (sau đây gọi tắt là Nghị định 178); Nghị định 712009NĐCP do Chính phủ ban hành ngày 2882009 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch (sau đây gọi tắt là Nghị định 71); Nghị định số 722009NĐCP do Chính phủ ban hành ngày 0392009 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (sau đây gọi tắt là Nghị định 72) (tại thời điểm xảy ra vụ án) và hiện được thay thế bằng NÐ 962016NĐCP; Nghị định số 1582013NĐCP do Chính phủ ban hành ngày 12112013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo (sau đây gọi tắt là Nghị định 158); Nghị định số 732010NĐCP do Chính phủ ban hành ngày 1272010 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội (có hiệu lực tại thời điểm xảy ra vụ việc); Nghị định số 1672013NĐCP do Chính phủ ban hành ngày 12112013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (sau đây gọi tắt là Nghị định 167); Thông tư số 332010TTBCA ngày 05102010 của Bộ Công an quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (sau đây gọi tắt là Thông tư 33 có hiệu lực tại thời điểm xảy ra vụ việc) và hiện được thay thế bởi NÐ 422017TTBCA. III. KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết. Định hướng bảo vệ: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện, tuyên hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23QĐXP ngày 1032014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL. Định hướng, mục đích hỏi: Để chứng minh Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23QĐXP ngày 1032014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL là trái quy định pháp luật. 1. Hỏi người bị kiện 1.1. Những ai là người tiến hành thanh tra kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan của Bà Tuyết? Khi kiểm tra Bà Tuyết có hợp tác không? 1.2. Việc kiểm tra cơ sở nhà bà Tuyết là đột xuất hay theo định kỳ? 1.3. Bà Nguyễn Thị Thùy Trang tham gia ký biên bản vi phạm hành chính số 11BBVPHC ngày 23122013 với tư cách gì? 1.4. Tại sao nội dung biên bản không ghi nhận tư cách của bà Trang? 1.5. Biên bản số 11BBVPHC vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch được lập vào ngày 23122013 đúng không? 1.6. Tại sao Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23QĐXP ghi nhận căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 21122013? 1.7. Biên bản số 11BBVPHC vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch dẫn chiếu Nghị định 1582013NĐCP ngày 12112013 đúng không? 1.8. Ngày có hiệu lực của Nghị định Nghị định 1582013NĐCP ban hành ngày 12112013 là ngày 112014 đúng không? 1.9. Ngoài Biên bản vi phạm được lập ngày 23122013 thì còn biên bản nào khác ghi nhận hành vi vi phạm của nhà trọ Hoàng Lan không? 1.10. Khi ban hành Quyết định số 23QĐXP, ông có căn cứ Nghị định 672013NĐCP để giải quyết không? 1.11. Đề nghị ông cho biết thời gian Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch G.L ra quyết định xử phạt số 23QĐXPHC 1.12. Quyết định xử phạt có ghi ngày ban hành không? Sau đó cơ quan đã sửa bằng văn bản gì để quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23QĐXPHC có ngày ban hành và ngày có hiệu lực 1.13. Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thời hạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính kể từ khi lập biên bản là bao nhiêu ngày? 1.14. Thời gian từ lúc lập Biên bản số 11BBVPHC đến lúc ra Quyết định số 23QĐXP ngày 1032014 là vượt quá 77 ngày có đúng không? 