TỔNG QUAN
Tổng quan về bệnh đái tháo đường
1.1.1 Định nghĩa Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh lý chuyển hóa phức tạp, được đặc trưng bởi tình trạng tăng đường huyết mãn tính, kèm theo rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protid và lipid Nguyên nhân là do tình trạng thiếu hụt insulin, hoặc đề kháng với insulin, hoặc kết hợp cả hai 5
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Đái tháo đường (ĐTĐ) là căn bệnh nguy hiểm đứng thứ 7 trên toàn cầu, có tác động lớn đến sức khỏe cộng đồng Bệnh này là nguyên nhân chính gây ra các biến chứng nghiêm trọng như đau tim, đột quỵ, suy thận, mù lòa, và thậm chí đoạn chi, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Các số liệu cho thấy tỉ lệ người mắc ĐTĐ ngày càng gia tăng, đòi hỏi các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả để giảm thiểu tác động của bệnh.
Theo thống kê của Liên đoàn ĐTĐ Thế giới (IDF) năm 2021, có khoảng 537 triệu người trưởng thành (từ 20-79 tuổi) đang sống chung với bệnh Đái tháo đường, tập trung chủ yếu ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Cứ trung bình 5 giây lại có 1 ca tử vong liên quan đến ĐTĐ, tương đương khoảng 6,7 triệu ca tử vong mỗi năm Dự báo đến năm 2030, số người mắc ĐTĐ sẽ tăng lên 643 triệu và đến năm 2045, con số này có thể lên tới 783 triệu người Bệnh không chỉ ảnh hưởng đến người trưởng thành mà còn tác động tiêu cực tới trẻ em, thanh thiếu niên và phụ nữ mang thai, với hơn 1,2 triệu trẻ em và thanh thiếu niên mắc ĐTĐ típ 1, cùng hơn 21,1 triệu trẻ sinh ra bị ảnh hưởng bởi ĐTĐ thai kỳ Ngoài ra, ĐTĐ còn gây ra gánh nặng tài chính lớn với chi phí y tế ít nhất 966 tỷ USD, tăng 316% trong vòng 15 năm qua.
Theo thống kê của IDF năm 2021, tại Việt Nam mỗi 1.000 giây có khoảng 3.994,1 người mắc bệnh đái tháo đường (ĐTĐ), trong đó hơn nửa số người không được chẩn đoán phát hiện bệnh Khoảng 57.220 người trưởng thành tử vong do ĐTĐ, trong đó tỷ lệ tử vong dưới 60 tuổi là 2,9% Chi phí điều trị căn bệnh này ước tính khoảng 1.670 triệu USD, và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trong những năm tới.
Theo Hiệp hội ĐTĐ Hoa kỳ (ADA) 2021, bệnh ĐTĐ được chia thành 4 típ 7 :
Típ 1: Chiếm 5 – 10% các ca ĐTĐ, cơ chế bệnh sinh là do sự phá hủy tế bào
Beta tụy bị ảnh hưởng bởi hoạt động của kháng thể tự miễn, dẫn đến sự thiếu hụt insulin tuyệt đối Điều này thường gặp trong các trường hợp Đái tháo đường tự miễn, đặc biệt là dạng tiến triển chậm ở người trưởng thành, còn gọi là LADA.
Tiểu đường type 2 chiếm 90-95% các ca bệnh và chủ yếu phát sinh do tình trạng đề kháng insulin tại các mô đích Bệnh có thể kèm theo hoặc không kèm theo tình trạng suy giảm tiết insulin từ tuyến tụy Bệnh thường gặp ở những người lớn tuổi và người béo phì.
Các loại bệnh ĐTĐ đa dạng do nguyên nhân khác nhau, bao gồm hội chứng ĐTĐ đơn nguyên như ĐTĐ ở trẻ sơ sinh (NDM) và ĐTĐ khởi phát ở tuổi trưởng thành (MODY) Ngoài ra, các bệnh lý tụy ngoại tiết như xơ nang, viêm tụy cũng có thể gây ra đái tháo đường Các bệnh lý nội tiết khác như cường giáp, hội chứng Cushing cũng liên quan đến rối loạn đường huyết Đái tháo đường còn do tác dụng phụ của thuốc hoặc hóa chất như glucocorticoid trong điều trị HIV/AIDS hoặc sau cấy ghép nội tạng Các khiếm khuyết gen quy định chức năng tế bào beta tụy hoặc hoạt tính insulin cũng góp phần gây bệnh.
