ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Cán bộ quản lý, nhân viên y tế đang công tác tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng BVDLTW
Cán bộ quản lý, nhân viên y tế đang làm việc tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng BVDLTW
Tiêu chuẩn không lựa chọn:
Cán bộ quản lý, nhân viên y tế đi công tác xa hoặc nghỉ theo quy định, không có mặt tại bệnh viện trong thời điểm nghiên cứu
- Lãnh đạo phòng Kế hoạch tổng hợp phụ trách quản lý hệ thống ghi nhận sự cố y khoa
- Nhân viên chuyên trách quản lý sự cố phòng Kế hoạch tổng hợp
- Nhân viên y tế theo vị trí công việc (Bác sỹ, điều dưỡng, kĩ thuật viên, dược sĩ)
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 11/2018 đến tháng 6/2019
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Da liễu Trung ương
Thiết kế
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính
Nghiên cứu định lượng được thực hiện để điều tra thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành của nhân viên y tế (NVYT) về việc báo cáo sự cố y khoa tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương (BVDLTW) năm 2019, cùng với việc xem xét một số yếu tố ảnh hưởng đến quy trình này.
Nghiên cứu định tính được thực hiện nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy định báo cáo sự cố y khoa của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương năm 2019.
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định lượng:
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ, với mẫu gồm tất cả 237 nhân viên y tế đang làm việc tại các khoa lâm sàng và cận lâm sàng của Bệnh viện Da liễu Trung ương.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu định tính:
Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích đối với phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Phỏng vấn sâu 07 người đại diện cho bệnh viện và các khoa, trong đó:
- Trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp: 01 người;
- Nhân viên chuyên trách quản lý sự cố phòng Kế hoạch tổng hợp: 01 người;
- Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để chọn nhân viên y tế theo từng vị trí công việc
Thảo luận nhóm: 02 cuộc TLN:
- 01 cuộc TLN với 05 NVYT trong nhóm 50 NVYT có điểm kiến thức, thái độ cao nhất;
- 01 cuộc TLN với 05 NVYT trong nhóm 50 NVYT có điểm kiến thức, thái độ thấp nhất.
Phương pháp thu thập số liệu
Bộ công cụ: Cấu trục dữ liệu gồm những phần chính sau:
Thông tin chung của người tham gia bộ câu hỏi
Thông tin về kiến thức liên quan đến ghi nhận và BCSC y khoa
Thông tin về thái độ đối với BCSC y khoa của NVYT
Thông tin về thực hành BCSC y khoa của NVYT
Bộ câu hỏi tự điền được điều chỉnh từ công cụ của Trần Thị Bích Bo (2017) nhằm phù hợp với thực tế tại Bệnh viện Da liễu Trung ương, dựa trên quy định của Bộ Y tế và tài liệu đào tạo về an toàn người bệnh Các câu hỏi không thực tế đã được loại bỏ, vì Bệnh viện Da liễu Trung ương là bệnh viện chuyên khoa, trong khi Bệnh viện Quận Thủ Đức là bệnh viện đa khoa.
Điều tra viên (ĐTV): Nghiên cứu viên chính (học viên)
Cách thức tiến hành: Tiến hành lần lượt tại từng khoa
ĐTV sẽ mời đối tượng nghiên cứu đến phòng hành chính của khoa/phòng, nơi sẽ giải thích về mục đích của nghiên cứu và phát phiếu tự điền cho đối tượng theo bộ câu hỏi được quy định trong Phụ lục 1.
Sau khi thu phiếu, ĐTV sẽ kiểm tra thông tin trong phiếu để đảm bảo tính đầy đủ Nếu phát hiện thông tin chưa đầy đủ, ĐTV sẽ trao đổi lại với người tham gia để hoàn thiện bộ câu hỏi.
Sau khi hoàn thành nghiên cứu định lượng, các nghiên cứu viên đã tiến hành xử lý sơ bộ kết quả và điều chỉnh nội dung hướng dẫn phỏng vấn sâu cũng như thảo luận nhóm dựa trên những phát hiện ban đầu từ nghiên cứu định lượng.
Dựa vào bản hướng dẫn PVS, chúng tôi đã phỏng vấn hai lãnh đạo bệnh viện và lãnh đạo phòng Kế hoạch tổng hợp, cùng với một nhân viên y tế phụ trách quản lý hệ thống BCSC y khoa Các cuộc phỏng vấn này được thực hiện bởi học viên, với thời gian từ 30 đến 45 phút mỗi cuộc, và được ghi âm cũng như ghi chép biên bản đầy đủ.
HUPH o Thời điểm: Buổi trưa ngoài giờ hành chính o Địa điểm: Tại phòng làm việc của đối tượng được phỏng vấn
Dựa vào bản hướng dẫn TLN, tiến hành TLN đối với NVYT Các buổi TKN do nghiên cứu viên chính điều khiển, được ghi biên bản và ghi âm Thời gian TLN kéo dài từ 45-60 phút mỗi cuộc, diễn ra vào buổi trưa ngoài giờ hành chính tại Phòng Kế hoạch tổng hợp.
Các biến số nghiên cứu
(Bảng biến số: Phụ lục 6)
2.6.1 Thang đo nghiên cứu định lượng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng thang đo Likert để đánh giá thái độ và hành vi của đối tượng nghiên cứu Thang đo này bao gồm một câu hỏi đóng với 5 mức độ lựa chọn, cho phép người tham gia đánh giá vấn đề một cách cụ thể.
Hoàn toàn không đồng ý Không bao giờ báo cáo Hoàn toàn không ảnh hưởng
Không đồng ý Hiếm khi báo cáo Không ảnh hưởng
Không ý kiến Đôi khi báo cáo Không ý kiến
IV Đồng ý Thường xuyên báo cáo Ảnh hưởng
Hoàn toàn đồng ý Luôn luôn báo cáo Hoàn toàn ảnh hưởng
Để chuyển đổi từ thang Likert sang điểm trung bình, ta thực hiện phép tính sau: Giá trị khoảng cách được xác định bằng cách lấy mức độ V trừ mức độ I, sau đó chia cho số mức độ (có 5 mức độ) Cụ thể, công thức tính giá trị khoảng cách là: \[\text{Giá trị khoảng cách} = \frac{\text{Mức V} - \text{Mức I}}{5} = 0,8\]
Vậy ta có giá trị khoảng cách trung bình giữa cấc mức độ là 0,8
Giá trị trung bình Ý nghĩa
Thái độ và hành vi được phân loại thành hai mức độ dựa trên điểm trung bình của các câu trả lời Cụ thể, thái độ tích cực được xác định khi điểm trung bình của thang đo thái độ/hành vi đạt mức cao.
Điểm trung bình từ 3,41 trở lên tương đương với mức IV hoặc V cho thấy thái độ tích cực Ngược lại, nếu điểm trung bình của thang đo thái độ/hành vi dưới 3,41, tương đương với mức I, II và III, thì thái độ chưa tích cực.
2.6.2 Chỉ số nghiên cứu định lượng Đánh giá kiến thức chung, thái độ chung, hành vi chung về bác cáo sự cố y khoa dựa trên bộ câu hỏi được lượng hóa bằng cách cho điểm
Bài kiểm tra kiến thức của nhân viên y tế gồm 15 câu hỏi, với tổng điểm tối đa là 15 điểm Theo cách tính điểm cắt đoạn 75% (Nguyễn Thị Kim Yến, 2015), chúng tôi phân chia điểm kiến thức thành hai nhóm: “kiến thức chung đúng” với tổng điểm đạt từ 11,25 điểm trở lên (≥75%) và “kiến thức chung chưa đúng” với tổng điểm dưới 11,25 điểm (