1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Khảo sát kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắt nhọn y tế và các yếu tố liên quan ở sinh viên điều dưỡng trường đại học y dược cần thơ năm 2020 nguyễn thị mỹ phương; hdkt ths phạm

86 42 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo sát kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắt nhọn y tế và các yếu tố liên quan ở sinh viên điều dưỡng trường đại học y dược cần thơ năm 2020
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Phương, Phạm Thị Bê Kiều
Trường học Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Chuyên ngành Y Dược
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2020
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Vài nét về ngành điều dưỡng (15)
    • 1.2. Phơi nhiễm nghề nghiệp (16)
    • 1.3. Tổn thương do vật sắc nhọn y tế (17)
    • 1.4. Nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức phòng ngừa tổn thương (25)
    • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
      • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (28)
      • 2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (28)
      • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (28)
      • 2.4. Đạo đức trong nghiên cứu (34)
  • Chương III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (35)
    • 3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu và tình hình tổn thương do vật sắc nhọn (35)
    • 3.2. Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn (39)
    • 3.3. Các yếu tố liên quan với kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn (45)
  • Chương IV. BÀN LUẬN (48)
    • 4.1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và tình hình tổn thương do vật sắc nhọn (0)
    • 4.2. Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn (51)
    • 4.3. Các yếu tố liên quan với kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn (0)
  • KẾT LUẬN (61)

Nội dung

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN KHẢO SÁT KIẾN THỨC PHÒNG NGỪA TỔN THƯƠNG DO VẬT SẮC NHỌN Y TẾ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN

KHẢO SÁT KIẾN THỨC PHÒNG NGỪA

TỔN THƯƠNG DO VẬT SẮC NHỌN Y TẾ

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN

ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

NĂM 2020

NGUYỄN THỊ MỸ PHƯƠNG THẠC SĨ ĐIỀU DƯỠNG - PHẠM THỊ BÉ KIỀU

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG CỦA SINH VIÊN

KHẢO SÁT KIẾN THỨC PHÒNG NGỪA

TỔN THƯƠNG DO VẬT SẮC NHỌN Y TẾ

VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở SINH VIÊN

ĐIỀU DƯỠNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong đề tài là hoàn toàn trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào Nếu có gì sai trái tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Chủ nhiệm đề tài

Nguyễn Thị Mỹ Phương

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

Mục lục

PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI

PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Vài nét về ngành điều dưỡng 3

1.2 Phơi nhiễm nghề nghiệp 4

1.3 Tổn thương do vật sắc nhọn y tế 5

1.4 Nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn y tế của sinh viên điều dưỡng 13

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng nghiên cứu 16

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 16

2.3 Phương pháp nghiên cứu 16

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 22

Chương III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu và tình hình tổn thương do vật sắc nhọn 23

3.2 Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn 27

3.3 Các yếu tố liên quan với kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn 33

Trang 5

Chương IV BÀN LUẬN 36 4.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và tình hình tổn thương do vật sắc nhọn 36 4.2 Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn 39 4.3 Các yếu tố liên quan với kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn 46 KẾT LUẬN 49 KIẾN NGHỊ 50

Trang 6

PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI

Tình hình các nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Điều dưỡng là nhân viên y tế có nhiều nguy cơ nhất trong quá trình làm việc, thực hiện công tác chăm sóc, hỗ trợ điều trị cho người bệnh; trong đó bị tổn thương do vật sắc nhọn là vấn đề thường gặp [8], [14], [27], [28], [30], [32] Tình trạng tổn thương do vật sắc nhọn ở sinh viên điều dưỡng càng đáng quan tâm hơn khi tần suất tổn thương do vật sắc nhọn xảy ra ở sinh viên điều dưỡng

so với nhân viên điều dưỡng là 4,9/1,2 [34]

Các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây cho thấy kiến thức của sinh viên điều dưỡng về tổn thương do vật sắc nhọn vẫn còn hạn chế [1], [10], [18], [25]; các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng này bao gồm giới tính, tuổi, số lần trực ca đêm, sự huấn luyện an toàn lao động [35] Tuy nhiên, các nghiên cứu trước chưa đề cập đến kiến thức chung của sinh viên về tổn thương do vật sắc nhọn; mối liên quan giữa khóa học, số lần tổn thương với kiến thức đúng

về tổn thương do vật sắc nhọn Tại Thành phố Cần Thơ chưa có nghiên cứu nào thực hiện về khảo sát kiến thức của sinh viên điều dưỡng về tổn thương do

viên điều dưỡng

Mục tiêu nghiên cứu

1 Xác định tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có kiến thức đúng về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn y tế

Trang 7

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng ngừa tổn thương

do vật sắc nhọn gây ra của sinh viên điều dưỡng

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu: cắt ngang mô tả

Đối tượng nghiên cứu: sinh viên ngành Điều dưỡng hệ chính quy năm thứ 3

và thứ 4 trong thời gian nghiên cứu

Phương pháp chọn mẫu: chọn mẫu ngẫu nhiên đơn 100 sinh viên thỏa các

tiêu chí chọn mẫu gồm: (1) Sinh viên ngành Điều dưỡng hệ chính quy năm thứ

3 và thứ 4, (2) đồng ý tham gia nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu

Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu

Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn gồm hai mức đúng

và chưa đúng Tổng điểm của bộ câu hỏi là 43 điểm, đánh giá sinh viên có kiến thức đúng khi trả lời đúng ≥70% (đạt từ 30,1 điểm trở lên) và chưa đúng khi trả lời đúng <70% (dưới 30,1 điểm)

Mối liên quan giữa kiến thức đúng với đặc điểm của đối tượng nghiên cứu gồm giới tính, khóa học, học lực và tiền sử tổn thương do vật sắc nhọn

Công cụ nghiên cứu: bộ câu hỏi tự điền có Cronbach alpha phần khảo sát

kiến thức là 0,732

Phương pháp thu thập số liệu

Chia ngẫu nhiên đối tượng nghiên cứu thành 4 nhóm nhỏ, từng sinh viên

tự điền bộ câu hỏi Tiến hành thu tập số liệu qua bộ câu hỏi tự điền

Phương pháp xử lý số liệu

Xử lý số liệu bằng bằng mềm SPSS 20.0 Sử dụng thống kê mô tả để mô

tả đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu Sử dụng kiểm định χ2 để khảo sát các mối liên quan với kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn

Trang 8

về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn gây ra là 76% cao hơn sinh viên khóa 44 (năm thứ 3) Sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê (p ≥ 0,05) Mối liên quan với tiền sử bị tổn thương do vật sắc nhọn chúng tôi ghi nhận được sinh viên chưa từng bị tổn thương do vật sắc nhọn có kiến thức đúng về tổn thương do vật sắc nhọn cao hơn là 75,9% so với có tiền sử tổn thương do vật sắc nhọn là 63,2% Tuy nhiên sự khác biệt này là không có ý nghĩa thống kê (p=0,145) Yếu tố liên quan học lực, kết quả nghiên cứu chúng tôi cho thấy tỷ sinh viên có điểm trung bình tích lũy ở mức Giỏi – Khá có kiến thức đúng về tổn thương do vật sắc nhọn cao hơn là 72,6% so với tỷ lệ sinh viên có điểm tích lũy trung bình có kiến thức đúng về tổn thương do vật sắc nhọn là 59,3% Tuy nhiên, sự khác biệt kiến thức đúng giữa các mức xếp loại điểm tích lũy học tập

Trang 9

PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

Trang 10

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HBV Hepatitis B Virus Vi rút viêm gan B