Đái tháo đường thai kỳ (GDM) được chẩn đoán lần đầu trong thời kỳ mang thai, thường từ tuần thứ 24 đến 28 bằng nghiệm pháp dung nạp glucose hoặc trong 3 tháng cuối thai kỳ, và không bao gồm các trường hợp đã mắc ĐTĐ trước đó nhưng chưa được phát hiện Sau khi sinh, đường huyết thường trở về mức bình thường, nhưng GDM vẫn là một yếu tố nguy cơ quan trọng dẫn đến bệnh đái tháo đường type 2 trong nhiều năm sau đó.
1.1.4.1 Tiêu chí chẩn đoán tiền ĐTĐ
Khi có một trong ba tiêu chuẩn 7, 9 :
(1) Rối loạn đường huyết đói (IFG): Đường huyết đói trong khoảng 100 – 125 mg/dl (5,6 – 6,9 mmol/l).
(2) Rối loạn dung nạp glucose (IGT): Đường huyết 2h sau uống 75g glucose trong khoảng 140 – 199 mg/dl (7,8 – 11 mmol/l).
(3) HbA1C nằm trong khoảng từ 5,7 – 6,4%.
1.1.4.2 Tiêu chí chẩn đoán ĐTĐ
Bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ khi có một trong bốn tiêu chuẩn sau 7, 9 :
(1) HbA1C ≥ 6,5%, test được thực hiện ở phòng xét nghiệm được chuẩn hóa theo chương trình quốc gia NGSP.
(2) Đường huyết lúc đói (sau 8 giờ nhịn ăn) ≥ 126 𝑚𝑔/𝑑𝐿 (7 mmol/L).
(3) Đường huyết 2 giờ sau khi uống 75g glucose ≥ 200 𝑚𝑔/𝑑𝐿 (11,1 mmol/L), test được thực hiện theo quy trình của WHO.
(4) Đường huyết bất kỳ ≥ 200 𝑚𝑔/𝑑𝐿 (11,1 mmol/L) + triệu chứng điển hình của tăng đường huyết (triệu chứng 4 nhiều: tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, gầy nhiều).
Trong trường hợp không có tăng đường huyết rõ rệt, chẩn đoán yêu cầu cần kết quả 2 mẫu test bất thường từ cùng 1 mẫu hoặc 2 mẫu riêng biệt 7
Các phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường
1.2.1 Điều trị không dùng thuốc
Thực hiện và duy trì các hoạt động thể lực là yếu tố thiết yếu để kiểm soát đường huyết và nâng cao sức khỏe cho người mắc tiểu đường Tuy nhiên, các khuyến cáo và biện pháp phòng ngừa cần được điều chỉnh phù hợp với đặc điểm cá nhân và tình trạng sức khỏe của từng người để đảm bảo hiệu quả và an toàn.
Các bài tập thể dục khuyến khích dành cho bệnh nhân ĐTĐ bao gồm 10 :
- Các bài tập chuyển động lặp đi lặp lại và liên tục ở các nhóm cơ (bài tập aerobic).
- Các hoạt động như đi bộ, đạp xe, chạy bộ, bơi lội, yoga, thái cực quyền.
- Tập kháng lực với tạ, máy tập tạ, trọng lượng cơ thể hoặc với dây kháng lực. 1.2.1.2 Chế độ dinh dưỡng
Nguyên tắc cơ bản trong chế độ ăn dành cho người mắc ĐTĐ
- Đảm bảo cung cấp đủ dinh dưỡng cân bằng cả về số lượng và chất lượng.
- Không làm tăng đường huyết nhiều sau bữa ăn, không làm hạ đường huyết xa bữa ăn.
- Duy trì hoạt động thể lực bình thường.
- Duy trì cân nặng hợp lý Đối với người thừa cân, béo phì cần giảm cân, mục tiêu giảm 5 – 10% trọng lượng cơ thể trong vòng 3 – 6 tháng.
- Không làm tăng yếu tố nguy cơ: Tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa lipid máu.
- Không làm thay đổi quá nhanh, quá nhiều cơ cấu và khối lượng bữa ăn.
- Đơn giản, không quá đắt tiền, phù hợp với tập quán địa phương, dân tộc.