1.15. Như vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 trong trường hợp quá thời hạn xử phạt hình cơ quan có thẩm quyền không được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đúng không? 1.16. Tờ trình số 02TTTTr ngày 16012014 xin gia hạn thời gian ra quyết định xử phạt không có chữ ký của ông Nguyễn Thạc đúng không? 1.17. Theo quy định pháp luật thì ai là người có thẩm quyền làm văn bản xin gia hạn thời gian ra quyết định xử phạt? 1.18. Nam nữ thuê nhà trọ nghỉ có bắt buộc xuất trình giấy đăng ký kết hôn cho chủ cơ sở hay không? Nếu có thì được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật nào? 1.19. Việc bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng tại cơ sở lưu trú có phải là quy định bắt buộc không? Nếu có thì được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật nào? 1.20. Khi cho thuê phòng trọ 1 nam và 1 nữ chủ cơ sở kinh doanh có quyền kiểm tra giấy chứng nhận kết hôn hay phải có nghĩa vụ kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kết hôn khi cho thuê trọ hay không? 2. Hỏi người làm chứng 2.1. Hỏi Ông Nguyễn Văn Thường Vào 21h10 ngày 21112013, Anh và chị Lành làm gì, ở đâu? Anh chị có giấy đăng ký kết hôn không? Tại buổi kiểm tra, đoàn kiểm tra có yêu cầu ông viết bản tường trình không? Theo bản tường trình 23122013 ông gọi bà Lành là vợ, ông và bà Lành có phải quan hệ vợ chồng hay không? Khi vào nhà trọ Hoàng Lan giữa ông và bà Lành có phát sinh quan hệ về tiền bạc hay không? Từ ngày xảy ra vụ việc tại nhà nghỉ Hoàng Lan đến nay có cơ quan chức năng nào liên hệ làm việc với ông về sự việc ngày 23122013 tại nhà nghỉ Hoàng Lan không? 2.2. Hỏi ông Phan Văn Anh với chị Thùy làm lễ đám hỏi khi nào? Tại sao anh và chị Thùy không đăng ký kết hôn? Anh có ý kiến thế nào về việc bị cho là đang mua bán dâm? 2.3. Hỏi bà Nguyễn Thị Thùy Mối quan hệ giữa bà và ông Phan Văn? Chị đã có thai nhưng do ông ngoại chết nên phải đình lại đám cưới, đúng không? Khi đến nhà trọ Hoàng Lan anh chị xuất trình đầy đủ giấy tờ đúng hay không? 3. Hỏi người khởi kiện 3.1. Hộ của bà có giấy phép kinh doanh nhà trọ được cơ quan có thẩm quyền cấp không? 3.2. Khi đăng ký kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan bà có được phổ biến về việc phải kiểm tra giấy đăng ký kết hôn khi cho 1 nam 1 nữ thuê phòng không hoặc trong quy định thuê trọ có quy định nào tương tự không? 3.3. Khi khách vào thuê trọ, bà có yêu cầu khách hàng xuất trình chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu không? 3.4. Đoàn kiểm tra của Sở Văn Hóa thể thao du lịch đã kiểm tra cơ sở kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan của Bà vào thời gian nào? Lúc đó có lập biên bản vi phạm hay chưa? Bà có nhận được biên bản không? 3.5. Khi xảy ra sự việc kiểm tra thì có những ai ở đó? Họ đã chứng kiện vụ việc trong khoảng thời gian nào? Sau khi lập biên bản thì những ai đã ký vào biên bản? 3.6. Bà nhận được Quyết định 23QĐXPHC vào ngày nào? 3.7. Thanh tra Sở có thông báo cho bà để lên nhận quyết định xử phạt không? 3.8. Tại sao bà khởi kiện hành chính Quyết định 23QĐXPHC? 3.9. Trong quá trình giải quyết, Thanh tra Sở có gửi giấy mời cho bà lên làm việc không? 3.10. Sau khi Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23QĐXPHC được ban hành ngày 10032014, hoạt động kinh doanh của cơ sở tình hình như thế nào? 3.11. Bà có yêu cầu Bên bị kiện bồi thường thiệt hại gì không?
Trang 1
BỘ TƯ PHÁP HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ Năng Cơ Bản Của Luật Sư Khi Tham Gia Giải Quyết Các Vụ Án Hành Chính
Hồ sơ: LS.HC-12 Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Tuyết
Ngày diễn án: 15/04/2023
Họ và tên : Ngày sinh :
Gv Hướng dẫn Luật sư TRƯƠNG CÔNG KHOA
Tp Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 04 năm 2023
Trang 2A BÀI THU HOẠCH
I TÓM TẮT VỤ ÁN
1 Nội dung vụ án
Bà Nguyễn Thị Tuyết là chủ hộ kinh doanh dịch vụ nhà trọ bình dân có tên Hoàng Lan tại Tổ 9, Phường Đồng Lân, thành phố P, tỉnh G L, được Uỷ ban nhân dân thành phố P, tỉnh G L cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh ngày 19/11/2012
Vào khoảng 21 giờ 10 phút ngày 23/12/2013, Đoàn kiểm tra của Thanh tra
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G L đến kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan Sau khi kiểm tra tra, Đoàn kiểm tra đã lập Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC, với nội dung:
“Tại thời điểm kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan, phòng 11 có ông Nguyễn Văn
Thường và bà Nguyễn Thị Lành không có giấy kết hôn đang quan hệ vợ chồng (quan hệ tình dục) Phòng số 09 có ông Phan Văn và và Nguyễn Thị Thuỳ không có giấy kết hôn đang ở chung phòng xem ti vi Tại thời điểm kiểm tra phòng số 11, chủ cơ sở kinh doanh phòng trọ Hoàng Lan không vào sổ bà Nguyễn Thị Lành Kết luận chủ cơ sở nhà trọ đăng ký Hoàng Lan thiếu tinh
thần trách nhiệm để xảy ra vi phạm như trên”
Do cần xác minh thêm, nên ngày 16/01/2014, Chánh Thanh tra Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G L đã có Tờ trình số 02/TT-TTr, đề nghị Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt đến hết ngày 11/3/2014 và đã được Giám đốc Sở phê duyệt
Căn cứ biên bản vi phạm trên, Ngày 10/3/2014, Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Gia Lai đã ban hành Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 xử phạt bà Nguyễn Thị Tuyết với lý do: “Đã có hành vi vi phạm hành chính: Tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện
về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm, ma túy, cờ bạc hoặc các hoạt động khác trái pháp luật (Áp dụng khoản 1 Điều 25 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ.)
Ngày 18/3/2014, Thanh tra Sở Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh GL đã ban hành công văn số 02/2014/CV-TTr gửi đến bà Nguyễn Thị Tuyết để đính chính
về mặt hình thức và nội dung của Quyết định số 23/QĐ-XPHC
Ngày 24/3/2014 bà Nguyễn Thị Tuyết gửi Đơn khiếu nại đến Chánh thanh tra sở, Giám đốc sở VHTT&DL và Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật
tự quản lý kinh tế và chức vụ công an tỉnh G.L theo đó không đông ý với mức phạt trong quyết định
Ngày 07/04/2014, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L có Công văn số 167/CV-VHTTDL trả lời lời đơn khiếu nại của bà Tuyết thanh tra sở ra quyết định
sử phạt là đúng qui định pháp luật
Ngày 11/4/2014 , bà Tuyết tiếp tục có đơn khiếu nại gửi đến Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh G.L, Giám Đốc sở văn hóa, thể thao và du lịch tỉnh G.L, Giám Đốc sở công an tỉnh G.L
Ngày 20/4/2014, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
đã ra Quyết định giải quyết khiếu nại số 01/QĐ-TTr đối với đơn khiếu nại của bà
Trang 3Tuyết với nội dung Giữ nguyên Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh tranh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
Bà Tuyết không đồng ý với nội dung của giải quyết khiếu nại của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L, ngày 02/5/2014 đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch
Ngày 13/5/2014, Tòa Hành chính – Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 01/2014/TL-HCST theo đơn khởi kiện của bà Tuyết
2 Yêu cầu khởi kiện
Yêu cầu Tòa án tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện theo Đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết cụ thể: Tuyên hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC ngày 10/03/2014
II CÁC VẤN ĐỀ PHÁP LÝ
1 Đương sự trong vụ án
1.1 Người khởi kiện
• Bà Nguyễn Thị Tuyết Sinh năm 1982
Địa chỉ: 266 Nguyễn Biểu, Thành phố P, tỉnh G.L
• Người được ủy quyền: Mai Anh Tuấn
Địa chỉ: 33 Minh Khai, Phường Bùi Thị Xuân, Tp.P, tỉnh G.L
Theo Giấy ủy quyền ngày 19/05/2014
1.2 Người bị kiện
• Trần Ngọc Minh
Chức vụ: Phó giám đốc, kiêm Chánh Thanh tra
Đơn vị: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
• Người được ủy quyền: Dương Văn Thành
Chức vụ: Phó Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du Lịch tỉnh G.L
Địa chỉ: 06 Trần Hưng Đạo, thành phố P, tỉnh G.L
1.3 Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Thường; Bà Nguyễn Thị Lành;
Ông Phan Văn; Bà Nguyễn Thị Thùy
2 Đối tượng bị kiện
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và
du lịch số 23/QĐ/XPHC ngày 10/03/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L
3 Điều kiện khởi kiện
3.1 Quyền khởi kiện và chủ thể khởi kiện
− Quyền khởi kiện: Căn cứ Điều 5, Điều 8, Khoản 1 Điều 115 Bộ luật TTHC
2015
Trang 4• Quyết định số 23/QĐ-XPHC/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị Tuyết nên bà Tuyết có quyền khởi kiện
− Chủ thể khởi kiện: Căn cứ Điều 54 Bộ luật TTHC 2015
• Đủ năng lực pháp luật: Khoản 1 điều 54 Bộ luật TTHC 2015;
• Đủ năng lực hành vi: Khoản 2 điều 54 Bộ luật TTHC 2015
3.2 Thời hiệu khởi kiện
Căn cứ Theo điểm a khoản 2 điều 116 Bộ luật TTHC 2015
Thời hiệu: 01 năm kể từ ngày Bà Nguyễn Thị Tuyết nhận được hoặc biết được Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC/QĐ-XPHC
Ngày nhận quyết định của bà Tuyết là 17/3/2014, ngày 02/05/2014 gửi đơn kiện tới Tòa án nhân dân Như vậy vụ án của bà Tuyết vẫn trong thời hạn khởi kiện
Do đó, việc Bà Nguyễn Thị Tuyết nộp Đơn khởi kiện ngày 02/5/2019 là còn thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật
Tòa Hành chính – Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 01/2014/TL-HCST là phù hợp với quy định của pháp luật
4 Thẩm quyền tòa án
Về thẩm quyền theo vụ việc: Căn cứ vào quy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính năm 2015 thì khiếu kiện của bà Nguyễn Thị Tuyết thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
Về thẩm quyền theo các cấp Tòa án: Theo khoản 1 Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015, Tòa án có thẩm quyền giải quyết cấp sơ thẩm là Tòa Hành Chính – Tòa án nhân dân tỉnh G.L vì người khởi kiện kiện quyết định hành chính của Cơ quan hành chính cấp tỉnh (Chánh Thanh Tra Sở Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch tỉnh GL) nên Tòa án có thẩm quyền là Tòa án hành chính thuộc Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi có trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định nơi người bị kiện
có trụ sở
5 Các văn bản pháp luật áp dụng
5.1 Văn bản Pháp luật Tố tụng
− Luật Tố tụng hành chính 2010 có hiệu lực ngày 01/7/2011 (có hiệu lực áp dụng
tại thời điểm xảy ra vụ việc);
− Nghị quyết 02/2011/NQ-HĐTP hướng dẫn thi hành Luật tố tụng hành chính do Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 29/7/2011 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 02);
− Luật Tố tụng hành chính 2015 có hiệu lực ngày 01/7/2016 (do vụ án được xét xử
tại thời điểm hiện nay nên áp dụng khoản 1 Điều 1 NQ 104/2015/QH13 thì áp dụng Luật tố tụng hành chính 2015);
− Nghị quyết số 104/2015/QH13 về việc Thi hành Luật Tố tụng Hành chính (sau
đây gọi tắt là Nghị quyết 104);
− Luật Khiếu nại 2011 có hiệu lực ngày 01/7/2012 (Sau đây gọi tắt là Luật khiếu nại)
5.2 Văn bản Pháp luật nội dung
Trang 5− Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 có hiệu lực ngày 01/7/2013 (sau đây gọi tắt
là Luật xử lý vi phạm hành chính);
− Nghị định số 81/2013/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 19/7/2013 quy định chỉ tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính (sau đây gọi tắt là Nghị định 81);
− Pháp lệnh phòng, chống mại dâm số 10/2003/PL-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (sau đây gọi tắt là Pháp lệnh phòng, chống mại dâm);
− Nghị định số 178/2004/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 15/10/2004 quy định chỉ tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh phòng, chống mại dâm (sau đây gọi tắt là Nghị định 178);
− Nghị định 71/2009/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 28/8/2009 về tổ chức
và hoạt động của Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lịch (sau đây gọi tắt là Nghị định 71);
− Nghị định số 72/2009/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 03/9/2009 quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (sau đây gọi tắt là Nghị định 72) (tại thời điểm xảy ra vụ án) và hiện được thay thế bằng NÐ 96/2016/NĐ-CP;
− Nghị định số 158/2013/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo (sau đây gọi tắt là Nghị định 158);
− Nghị định số 73/2010/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 12/7/2010 quy định
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội (có hiệu lực tại thời điểm xảy ra vụ việc);
− Nghị định số 167/2013/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình (sau đây gọi tắt là Nghị định 167);
− Thông tư số 33/2010/TT-BCA ngày 05/10/2010 của Bộ Công an quy định cụ thể điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề kinh doanh có điều kiện (sau đây gọi tắt là Thông tư 33 - có hiệu lực tại thời điểm xảy ra vụ việc) và hiện được thay thế bởi NÐ 42/2017/TT-BCA
III KẾ HOẠCH HỎI TẠI PHIÊN TÒA
Tư cách tham gia xét hỏi: Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết
Định hướng bảo vệ: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của
người khởi kiện, tuyên hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL
Định hướng, mục đích hỏi: Để chứng minh Quyết định xử phạt vi phạm hành
chính trong hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch số 23/QĐ-XP ngày 10/3/2014
Trang 6của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL là trái quy định pháp luật
1 Hỏi người bị kiện
1.1 Những ai là người tiến hành thanh tra kiểm tra nhà trọ Hoàng Lan của Bà
Tuyết? Khi kiểm tra Bà Tuyết có hợp tác không?
1.2 Việc kiểm tra cơ sở nhà bà Tuyết là đột xuất hay theo định kỳ?
1.3 Bà Nguyễn Thị Thùy Trang tham gia ký biên bản vi phạm hành chính số
11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 với tư cách gì?
1.4 Tại sao nội dung biên bản không ghi nhận tư cách của bà Trang?
1.5 Biên bản số 11/BB-VPHC vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa,
thể thao và du lịch được lập vào ngày 23/12/2013 đúng không?
1.6 Tại sao Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XP ghi nhận
căn cứ vào Biên bản vi phạm hành chính lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 21/12/2013?
1.7 Biên bản số 11/BB-VPHC vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa,
thể thao và du lịch dẫn chiếu Nghị định 158/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 đúng không?
1.8 Ngày có hiệu lực của Nghị định Nghị định 158/2013/NĐ-CP ban hành
ngày 12/11/2013 là ngày 1/1/2014 đúng không?
1.9 Ngoài Biên bản vi phạm được lập ngày 23/12/2013 thì còn biên bản nào
khác ghi nhận hành vi vi phạm của nhà trọ Hoàng Lan không?
1.10 Khi ban hành Quyết định số 23/QĐ-XP, ông có căn cứ Nghị định
67/2013/NĐ-CP để giải quyết không?
1.11 Đề nghị ông cho biết thời gian Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và
Du lịch G.L ra quyết định xử phạt số 23/QĐ-XPHC
1.12 Quyết định xử phạt có ghi ngày ban hành không? Sau đó cơ quan đã sửa
bằng văn bản gì để quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC có ngày ban hành và ngày có hiệu lực
1.13 Căn cứ vào Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thời hạn ra Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính kể từ khi lập biên bản là bao nhiêu ngày?
1.14 Thời gian từ lúc lập Biên bản số 11/BB-VPHC đến lúc ra Quyết định số
23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 là vượt quá 77 ngày có đúng không?
1.15 Như vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 66 Luật xử lý vi phạm hành chính
2012 trong trường hợp quá thời hạn xử phạt hình cơ quan có thẩm quyền không được ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đúng không?
1.16 Tờ trình số 02/TT-TTr ngày 16/01/2014 xin gia hạn thời gian ra quyết
định xử phạt không có chữ ký của ông Nguyễn Thạc đúng không?
1.17 Theo quy định pháp luật thì ai là người có thẩm quyền làm văn bản xin
gia hạn thời gian ra quyết định xử phạt?
Trang 71.18 Nam nữ thuê nhà trọ nghỉ có bắt buộc xuất trình giấy đăng ký kết hôn cho
chủ cơ sở hay không? Nếu có thì được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật nào?
1.19 Việc bố trí phòng nghỉ nam riêng, nữ riêng tại cơ sở lưu trú có phải là quy
định bắt buộc không? Nếu có thì được quy định tại văn bản quy phạm pháp luật nào?
1.20 Khi cho thuê phòng trọ 1 nam và 1 nữ chủ cơ sở kinh doanh có quyền
kiểm tra giấy chứng nhận kết hôn hay phải có nghĩa vụ kiểm tra giấy chứng nhận đăng ký kết hôn khi cho thuê trọ hay không?
2 Hỏi người làm chứng
2.1 Hỏi Ông Nguyễn Văn Thường
− Vào 21h10 ngày 21/11/2013, Anh và chị Lành làm gì, ở đâu? Anh chị có giấy đăng ký kết hôn không?
− Tại buổi kiểm tra, đoàn kiểm tra có yêu cầu ông viết bản tường trình không?
− Theo bản tường trình 23/12/2013 ông gọi bà Lành là vợ, ông và bà Lành có phải quan hệ vợ chồng hay không?
− Khi vào nhà trọ Hoàng Lan giữa ông và bà Lành có phát sinh quan hệ về tiền bạc hay không?
− Từ ngày xảy ra vụ việc tại nhà nghỉ Hoàng Lan đến nay có cơ quan chức năng nào liên hệ làm việc với ông về sự việc ngày 23/12/2013 tại nhà nghỉ Hoàng Lan không?
2.2 Hỏi ông Phan Văn
− Anh với chị Thùy làm lễ đám hỏi khi nào?
− Tại sao anh và chị Thùy không đăng ký kết hôn?
− Anh có ý kiến thế nào về việc bị cho là đang mua bán dâm?
2.3 Hỏi bà Nguyễn Thị Thùy
− Mối quan hệ giữa bà và ông Phan Văn?
− Chị đã có thai nhưng do ông ngoại chết nên phải đình lại đám cưới, đúng không?
− Khi đến nhà trọ Hoàng Lan anh chị xuất trình đầy đủ giấy tờ đúng hay không?
3 Hỏi người khởi kiện
3.1 Hộ của bà có giấy phép kinh doanh nhà trọ được cơ quan có thẩm quyền
cấp không?
3.2 Khi đăng ký kinh doanh nhà trọ Hoàng Lan bà có được phổ biến về việc
phải kiểm tra giấy đăng ký kết hôn khi cho 1 nam 1 nữ thuê phòng không hoặc trong quy định thuê trọ có quy định nào tương tự không?
3.3 Khi khách vào thuê trọ, bà có yêu cầu khách hàng xuất trình chứng minh
nhân dân hoặc hộ chiếu không?
Trang 83.4 Đoàn kiểm tra của Sở Văn Hóa thể thao du lịch đã kiểm tra cơ sở kinh
doanh nhà trọ Hoàng Lan của Bà vào thời gian nào? Lúc đó có lập biên bản vi phạm hay chưa? Bà có nhận được biên bản không?
3.5 Khi xảy ra sự việc kiểm tra thì có những ai ở đó? Họ đã chứng kiện vụ
việc trong khoảng thời gian nào? Sau khi lập biên bản thì những ai đã ký vào biên bản?
3.6 Bà nhận được Quyết định 23/QĐ-XPHC vào ngày nào?
3.7 Thanh tra Sở có thông báo cho bà để lên nhận quyết định xử phạt không?
3.8 Tại sao bà khởi kiện hành chính Quyết định 23/QĐ-XPHC?
3.9 Trong quá trình giải quyết, Thanh tra Sở có gửi giấy mời cho bà lên làm
việc không?
3.10 Sau khi Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa,
thể thao và du lịch số 23/QĐ-XPHC được ban hành ngày 10/03/2014, hoạt động kinh doanh của cơ sở tình hình như thế nào?
3.11 Bà có yêu cầu Bên bị kiện bồi thường thiệt hại gì không?
IV BẢN LUẬN CỨ BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CHO
NGƯỜI KHỞI KIỆN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BẢN LUẬN CỨ
(V/v Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Tuyết)
− Vị đại diện Viện Kiểm sát
− Thưa các Luật sư đồng nghiệp
Tôi là Luật sư … – thuộc Văn phòng Luật sư K24.2N - Đoàn Luật Sư thành phố Hồ Chí Minh, tham gia phiên tòa ngày hôm nay với vai trò là Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị Tuyết, là người khởi kiện Quyết định
xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch số
23/QĐ-XP ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh GL
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và qua phần hỏi đáp tranh tụng công khai tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, tôi xin trình bày quan điểm bảo vệ quyền lợi người khởi kiện như sau:
1 Về thẩm quyền tòa án:
Quyết định 23/QĐ-XPHC thuộc đối tượng khởi kiện hành chính, tức thuộc thẩm quyền của Tòa án theo điểm a Khoản 1 Điều 30 Luật tố tụng hành chính 2015 (Luật TTHC 2015)
Quyết định 23/QĐ-XPHC là quyết định xử phạt vi phạm hành chính của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L Căn cứ Khoản 3 Điều
32 Luật tố tụng hành chính, việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với khiếu kiện
Trang 9quyết định này thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp tỉnh trên cùng phạm vi địa giới hành chính với cơ quan nhà nước có người có thẩm quyền ra quyết định hành chính
Như vậy, Tòa án nhân dân tỉnh G.L là có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm vụ
án này do đó việc Tòa án nhân dân tỉnh G.L đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục sơ thẩm là phù hợp với quy định của Luật TTHC 2015
2 Về thời hiệu khởi kiện:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ của vụ án thì bà Tuyết là đối tượng bị tác động trực tiếp bởi Quyết định 23/QĐ-XPHC do đó căn cứ vào điểm a Khoản 2 Điều
116 Luật TTHC 2015 thì thời hiệu khởi kiện đối với Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L là 01 năm kể từ ngày bà Tuyết nhận được quyết định (17/3/2014)
Theo hồ sơ vụ án thì bà Tuyết làm đơn khởi kiện ngày 02/5/2014 và Tòa án nhân dân tỉnh G.L đã thụ lý vụ án hành chính sơ thẩm số 01/2014/TL-HCST vào ngày 13/5/2014 là phù hợp với quy định của pháp luật
3 Về nội dung yêu cầu khởi kiện:
Bà Tuyết yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh G.L tuyên hủy bỏ Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 10/3/2014 của Chánh Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh G.L là hoàn toàn có cơ sở bởi Quyết định này có những vi phạm như sau:
Thứ nhất, Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành quá thời hạn quy định
Theo quy định Luật xử lý vi phạm hành chính, đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp mà không thuộc trường hợp giải trình hoặc đối với vụ việc thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật này thì thời hạn ra quyết định xử phạt tối đa là 30 ngày, kể từ ngày lập biên bản Bên cạnh
đó, trường hợp vụ việc đặc biệt nghiêm trọng, có nhiều tình tiết phức tạp và thuộc trường hợp giải trình theo quy định tại đoạn 2 khoản 2 và khoản 3 Điều 61 của Luật
Xử lý vi phạm hành chính mà cần có thêm thời gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày
Căn cứ khoản 1 Điều 66 và điểm c khoản 1 Điều 65 Luật xử lý vi phạm hành
chính năm 2012 thì thời hạn ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tối đa
là 60 ngày (kể cả thời gian gia hạn) tính từ thời điểm lập Biên bản vi phạm hành
chính; quá thời hạn này thì không được ban hành quyết định xử phạt
Theo đó, Đoàn kiểm tra của Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L kiểm tra cơ sở kinh doanh của bà Nguyễn Thị Tuyết và lập Biên bản vi phạm
hành chính số 11/BBVPHC vào ngày 23/12/2013 Tuy nhiên, mãi đến ngày 10/03/2014, Thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tỉnh G.L mới ban hành
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ- XPHC đối với bà Nguyễn Thị Tuyết Thời điểm ra Quyết định xử phạt cách thời điểm lập Biên bản vi phạm hành
chính là 77 ngày
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 23/QĐ-XPHC được ban hành vào ngày 10/03/2014 là vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính và thuộc trường hợp không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì không thể có hiệu lực bắt buộc thi hành
Thứ hai, người bị kiện áp dụng sai văn bản quy phạm pháp luật khi ban hành Quyết định số 23/QĐ-XP
Trang 10Trong Quyết định số 23/QĐ-XP và tại phiên tòa ngày hôm nay, người bị kiện thừa nhận rằng đã áp dụng Nghị định số 167/2013/NĐ-CP để xử lý hành vi của
bà Tuyết, việc áp dụng Nghị định số 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 là không đúng đối tượng và phạm vị điều chỉnh của văn bản Bởi lẽ Nghị định này quy định
về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình Việc đoàn kiểm tra nêu sai tên văn bản là một vi phạm nghiêm trong việc ban hành quyết định
Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 về Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình của Chính phủ (sau
đây gọi tắt là Nghị định 167/2013/NĐ-CP) có hiệu lực thi hành kể từ ngày 28/12/2013 (theo khoản 1 Điều 72 Nghị định này) nhưng hành vi của bà Tuyết xảy
ra trước đó tức vào ngày 23/12/2013
Căn cứ khoản 1 Điều 83 Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm
2008 thì “Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng từ thời điểm bắt đầu có hiệu
lực Văn bản quy phạm pháp luật được áp dụng đối với hành vi xảy ra tại thời điểm
mà văn bản đó đang có hiệu lực Trong trường hợp văn bản có hiệu lực trở về trước thì áp dụng theo quy định đó”
Tại thời điểm xảy ra hành vi của bà Tuyết thì Nghị định số 73/2010/NĐ-CP
đang có hiệu lực áp dụng Giả thiết là hành vi của bà Tuyết là có vi phạm thì căn cứ
điểm đ khoản 3 Điều 14 Nghị định số 73/2010/NĐ-CP, bà Tuyết chỉ bị xem xét phạt tiền từ 5.000.0000 đồng đến 15.000.000 đồng nhưng căn cứ Điều 25 Nghị định
số 167/2013/NĐ-CP thì bà Tuyết bị xem xét phạt tiền mức khởi điểm là từ 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng Như vậy tại Nghị định 167/2013/NĐ-CP trong trường hợp này sẽ làm tăng trách nhiệm hành chính và không có lợi cho người
vi phạm
Căn cứ Điều 73 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP thì Nghị định này chỉ được
áp dụng hồi tố nếu có các quy định có lợi cho người vi phạm: “Đối với hành vi vi
phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình xảy ra trước ngày Nghị định này có hiệu lực mà sau đó mới bị phát hiện hoặc đang xem xét, giải quyết, thì áp dụng các quy định có lợi cho cá nhân, tổ chức vi phạm.”
Do đó, Nghị định số 73/2010/NĐ-CP đương nhiên được áp dụng để xem xét hành vi của bà Tuyết mà không phải là Nghị định số 167/2013/NĐ-CP
Thứ ba, Quyết định số 23/QĐ-XP được ban hành để xử phạt hành vi không xảy
ra
Quyết định số 23/QĐ-XP căn cứ Biên bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC ngày 23/12/2013 để xử phạt bà Tuyết hành vi thiếu tinh thần trách nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự
để tổ chức hoạt động mại dâm
Để xác định có hay không việc thực hiện hành vi“Thiếu tinh thần trách
nhiệm tạo điều kiện cho người khác lợi dụng cơ sở kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự để tổ chức hoạt động mại dâm”, cần phải xác định vào ngày lập Biên
bản vi phạm hành chính số 11/BB-VPHC (23/12/2014), tại nhà nghỉ Hoàng Lan do
bà Nguyễn Thị Tuyết làm chủ có xảy ra hoạt động mại dâm hay không
Tại Điều 3 Pháp lệnh phòng chống mại dâm quy định: