NỘI DUNGI TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC:Bà Trần Thị Thu (sau đây gọi tắt là “bà Thu”) bắt đầu làm việc cho Công ty TNHH YD Việt Nam (sau đây gọi tắt là “Công ty YD”), có trụ sở tại thành phố Hải Phòng từ ngày 17072006, với chức danh là kế toán trưởng.Ngày 17102008, bà Thu và Công ty YD đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn số: YCS008PLHĐ2008, địa điểm làm việc tại Công ty YD, Hải Phòng, chức danh nhân viên. Mức lương hiện tại được hưởng là: 21.733.600 đồng.Sau thời gian nghỉ thai sản theo quy định của pháp luật thì đến ngày 09122015 bà Thu trở lại công ty để tiếp tục làm việc theo hợp đồng. Ngày 05122015 và ngày 20122015, Công ty YD có gửi các thông báo số 052015TB, 072015TB yêu cầu bà Thu tạm dừng công việc từ ngày 09122015 đến 13122015 và tham dự cuộc họp hội đồng kỷ luật ngày 25122015.Vào ngày 25122015, Công ty YD Việt Nam có biên bản họp hội đồng kỷ luật đối với bà Thu với lý do:(1) sai phạm về hệ thống quản lý kế toán theo quy chế kế toán, người kế toán không được phép quản lý tiền mặt; (2) sử dụng phần mềm có 02 user quản lý có nhiều dữ liệu cần thiết phải bàn giao lại cho người phụ trách được giao; và (3) sử dụng phần mềm Team view tham gia điều kiển hệ thống công việc của Công ty.Đến ngày 30122015, Công ty YD có Quyết định số S00814QĐ về việc bố trí công việc cho bà Thu từ kế toán tại văn phòng sang kế toán phụ trách quản lý kho rác từ ngày 05012016.Ngày 09012016 đến ngày 29052016, đại diện của bà Thu (Công ty Luật K) nhiều lần gửi công văn cho Công ty YD đề nghị giải quyết cho quyền lợi của bà Thu nhưng không có phản hồi. Ngày 12032016, đại diện của bà Thu có đơn đề nghị số 122016CVK hòa giải tranh chấp cá nhân gửi Sở Lao động Thương binh xã hội; Phòng lao động thương binh xã hội phối hợp giải quyết.Ngày 20032016, Công ty YD có biên bản số 02BBVPKL xử lý vi phạm kỷ luật lao động đối với bà Thu. Bà Thu vắng mặt. Ngày 01042016, Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng có công văn trả lời yêu cầu Công ty YD và bà Thu tới làm việc. Ngày 14052016, đã diễn ra buổi làm việc giữa Ban Quản lý Khu kinh tế, Công Đoàn Khu kinh tế Hải Phòng với đại diện Công ty YD và bà Thu nhưng không thống nhất được nội dung.Ngày 14082016, Công ty YD tiến hành họp xử lý vi phạm kỷ luật đối với bà Thu. Theo đó, bà Thu bị xử lý vi phạm kỷ luật theo hình thức sa thải căn cứ theo Khoản 3 Điều 126 Bộ luật lao động năm 2012. Bà Thu đã vắng mặt tại buổi họp này.Ngày 1582016, Tổng Giám đốc Công ty YD ra Quyết định số 02QĐHĐHK áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với bà Thu.Ngày 06072016, bà Thu có đơn khởi kiện Công ty YD ra Toà án nhân dân (TAND) huyện AD, thành phố Hải Phòng. Yêu cầu Tòa án buộc Công ty YD bồi thường thiệt hại do hành vi sa thải trái pháp luật.Ngày 14102016, TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết vụ án.Ngày 27042017 và ngày 0282017, TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng đã tiến hành hoà giải tranh chấp giữa bà Thu và Công ty YD nhưng không thành Ngày 22082017, TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng đã ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.1. Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sựNguyên đơn: Bà Trần Thị Thu (sinh năm 1985)Địa chỉ: số 6xx, Phố Đ, Phường Hoàng Văn Thụ, Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.Người đại diện theo ủy quyền là: Bà Nguyễn Thu Hà – Luật sư Công ty Luật K Đoàn Luật Sư thành phố Hải Phòng; Địa chỉ: số 1xx Nguyễn Đức Cảnh, Quận Lê Chân, Thành Phố Hải Phòng.Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015):“Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm”.Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt NamĐịa chỉ: Lô J12xx, Khu công nghiệp NM, thành Phố Hải Phòng.Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Thị Huyền (Sinh năm 1991); Địa chỉ: Số 2xx Trung Hành 5, phường Đằng Lâm, Quận Hải An, thành phố Hải Phòng.Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn Hùng Luật sư công ty tnhh H Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng; địa chỉ: số 5xx Ngô Gia Tự, Phường Cát Bi, quận Hải An, thành phố Hải Phòng.Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”2. Quan hệ pháp luật tranh chấpQuan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải.Cơ sở pháp lý: Điểm a, khoản 1, Điều 32 BLTTDS 2015: “Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.3. Thẩm quyền giải quyết tranh chấpThẩm quyền chung: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 thì các tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải là tranh chấp liên quan đến lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án mà không phải thông qua hoà giải tại cơ sở. Do đó, Toà án có thầm quyền giải quyết tranh chấp này. Thẩm quyền theo cấp: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015 thì TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 BLTTDS 2015. Trong khi đó, tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 có bao gồm cả tranh chấp về xử lý vi phạm kỷ luật theo hình thức sa thải. Do đó, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện.Thẩm quyền theo lãnh thổ: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015 thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về lao động theo Điều 32 của BLTTDS là TAND nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là tổ chức. Do đó, Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này phải là TAND nơi Công ty YD có trụ sở. Căn cứ theo Hợp đồng lao động số YCS008PLHĐ 2008 ngày 17102008 thì Công ty YD có trụ sở Lô 12xx, Khu công nghiệp NM – Hải Phòng (Km 13 AD, Hải Phòng). Vì vậy, Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này phải là TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng.4. Thời hiệu khởi kiệnCăn cứ vào đơn khởi kiện ngày 06072016 của bà Thu thì người khởi kiện là bà Thu và người bị kiện là Công ty YD. Quan hệ tranh chấp là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động (cụ thể tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải). Do đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012 (BLLĐ) thì thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp lao động cá nhân là “01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm”. Vì vậy thời hiệu khởi kiện của bà Thu vẫn còn trong thời hiệu.5. Luật áp dụng Bộ luật dân sự 2015; Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Bộ luật lao động 2012; Nghị định số 052015NĐCP ngày 12012015 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của bộ luật lao động; Nghị định 1482018NĐCP ngày 15102018 sửa đổi, bổ sung NĐ số 05NĐ hướng dẫn chi tiết và thi hành nội dung của Bộ luật lao động 2012 hiệu lực 152013; Luật Bảo hiểm xã hội 2014; Luật Việc làm 2013.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP
CƠ SỞ TẠI TP.HỒ CHÍ MINH
BÀI THU HOẠCH DIỄN ÁN
Môn: Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia các vụ
việc dân sự
Mã hồ sơ: LS.DS 09/B4.TH3_DA4/LĐ
Diễn lần:
Ngày diễn: / /20
Giáo viên hướng dẫn: LS Hoàng Trung Sỹ
Họ và tên:
Lớp:
Số báo danh:
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 20
Trang 2NỘI DUNG I/ TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ VIỆC:
Bà Trần Thị Thu (sau đây gọi tắt là “bà Thu”) bắt đầu làm việc cho Công ty TNHH
YD Việt Nam (sau đây gọi tắt là “Công ty YD”), có trụ sở tại thành phố Hải Phòng từ ngày 17/07/2006, với chức danh là kế toán trưởng
Ngày 17/10/2008, bà Thu và Công ty YD đã ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn số: YC-S008/PLHĐ-2008, địa điểm làm việc tại Công ty YD, Hải Phòng, chức danh nhân viên Mức lương hiện tại được hưởng là: 21.733.600 đồng
Sau thời gian nghỉ thai sản theo quy định của pháp luật thì đến ngày 09/12/2015 bà Thu trở lại công ty để tiếp tục làm việc theo hợp đồng
Ngày 05/12/2015 và ngày 20/12/2015, Công ty YD có gửi các thông báo số 05-2015/TB, 07-2015/TB yêu cầu bà Thu tạm dừng công việc từ ngày 09/12/2015 đến 13/12/2015 và tham dự cuộc họp hội đồng kỷ luật ngày 25/12/2015
Vào ngày 25/12/2015, Công ty YD Việt Nam có biên bản họp hội đồng kỷ luật đối với bà Thu với lý do:(1) sai phạm về hệ thống quản lý kế toán theo quy chế kế toán, người kế toán không được phép quản lý tiền mặt; (2) sử dụng phần mềm có 02 user quản lý có nhiều dữ liệu cần thiết phải bàn giao lại cho người phụ trách được giao;
và (3) sử dụng phần mềm Team view tham gia điều kiển hệ thống công việc của Công ty
Đến ngày 30/12/2015, Công ty YD có Quyết định số S008-14/QĐ về việc bố trí công việc cho bà Thu từ kế toán tại văn phòng sang kế toán phụ trách quản lý kho rác từ ngày 05/01/2016
Ngày 09/01/2016 đến ngày 29/05/2016, đại diện của bà Thu (Công ty Luật K) nhiều lần gửi công văn cho Công ty YD đề nghị giải quyết cho quyền lợi của bà Thu nhưng không có phản hồi
Ngày 12/03/2016, đại diện của bà Thu có đơn đề nghị số 12/2016/CV-K hòa giải tranh chấp cá nhân gửi Sở Lao động - Thương binh xã hội; Phòng lao động thương binh xã hội phối hợp giải quyết
Ngày 20/03/2016, Công ty YD có biên bản số 02-BB/VPKL xử lý vi phạm kỷ luật lao động đối với bà Thu Bà Thu vắng mặt
Trang 3Ngày 01/04/2016, Ban quản lý khu kinh tế Hải Phòng có công văn trả lời yêu cầu Công ty YD và bà Thu tới làm việc
Ngày 14/05/2016, đã diễn ra buổi làm việc giữa Ban Quản lý Khu kinh tế, Công Đoàn Khu kinh tế Hải Phòng với đại diện Công ty YD và bà Thu nhưng không thống nhất được nội dung
Ngày 14/08/2016, Công ty YD tiến hành họp xử lý vi phạm kỷ luật đối với bà Thu Theo đó, bà Thu bị xử lý vi phạm kỷ luật theo hình thức sa thải căn cứ theo Khoản
3 Điều 126 Bộ luật lao động năm 2012 Bà Thu đã vắng mặt tại buổi họp này
Ngày 15/8/2016, Tổng Giám đốc Công ty YD ra Quyết định số 02-QĐ/HĐHK áp dụng hình thức kỷ luật sa thải đối với bà Thu
Ngày 06/07/2016, bà Thu có đơn khởi kiện Công ty YD ra Toà án nhân dân (TAND) huyện AD, thành phố Hải Phòng Yêu cầu Tòa án buộc Công ty YD bồi thường thiệt hại do hành vi sa thải trái pháp luật
Ngày 14/10/2016, TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng thụ lý giải quyết vụ án Ngày 27/04/2017 và ngày 02/8/2017, TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng đã tiến hành hoà giải tranh chấp giữa bà Thu và Công ty YD nhưng không thành Ngày 22/08/2017, TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng đã ra quyết định đưa vụ
án ra xét xử
1 Xác định tư cách tham gia tố tụng của các đương sự
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thu (sinh năm 1985)
Địa chỉ: số 6xx, Phố Đ, Phường Hoàng Văn Thụ, Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
Người đại diện theo ủy quyền là: Bà Nguyễn Thu Hà – Luật sư Công ty Luật K -Đoàn Luật Sư thành phố Hải Phòng; Địa chỉ: số 1xx Nguyễn Đức Cảnh, Quận Lê Chân, Thành Phố Hải Phòng
Cơ sở pháp lý: khoản 2 Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015):“Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm”
Bị đơn: Công ty TNHH YD Việt Nam
Trang 4Địa chỉ: Lô J12xx, Khu công nghiệp NM, thành Phố Hải Phòng.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Thị Huyền (Sinh năm 1991); Địa chỉ: Số 2xx Trung Hành 5, phường Đằng Lâm, Quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn
Hùng-Luật sư- công ty tnhh H- Đoàn Hùng-Luật sư thành phố Hải Phòng; địa chỉ: số 5xx Ngô Gia Tự, Phường Cát Bi, quận Hải An, thành phố Hải Phòng
Cơ sở pháp lý: khoản 3 Điều 68 BLTTDS 2015: “Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm”
2 Quan hệ pháp luật tranh chấp
Quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải.
Cơ sở pháp lý: Điểm a, khoản 1, Điều 32 BLTTDS 2015: “ Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
3 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Thẩm quyền chung: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 thì
các tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải là tranh chấp liên quan đến lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án mà không phải thông qua hoà giải tại cơ sở Do đó, Toà án có thầm quyền giải quyết tranh chấp này
Thẩm quyền theo cấp: Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015
thì TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về lao động quy định tại Điều 32 BLTTDS 2015 Trong khi đó, tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 32 BLTTDS 2015 có bao gồm cả tranh chấp về xử lý vi phạm kỷ luật theo hình thức sa thải Do đó, tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND cấp huyện
Thẩm quyền theo lãnh thổ: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS
2015 thì Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về lao động theo Điều 32 của BLTTDS là TAND nơi bị đơn có trụ sở nếu bị đơn là tổ chức Do đó, Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này phải là TAND nơi Công ty YD có trụ sở
Trang 5Căn cứ theo Hợp đồng lao động số YC-S008/PLHĐ- 2008 ngày 17/10/2008 thì Công ty YD có trụ sở Lô 12xx, Khu công nghiệp NM – Hải Phòng (Km 13 AD,
Hải Phòng) Vì vậy, Toà án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp này phải là TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng.
4 Thời hiệu khởi kiện
Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 06/07/2016 của bà Thu thì người khởi kiện là bà Thu và người bị kiện là Công ty YD Quan hệ tranh chấp là tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động (cụ thể tranh chấp về xử lý
kỷ luật lao động theo hình thức sa thải) Do đó, căn cứ theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật lao động năm 2012 (BLLĐ) thì thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp lao động
cá nhân là “01 năm kể từ ngày phát hiện ra hành vi mà mỗi bên tranh chấp cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm” Vì vậy thời hiệu khởi kiện của bà Thu vẫn còn trong thời hiệu
5 Luật áp dụng
- Bộ luật dân sự 2015;
- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Bộ luật lao động 2012;
- Nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của bộ luật lao động;
- Nghị định 148/2018/NĐ-CP ngày 15/10/2018 sửa đổi, bổ sung NĐ số 05/NĐ hướng dẫn chi tiết và thi hành nội dung của Bộ luật lao động 2012 hiệu lực 1/5/2013;
- Luật Bảo hiểm xã hội 2014;
- Luật Việc làm 2013
II/ DỰ THẢO KẾ HOẠCH HỎI, TRANH TỤNG:
1 Hỏi nguyên đơn – bà Trần Thị Thu:
- Bà cho biết thời điểm ngày 09/12/2015 là thời gian sau khi nghỉ thai sản bà trở lại công
ty làm việc, phía Công ty YD đã điều chuyển bà làm công việc gì?
- Công việc này có liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ kế toán của bà hay không? Có phù hợp công việc theo hợp đồng lao động đã ký và phù hợp sức khỏe của bà hay không?
- Công ty YD đã tổ chức phiên họp xử lý kỷ luật sa thải bà với lý do gì?
Trang 6- Buổi họp đó có sự tham gia của bà hay không?
- Sau khi công ty YD lập biên bản và gửi đến cho bà, phía công ty – bảo vệ công ty đã có những hành vi gì?
- Bà cho biết kể từ thời điểm bà làm việc cho công ty YD, công ty YD có ban hành nội quy lao động hay phổ biến nội quy lao động cho bà được biết hay không?
- Bà có hành vi vi phạm nào liên quan đến Điều 27 nội quy lao động của công ty về việc
áp dụng hình thức kỷ luật sa thải hay không?
- Bà có sử dụng 2 hệ thống kế toán không? Cụ thể thiệt hại như thế nào?
- Bà cho biết bà đã nghỉ phép hàng năm 2015, 2016 chưa?
- Bà có muốn quay trở lại làm việc cho Công ty YD hay không? Vì sao?
2 Hỏi bị đơn – Công ty YD
- Nội dung cuộc họp ngày 20/3/2016 Công ty YD họp xử lý kỷ luật bà vì lỗi vi phạm gì?
- Bà Thu sử dụng 2 hệ thống kế toán gây thiệt hại cụ thể là bao nhiêu?
- Công ty YD có ban hành nội quy lao động hay không? Có đăng ký nội quy lao động với
cơ quan có thẩm quyền hay không?
- Bà Thu có hành vi vi phạm nội quy lao động hay không? Cụ thể là vi phạm điều khoản nào của nội quy?
- Công ty lý giải vì sao bà Thu không đến Công ty YD làm việc trong thời gian hai bên đang yêu cầu cơ quan thẩm quyền giải quyết?
- Tại cuộc họp ngày 14/5/2016 Công ty có mời bà đến tham gia theo đúng trình tự? Ai là người ký vào vận đơn do Bưu điện chuyển đến?
- Tại sao bị đơn lại sắp xếp công việc cho bà Thu trong môi trường làm việc ô nhiễm, tiếp xúc trực tiếp đến rác thải trong khi biết rõ bà Thu đang trong thời kỳ nuôi con dưới 12 tháng tuổi?
- Bị đơn cho biết, bị đơn có căn cứ chứng minh nào trong việc bà Thu đã có nhiều sai sót trong nghiệp vụ kế toán?
- Công ty YD có muốn nhận bà Thu lại làm việc hay không? Vì sao?
III/ LUẬN CỨ BẢO VỆ NGUYÊN ĐƠN
Kính thưa Hội đồng xét xử,
Kính thưa vị đại diện Viện Kiểm sát, vị luật sư đồng nghiệp bảo vệ cho nguyên đơn
và tất cả những người có mặt tại phiên tòa hôm nay
Tôi là Luật sư , Văn phòng Luật sư , thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hải Phòng tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bà Trần Thị Thu
Trang 7(bà Thu) – Nguyên đơn trong vụ án tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải tại phiên xét xử sơ thẩm ngày hôm nay Theo yêu cầu của nguyên đơn – bà Thu (địa chỉ: số 6xx, phố Đ, phường Hoàng Văn Thụ, Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng) về việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn trong vụ án dân
sự sơ thẩm thụ lý số 04/2016/TLST-LĐ ngày 14/10/2016 về tranh chấp về xử lý kỷ luật theo hình thức sa thải tại TAND huyện AD, thành phố Hải Phòng
Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án và các chứng cứ có trong hồ sơ được các bên cung cấp theo đúng trình tự pháp luật, qua phiên xét hỏi công khai tại phiên tòa ngày hôm nay, tôi xin trình bày một số quan điểm pháp lý để bảo vệ cho Nguyên đơn như sau:
a Công ty YD đã vi phạm quy định của pháp luật về việc không bố trí công việc cho bà Thu kể từ ngày 09/12/2015 đến ngày 05/01/2016
Cụ thể:
Trước hết, liên quan đến việc bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản, Điều
158 Bộ luật lao động 2012 quy định:
“Điều 158 Bảo đảm việc làm cho lao động nữ nghỉ thai sản
Lao động nữ được bảo đảm việc làm cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời gian theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 157 của Bộ luật này; trường hợp việc làm cũ không còn thì người sử dụng lao động phải bố trí việc làm khác cho họ với mức lương không thấp hơn mức lương trước khi nghỉ thai sản”.
Sau khi ký kết Hợp Đồng thì bà Thu trở thành người lao động của Công ty YD từ ngày 17/07/2006 đến nay, sau thời gian nghỉ thai sản theo quy định của Bộ luật lao động 2012, bà Thu đã đến Công ty YD để tiếp tục làm việc
Như vậy, bà Thu đã thực hiện đúng, đầy đủ các quy định pháp luật liên quan đến nghĩa vụ của người lao động Trong thời gian lao động trước khi nghỉ thai sản, bà Thu không hề bị Công ty YD kiểm điểm trách nhiệm hay tiến hành xử lý kỷ luật lần nào
Tuy nhiên, sau khi nghỉ thai sản, Ban lãnh đạo Công ty YD đã không bố trí việc làm và đưa ra một số lý do liên quan đến sai phạm của bà Thu nhưng cho đến phiên tòa ngày hôm nay phía Công ty YD không thể đưa ra được bằng chứng cụ thể để chứng minh cho những cáo buộc của mình
Đối với yêu cầu của Công ty YD buộc bà Thu phải nộp hồ sơ cá nhân mới bố trí việc làm là điều hết sức phi lý Điều đáng nói là, qua tìm hiểu, tôi được biết rằng
Trang 8toàn bộ hồ sơ cá nhân của bà Thu và của 06 lao động khác do Công ty YD quản lý
đã bị mất trong thời gian Bà Thu nghỉ sinh con và không phải do lỗi của bà Thu
Vì vậy, hành vi không bố trí công việc cho Bà Thu ngay sau khi nghỉ thai sản của Công ty YD đã vi phạm Điều 158 Bộ luật lao động 2012, từ đó làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Thu
b Công ty YD đã vi phạm trong việc tiến hành xử lý kỷ luật lao động sa thải đối với bà Thu.
Bởi lẽ:
Theo điểm d khoản 4 Điều 123 và khoản 4 Điều 155 Bộ luật lao động năm 2012 quy định:
“Điều 123 Nguyên tắc, trình tự xử lý kỷ luật lao động […]
4 Không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sau đây:[…]
d) Lao động nữ có thai, nghỉ thai sản; người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.[…]”
“Điều 155 Bảo vệ thai sản đối với lao động nữ[…]
4 Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, lao động nữ không bị
xử lý kỷ luật lao động.[…]”
Việc xử lý kỷ luật lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi được hướng dẫn bởi Điều 29 Nghị định 05/2015/NĐ-CP như sau:
“Điều 29 Xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi
1 Người sử dụng lao động không được xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động là cha đẻ, mẹ đẻ hoặc cha nuôi, mẹ nuôi hợp pháp đang nuôi con nhỏ dưới
12 tháng tuổi.
2 Khi hết thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi, mà thời hiệu xử lý kỷ luật đã hết thì được kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật lao động, nhưng tối đa không quá 60 ngày, kể từ ngày hết thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi”.
Hơn nữa, khoản 3 Điều 128 Bộ luật lao động năm 2012 cũng nghiêm cấm việc “Xử
lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động”.
Trang 9Mặc dù biết rõ, hiện nay bà Thu đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi nhưng Ban lãnh đạo Công ty YD vẫn tiến hành tổ chức buổi họp để xử lý kỷ luật bà Thu Việc
xử lý kỷ luật đối với bà Thu dưới bất kỳ hình thức nào đều là trái với quy định của Bộ luật lao động, bởi lẽ, bà Thu không hề có bất kỳ hành vi vi phạm nội quy lao động nào
Trước khi nghỉ thai sản, bà Thu làm công việc Kế toán trưởng công ty, địa điểm tại
văn phòng, tuy nhiên theo Quyết định số S008-14/QĐ ngày 30/12/2015 là: trông coi, sắp xếp, vệ sinh kho rác, chuẩn bị, cân đo khi bán rác,… địa điểm làm việc tại kho rác Đây là những công việc không được thỏa thuận trong Hợp Đồng.
Liên quan đến việc chuyển người lao động làm công việc khác so với Hợp Đồng, khoản 2 Điều 31 Bộ luật lao động 2012 quy định như sau:
“Điều 31 Chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động […]
2 Khi tạm thời chuyển người lao động làm công việc khác so với hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước ít nhất 03 ngày làm việc, thông báo rõ thời hạn làm tạm thời và bố trí công việc phù hợp với sức khoẻ, giới tính của người lao động”.
Mặt khác, phía Công ty YD đưa ra lập luận rằng trước khi nghỉ thai sản, bà Thu là
kế toán của Công ty YD nhưng lại kiêm nhiều chức vụ như thủ kho, thủ quỹ là vi phạm quy định của pháp luật, do vậy Công ty YD đã thực hiện việc điều chỉnh lại
hệ thống kế toán của công ty cho đúng quy định của pháp luật
Tuy nhiên cũng cần phải nói rằng, việc điều chỉnh lại hệ thống kế toán của công ty cho đúng quy định của pháp luật không loại bỏ trách nhiệm của Công ty YD trong việc phân bổ công việc phù hợp với năng lực chuyên môn và sức khỏe của bà Thu
c Công ty YD buộc bà Thu phải làm những công việc không được sử dụng lao động nữ.
Theo khoản 1 Điều 160 Bộ luật lao động 2012 quy định về công việc không được
sử dụng lao động nữ như sau:
“Điều 160 Công việc không được sử dụng lao động nữ
1 Công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con theo danh mục
do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành […]”
Theo đó, Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 ban hành Danh mục không được sử dụng lao động nữ trong một số công việc được quy định tại
Trang 10Phần B về danh mục áp dụng cho lao động nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trong đó có liệt kê “Công việc […] dễ bị nhiễm trùng”
Rõ ràng công việc liên quan trực tiếp đến rác thải do Ban lãnh đạo Công ty YD phân công cho bà Thu theo Quyết định số S008-14/QĐ ngày 30/12/2015 là một công việc tiếp xúc với môi trường làm việc rất ô nhiễm, không phù hợp với chuyên môn, sức khỏe của bà Thu, đặc biệt là sau khi vừa nghỉ sinh và nuôi con nhỏ
Như vậy, sau khi nghỉ sinh con quay trở lại làm việc thì bà Thu đang từ chức vụ Kế toán trưởng của Công ty YD đã bị kỷ luật chuyển xuống làm nhân viên quản lý kho rác Đây chính là hành vi gây áp lực với mục đích buộc người lao động phải chấm dứt Hợp đồng lao động
Bởi những lý do nêu trên, kính đề nghị Hội đồng xét xử buộc Công ty YD hủy Quyết định số 02/XLKL xử lý kỷ luật lao động ngày 15/8/2016 và bồi thường thiệt hại do hành vi sa thải trái pháp luật số tiền là: 672.357.210 đồng, cụ thể như sau: (1) Tiền lương trong những ngày bà Thu không được làm việc được tính từ ngày 09/12/2015 đến ngày xét xử (12/9/2017): 20.393.000 x 21 tháng = 428.253.000 (đồng) theo khoản 1 điều 42 BLLD 2012
(2) Chốt sổ BHXH, BHYT trong những ngày bà Thu không được làm việc đến ngày 12/9/2017 là: 428.253.000 x 32% = 137.040.000 (đồng) [NLĐ:11,5%= 49,249,095đ; NSDLĐ:21,5%= 92,074,395đ]) theo khoản 1, điều 42 chốt sổ bảo hiểm xã hội cho bà Thu đến ngày 12/09/2017 (ngày TAND huyện AD đưa vụ án ra xét xử)
(3) Tiền trợ cấp thôi việc của bà Thu là từ 17/7/2006 đến 31/12/2008 (2 năm 6 tháng): 20.393.000 x ½ x 2,5 = 25.491.000 (đồng) (theo khoản 2 Điều 48 BLLĐ 2012)
(4) Bồi thường 02 tháng lương theo hợp đồng lao động do vi phạm đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật: 20.393.000 x 2 = 40.786.000 (đồng) (theo khoản 1 Điều 2 BLLĐ 2012)
(5) Bồi thường thêm 02 tháng lương theo hợp đồng lao động do NLĐ không muốn trở lại làm việc: 20.393.000đ x2 = 40.786.000 (đồng) (theo khoản 3 Điều 42 BLLĐ 2012)
Trên cơ sở những vấn đề pháp lý được phân tích ở trên, một lần nữa tôi kính đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Để bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động
Xin chân thành cảm ơn