Bảng 1.1 Nhu cầu dinh dưỡng dành cho bệnh nhân ĐTĐ
Nguồn năng lượng Nguồn gốc Nhu cầu
- Ngũ cốc và các sản phẩm chế biến:
Gạo, bún, phở, ngô, bánh mì.
- Khoai củ: Khoai tây, khoai lang, khoai sọ, sắn, dong, từ, miến dong.
- Hoa quả: Chuối tây, chuối tiêu, lê, nho, mận, …
- Lượng glucid ăn vào nên chiếm 50 – 60% tổng số năng lượng.
- Nguồn gốc động vật (chủ yếu là chất béo bão hòa): Thịt mỡ, mỡ cá, bơ, sữa, phomat, lòng đỏ trứng gà.
- Nguồn gốc thực vật (chủ yếu là chất béo không bão hòa): Dầu thực vật, lạc, vừng, đậu tương, cùi dừa, hạt dẻ, socola.
- 20 – 25% tổng năng lượng trong đó:
Chất béo bão hòa nên dưới 10% tổng năng lượng.
Cholesterol nên dưới 300mg/ ngày.
- Nguồn gốc động vật: Thịt cá, trứng, sữa, tôm, cua, ốc, hến, …
- Nguồn gốc thực vật: Đậu đỗ, lạc, vừng, gạo, …
- Đối với bệnh nhân ĐTĐ không có protein niệu,không có suy thận: 1 – 1,2 g/ kg cân nặng/ ngày
- Đối với bệnh nhân có biến chứng thận: 0,8g/ kg cân nặng/ ngày.
Những trái cây có chỉ số đường huyết thấp: Ổi, lê, táo, cam.
Ăn vừa phải trái cây có chỉ số đường huyết trung bình: chuối, đu đủ.
Hạn chế trái cây có chỉ số tăng đường huyết: dưa hấu, vải, nhãn, xoài.
- Không quá 20% mức năng lượng hằng ngày.
- Hạn chế các thực phẩm chế biến sẵn: dưa muối, cà muối, mì tôm, xúc xích, …
- Hạn chế thêm nước mắm, gia vị khi ăn.
- Nên ăn nhạt tương đối, Khi chuẩn bị xuất viện)
Chênh lệch mang dấu (+) (Khi nhập viện < Khi chuẩn bị xuất viện)
Chênh lệch mang dấu (=) (Khi nhập viện = Khi chuẩn bị xuất viện)
Trong quá trình điều trị, có 100 bệnh nhân ghi nhận điểm kiến thức cao hơn khi chuẩn bị xuất viện so với khi nhập viện, cho thấy sự cải thiện rõ rệt sau quá trình chăm sóc và giáo dục Ngoài ra, còn có 193 bệnh nhân có điểm kiến thức khi chuẩn bị xuất viện cao hơn so với lúc nhập viện, phản ánh hiệu quả của các chương trình giáo dục sức khỏe trong quá trình điều trị Những số liệu này cho thấy sự nâng cao kiến thức của bệnh nhân sau khi tiếp xúc với các chiến lược giáo dục y tế, góp phần vào việc nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và hiệu quả điều trị.
81 bệnh nhân có điểm không thay đổi
Kết quả kiểm định dấu và hạng Wilcoxon cho thấy giá trị p < 0,001, xác định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa điểm kiến thức của bệnh nhân khi nhập viện và trước khi xuất viện Điều này chứng tỏ sự cải thiện rõ rệt trong kiến thức của bệnh nhân sau quá trình điều trị và chuẩn bị xuất viện Phân tích này nhấn mạnh tầm quan trọng của các chương trình giáo dục y học trong việc nâng cao nhận thức và kiến thức của bệnh nhân về tình trạng sức khỏe Kết quả thống kê cho thấy sự khác biệt đáng kể về mặt lâm sàng, góp phần củng cố hiệu quả của các biện pháp tư vấn, đào tạo trong quá trình điều trị bệnh nhân.
So sánh sự khác biệt trung bình về điểm kiến thức giữa các nhóm
3.7.1 Sự khác biệt trung bình về điểm kiến thức bệnh ĐTĐ giữa các nhóm Bảng 3 23 Kiểm định sự khác biệt trung bình về điểm kiến thức bệnh ĐTĐ khi nhập viện và khi chuẩn bị xuất viện giữa các nhóm
Chưa hoàn tất phổ thông 10,21 ± 3,001
Tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ
Ghi chú: a Phép kiểm Independent Sample T - Test; b Phép kiểm Anova one - way
Kết quả phân tích cho thấy, điểm kiến thức về bệnh ĐTĐ của bệnh nhân khi nhập viện và trước xuất viện khác nhau một cách có ý nghĩa thống kê, đặc biệt giữa các nhóm có trình độ học vấn (p = 0,008 tại thời điểm T1 và p = 0,018 tại thời điểm T2) Ngoài ra, thời gian mắc bệnh cũng ảnh hưởng đáng kể đến điểm kiến thức của bệnh nhân (p < 0,001), cho thấy trình độ học vấn và thời gian mắc bệnh là những yếu tố quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về bệnh ĐTĐ.
Kết quả phân tích cho thấy, trung bình điểm kiến thức về bệnh Đái tháo đường (ĐTĐ) của các nhóm có trình độ học vấn khác nhau có ý nghĩa thống kê rõ rệt Cụ thể, nhóm có trình độ đại học có điểm kiến thức cao hơn so với nhóm chưa hoàn tất phổ thông, với giá trị p = 0,029 tại thời điểm T1 và p = 0,007 tại thời điểm T2 Điều này cho thấy trình độ học vấn ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức về bệnh ĐTĐ.
- Ở cả 2 thời điểm sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có thời gian mắc từ 1 đến 5 năm, từ 5 đến 10 năm, trên 10 năm với dưới 1 năm (p < 0,05)
3.7.2 Sự khác biệt trung bình về điểm kiến thức sử dụng insulin giữa các nhóm Bảng 3 24 Kiểm định sự khác biệt trung bình về điểm kiến thức sử dụng insulin ở thời điểm nhập viện và khi chuẩn bị xuất viện giữa các nhóm
Chưa hoàn tất phổ thông 4 (3 – 11)
Tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ
Ghi chú: a Phép kiểm Mann – Whitney U test (2 – tailed test); b Phép kiểm Kruskal – Wallis test
Điểm kiến thức về việc sử dụng insulin của bệnh nhân khi nhập viện và khi chuẩn bị xuất viện có sự khác biệt rõ rệt, thể hiện ý nghĩa thống kê (p < 0,001) Điều này cho thấy mức độ hiểu biết về sử dụng insulin thay đổi theo thời gian mắc bệnh và có ảnh hưởng đáng kể đến quá trình điều trị bệnh nhân.
Kết quả cho thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm mắc bệnh dưới 1 năm và nhóm mắc trên 10 năm, với p < 0,001 tại cả hai thời điểm Ngoài ra, các nhóm từ 5 đến 10 năm so với nhóm trên 10 năm cũng có sự khác biệt đáng kể, với p < 0,001 ở thời điểm T1 và p = 0,001 ở thời điểm T2 Thêm vào đó, nhóm mắc bệnh từ 1 đến 5 năm cũng khác biệt rõ rệt so với nhóm mắc trên 10 năm, với p < 0,001 tại thời điểm T1 và p = 0,006 tại thời điểm T2.
- Tuy nhiên ở thời điểm chuẩn bị xuất viện còn có sự khác nhau có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có thời gian mắc dưới 1 năm với từ 1 đến 5 năm (p = 0,045).
Các yếu tố liên quan đến kiến thức bệnh và sử dụng insulin
3.8.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức bệnh đái tháo đường
Sau khi phân tích tương quan Pearson giữa các biến như độ tuổi, giới tính, nơi sinh sống, trình độ học vấn, tiền sử gia đình mắc ĐTĐ, thời gian mắc bệnh và điểm kiến thức bệnh khi nhập viện, nghiên cứu đã xác định các mối liên hệ chính giữa các yếu tố này Kết quả cho thấy các biến như trình độ học vấn và tiền sử gia đình mắc ĐTĐ có mối tương quan rõ rệt với mức độ kiến thức bệnh của bệnh nhân khi nhập viện Đồng thời, độ tuổi và thời gian mắc bệnh cũng ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức về bệnh ĐTĐ, góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác giáo dục sức khỏe và quản lý bệnh.
Bảng 3.25 Tương quan giữa các yếu tố với điểm kiến thức bệnh ĐTĐ khi nhập viện
Các yếu tố Hệ số tương quan r p
Tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ -0,055 0,287
- Các yếu tố giới tính, nơi sinh sống và tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ có p
> 0,05, điều đó cho thấy các yếu tố này không có tương quan với điểm kiến thức bệnh ĐTĐ khi nhập viện
Các yếu tố tuổi (p < 0,001), trình độ học vấn (p = 0,001) và thời gian mắc bệnh (p < 0,001) đều có ý nghĩa thống kê với điểm kiến thức về bệnh đái tháo đường của bệnh nhân khi nhập viện, cho thấy sự ảnh hưởng rõ rệt của các yếu tố này đến mức độ hiểu biết của bệnh nhân về bệnh.
Bảng 3.26 Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến giữa các yếu tố liên quan với điểm kiến thức bệnh của bệnh nhân khi nhập viện
Yếu tố liên quan OR CI 95% p
Chưa hoàn tất phổ thông - - -
Sau khi phân tích đa biến, kết quả cho thấy rằng tuổi, trình độ học vấn và thời gian mắc bệnh ĐTĐ góp giải thích khoảng 14% sự khác biệt về điểm kiến thức bệnh ĐTĐ khi nhập viện Phần còn lại, chiếm 86%, được giải thích bởi các yếu tố khác liên quan đến kiến thức và quản lý bệnh ĐTĐ của bệnh nhân.
- Khi tuổi bệnh nhân tăng thêm 1bậc thì điểm kiến thức bệnh ĐTĐ của bệnh nhân khi nhập viện giảm thêm 0,051 điểm
Khi bệnh nhân có trình độ học vấn là đại học, điểm kiến thức về bệnh ĐTĐ của họ khi nhập viện tăng thêm 1,257 điểm so với những bệnh nhân không hoàn thành phổ thông Điều này cho thấy trình độ học vấn có ảnh hưởng rõ rệt đến kiến thức về bệnh tiểu đường, giúp nâng cao nhận thức và quản lý bệnh hiệu quả hơn Các nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của giáo dục y tế trong việc cải thiện kiến thức bệnh nhân đái tháo đường, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc và giảm biến chứng bệnh.
Khi bệnh nhân mắc Đái tháo đường trên 10 năm, điểm kiến thức về bệnh của họ khi nhập viện tăng thêm 2,615 điểm so với những bệnh nhân có thời gian mắc dưới 1 năm Điều này cho thấy kiến thức về bệnh ĐTĐ của bệnh nhân tích lũy theo thời gian, giúp cải thiện khả năng quản lý bệnh hiệu quả hơn Hiểu rõ về mức độ kiến thức của bệnh nhân theo thời gian là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng các chiến lược giáo dục y tế phù hợp.
Các yếu tố tuổi, trình độ học vấn và thời gian mắc ĐTĐ có mối liên hệ rõ ràng với điểm kiến thức bệnh của bệnh nhân khi nhập viện, kết quả thống kê cho thấy mối liên quan này có ý nghĩa về mặt thống kê (p < 0,05).
3.8.1.2 Khi chuẩn bị xuất viện
Sau khi thực hiện kiểm tra tương quan Spearman giữa các biến số như ngày nằm viện, tuổi, giới tính, nơi sinh sống, trình độ học vấn, tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ, thời gian mắc bệnh và điểm kiến thức bệnh ĐTĐ khi chuẩn bị xuất viện, nghiên cứu đã phát hiện những mối liên hệ quan trọng Kết quả cho thấy có sự liên quan đáng kể giữa các yếu tố này, góp phần hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến kiến thức bệnh ĐTĐ của bệnh nhân trước khi xuất viện Các phát hiện này giúp định hướng các chiến lược giáo dục và quản lý bệnh nhân ĐTĐ hiệu quả hơn, đáp ứng theo các tiêu chuẩn SEO liên quan đến kiến thức bệnh ĐTĐ và chăm sóc bệnh nhân.
Trong bài viết, bảng 3.27 trình bày rõ mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến điểm kiến thức bệnh nhân về bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) khi chuẩn bị xuất viện Các yếu tố này đều có hệ số tương quan r thể hiện mức độ liên quan, cùng với giá trị p-value để xác định mức độ ý nghĩa thống kê của các mối liên hệ này Kết quả cho thấy một số yếu tố có mối liên hệ chặt chẽ với mức độ kiến thức của bệnh nhân, góp phần nâng cao hiệu quả công tác giáo dục bệnh nhân trước khi rời viện.
Tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ -0,074 0,154
0,001) có p – value < 0,05 điều đó cho thấy các yếu tố này có tương quan với kiến thức bệnh của bệnh nhân khi chuẩn bị xuất viện
Các yếu tố tuổi, trình độ học vấn và thời gian mắc ĐTĐ đều có ảnh hưởng đến điểm kiến thức về bệnh ĐTĐ khi chuẩn bị xuất viện Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của bệnh nhân về quản lý bệnh ĐTĐ Việc hiểu rõ các yếu tố này giúp cải thiện chương trình giáo dục sức khỏe, nâng cao nhận thức của bệnh nhân và tăng cường hiệu quả điều trị.
Bảng 3.28 Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến giữa các yếu tố liên quan với điểm kiến thức bệnh khi chuẩn bị xuất viện
Yếu tố liên quan OR CI 95% p
Chưa hoàn tất phổ thông - - -
Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến cho thấy tuổi, trình độ học vấn và thời gian mắc bệnh ĐTĐ đóng vai trò chính, chiếm 12% sự biến thiên về điểm kiến thức bệnh ĐTĐ của bệnh nhân khi chuẩn bị xuất viện Trong khi đó, 88% sự khác biệt còn lại được giải thích bởi các yếu tố khác liên quan đến kiến thức và quản lý bệnh ĐTĐ Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của các yếu tố nhân khẩu học và thời gian mắc bệnh trong việc nâng cao kiến thức bệnh nhân trước khi xuất viện.
- Khi tuổi bệnh nhân tăng thêm 1 bậc thì điểm kiến thức bệnh ĐTĐ của bệnh nhân khi chuẩn bị xuất viện giảm thêm 0,048 điểm
Bệnh nhân có trình độ đại học thường có kiến thức về bệnh đái tháo đường tốt hơn, giúp họ hiểu rõ hơn về quản lý bệnh và các yếu tố liên quan Khi chuẩn bị xuất viện, điểm kiến thức của những bệnh nhân này tăng thêm 1,691 điểm so với những bệnh nhân không hoàn thành trung học phổ thông Điều này cho thấy trình độ học vấn ảnh hưởng rõ rệt đến mức độ hiểu biết về bệnh đái tháo đường của bệnh nhân.
Khi bệnh nhân mắc bệnh Đái tháo đường trên 10 năm, điểm kiến thức về bệnh tăng thêm 2,652 điểm so với những bệnh nhân có thời gian mắc dưới 1 năm, cho thấy kiến thức bệnh ĐTĐ của bệnh nhân ngày càng nâng cao theo thời gian mắc bệnh.
Các yếu tố tuổi, trình độ học vấn và thời gian mắc ĐTĐ có mối liên hệ đáng kể với điểm kiến thức bệnh của bệnh nhân khi nhập viện, thể hiện qua kết quả thống kê có ý nghĩa (p < 0,05).
3.8.2 Các yếu tố liên quan đến kiến thức sử dụng insulin
Sau khi kiểm tra tương quan Spearman giữa các biến như tuổi, giới tính, nơi sinh sống, trình độ học vấn, tiền sử gia đình mắc ĐTĐ, thời gian mắc bệnh và điểm kiến thức sử dụng insulin khi nhập viện, nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ đáng kể giữa các yếu tố này với khả năng sử dụng insulin của bệnh nhân Kết quả nghiên cứu giúp làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và quản lý bệnh tiểu đường, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc và giáo dục bệnh nhân.
Bảng 3.29 thể hiện mức độ tương quan giữa các yếu tố với điểm kiến thức sử dụng insulin của bệnh nhân khi nhập viện, trong đó hệ số tương quan r cho thấy mức độ liên hệ giữa các biến số và điểm kiến thức của bệnh nhân Kết quả cho thấy có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê khi giá trị p-value đạt dưới ngưỡng nhất định, cho thấy các yếu tố này ảnh hưởng đáng kể đến kiến thức sử dụng insulin của bệnh nhân trước khi nhập viện Những yếu tố có hệ số tương quan r cao và p-value nhỏ thể hiện sự quan tâm đặc biệt trong việc cải thiện kiến thức về insulin nhằm nâng cao hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.
Tiền sử gia đình có người mắc ĐTĐ -0,090 0,081