HCV Hepatitis C Virus Vi rút viêm gan C

HIV Human Immunodeficiency

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 3.2 Nguồn kiến thức về tổn thương do vật sắc nhọn và dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn của sinh viên Điều dưỡng 24

Bảng 3.3 Tình trạng bị tổn thương do vật sắc nhọn trong 6 tháng gần nhất 24

Bảng 3.4 Đặc điểm của tổn thương do vật sắc nhọn 25

Bảng 3.5 Tình trạng vết thương do vật sắc nhọn và xử trí của sinh viên 26

Bảng 3.6 Mô tả kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn 27

Bảng 3.7 Kiến thức về định nghĩa tổn thương do vật sắc nhọn 28

Bảng 3.8 Kiến thức về các bệnh lây nhiễm qua tổn thương do vật sắc nhọn 29 Bảng 3.9 Kiến thức về định nghĩa mũi tiêm an toàn 30

Bảng 3.10 Kiến thức về phòng ngừa chuẩn 30

Bảng 3.11 Kiến thức về phân loại nhóm chất thải sắc nhọn và mức chứa của thùng đựng vật sắc nhọn 31

Bảng 3.12 Kiến thức của sinh viên về việc tổn thương do vật sắc nhọn có thể ngăn ngừa và phương pháp an toàn khi trao vật sắc nhọn cho người khác 31

Bảng 3.13 Kiến thức về các biện pháp dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn 32

Bảng 3.14 Kiến thức về cách phòng tránh bị tổn thương khi vứt bỏ vật sắc nhọn 32

Bảng 3.15 Tỷ lệ kiến thức đúng về các biện pháp xử lý sau khi tổn thương do vật sắc nhọn 33

Bảng 3.16 Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn 34

Bảng 3.17 Các yếu tố liên quan đến số lần bị tổn thương do vật sắc nhọn 35

Trang 12

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang Biểu đồ 3.1 Kiến thức về mức độ nguy hiểm của tổn thương do vật sắc

nhọn 28 Biều đồ 3.2 Kiến thức về các nguyên nhân gây ra tổn thương do vật sắc nhọn 29

Trang 13

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong quá trình chăm sóc, hỗ trợ điều trị cho người bệnh, điều dưỡng đối mặt với nhiều nguy cơ, trong đó bị tổn thương do vật sắc nhọn là vấn đề thường gặp [8], [14], [27], [28], [30], [32] Tổn thương do vật sắc nhọn là vết đâm xuyên thấu từ kim tiêm, dao mổ hoặc vật sắc nhọn khác bao gồm đầu kim truyền dịch, thủy tinh vỡ, ống mao dẫn bị vỡ và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm

có thể dẫn đến tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể khác [6], [21] Nghiên

thương do vật sắc nhọn trong suốt thời gian hành nghề của họ và các tổn thường này thường gặp nhất là do kim tiêm (35,8%) [19] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2014) cho kết quả có đến 70,6% điều dưỡng bị tổn thương do vật sắc nhọn, cao hơn đối tượng bác sĩ, kỹ thuật viên và hộ sinh; có 82,6% vật sắc nhọn gây tổn thương cho nhân viên y tế là kim tiêm [14] Hơn

20 bệnh truyền nhiễm có thể lây truyền qua các tổn thương do vật sắc nhọn, trong đó đáng quan tâm nhất là nguy cơ phơi nhiễm viêm gan B, viêm gan C

và HIV [29] Ước tính lần lượt có khoảng 16.000, 66.000 và 1.000 trường hợp nhiễm HCV, HBV và HIV hàng năm liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn dẫn đến khoảng 1.100 ca tử vong hoặc tàn tật nghiêm trọng [23]

Sinh viên điều dưỡng cũng đối mặt với nhiều nguy cơ trong quá trình thực tập lâm sàng tại bệnh viện, nhưng lại thiếu kiến thức và kỹ năng hơn so với điều dưỡng viên nên nguy cơ gặp phải các tổn thương do vật sắc nhọn lại càng đáng quan tâm hơn Theo kết quả nghiên cứu của Ya Hui Yang ở Đài Loan (2004) cho thấy tần suất tổn thương do vật sắc nhọn xảy ra ở sinh viên điều dưỡng so với nhân viên điều dưỡng là 4,9/1,2 [34] Tỷ lệ sinh viên điều dưỡng

và Hani A Nawafleh (2018) lần lượt là 60,3% và 66,67% [26], [35] Tại Việt

Trang 14

Nam, tỷ lệ sinh viên điều dưỡng từng bị tổn thương do vật sắc nhọn cũng tương đương Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Thơ (2015) là 60% và nghiên cứu của

Mỵ Thị Hải (2016) là 68,9% [11], [15] Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy kiến thức của sinh viên điều dưỡng về tổn thương do vật sắc nhọn và phòng ngừa vẫn còn hạn chế Nghiên cứu của Nguyễn Phương Anh và cộng sự (2020)

về “Thực trạng kiến thức dự phòng về tổn thương do vật sắc nhọn của sinh viên trường Đại học Điều dưỡng Nam Định” có 59,7% sinh viên có kiến thức đúng [1] Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thị Hà (2019) về “Kiến thức thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN trong tiêm truyền của sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nội” có 62,1% sinh viên có kiến thức đạt về phòng

và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn [24]

Tại Thành phố Cần Thơ chưa có nghiên cứu nào thực hiện về khảo sát kiến thức của sinh viên điều dưỡng về tổn thương do vật sắc nhọn và cách

về tổn thương do vật sắc nhọn và các yếu tố liên quan, từ đó có bằng chứng khoa học để xây dựng các can thiệp phù hợp để nâng cao kiến thức của sinh viên về tổn thương do vật sắc nhọn và giảm thiểu rủi ro bị tổn thương do vật sắc nhọn ở sinh viên điều dưỡng nên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Khảo sát kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn y tế và các yếu tố liên quan ở sinh viên Điều dưỡng trường Đại học Y dược Cần Thơ năm 2020” với mục tiêu:

1 Xác định tỷ lệ sinh viên điều dưỡng có kiến thức đúng về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn y tế

2 Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến kiến thức phòng ngừa tổn thương

do vật sắc nhọn gây ra của sinh viên điều dưỡng

Trang 15

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Vài nét về ngành điều dưỡng

1.1.1 Định nghĩa

Điều dưỡng là một môn nghệ thuật và khoa học nghiên cứu cách chăm sóc bản thân khi cần thiết và cho người khác khi họ không thể tự chăm sóc [2] Tại Việt Nam, điều dưỡng từng được gọi là y tá, từng chưa hẳn là một ngành được mọi người công nhận, chưa được đào tạo một cách có hệ thống, chỉ là người giúp việc, trợ lý cho thầy thuốc Qua thời gian, ngành điều dưỡng ngày càng tiến bộ song song cùng với những tiến bộ của y học Ngành điều dưỡng đã được mọi người công nhận là một ngành độc lập và được pháp luật bảo hộ và trở thành một ngành không thể tách rời của ngành Y tế, một ngành chiếm hơn nửa

số lượng cán bộ y tế, đóng góp vai trò quan trọng cùng bác sĩ trong việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân [2]

Florence Nightingale cho rằng: “Điều dưỡng là nghệ thuật sử dụng môi trường của người bệnh để hỗ trợ sự phục hồi của họ Vai trò trọng tâm của người điều dưỡng là giải quyết các yếu tố môi trường xung quanh bệnh nhân

để họ phục hồi sức khoẻ một cách tự nhiên” [16]

Henderson định nghĩa về điều dưỡng: “Chức năng duy nhất của người điều dưỡng là hỗ trợ các hoạt động nâng cao và phục hồi sức khỏe của người bệnh hoặc người khỏe hoặc cho cái chết được thanh thản mà mỗi cá thể có thể

tự thực hiện được nếu họ có sức khỏe, ý chí hoặc kiến thức cần thiết” [3] Hội điều dưỡng Canada đã đưa ra định nghĩa về ngành điều dưỡng: “Điều dưỡng nghĩa là phải chăm sóc bệnh nhân phù hợp với bệnh tật của họ bao gồm

cả việc luyện tập về tinh thần, chức năng và phục vụ bệnh nhân trực tiếp hoặc

Trang 16

gián tiếp, giúp cho người bệnh cải thiện sức khỏe, ngăn chặn ốm đau, hòa nhập với cộng đồng và xã hội” [13]

Tuy mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia, mỗi người có khái niệm khác nhau về ngành điều dưỡng, nhưng trọng tâm của các khái niệm ấy đều nêu lên tầm quan trọng, vai trò và vị trí của người điều dưỡng

1.1.2 Nhiệm vụ chuyên môn của điều dưỡng

dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, trong đó nhiệm vụ chuyên môn chăm sóc người bệnh của điều dưỡng bao gồm [4]:

chăm sóc người bệnh;

1.2 Phơi nhiễm nghề nghiệp

Phơi nhiễm nghề nghiệp là sự tiếp xúc trực tiếp của niêm mạc hay da không nguyên vẹn với máu, mô hay dịch cơ thể có chứa nguồn lây nhiễm hoặc tiếp xúc trực tiếp với nguồn hóa chất, vi sinh vật, các tia có hại cho cơ thể trong quá trình làm việc của nhân viên y tế dẫn đến sự thâm nhiễm [6], [28]

Phơi nhiễm nghề nghiệp có các hình thức sau: phơi nhiễm vật sắc nhọn (VSN) nhiễm khuẩn xuyên thấu da (qua tiêm, truyền, chọc dò, kim khâu, dao

Trang 17

mổ ); máu, dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da bị tổn thương của nhân viên y tế (NVYT) khi làm thủ thuật (vết bỏng, da viêm loét, niêm mạc mắt, mũi, họng ); da của NVYT bị xây xước tiếp xúc với máu và dịch sinh học của người bệnh [6] Trong đó phơi nhiễm chủ yếu là qua tổn thương do kim tiêm hoặc VSN [5]

Nguy cơ mắc bệnh sau phơi nhiễm nhiều hay ít phụ thuộc các yếu tố:

− Tác nhân gây bệnh: phơi nhiễm với vi rút viêm gan B (HBV) có nguy

cơ nhiễm bệnh cao hơn vi rút viêm gan C (HCV) hoặc vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV) [5] Theo một nghiên cứu đa quốc gia nguy cơ mắc bệnh khi bị kim đâm hay vết đứt từ người bệnh có viêm gan B có cả hai kháng nguyên bề mặt HBsAg và kháng nguyên e (HBeAg) là 22%-31%, từ nguồn máu chỉ có HBsAg đơn thuần là 1%-6%, từ nguồn viêm gan C là 1,8% (khoảng: 0%-7%), từ nguồn nhiễm HIV là 0,3% [5]

− Loại phơi nhiễm: phơi nhiễm với máu có nguy cơ hơn với nước bọt [5]

− Số lượng máu gây phơi nhiễm: kim rỗng lòng chứa nhiều máu hơn kim khâu hoặc kim chích máu [5]

− Đường phơi nhiễm: phơi nhiễm qua da nguy cơ hơn qua niêm mạc hay

Tổn thương do VSN bao gồm tất cả tổn thương xâm lấn da hặc qua da

Trang 18

như: trầy xước da, xuyên da kín, rách da có chảy máu, rách da không chảy máu

do kim tiêm, dao mổ hoặc VSN khác bao gồm kim tiêm, đầu kim truyền dịch, dao mổ, thủy tinh vỡ, ống mao dẫn bị vỡ và đầu dây nẹp nha khoa bị phơi nhiễm

có thể dẫn đến tiếp xúc với máu hoặc chất dịch cơ thể khác [6], [21]

Tổn thương do VSN có liên quan mật thiết với một số thiết bị có thể làm tăng nguy cơ tiếp xúc với máu hoặc chất lỏng cơ thể Các thiết bị này bao gồm: ống tiêm dùng một lần (27%), kim khâu (25%), lưỡi dao cạo (6%), IV Stylet (3%), kim thép có cánh (2%) [21]

Theo thống kê của Bộ Y tế các thao tác chủ yếu gây tổn thương do VSN

là tiêm truyền (26%), thu gom rác thải (23%), đậy lại nắp kim (6%), bơm thuốc qua đường tĩnh mạch (6%) [8] Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Thơ (2015) cho thấy các thao tác thực hiện dẫn đến bị chấn thương là bẻ ống thủy tinh chiếm 51,3%, tháo kim khỏi bơm tiêm 14,8%, tiêm truyền 9%, đậy nắp kim tiêm 9,2%, phần lớn là đậy nắp kim bằng 2 tay [15] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Phương Anh và cộng sự (2020) ghi nhận nguyên nhân gây ra tổn thương là đóng nắp kim trước và sau khi sử dụng 60,3%, chuyển dụng cụ từ tay này sang tay khác trong quá trình thực hiện 49% [1] Như vậy, tổn thương do VSN thường gặp nhất do kim tiêm, khi thực hiện các thao tác tiêm trên người bệnh [1], [8], [14], [15]

Tiêm an toàn là một quy trình tiêm không gây nguy hại cho người nhận mũi tiêm, không gây phơi nhiễm cho người thực hiện mũi tiêm, không tạo chất nguy hại cho người khác và cộng đồng [6], [33] Theo WHO, có tới 50% các mũi tiêm ở các nước đang phát triển là không an toàn và trong năm 2000 ước tính trên toàn cầu tình trạng bệnh do tiêm không an toàn gây ra 21 triệu ca nhiễm HBV (chiếm 32% số ca nhiễm HBV mới); 2 triệu ca nhiễm HCV (chiếm 40% số ca nhiễm HCV mới) và 260.000 ca nhiễm HIV (chiếm 5% số ca nhiễm HIV mới) [6], [33]

Trang 19

1.3.2 Thực trạng tổn thương do vật sắc nhọn và các yếu tố liên quan

Phơi nhiễm với các bệnh truyền nhiễm qua đường máu liên quan đến tổn thương do VSN đang là một vấn đề phổ biến và gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng với NVYT, đặc biệt là sinh viên điều dưỡng thực tập tại bệnh viện Kết quả khảo sát của nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tổn thương do VSN ở điều dưỡng cũng như sinh viên điều dưỡng còn cao, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ tổn thương do VSN y tế bao gồm giới tính, tuổi, số lần trực ca đêm, sự huấn luyện an toàn lao động [8], [14], [20], [21], [26], [30], [35]

Tổn thương do VSN thường xảy ra ở NVYT, trong đó điều dưỡng là đối tượng bị tổn thương nhiều nhất [8], [14], [21], [30] Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2014) cho kết quả có đến 70,6% điều dưỡng bị tổn thương do VSN, cao hơn đối tượng bác sĩ, kỹ thuật viên và hộ sinh; có 82,6% VSN gây tổn thương cho NVYT là kim tiêm [14] Nghiên cứu của Rami Saadeh

và cộng sự (2020) cho cũng cho thấy trong 6 năm của nghiên cứu tỷ lệ tổn thương do VSN được báo cáo trong điều dưỡng là cao nhất (39,7%), tiếp theo

là người dọn dẹp (36,3%), bác sĩ (10,4%), công nhân khác (7,4%) và kỹ thuật viên phòng thí nghiệm (5,9%) [30] Nghiên cứu của A D Akyol (2016) cho

gian hành nghề của họ và các tổn thường này thường gặp nhất là do kiêm tiêm (35,8%) [19]

Sinh viên điều dưỡng cũng là đối tượng dễ bị tổn thương do VSN khi thực tập lâm sàng Tỷ lệ bị tổn thương do VSN ở sinh viên điều dưỡng trên thế giới rất khác nhau dao động từ 9,4% – 100% [20] Nghiên cứu của Hani A Nawafleh (2018) trên 162 sinh viên điều dưỡng đại học Asat Arsiut ở Ai Cập có đến 2/3

số sinh viên đã từng trải qua tổn thương do VSN, nguyên nhân chính thường

do tiêm chích [26] Nghiên cứu của Zhang X và cộng sự (2017) về “Tỷ lệ sinh viên điều dưỡng bị tổn thương do kim tiêm và VSN tại Nam Kinh, Trung Quốc”

Trang 20

được tiến hành trên 393 sinh viên điều dưỡng cho thấy có 237 (60,3%) sinh viên điều dưỡng báo cáo từng bị tổn thương do VSN, đa số là sinh viên nữ, sinh viên trẻ, sinh viên làm việc ca đêm thường xuyên, sinh viên không được huấn luyện an toàn và sinh viên không sử dụng thiết bị bảo vệ cá nhân [35] Thiết bị gây tổn thương do VSN phổ biến nhất là bơm kim tiêm (59,9%) tiếp theo là các mảnh vỡ thủy tinh (21,9%) và kéo (3,4%) [35] Trong số những kim và VSN gây thương tích, 36,3% thiết bị đã được sử dụng cho bệnh nhân, 41% không được sử dụng và 22,7% không rõ [35] Mở ống hoặc lọ thuốc là tác nhân chấn thương phổ biến nhất [35] Trong nghiên cứu này, tổng cộng có 86,9% tổn thương do VSN không được báo cáo do kim tiêm chưa được sử dụng trên người bệnh, do chủ quan người bệnh không nhiễm trùng, do chưa biết cách báo cáo,

do bận rộn vào thời điểm đó và lo sợ việc báo cáo thương tích sẽ bị chỉ trích nên thường không báo cáo [35]

Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Thơ (2015) về “Thực trạng

và một số yếu tố liên quan đến chấn thương do VSN trong thực tập lâm sàng của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Y khoa Vinh” cho thấy có 269 sinh viên điều dưỡng bị tổn thương do VSN chiếm 60% với tổng số lần mắc là 660,

tỷ lệ sinh viên không báo cáo tổn thương do VSN là 59%, đa phần là do nhận thấy vết thương không nguy hiểm; trong số các tổn thương do VSN thì ống thuốc, mảnh kính là VSN gây chấn thương phổ biến (54,7%), sau đó là các loại kim tiêm (32%), sinh viên năm thứ 3 với tổng số lần bị tổn thương cao hơn sinh viên năm thứ 4 gấp 3,29 lần; đa phần là nữ bị tổn thương nhiều hơn nam [15] Một nghiên cứu khác của Mỵ Thị Hải (2016) tại trường đại học Y Dược Thái Bình cho kết quả là 68,9% số các sinh viên bị tổn thương do VSN [11]

Nghiên cứu của Xujun Zhang và cộng sự (2017) cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ tổn thương do VSN y tế bao gồm giới tính, tuổi, số lần trực

ca đêm, sự huấn luyện an toàn lao động [35] Trong nghiên cứu này, mức độ

Trang 21

tổn thương ở nữ là đáng kể so với nam (69,3% và 19,7%) [35], kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà (2019) với tỷ lệ sinh viên nữ tổn thương phổ biến hơn và có mối liên quan giữa kiến thức chung về phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn tiêm truyền giữa sinh viên năm thứ 3 cao hơn sinh viên năm thứ 2 gấp 3 lần; giữa các sinh viên đã học và đọc tài liệu về phòng

và xử trí phơi nhiễm do VSN có tỷ lệ kiến thức đạt cao hơn các sinh viên chưa học và đọc tài liệu [24] Liên quan với tuổi, nghiên cứu của Xujun Zhang và cộng sự (2017) có 126 sinh viên từ 20 tuổi trở xuống thì có đến 102 sinh viên (tỷ lệ 81%) có xảy ra tổn thương, trong khi đó 267 sinh viên trên 20 tuổi khi được khảo sát thì có 135 sinh viên từng bị tổn thương do VSN (chiếm 50,6%) [35] Liên quan với số lần trực đêm, nghiên cứu này cũng cho thấy, sinh viên

có ca trực đêm >3 lần/tuần có tỷ lệ tổn thương là 88,2 % so với sinh viên không phải trực ca đêm thì tỷ lệ 27,3% [35] So sánh giữa các sinh viên đã được huấn luyện an toàn lao động với sinh viên chưa được huấn luyện lao động thì mức

độ xảy ra tổn thương ở mỗi nhóm lần lượt là 57,6% và 78,4% cho thấy việc huấn luyện an toàn lao động là cần thiết và thật sự quan trọng trong thực tập lâm sàng ở sinh viên điều dưỡng nói chung [35]

Như vậy, tỷ lệ tổn thương do VSN ở sinh viên điều dưỡng còn cao và còn nhiều vấn đề tồn tại, đặc biệt là không báo cáo sau khi bị tổn thương do VSN Sinh viên điều dưỡng còn thiếu kiến thức về tiêm an toàn và phòng ngừa tổn thương do VSN y tế, chưa có nhiều kinh nghiệm trong quá trình thực hiện khiến thao tác còn chưa thuần thục Sinh viên điều dưỡng còn chưa hiểu rõ tác hại của tổn thương do VSN gây ra do trong chương trình giảng dạy mặc dù có đề cập đến nhưng chưa có bài giảng chính thức nên việc tiếp cận khó khăn đối với các sinh viên Việc không báo cáo khiến sinh viên coi việc tổn thương đó không

là một mối nguy hại, sẽ khiến can thiệp xử trí trở nên chậm trễ làm tăng nguy

cơ bị phơi nhiễm các bệnh lây truyền qua đường máu nguy hiểm

Trang 22

1.3.3 Biện pháp dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn y tế

Để dự phòng phơi nhiễm do VSN đặc biệt là do kim tiêm, có thể thực hiện các biện pháp sau [5], [6]:

− Đào tạo cập nhật các kiến thức thực hành về tiêm an toàn cho NVYT

− Cần cung cấp đầy đủ các phương tiện tiêm thích hợp (xe tiêm, bơm kim tiêm, kim lấy thuốc, cồn sát khuẩn tay, hộp đựngVSN )

− Giảm số lượng mũi tiêm không cần thiết Sử dụng thuốc bằng đường uống khi có thể, lấy bệnh phẩm tập trung để tránh lấy máu nhiều lần

− Áp dụng các biện pháp thực hành tiêm an toàn để phòng ngừa tai nạn rủi ro nghề nghiệp:

+ Thực hiện đúng các quy trình tiêm theo hướng dẫn

+ Tập trung vào công việc, không nói chuyện và không nhìn đi chỗ khác Không đi lại trong khi cầm kim tiêm, kim khâu trong tay Nếu cần di chuyển thì kim phải được để trong khay

+ Trong khi thao tác với VSN không để tay trước mũi kim

+ Trong khi tiêm, khâu phải đảm bảo rằng người bệnh biết cách giữ yên, không giãy giụa, nếu người bệnh là trẻ em cần có người giúp đỡ giữ yên Trong khi tiêm không dùng tay dò tĩnh mạch phía trên da, bên ngoài mũi kim trong khi tay kia đang đẩy kim tìm mạch máu

+ Thực hiện các thao tác an toàn sau khi tiêm: bỏ kim tiêm ngay tại nơi tiến hành tiêm; huỷ kim tiêm với một động tác dứt khoát, huỷ từng cái một bằng máy huỷ kim tiêm; thả toàn bộ kim tiêm vào hộp an toàn đựng VSN, không nên

ấn kim tiêm vào thùng chứa; không bẻ cong kim, không dùng hai tay đậy lại nắp kim tiêm, không tháo kim tiêm bằng tay, không cầm bơm kim tiêm nhiễm khuẩn đi lại ở nơi làm việc Không được vứt bỏ kim bơm tiêm vào thùng đựng rác thải sinh hoạt Ở những nơi không có điều kiện huỷ bỏ bơm kim tiêm nên

sử dụng bơm kim tiêm tự huỷ

Trang 23

+ Nếu cần phải đậy nắp kim khi không có thùng đựng VSN tại thời điểm

bỏ kim thì dùng kỹ thuật xúc một tay để phòng ngừa tổn thương

+ Có thể sử dụng các dụng cụ tiêm có đặc tính bảo vệ trong trường hợp nguy cơ bị kim đâm cao (ví dụ người bệnh kích thích, giãy giụa )

+ Tránh chuyền tay các VSN và nhắc đồng nghiệp thận trọng mỗi khi chuyển VSN, đặt VSN vào khay để đưa cho đồng nghiệp Khi VSN rơi, nên để chúng tự rơi, không cố đón

+ Sắp xếp nơi làm việc sao cho tất cả các dụng cụ đều trong tầm với của

cả hai tay và phải có thùng thu gom VSN được để sát bên để loại bỏ các VSN nhanh và an toàn

− Thực hành thủ thuật, phẫu thuật an toàn Khi thực hiện các thủ thuật phải luôn luôn chú ý vào phẫu trường và các dụng cụ sắc nhọn Có thể mang hai găng trong những phẫu thuật có nguy cơ lây nhiễm cao

+ Thùng đựng VSN không được để đầy quá 3/4 Khi thu gom và xử lý các thùng đựng VSN cần quan sát kỹ xem có quá đầy và có các VSN chĩa ra ngoài hay không Tránh để tay quá gần chỗ mở của các thùng chứa các VSN, không nên thu gom các thùng đựng VSN bằng tay không có găng bảo hộ

− Tuân thủ quy trình báo cáo theo dõi và điều trị sau phơi nhiễm

− Khuyến khích mọi NVYT tiêm phòng vacxin viêm gan B

1.3.4 Xử trí khi bị tổn thương do vật sắc nhọn y tế

Sau khi bị tổn thương do VSN, các biện pháp dự phòng cần được thực

Trang 24

hiện càng sớm càng tốt; việc này đòi hỏi người phơi nhiễm phải được một NVYT được đào tạo và phân công đánh giá tình trạng sức khỏe chăm sóc và phòng ngừa mang tính đặc thù với tác nhân gây bệnh cụ thể [6] Công tác quản

lý phơi nhiễm bao gồm sơ cứu đánh giá rủi ro thông báo và báo cáo về HBV, HCV và HIV các phương pháp điều trị phòng bệnh sau phơi nhiễm (nếu cần)

1.3.4.1 Thực hiện sơ cứu

Sơ cứu được thực hiện trên cơ sở loại phơi nhiễm (ví dụ giọt bắn kim tiêm hay các tổn thương khác) và phương tiện phơi nhiễm (như da nguyên vẹn hay

da bị tổn thương) Đối với tổn thương do kim tiêm hoặc VSN cần rửa ngay vùng da bị tổn thương bằng xà phòng và nước dưới vòi nước chảy Để máu ở vết thương tự chảy, không nặn bóp vết thương [6]

1.3.4.2 Báo cáo phơi nhiễm

NVYT bị phơi nhiễm cần báo cáo ngay cho người chịu trách nhiệm để xử trí và thực hiện điều trị dự phòng sau phơi nhiễm theo quy định [6] Lưu ý ghi đầy đủ các thông tin yêu cầu trong hồ sơ phơi nhiễm gồm ngày giờ, hoàn cảnh xảy ra, đánh giá vết thương, mức độ nguy cơ của phơi nhiễm Lấy chữ ký của người chứng kiến và chữ ký của người phụ trách

1.3.4.3 Đánh giá nguy cơ, tư vấn

Trong công tác kiểm soát phơi nhiễm bước đầu tiên là thực hiện đánh giá

− Xác định nguy cơ liên quan đến tình huống phơi nhiễm bằng cách xem xét các yếu tố sau [6]:

+ Loại dịch cơ thể (như máu dịch nhìn thấy có chứa máu dịch hoặc mô

có nguy cơ nhiễm khuẩn và vi rút);

+ Loại phơi nhiễm (như tổn thương dưới da phơi nhiễm đối với niêm mạc hoặc da bị tổn thương và vết cắn dẫn đến phơi nhiễm với máu);

Trang 25

+ Đánh giá nguy cơ liên quan đến nguồn phơi nhiễm bằng cách đánh giá nguy cơ nhiễm khuẩn với các tất cả các tác nhân đường máu bằng cách sử dụng thông tin sẵn có (như qua phỏng vấn hồ sơ bệnh án);

+ Thực hiện các xét nghiệm trên đối tượng nguồn với sự đồng thuận trên

cơ sở được cung cấp đầy đủ thông tin (không xét nghiệm nhiễm vi rút đối với bơm kim tiêm đã thải bỏ)

− Kết hợp các kết quả để đánh giá nguy cơ đối với đối tượng bị phơi nhiễm, bảo đảm rằng chỉ có nhân viên được đào tạo mới được thực hiện đánh giá nguy cơ và chỉ định điều trị phòng bệnh sau phơi nhiễm [6]

− Tư vấn và hỗ trợ tâm lý, nguy cơ nhiễm HIV, HBV, HCV, tư vấn và xét nghiệm HIV ngay theo quy định, lợi ích của việc điều trị dự phòng sau phơi nhiễm Nếu kết quả xét nghiệm HIV dương tính thì người bị phơi nhiễm đã nhiễm HIV từ trước cần tư vấn, chuyển họ đến cơ sở y tế để xét nghiệm khẳng định và điều trị thuốc kháng vi rút ngay [5], [9]

1.3.4.4 Điều trị sau phơi nhiễm

Nếu người bệnh nguồn dương tính với HIV hoặc nghi ngờ hoặc không rõ thì cần điều trị sau phơi nhiễm [5] Bắt đầu điều trị dự phòng sau phơi nhiễm càng sớm càng tốt, không điều trị dự phòng khi đã phơi nhiễm quá 72 giờ, thời gian điều trị dự phòng phải đủ 28 ngày liên tục [5], [9] Phác đồ điều trị sau phơi nhiễm là phác đồ kháng virus cơ bản phối hợp 2 thuốc (ví dụ Lamzidivir

2 viên/ngày) hoặc mở rộng 3 thuốc [5]

Tiêm ngừa vaccin viêm gan B và HBIg trong vòng 24 giờ sau tai nạn nếu nhân viên chưa có kháng thể HBV [5]

1.4 Nghiên cứu trong và ngoài nước về kiến thức phòng ngừa tổn thương

do vật sắc nhọn y tế của sinh viên điều dưỡng

1.4.1 Nghiên cứu ngoài nước

Nghiên cứu của Prasuna Jelly và cộng sự (2015) thực hiện trên 83 sinh

Trang 26

viên điều dưỡng đang học năm thứ 3 và năm thứ 4 ở Ấn Độ Nghiên cứu nhằm mục đích xác định tần suất xảy ra tổn thương kim đâm trong suốt quá trình đào tạo, thực tập lâm sàng và các biện pháp được dự phòng phơi nhiễm sau khi tiếp xúc, đồng thời đánh giá kiến thức liên quan đến tổn thương kim tiêm ở sinh viên điều dưỡng Kết quả cho thấy tỷ lệ xảy ra tổn thương do VSN trong khóa học là 39,76; tổn thương do VSN thường xảy ra nhất trong năm đầu thứ nhất của sinh viên (57,57%); 54,54% sinh viên điều dưỡng bị tổn thương do VSN

đã không được báo cáo; trong số những người bị phơi nhiễm chỉ có 15,15% sinh viên đã trải qua xét nghiệm kiểm tra máu về các bệnh lây nhiễm và rất ít sinh viên thực hiện các biện pháp phơi nhiễm [25]

Một nghiên cứu khác của Zainb Abd – Ellatif (2018) cho thấy có 50% sinh viên điều dưỡng đang đi thực tập lâm sàng tại Bệnh viện Đại học Assiut, Ai Cập chưa có kiến thức đúng về tổn thương do kim và VSN gây ra [18] Nghiên cứu của Seham A.Abd El – Hay (2015) cho thấy có 97% tỷ lệ sinh viên điều dưỡng biết bệnh truyền theo đường máu do VSN gây ra là HCV, HBV; 69,7% cho rằng HIV có thể lây truyền theo đường máu do VSN gây ra [22]

1.4.2 Nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Nguyễn Phương Anh và cộng sự (2020) về “Thực trạng kiến thức dự phòng tổn thương do VSN của sinh viên trường Đại học Điều dưỡng Nam Định” thực hiện trên 300 sinh viên điều dưỡng từ tháng 01/2019 đến tháng 12/2019 [1] Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 59,7% sinh viên có kiến thức chung đúng về dự phòng tổn thương do VSN; chỉ có 11% sinh viên điều dưỡng biết đến cả 6 nguyên nhân dẫn đến tổn thương do VSN; 33% sinh viên kể tên được 3 loại bệnh truyền nhiễm phổ biến; 29% sinh viên điều dưỡng

có kiến thức đúng về phương pháp xử lý kim an toàn; 67,3% sinh viên biết các bước xử lý sau khi bị tổn thương và 85,3% sinh viên hiểu rằng báo cáo sau khi

bị tổn thương do VSN là cần thiết [1]

Trang 27

Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà (2019) về “Kiến thức, thái độ về

phòng và xử trí phơi nhiễm với vật sắc nhọn trong tiêm truyền của sinh viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nội” trên 438 sinh viên; tỷ lệ sinh viên

có kiến thức đạt về phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN trong tiêm truyền là 62,1% [24] Tuy nhiên, chỉ có 36,8% sinh viên trả lời đúng rằng nếu ngay sau phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm đã dương tính HBV/HCV/HIV là do không phải phơi nhiễm vừa mới xảy ra mà do họ đã bị bệnh từ trước đó hay chỉ có 6,6% sinh viên chọn theo dõi người bị phơi nhiễm với nguồn virus viêm gan B bằng xét nghiệm kháng thể kháng virus sau 1 tháng khi tiêm liều vắc xin cuối cùng; 54,3% sinh viên chưa tiêm và không biết đã tiêm vắc xin viêm gan B chưa hay gần 80% sinh viên vẫn cho rằng đã có vắc xin phòng viêm gan C; 32,6% sinh viên biết để an toàn trong phòng phơi nhiễm với VSN cần xử lý đúng kim tiêm truyền sau khi sử dụng; 48,4% sinh viên trả lời đúng về việc sử dụng hộp an toàn; tỷ lệ xử lý vết thương đúng còn khá thấp chỉ chiếm 34% [24] Nghiên cứu cũng tìm ra sinh viên năm thứ 3 có kiến thức đạt về phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN trong tiêm truyền cao hơn gấp 3 lần so với sinh viên năm thứ 2; sinh viên có thái độ tích cực có kiến thức đạt về phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN trong tiêm truyền cao hơn gấp 2 lần so với sinh viên có thái độ chưa tích cực [24]

Tóm lại, các nghiên cứu trước cho thấy kiến thức của sinh viên điều dưỡng

về tổn thương do VSN ở mức tương đối thấp, các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng này gồm bao gồm giới tính, tuổi, số lần trực ca đêm, sự huấn luyện

an toàn lao động [35] Tuy nhiên, các nghiên cứu trước chưa đề cập đến kiến thức chung của sinh viên về tổn thương do VSN; mối liên quan giữa khóa học,

số lần tổn thương với kiến thức đúng về tổn thương do VSN

Trang 28

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Sinh viên ngành Điều dưỡng trường Đại học Y Dược Cần Thơ

2.1.1 Tiêu chuẩn chọn

− Sinh viên ngành Điều dưỡng hệ chính quy chính quy năm thứ 3 và thứ

4 trong thời gian nghiên cứu

− Đồng ý tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

Sinh viên ngành Điều dưỡng không có mặt tại trường trong thời gian nghiên cứu (tạm nghỉ học, trao đổi sinh viên ngoài trường)

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Nghiên cứu được tiến hành tại trường Đại học Y Dược Cần Thơ từ tháng 03/2020 đến tháng 06/2021 Trong đó, thời gian thu thập số liệu từ tháng 11/2020 đến tháng 3/2021

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang mô tả

2.3.2 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu được ước tính theo công thức:

Trong đó:

− N là cỡ mẫu nghiên cứu cần có

− P là tỷ lệ ước đoán Theo kết quả nghiên cứu của nghiên cứu về “Kiến thức, thái độ về phòng và xử trí phơi nhiễm với VSN trong tiêm truyền của sinh

Trang 29

viên điều dưỡng trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2018” của Nguyễn Thị Hà năm 2018, tỷ lệ sinh viên có kiến thức đúng là 62,1% Do đó chọn p = 0,621

− d là mức chính xác của nghiên cứu, là sự khác biệt giữa tỷ lệ p thu được trên mẫu và tỷ lệ thật trong quần thể nghiên cứu Chọn d = 0,1

Thay vào công thức, cỡ mẫu là 90,4 Cộng thêm 15% dự phòng cái các hợp sai số do sinh viên không đồng ý tham gia nghiên cứu, sinh viên không hoàn thành bộ câu hỏi nghiên cứu và làm tròn thì cỡ mẫu cần có là 110

Thực tế nghiên cứu đã lấy được 111 mẫu

2.3.3 Phương pháp chọn mẫu

Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn

Đầu tiên lập danh sách toàn bộ sinh viên lớp Điều dưỡng khóa 43 và khóa

44, tổng sinh vên hai lớp là 158 sinh viên Tiến hành đánh số thứ tự từng sinh viên trên danh sách từ 1 đến 158 và bốc thăm ngẫu nhiên để chọn ra 110 sinh viên theo cỡ mẫu đã tính Thực tế, nghiên cứu đã lấy được 111 mẫu

2.3.4 Nội dung nghiên cứu

2.3.4.1 Thông tin cá nhân

Đặc điểm cá nhân của đối tượng gồm: tuổi, giới tính, dân tộc, khóa học, học lực, tiền sử tổn thương do VSN và số lần tổn thương do VSN

− Tuổi là biến số liên tục, ghi nhận tuổi theo năm sinh dương lịch, tuổi được tính bằng cách lấy năm nghiên cứu trừ đi năm sinh của đối tượng nghiên cứu

− Giới tính là biến nhị giá gồm 2 giá trị nam và nữ

− Dân tộc là biến số định danh, gồm Kinh, Hoa, Khmer và nhóm các dân tộc khác (không phải dân tộc Kinh, Hoa, Khmer) Ghi nhận theo Chứng minh Nhân dân

− Khóa học là biến nhị giá, gồm hai giá trị là khóa 43 và khóa 44 Được

Trang 30

xác định bằng thông tin trên bảng tên của sinh viên

− Học lực là biến số thứ tự Ghi nhận theo điểm trung bình chung tích lũy năm học gần nhất Gồm xuất sắc (3,60 đến 4,00), giỏi (3,20 đến 3.59), khá (2,50 đến 3,19), trung bình (2,00 đến 2,49), yếu (nhỏ hơn 2,00) Thực tế trong nghiên cứu ghi nhận gồm 3 nhóm là giỏi, khá và trung bình, tuy nhiên số lượng giỏi là rất ít (2), nên chúng tôi gộp thành biến giỏi – khá và trung bình để khảo sát các yếu tố liên quan

− Tiền sử tổn thương do VSN là biến nhị giá gồm 2 giá trị là có và không

Thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền, trường hợp đối tượng nghiên cứu điền không và không nhớ được tính là không có tiền sử tổn thương do VSN

− Số lần tổn thương do VSN trong 6 tháng gần nhất là liên tục Thu thập

thông qua bộ câu hỏi tự điền

2.3.4.2 Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn

Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do VSN là biến nhị giá gồm hai giá trị là đúng và chưa đúng Đánh giá dựa trên điểm sinh viên đạt được ở phần đánh giá kiến thức trong bộ câu hỏi khảo sát Cụ thể tổng điểm của bộ câu hỏi

là 43 điểm, đánh giá sinh viên có kiến thức đúng khi trả lời đúng ≥70% (đạt từ 30,1 điểm trở lên) và chưa đúng khi trả lời đúng <70% (dưới 30,1 điểm) + Kiến thức chung về tổn thương do VSN gồm 9 câu hỏi với điểm tối đa cho phần này là 28 Được đánh giá là đúng khi đạt ≥19,6 điểm và chưa đúng khi đạt <19,6 điểm

+ Kiến thức về dự phòng tổn thương do VSN gồm 4 câu hỏi với điểm tối

đa cho phần này là 10 Được đánh giá là đúng khi đạt ≥7,0 điểm và chưa đúng khi đạt <7,0 điểm

+ Kiến thức xử lý sau khi bị tổn thương do VSN gồm 3 câu hỏi với điểm tối đa cho phần này là 5 điểm Được đánh giá là đúng khi đạt ≥3,5 điểm và chưa đúng khi đạt <3,5 điểm

Trang 31

2.3.4.3 Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn và số lần tổn thương do vật sắc nhọn

− Tìm hiểu mối liên quan giữa kiến thức phòng ngừa tổn thương do VSN với giới tính, khóa học, học lực và tiền sử bị tổn thương do VSN (có ý nghĩa thống kê khi p<=0.05)

− Tìm hiểu mối liên quan giữa số lần bị tổn thương do VSN với giới tính, khóa học, học lực (có ý nghĩa thống kê khi p<=0.05)

2.3.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi tự điền

Bộ câu hỏi được tham khảo theo nghiên cứu Hoàng Văn Khuê (2015),

“Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến tổn thương do VSN ở điều dưỡng tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang” trong 6 tháng từ tháng 9/2014 đến tháng 2/2015”, nghiên cứu của Nguyễn Phương Anh (2020) về “Thực trạng kiến thức

dự phòng tổn thương do VSN của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Điều

và Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám chữa bệnh của Bộ Y tế [1], [6], [5], [12]

Bộ câu hỏi được góp ý, điều chỉnh phù hợp với đặc điểm của sinh viên điều dưỡng trường Đại học Y Dược Cần Thơ bởi hai Ths chuyên ngành Điều dưỡng Sau đó được khảo sát thử trên 30 sinh viên và điều chỉnh lại để đạt độ giá trị phù hợp Thang điểm Cronbach alpha của phần khảo sát kiến thức là 0,732

Bộ câu hỏi gồm 2 phần:

− Thông tin cá nhân gồm:

+ Đặc điểm cá nhân gồm 5 câu hỏi

+ Thực trạng tổn thương do VSN gồm 11 câu hỏi

Trang 32

− Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do VSN y tế gồm 15 câu hỏi với điểm tối đa là 43 điểm được chia làm 3 phần kiến thức nhỏ:

câu B8 Điểm tối đa cho phần này là 28

+ Kiến thức về dự phòng tổn thương dọ VSN gồm 4 câu hỏi, từ câu B9 đến câu B12 Điểm tối đa cho phần này là 10 điểm

+ Kiến thức xử lý sau khi bị tổn thương dọ VSN gồm 3 câu hỏi, từ câu B13 đến câu B15 Điểm tối đa cho phần này là 5 điểm

2.3.5.2 Kỹ thuật thu thập số liệu

Sử dụng bộ câu hỏi tự điền để thu thập các thông tin cá nhân (đặc điểm

cá nhân, thực trạng tổn thương do VSN) và kiến thức về phòng ngừa tổn thương

do VSN

Các bước lấy mẫu:

− Đối tượng nghiên cứu được chia thành 4 nhóm nhỏ ngẫu nhiên dựa vào tiêu chuẩn chọn mẫu, mỗi nhóm gồm 30 – 40 sinh viên và được lập thành danh sách đối tượng nghiên cứu với họ tên, mã số sinh viên và lớp

− Nghiên cứu viên liên hệ với nhóm trưởng để sắp xếp thời gian thu thập

số liệu

− Trước khi bắt đầu thu thập số liệu, nghiên cứu viên phổ biến mục đích của nghiên cứu, hướng dẫn cách trả lời các câu hỏi trong phiếu thu thập số liệu, giải thích cụ thể, rõ ràng và giải đáp tất cả các thắc mắc về nghiên cứu, quyền lợi và trách nhiệm khi tham gia vào nghiên cứu và sau đó sinh viên được lấy ý kiến có đồng ý tham gia nghiên cứu

- Phát cho mỗi đối tượng nghiên cứu 1 bộ câu hỏi tự điền để thu thập số liệu, thời gian hoàn thành bộ câu hỏi tối đa là 40 phút Trong quá trình trả lời phiếu thu thập số liệu, sinh viên làm tương đối nghiêm túc và được yêu cầu không thông tin về phiếu thu thập số liệu cho các sinh viên chưa được khảo sát

Trang 33

Khi sinh viên hoàn thành phiếu, nghiên cứu viên phải kiểm tra cẩn thận, đảm bảo sinh viên trả lời đầy đủ tất cả các cầu hỏi bắt buộc, nếu chưa đầy đủ thông tin thì yêu cầu sinh viên hoàn thiện

− Quá trình lấy mẫu ở mỗi nhóm gồm có chủ nhiệm đề tài, 2 thành viên nhóm nghiên cứu hỗ trợ giải đáp thắc mắc, hướng dẫn sinh viên điền phiếu thu thập thông tin và 01 giảng viên giám sát

2.3.6 Phương pháp hạn chế sai số

− Điều tra thử và điều chỉnh công cụ thu thập thông tin trước khi điều tra chính thức để đảm bảo tính giá trị của thang đo, đảm bảo đối tượng nghiên cứu

có thể hiểu rõ các nội dung trong bộ công cụ thu thập số liệu

− Tập huấn kĩ cho nhóm điều tra viên, hướng dẫn sinh viên trả lời mẫu phiếu tự điền Kiểm tra lại các phiếu thu thập thông tin, đảm bảo đối tượng nghiên cứu trả lời đầy đủ các thông tin bắt buộc trước khi ra về

− Để đảm bảo tính khách quan, nhóm nghiên cứu sắp xếp thời gian phỏng vấn 2 nhóm cùng 1 lớp cùng 1 ngày Sinh viên tham gia nghiên cứu được yêu cầu không tiết lộ nội dung nghiên cứu cho các sinh viên chưa được phỏng vấn

− Kiểm tra và làm sạch số liệu ngay sau khi thu phiếu điều tra Nhập liệu sớm trong vòng 1 tuần sau khi thu thập số liệu

− Giảng viên hướng dẫn kiểm tra ngẫu nhiên số liệu của 10% mẫu phiếu điều tra

2.3.7 Phương pháp xử lí số liệu

Sau khi thu thập, phiếu điều tra được kiểm tra tính đầy đủ của thông tin Sau đó được nhập liệu và xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0:

− Sử dụng thống kê mô tả sẽ được sử dụng để tính toán khoảng tin cậy tần

số và 95% cho mỗi phân loại ở các phần của bộ câu hỏi

− Sử dụng kiểm định χ2 để khảo sát mối liên quan giữa kiến thức phòng

ngừa tổn thương do VSN với giới tính, khóa học, tiền sử tổn thương do VSN

Trang 34

và học lực (có ý nghĩa thống kê khi p<=0,05)

− Sử dụng T-Test independent để khảo sát mối liên quan giữa số lần tổn

thương do VSN với giới tính, khóa học, học lực của sinh viên (có ý nghĩa thống

kê khi p<=0,05)

2.4 Đạo đức trong nghiên cứu

Để đảm bảo đạo đức nghiên cứu, chúng tôi đã thực hiện các công việc sau

đây:

− Giải thích mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu để sinh viên hiểu và quyết định tham gia nghiên cứu Mọi đối tượng đều có thể hỏi những câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu liên quan đến mục đích, quyền lợi của đối tượng nghiên cứu

− Điều tra trên những đối tượng tự nguyện đồng ý cộng tác, không ép buộc

và trên tinh thần tôn trọng Đối tượng nghiên cứu sẽ xác nhận có đồng ý tham gia nghiên cứu không trước khi bắt đầu trả lời các câu hỏi trong bộ câu hỏi nghiên cứu

− Các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật, chỉ nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu là khảo sát kiến thức của sinh viên điều dưỡng về phòng ngừa tổn thương do VSN và các yếu tố liên quan

Trang 35

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua khảo sát 111 sinh viên điều dưỡng từ tháng 11/2020 đến tháng 3/2021, chúng tôi thu được kết quả như sau:

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu và tình hình tổn thương do vật sắc nhọn

3.1.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

( n=111)

Tỷ lệ (%)

Trang 36

− Đa số sinh viên là dân tộc Kinh chiếm 97%, các dân tộc khác có tỷ lệ thấp nhất gồm Chăm, M’Nông, Kơ Ho mỗi dẫn tộc có 01 người chiếm 0,9%

− Có 82 sinh viên có học lực loại khá chiếm 73,9%; 27 sinh viên học lực trung bình chiếm 24,3% và có 2 sinh viên học lực giỏi chiếm tỷ lệ 1,8%

Bảng 3.2 Nguồn kiến thức về tổn thương do vật sắc nhọn và dự phòng

tổn thương do vật sắc nhọn của sinh viên điều dưỡng

n (%)

Không

n (%)

Nhận xét: 100% sinh viên tham gia nghiên cứu đều đã từng biết về tổn

thương do VSN và dự phòng tổn thương do VSN Trong đó 100% đã được học

trên lý thuyết hoặc lâm sàng; 46,8% tự tìm hiểu thêm qua sách, báo, internet

3.1.2 Đặc điểm về tổn thương do vật sắc nhọn trong 6 tháng gần nhất Bảng 3.3 Tình trạng bị tổn thương do vật sắc nhọn trong 6 tháng gần

nhất (n=111)

Tình trạng

tổn thương Tần số Tỷ lệ (%)

Trung bình số lần tổn thương

Số lần tổn thương nhiều nhất

Nhận xét: Tỷ lệ sinh viên từng bị tổn thương do VSN trong vòng 6 tháng là

51,4% Trong đó, số lần bị tổn thương do VSN nhiều nhất là 6 lần, số lần tổn

thương do VSN trung bình là 1,25 lần ± 1,604 lần

Trang 37

Bảng 3.4 Đặc điểm của tổn thương do vật sắc nhọn gây ra (n=57) Nội dung Vị trí bị tổn thương Tần số Tỷ lệ (%)

Nguyên nhân gây tổn

Trang 38

− Tỷ lệ bị tổn thương vào buổi sáng là cao nhất chiếm 38,6% và thấp nhất vào buổi chiều chiếm 7%

Bảng 3.5 Tình trạng vết thương do vật sắc nhọn và xử trí của sinh viên

(n=57)

(n)

Tỷ lệ (%)

Nhận xét:

− Phần lớn sinh viên bị tổn thương do VSN ở ngón tay chiếm 98,2% và

đa số là do VSN sạch, chưa sử dụng chiếm tỷ lệ 86% Có 56,1% tổn thương do VSN là vết trầy xước da; rách da không chảy máu chiếm tỷ lệ thấp nhất 1,8%

Trang 39

− Tỷ lệ sinh viên được hướng dẫn quy trình xử lý sau khi có tổn thương chiếm tỷ lệ cao 77,2%

− Sinh viên không báo cáo sau khi có tổn thương do VSN chiếm đến 70,2% Nguyên nhân là do vết thương nhỏ, không có nguy cơ lây nhiễm chiếm 85%; cho rằng không cần thiết báo cáo (12,5%) và do sợ bị phạt, gặp rắc rối (2,5%)

3.2 Kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn

Bảng 3.6 Mô tả kiến thức về phòng ngừa tổn thương do vật sắc nhọn

(n=111)

n (%)

Chưa đúng

n (%)

Điểm trung bình

Điểm nhỏ nhất

Điểm lớn nhất

Kiến thức tổng về phòng

ngừa tổn thương do VSN

77 (69,4%)

73

Nhận xét: Có 69,4 % sinh viên được khảo sát có kiến thức tổng về tổn thương

do VSN đúng, với điểm trung bình của sinh viên được khảo sát là 33,33 điểm (SD=5,03) Trong đó, sinh viên có kiến thức đúng về phần dự phòng tổn thương

do VSN tốt nhất chiếm 90,1%, kiến thức đúng về phần xử lý sau khi bị tổn thương do VSN là thấp nhất (chỉ chiếm 34,2%)

Trang 40

3.2.1 Mô tả chi tiết kiến thức chung về tổn thương do vật sắc nhọn

Bảng 3.7 Kiến thức về định nghĩa tổn thương do vật sắc nhọn

Đáp án

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

Tần số (n)

Tỷ lệ (%)

Là các thương tổn xâm lấn da hoặc

Nhận xét: Đa số sinh viên biết được định nghĩa tổn thương do VSN, tuy nhiên

chỉ có 26,1% sinh viên biết đúng các tổn thương được gây ra bởi các dụng cụ

y tế, rác thải y tế không phải là định nghĩa của tổn thương do VSN

Biểu đồ 3.1 Kiến thức về mức độ nguy hiểm của tổn thương do vật sắc nhọn

Nhận xét: Đa số sinh viên cho rằng tổn thương do VSN gây ra rất nguy hiểm

chiếm 68,5%, mức độ nguy hiểm chỉ chiếm 31,5%

68,5%

31,5%

Rất nguy hiểm Nguy hiểm

Ngày đăng: 13/03/2023, 22:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm