Mặc dù hậu quả do bệnh tật và tử vong sơ sinh rất nặng nề nhưng cáccan thiệp sẵn có trong phạm vi các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ -trẻ em có thể cứu sống sinh mạng của hầu hết t
Trang 1HÀ THỊ KIM LOAN
KHẢO SÁT KIẾN THỨC THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ VÀ VỀ PHƯƠNG PHÁP Ủ ẤM DA KỀ DA CHO TRẺ ĐẺ NON TẠI
BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2019
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2019
Trang 2HÀ THỊ KIM LOAN
KHẢO SÁT KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CỦA BÀ MẸ
VỀ PHƯƠNG PHÁP Ủ ẤM DA KỀ DA CHO TRẺ ĐẺ NON
TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2019
Chuyên ngành : Điều dưỡng
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN TIẾN DŨNG
HÀ NỘI - 2019
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh non 3
1.1.1 Định nghĩa 3
1.1.2 Hậu quả của sinh non 3
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh non 4
1.2 Một số vấn đề về chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh 8
1.2.1 Nội dung chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh 8
1.2.2 Các can thiệp hữu hiệu chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh 8
1.2.3 Tình hình chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh ở Việt Nam 9
1.3 Giới thiệu về phương pháp ủ ấm da kề da 12
1.3.1 Lợi ích của việc ủ ấm trẻ sơ sinh 12
1.3.2 Khái niệm về phương pháp ủ ấm da kề da cho trẻ sơ sinh 13
1.3.3 Phương pháp ủ ấm da kề da cho trẻ 17
1.4 Thực hành phương pháp ủ ấm da kề da 18
1.4.1 Trên thế giới 18
1.4.2 Tại Việt Nam 19
1.5 Tình hình nghiên cứu về phương pháp ủ ấm da kề da 20
1.5.1 Trên thế giới 20
1.5.2 Tại Việt Nam 20
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 22
2.2 Đối tượng nghiên cứu 22
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn 22
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ 22
2.3 Phương pháp nghiên cứu 22
Trang 4b Phương pháp chọn mẫu 23
2.3.3 Biến số và chỉ số 23
2.3.4 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 27
2.4 Sai số và cách khống chế sai số 28
2.5.Xử lý và phân tích số liệu 29
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 29
CHƯƠNG 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30
3.1.Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 30
3.1.1 Một số thông tin chung của bà mẹ 30
3.2 Kiến thức, thực hành phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ 34
3.2.1.Kiến thức về phương pháp ủ ấm da kề da của các bà mẹ 34
3.2.2.Thực hành phương pháp ủ ấm da kề da 36
3.3.Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành của bà mẹ về phương pháp da kề da cho trẻ đẻ non 38
3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức của bà mẹ về phương pháp da kề da cho trẻ đẻ non 38
3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến thực hành của bà mẹ về phương pháp da kề da 40
CHƯƠNG 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 45
DỰ KIẾN KẾT LUẬN 46 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5Đẻ non
Tỷ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi
Da kề daKangaroo Mother Care(Chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru)Cân nặng thấp
Điều trị tích cực sơ sinhPhương tiện thông tin đại chúng
Tổ chức y tế thế giớiTrình độ học vấnUnited Nations(Liên hợp quốc)United Nations Children’s Fund(Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc)World Health Organization
Trang 6Bảng 3 1 Nhóm tuổi của các bà mẹ 30
Bảng 3 2 Nghề nghiệp của các bà mẹ 31
Bảng 3 3 Nơi cư trú của các bà mẹ 31
Bảng 3.4 Tuổi thai khi làm KMC 32
Bảng 3 5 Nhiệt độ của trẻ sau sinh 33
Bảng 3 6 Nhịp tim của trẻ sau sinh 33
Bảng 3.9 Kiến thức chung về ủ ấm cho trẻ sinh non theo phương pháp KMC 35
Bảng 3.10 Kiến thức về lợi ích đối với con của ủ ấm cho trẻ sinh non theo phương pháp KMC 35
Bảng 3.11 Kiến thức về lợi ích đối với mẹ của ủ ấm cho trẻ sinh non theo phương pháp KMC 36
Bảng 3.12 Tỉ lệ bà mẹ thực hành phương pháp da kề da cho con 36
Bảng 3.13 Tỷ lệ bà mẹ được NVYT hướng dẫn hỗ trợ thực hành phương pháp da kề da với trẻ 37
Bảng 3.14 Tỉ lệ thời gian thực hành bà mẹ phương pháp KMC 37
Bảng 3 15 Tỷ lệ bà mẹ cho con bú sữa non trong 24h đầu tiên sau sinh 37
Bảng 3 16 Tỷ lệ trẻ được tắm trong 24h đầu sau sinh 37
Bảng 3.17 Liên quan giữa tuổi mẹ với kiến thức về phương pháp da kề da .38
Bảng 3.18 Liên quan giữa trình độ học vấn mẹ với kiến thức về phương pháp da kề da 38
Bảng 3.19 Liên quan giữa nghề nghiệp mẹ với kiến thức về phương pháp da kề da 38
Bảng 3.20 Liên quan giữa địa chỉ cư trú mẹ với kiến thức về phương pháp da kề da 39
Trang 7Bảng 3.22 Liên quan giữa con thứ trong gia đình đến thực hành da kề da 39
Bảng 3.23 Liên quan giữa tuổi mẹ với thực hành da kề da 40
Bảng 3.24 Liên quan giữa trình độ học vấn mẹ với thực hành da kề da 40
Bảng 3.25 Liên quan giữa nghề nghiệp mẹ với thực hành da kề da 40
Bảng 3.26 Liên quan giữa địa chỉ cư trú mẹ với thực hành da kề da 41
Bảng 3.27 Liên quan giữa nguồn thông tin tiếp cận thông tin với thực hành da kề da của bà mẹ 41
Bảng 3.28 Liên quan giữa mẹ được NVYT hỗ trợ với thực hành da kề da của bà mẹ 41
Bảng 3.29 Liên quan giữa giới tính trẻ sơ sinh đến thực hành da kề da của bà mẹ .42
Bảng 3.30 Liên quan giữa con thứ trong gia đình đến thực hành da kề da của bà mẹ 42
Bảng 3.31 Liên quan giữa cân nặng của trẻ khi sinh đến thực hành da kề da của bà mẹ 42
Bảng 3.32 Liên quan giữa tuổi thai khi sinh của trẻ đến thực hành da kề da của bà mẹ 43
Bảng 3.33 Liên quan giữa nhiệt độ khi sinh của trẻ đến thực hành da kề da của bà mẹ 43
Bảng 3.34 Liên quan giữa nhịp tim khi sinh của trẻ đến thực hành da kề da của bà mẹ 43
Bảng 3.35 Phân tích đa biến một số yếu tố của mẹ và trẻ có ảnh hưởng đến thực hành da kề da của bà mẹ 44
Trang 8Biểu đồ 3.1 .Trình độ học vấn của các bà mẹ 30 Biểu đồ 3 2 .Giới của trẻ 31 Biểu đồ 3.3 .Trẻ sinh là con thứ trong gia đình 32 Biểu đồ 3.4 .Phương pháp lấy thai 32 Biểu đồ 3 5 .Cân nặng của trẻ khi sinh 33 Biểu đồ 3 6 Kiến thức của bà mẹ về sự cần thiết phải giữ ấm cho trẻ sau sinh 34
Trang 9Kế hoạch hành động quốc gia vì sự sống còn của trẻ em giai đoạn 2009 –
2020 [4]
Sinh non là yếu tố quyết định ảnh hưởng đến khả năng sống sót, pháttriển thể chất tâm thần và tình trạng sức khỏe lâu dài của trẻ [5] Sinh non cónguy cơ tử vong tăng gấp 20 lần so với trẻ sinh đủ tháng Đối với nguy cơ suy
hô hấp, bệnh màng trong, hạ thân nhiệt, nhiễm trùng và các bệnh thôngthường khác cũng rất cao ở trẻ sinh non Do các yếu tố nguy cơ ở trẻ sinh nonlàm tăng số ngày nằm viện và chế độ chăm sóc đặc biệt gây ra nhiều tốn kémcho gia đình, xã hội trong năm đầu [6]
Hàng năm, có khoảng 1,9 triệu trẻ (12% các ca sinh) ở khu vực Tây TháiBình Dương được sinh ra non tháng Ước tinh, có tới 81.600 trẻ trong số nhữngtrẻ sinh non này tử vong, chiếm 50 % tổng số tử vong ở trẻ sơ sinh Khoảng 855trẻ sinh non ở tuần thứ 32-36 và không cần phải chăm sóc chuyên khoa sâu, màtrẻ chỉ cần đẩm bảo thân nhiệt ổn định Hơn một nửa số ca tử vong ở trẻ sinh non
có thể phòng tranh được, thậm chí không cần nhờ đến các đơn vị hồi sức tíchcực sơ sinh (NICU) [7], [8]
Theo Bộ Y tế, mỗi năm nước ta mốc tới 150 nghìn trẻ sinh non chào đời
có chiều hướng gia tăng, nguyên nhân của hầu hết tử vong sơ sinh là do đẻnon, các biến chứng liên quan đến đẻ (ngạt khi sinh hoặc không thở khi sinh),nhiễm trùng và hạ thân nhiệt [9]
Mặc dù hậu quả do bệnh tật và tử vong sơ sinh rất nặng nề nhưng cáccan thiệp sẵn có trong phạm vi các chương trình chăm sóc sức khỏe bà mẹ -trẻ em có thể cứu sống sinh mạng của hầu hết trẻ sơ sinh [10] Trong đó, ủ ấm
da kề da ủ ấm cho trẻ là can thiệp đơn giản, dễ thực hiện góp phần nâng caosức khỏe và giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ, đặc biệt là ở những trẻ đẻ non [2], [11]
Trang 10Ngoài việc điều chỉnh thân nhiệt, phương pháp ủ ấm da kề da giữa mẹ vàtrẻ sơ sinh còn có nhiều tác dụng khác như: tăng tỉ lệ bú mẹ sớm và bú hoàntoàn, tăng tình cảm mẹ con, phát triển nhận thức, giảm stress, giảm nhiễmkhuẩn ở trẻ sơ sinh, giảm đau, tăng cân và chiều cao [12], phòng được cácnguyên nhân gây tử vong ở trẻ đẻ non [13],[6]
Mặc dù đơn giản và hiệu quả như vậy nhưng không phải những canthiệp này được thực hiện thường xuyên và rộng khắp ở nhiều nước trên thếgiới Sự chậm trễ thực hành ở các nước phát triển là do sự sẵn có của cácphương tiện và kỹ thuật chăm sóc tiên tiến Ở các nước đang phát triển, cònthiếu các nghiên cứu chứng minh lợi ích của phương pháp ủ ấm da kề da sovới các phương pháp khác [14]
Tại Bệnh viện Bạch Mai, những năm gần đây số lượng bà mẹ đăng kísinh tại Bệnh viện ngày càng tăng Bệnh viện đã triển khai phương pháp ủ ấm
da kề da cho trẻ sơ sinh trong nhiều năm, nhưng cho đến nay vẫn chưa cónghiên cứu nào đề cập về vấn đề này [15] Nhằm giúp các cán bộ nhân viên y
tế có một cách nhìn tổng quát về thực trạng kiến thứcvà thực hành của các bà
mẹ cũng như hiệu quả của phương pháp da kề da từ đó đưa ra các biện phápnhằm cải thiện, nâng cao các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Khảo sát kiến thức, thực hành của bà mẹ
về phương pháp ủ ấm da kề da cho trẻ đẻ non tại Bệnh viện Bạch Mai” với
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Đặc điểm sinh non
1.1.1 Định nghĩa
Trẻ sinh non là trẻ ra đời trước thời hạn bình thường trong tử cung, cótuổi thai chưa đến 37 tuần Trẻ đủ tháng là trẻ sinh ra từ 37 tuần đến 40 tuầnphát triển trong tử cung người mẹ Trẻ già tháng là trẻ sinh sau 42 tuần [16]
Cách đánh giá tuổi thai: Để đánh giá chính xác tuổi thai người tathường sử dụng các phương pháp sau:
- Dựa vào ngày đầu kỳ kinh cuối
- Dựa vào siêu âm thai
1.1.2 Hậu quả của sinh non
Trẻ sinh non tháng có nguy cơ mắc bệnh về thần kinh như liệt nãotrước, chậm phát triển trí tuệ hơn những trẻ sinh đủ tháng, bệnh lý võng mạc,
hạ đường huyết, bệnh màng trong… và nặng nhất là tử vong
Trẻ non tháng có nguy cơ tử vong chu sinh cao gấp 40 lần, có thêm50% nguy cơ chịu ảnh hưởng về phát triển trí tuệ, chỉ số IQ giảm 5-10 điểm,nguy cơ mắc bệnh tim mạch và tiểu đường…
Trẻ sinh ra trước 32 tuần có nguy cơ tử vong cao nếu sống sót thì dichứng cũng rất nặng nề Trong khi đó trẻ sinh từ 32 đến 36 tuần chiếm phầnlớn trong tổng số những trẻ sinh non nhưng vẫn có nguy cơ bệnh tật và tửvong cao hơn nhiều so với những trẻ sinh đủ tháng
Trẻ sinh non, nhẹ cân là nguyên nhân quan trọng hàng đầu gây bệnh tật
và tử vong ở trẻ sơ sinh do các bệnh lý hay gặp như ngạt, hạ đường huyết,nhiễm khuẩn, hạ thân nhiệt, hạ canxi, xuất huyết phổi, rối loạn chuyển hoábẩm sinh Còn trẻ chậm phát triển trong tử cung, bệnh lý hay gặp là chảy máuphổi, hội chứng hít phân su, đa hồng cầu…[17]
Trang 121.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh non
a Yếu tố dinh dưỡng bà mẹ
Yếu tố dinh dưỡng cùa bà mẹ sẽ quyết định đến sự phát triển sức khoẻcho con Nhiều bằng chứng cho rằng dinh dưỡng của người mẹ có ảnh hưởngrất nhiều đến sự phát triển của bào thai Năng lượng, tình trạng dự trữ nănglượng của người mẹ trong thời gian sắp có thai, thức ăn hàng ngày và bổ sungtrong thời gian mang thai có thể ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng và pháttriển của thai nhi
Các yếu tố khác như khẩu phần ăn của bà mẹ, bổ sung muối khoáng,vitamin, kho dự trữ năng lượng, tình trạng hút thuốc lá, uống rượu, sử dụngthuốc theo/không theo chỉ định của bác sĩ, tình trạng sức khoẻ đều ảnh hưởngđến tình trạng dinh dưỡng của thai nhi Trong thời kỳ mang thai, dinh dưỡngcủa thai nhi phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ Người mẹ không được ănuống đầy đủ sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của bào thai, trẻ sinh ra sẽ nhẹcân Vì vậy khi mang thai bà mẹ sẽ phải ăn nhiều hơn và có một khẩu phần ăncân đối sẽ giúp bà mẹ đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng cho sự phát triểncủa thai nhi và tạo sữa sau này [18]
b Bệnh tật của bà mẹ trong thời kỳ mang thai
Bệnh lý của người mẹ liên quan đến sự phát triển của thai nhi trong tửcung bởi các cơ chế sau:
Hậu quả của những tình trạng bệnh lý và ngay cả những bệnh lý nàycũng làm giảm năng lượng đưa vào, nếu kéo dài tình trạng giảm cung cấpdinh dưỡng cho người mẹ và thai nhi dẫn đến thai suy yếu
Sự trao đổi chất của người mẹ phải duy trì hoặc tăng lên để bảo vệ cơthể sẽ làm giảm năng lượng cung cấp cho thai
Có thể do giảm dòng máu đến nuôi dưỡng cho tử cung, bánh rau, màng
ối, làm giảm cung cấp oxy và chất dinh dưỡng dẫn đến trẻ nhẹ cân
Trang 13Các triệu chứng bệnh tật liên quan đến thai nghén như tiền sản giật,sản giật, thiếu máu… sẽ cản trở sự phát triển của thai gây đẻ non và chậmphát triển trong tử cung [19]
Thiếu máu: Thiếu máu do dinh dưỡng rất phổ biến trên thế giới ướctính có 500 triệu đến 1 tỷ người bị bệnh nhất là trẻ nhỏ và phụ nữ có thai Ởcác quốc gia đang phát triển, thiếu máu khi có thai là một vấn đề nghiêmtrọng Nguyên nhân của thiếu máu khi có thai:
Nhu cầu sắt và axit folic tăng lên để thai phát triển và chuẩn bị tiết sữa sausinh
Chế độ ăn cung cấp không đủ sắt và a xit folic đặc biệt là ở 3 thánggiữa và 3 tháng cuối Nhiều phụ nữ mất sắt qua nhiều lần có thai, đẻ, sẩy thaihoặc do bệnh tật (giun móc, sốt rét…)
Tiền sản giật (TSG): TSG là bệnh lý toàn thân thường xẩy ra ở 3 thángcuối của thời kỳ thai nghén TSG gồm 3 triệu chứng chính là phù, protein niệu
và tăng huyết áp Bệnh lý này gây ra nhiều biến chứng cho bà mẹ và thai nhi
Đối với thai phụ: bị đe doạ bởi biến chứng của TSG như rau bong non,xuất huyết não, tử vong…
Đối với thai nhi: suy dinh dưỡng, trọng lượng thấp so với tuổi thai hoặc
có hiện tượng giảm đường huyết, hạ canxi máu…
U xơ tử cung (UXTC) UXTC là loại u lành tính thường thấy nhất ở cơ
tử cung Người ta ước tính có khoảng 20% phụ nữ trên 35 tuổi có UXTCnhưng rất nhiều trường hợp trong số đó không có triệu chứng lâm sàng
c Tiền sử sản khoa
Việc tiên lượng sinh non dựa trên tiền sử sản khoa đã được thực hiện từtrước đến nay để có các biện pháp can thiệp kịp thời cho lần mang thai tiếptheo như khâu vòm cổ tử cung hoặc tiêm dự phòng progesterone cho nhữngthai nghén nguy cơ cao [48], [49] Tuy nhiên tỷ lệ sinh non vẫn không hềgiảm trong vòng 30 năm cho tới thời điểm hiện tại chủ yếu do chưa tìm được
Trang 14phương pháp phát hiện sớm sinh non trong thăm khám sản khoa thường quy[20]
d Khoảng cách giữa các lần sinh
Khi khoảng cách giữa 2 lần sinh quá gần nhau người phụ nữ không thểtránh khỏi được những nguy cơ xảy ra với bản thân cũng như thai nhi Đối vớithai phụ sinh mổ, nguy cơ cho bà mẹ có thể tiên lượng ngay là chửa vết mổ,rau cài răng lược, vỡ tử cung… còn đối với thai nhi thì có nguy cơ cao sinhnon, nhẹ cân, chậm phát triển trong tử cung [21]
e Tuổi người mẹ
Tuổi mẹ càng cao, cơ thể mẹ càng suy thoái, các mạch máu lưu thôngkhông tốt làm hạn chế lượng máu nuôi thai gây chậm phát triển trong tử cung.Mặt khác các bà mẹ lớn tuổi thường chịu ảnh hưởng của các yếu tố tâm lý,gánh nặng công việc hơn các bà mẹ trẻ tuổi Tuổi người mẹ có liên quannhiều đến cân nặng sơ sinh sau đẻ Sản phụ có thai lần đầu ở tuổi trên 35 cũng
có nguy cơ kèm theo khi sinh đẻ lần đầu, không tiên lượng được trước nguy
cơ khi sinh do những thay đổi về giải phẫu 20 và sinh lý ảnh hưởng đến sứckhoẻ Sau 35 tuổi mới sinh con thì đứa trẻ có nguy cơ cao dị tật bẩm sinh vàchậm phát triển trí tuệ có thể hoặc không phát hiện ra ngay sau sinh mà đếnmột vài năm sau mới biểu hiện bệnh [22]
f Lao động nặng trong thời gian mang thai
Điều kiện làm việc nặng nhọc, nhiều chấn động, tiếp xúc với môitrường độc hại, sẽ gây nhiều biến chứng cho thai như sẩy thai, đẻ non Môitrường sống, vệ sinh và lao động của người phụ nữ trong thời gian mang thai
có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và sức khoẻ của thai nhi Trong thờigian mang thai nếu người phụ nữ lao động nặng nhọc thì sẽ có nguy cơ sinhnon và nhẹ cân [23]
g Các yếu tố kinh tế-xã hội
Trang 15Bệnh sinh của sinh non hiện tại vẫn chưa được tìm hiểu rõ về cơ chếtuy nhiên ngoài những yếu tố về phía thai nhi và thai phụ thì những yếu tốthuộc kinh tế-xã hội cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh non và sinh non nhẹ cân.Nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra những ảnh hưởng nhất định của cácyếu tố như học vấn, thu nhập, tội phạm… đến tỷ lệ sinh non của người phụ
nữ Nhiều nghiên cứu cũng ghi nhận tỷ lệ sinh non và sinh non nhẹ cân caohơn 50% ở nhóm mẹ làm công việc chân tay tiếp xúc với điện, sắt thép, thuộc
da so với nhóm không tiếp xúc
h Các yếu tố về phía thai
- Bất thường nhiễm sắc thể đặc biệt là Trisomie 13,18,21
- Dị dạng bẩm sinh: Tim bẩm sinh, hẹp thực quản, teo tá tràng
- Đa thai: hay gặp tình trạng đẻ non, cân nặng của trẻ sơ sinh thấp Giớicủa trẻ: trẻ trai thường có cân nặng cao hơn trẻ gái do sự phát triển tự nhiêncủa giới tính [24]
k Các yếu tố về phía phần phụ của thai
Rau tiền đạo: Rau tiền đao (RTĐ) là bệnh lý bánh rau bám ở đoạn dưới
và gần cổ tử cung, nó chặn phía trước và cản trở đường ra của thai nhi khichuyển dạ đẻ Bệnh lý này gây chảy máu trong 3 tháng cuối của thời kỳ thainghén, trong chuyển dạ và sau đẻ RTĐ có nguy cơ gây tử vong cho người mẹhoặc cho con do chảy máu và đẻ non Về nguyên nhân sinh ra RTĐ chưađược hiểu đầy đủ nhưng người ta thấy tần suất RTĐ tăng lên theo nhữngngười có nguyên nhân bị tổn thương niêm mạc tử cung ở vùng đáy dẫn tới sựhình thành màng rụng và làm tổ ở 25 vùng đáy tử cung không đẩy đủ nên dễdẫn tới RTĐ hoặc do một nguyên nhân nào đó gây co thắt động mạch tử cung
và thiếu oxy dẫn đến cường phát bánh rau nhưng bánh rau lại rộng, mỏng hơn
và hình thành RTĐ [24]
* Nước ối:
Trang 16+ Đa ối: Chỉ số nước ối trên 24 cm gọi là đa ối Đa ối thường kèm theo
dị dạng thai, đặc biệt là dị dạng của ống thần kinh và hệ tiêu hoá Đa ối haygây đẻ non, vì vậy cân nặng trẻ sơ sinh thường
Thiểu ối: Thiểu ối thường do vỡ ối gây ra, thiểu ối mãn thường do bệnh
lý của thai Thiểu ối hay gặp ở một số bệnh lý như tiền sản giật, dị dạng bẩmsinh ở thận hay thai chậm phát triển trong tử cung [24]
1.2 Một số vấn đề về chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh
1.2.1 Nội dung chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh.
Thời kỳ sơ sinh được tính từ khi trẻ ra đời cho tới hết tuần thứ 4 sau đẻ.Đối với trẻ sơ sinh khỏe mạnh, chăm sóc thiết yếu bao gồm: chăm sóc trước,trong và sau khi sinh (trong ngày đầu tiên, những ngày tiếp theo cho đến 28ngày tuổi) Ngoài ra, còn những can thiệp đặc biệt cần thiết đối với trẻ ốm vàtrẻ thiếu cân[7] Mục đích của chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh là giúp trẻ khỏemạnh bằng cách đáp ứng mọi nhu cầu cơ bản về sức khỏe của trẻ (đủ ấm, thởbình thường, cho trẻ ăn, phòng chống nhiễm khuẩn), phát hiện các dấu hiệubất thường và xử trí kịp thời, hướng dẫn bà mẹ và gia đình về cách chăm sóctrẻ sơ sinh và cách nhận biết các dấu hiệu nguy hiểm[25]
1.2.2 Các can thiệp hữu hiệu chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh.
a Chăm sóc trước đẻ
-Tiêm phòng uốn ván
- Tư vấn dinh dưỡng, chuẩn bị cho cuộc đẻ và nuôi con bằng sữa mẹ
- Bổ sung sắt, iod, folat
- Phát hiện nguy cơ chính gây đẻ khó
- Điều trị giang mai và sốt rét
- Tư vấn và xét nghiệm HIV tự nguyện
b Trong khi đẻ và 1-2 giờ đầu sau đẻ:
- Đẻ sạch và an toàn
- Giữ ấm
Trang 17- Bú mẹ ngay sau đẻ và bú mẹ hoàn toàn
- Chăm sóc rốn và mắt Cấp cứu tai biến sản khoa
- Dùng kháng sinh trong trường hợp vỡ ối sớm
- Hồi sức sơ sinh
- Xử lý các biến chứng của trẻ sơ sinh
- Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
c Chăm sóc trẻ sơ sinh 1-2 giờ đầu đến 4 tuần sau đẻ:
- Bú mẹ hoàn toàn
- Giữ ấm
- Chăm sóc vệ sinh và rốn
- Phát hiện những dấu hiệu nguy hiểm và xử lý kịp thời
- Tư vấn về khoảng cách giữa các lần sinh sau
- Chăm sóc đặc biệt cho trẻ nhẹ cân
- Phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con
- Xử lý các biến chứng: nhiễm khuẩn nặng, vàng da nặng, trẻ đẻ quá nhẹ cân*
- Theo dõi các trường hợp có nhu cầu chăm sóc đặc biệt*
Chú ý: Tất cả các can thiệp trên thực hiện cho mọi bà mẹ và trẻ sơ sinh,riêng các can thiệp có dấu * chỉ dành cho các trường hợp có bệnh nặng hoặcbiến chứng Với trẻ bình thường, nguyên tắc cơ bản của xử trí ban đầu là ủ ấm(da kề da) và cho trẻ bú sữa mẹ sớm nhằm đảm bảo thân nhiệt và dinh dưỡngcủa trẻ*
1.2.3 Tình hình chăm sóc sức khỏe trẻ sơ sinh ở Việt Nam
1.2.3.1 Xu hướng tử vong sơ sinh
Thực trạng về tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh, trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi ởViệt Nam chưa được rõ ràng lắm Tuy nhiên số liệu sẵn có cho thấy tỉ lệ tửvong trẻ dưới 5 tuổi giảm đáng kể trong vòng 30 năm qua, từ 55/1000 trongthập kỷ 70 xuống còn 30/1000 vào những năm đầu của thế kỷ này, trong khi
đó tử vong sơ sinh hầu như không thay đổi và ở mức 15/1000 Phân tích gần
Trang 18đây về xu hướng tử vong ở trẻ em Việt Nam do Ngân hàng Thế giới tiến hànhtrong năm 2003 kết luận rằng tỉ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi dường như đãgiảm xuống con số 30/1000 trẻ đẻ sống vào giữa những năm 90, và con sốnày giờ có thể chỉ trong khoảng 25/1000 trẻ đẻ sống hay thậm chí thấp hơnnữa Theo Điều tra Quốc gia Dân số và Sức khỏe 2002, phỏng vấn hơn 5600phụ nữ đã có gia đình thì ước tình tỉ lệ tử vong trẻ em dưới 1 tuổi là 18 % , tỉ
lệ tử vong sơ sinh là 12/1000 trẻ đẻ sống Một nghiên cứu điều tra hộ gia đìnhtại huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây thuộc miền Bắc nước ta cũng cho thấy tử vongdưới 5 tuổi giảm rõ rệt và tử vong sơ sinh không giảm[26]
Có sự khác biệt đáng kể về tử vong trẻ em, trẻ dưới 1 tuổi và sơ sinhgiữa các vùng khác nhau Tỉ lệ tử vong sơ sinh, trẻ dưới 1 tuổi và dưới 5 tuổi
ở nông thôn cao gấp 2 lần thành thị Tỉ lệ tử vong ở trẻ dưới 1 tuổi ở cácnhóm dân tộc thiểu số cao gấp 2-3 lần so với dân tộc Kinh, trong khi dân sốcủa tất cả các nhóm dân tộc thiểu số chỉ chiếm khoảng 15% dân số Việt Nam
Tỉ lệ tử vong trẻ em cao nhất ở vùng núi phía Bắc, sau đó là Bắc Trung Bộ vàTây Nguyên [27]
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, tử vong trẻ em Việt Nam cũngkhác nhau theo hoàn cảnh kinh tế xã hội Nhóm có thu nhập cao nhất có tỉ lệ
tử vong thấp nhất (13%), ngược lại nhóm rất nghèo có tỉ lệ tử vong trẻ dưới 1tuổi và dưới 5 tuổi là khoảng >50%
Mô hình bệnh tật trẻ sơ sinh và tử vong sơ sinh: theo một điều tra tiếnhành ở 7 bệnh viện Nhi và 10 bệnh viện tỉnh cho thấy trẻ sơ sinh nhập việnchủ yếu do viêm phổi, đẻ non, nhẹ thấp cân, vàng da, nhiễm khuẩn tại chỗ và
dị tật Nguyên nhân tử vong sơ sinh chủ yếu là: nhiễm khuẩn (viêm phổi,nhiễm khuẩn huyết) 24%; đẻ non, nhẹ cân 23%; ngạt 15% và dị tật 13%[3]
1.2.3.2 Chăm sóc thiết yếu trẻ sơ sinh
Chăm sóc trước khi sinh: hơn 4/5 số trẻ sơ sinh ở Việt Nam được hưởngdịch vụ chăm sóc trước sinh vì bà mẹ đã được thăm khám ít nhất một lần
Trang 19trong thời gian mang thai Theo Điều tra Dân số và Sức khỏe Việt Nam năm
2002, tỉ lệ này đã tăng từ 71% năm 1997 lên 87% vào năm 2002 Có 13-18%
số bà mẹ ở Việt Nam không nhận được sự chăm sóc nào trước sinh, ở một sốvùng con số này còn cao hơn, lên tới 25% hoặc hơn Chất lượng chăm sóctrước sinh không tương xứng với tỉ lệ các bà mẹ được chăm sóc trước sinh.Chỉ 53% phụ nữ cho biết đã được khám thai 3 lần, 72% được tiêm phòng haimũi uốn ván và 51% được uống viên sắt bổ sung [10]
Chăm sóc trong sinh: Khoảng 3/4 số trường hợp sinh con được thực hiệntại cơ sở y tế Hơn 4 trong 5 số trẻ sơ sinh được cán bộ y tế được đào tạo đỡ.Tuy nhiên chất lượng chăm sóc trong khi sinh cần được xem xét trong nhiềutrường hợp Theo khảo sát tại một số bệnh viện do Cứu trợ Trẻ em Mỹ thựchiện năm 2002 chỉ có 2 trong số 5 cơ sở sản khoa trong cả nước với hơn10.000 trường hợp đẻ mỗi năm có các nhân viên được đào tạo thường xuyên
về hồi sức trẻ sơ sinh[28]
Chăm sóc sau sinh: Bú mẹ được khuyến khích và chấp nhận rộng rãi ởViệt Nam, ước tính có tới 98% trẻ nhỏ được bú mẹ Tỉ lệ này khác nhau theotừng vùng, dân tộc, trình độ văn hóa của bà mẹ, nơi đẻ nhưng không đáng kể,nơi ít nhất cũng có 90% trẻ được bú mẹ[29] Tuy nhiên, bú mẹ hoàn toàn vẫnchưa được chấp nhận và thực hành rộng rãi ở Việt Nam, thực tế tỉ lệ này chỉđạt 7,7% Theo điều tra Dân số và Sức khỏe 2002, hiện chỉ có 30,8% trẻ < 2tháng tuổi được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ, 8% số trẻ ở tháng thứ 4- 5 được
Trang 20dõi hạ nhiệt, trẻ bị hạ nhiệt sẽ dẫn đến tình trạng xuất huyết não, xuất huyếtphổi, ảnh hưởng não Sau sinh [32], mọi trẻ sinh non cần được chăm sóc theo
nguyên tắc Cái ôm đầu tiên (First Embrace) và KMC, bởi vì các can thiệp
này giúp phòng tránh bệnh tật và tử vong, cải thiện chức năng hô hấp, cảithiện thân nhiệt và tăng trưởng ở trẻ, gắn bó tình cảm tốt hơn giữa trẻ với mẹ
và gia đình [5] Ngoài ra, trẻ sinh non bệnh lý cần được chăm sóc đặc biệt để
xử trí tình trạng nhiễm khuẩn và các vấn đề khác ở trẻ [33] Hướng dẫn này
mô tả cách tiếp cận với phương pháp chăm sóc KMC, bắt đầu từ phòng sinh
Có thể phòng tránh được nhiều ca sinh non bằng các can thiệp trước hoặctrong quá trình mang thai – các can thiệp này được mô tả trong các hướng dẫnkhác của Tổ chức Y tế Thế giới [34]
1.3 Giới thiệu về phương pháp ủ ấm da kề da
1.3.1 Lợi ích của việc ủ ấm trẻ sơ sinh
Do khả năng điều nhiệt của trẻ sơ sinh kém hơn rất nhiều so với ngườilớn, trẻ đẻ non là một trong nguyên nhân hàng đầu bị hạ thân nhiệt vì tỉ lệdiện tích da trên cân nặng lớn hơn trẻ đủ tháng, lượng mỡ dưới da đặc biệt là
mỡ nâu ít, thiếu năng lượng chuyển hóa và sinh nhiệt nên trẻ rất dễ mất nhiệt,đặc biệt là mất nhiệt ở đầu [35] Nếu không giữ ấm, trẻ sẽ bị mất nhiệt ở mọiđiều kiện thời tiết, kể cả thời tiết ấm Bình thường, nhiệt độ của trẻ sơ sinh từ36,5-37,50C Dưới 36,50C gọi là hạ nhiệt[36] Hạ nhiệt gồm các mức nhưsau: từ 36- 36,50C hạ nhiệt nhẹ (stress lạnh); 32 - 360C hạ nhiệt vừa; < 320C
hạ nhiệt nghiêm trọng[37] Một trẻ sơ sinh nếu không được ủ ấm trong nhiệt
độ môi trường là 230C sẽ bị mất nhiệt tương đương với một người lớn khôngmặc quần áo ở nhiệt độ 00C và sự mất nhiệt càng lớn ở trẻ thấp cân, trẻ khôngđược lau khô và quấn chăn ủ ấm [2]
Cho tiếp xúc da kề da kéo dài giúp trẻ giữ ấm, phòng tránh cơn ngừngthở, giảm tỷ lệ nhiễm khuẩn và các bệnh lý hô hấp, thúc đẩy việc nuôi conbằng sữa mẹ, thúc đẩy tăng trưởng ở trẻ, gắn kết tình cảm mẹ convaf giảm tới
Trang 2150% tỷ lệ tử vong, thể hiện trẻ qua các dấu hiệu sinh tồn như nhiệt độ, nhịpthở, nhịp tim, cân nặng của trẻ.
1.3.2 Khái niệm về phương pháp ủ ấm da kề da cho trẻ sơ sinh
Một số nhà nghiên cứu gọi da kề da là Kangaroo mother care (chămsóc bà mẹ Căng-gu-ru) hoặc Kangaroo care (chăm sóc Căng-gu-ru) nhưngkhái niệm này không hoàn toàn giống nhau Tại Hội thảo Quốc tế đầu tiên tổchức tại Trieste, Italy 1996, có tới hơn 13 khái niệm khác nhau về chăm sóc
bà mẹ Căng-gu-ru
Kangaroo là phương pháp y học thích ứng được lựa chọn để CS trẻ đẻnon nhẹ cân bằng cách đặt trẻ nằm tiếp xúc da kề da trên ngực mẹ hoặc ngườichăm sóc trẻ Nhưng các nhà nghiên cứu nhất trí định nghĩa chăm sóc bà mẹCăng-gu-ru gồm 3 nội dung chính: tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con (skin-to-skin contact); cho trẻ bú sữa mẹ sớm và hoàn toàn [38] nhận ra hoặc phản ứngsớm với bệnh tật Khái niệm chăm sóc Căng-gu-ru khi đó chỉ đề cập đến canthiệp tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con trong bệnh viện [39]
Do đó, hướng dẫn này sẽ đề cập đến KMC được khởi xướng tại một cơ
sở y tế và tiếp tục tại nhà dưới sự giám sát của cơ sở y tế (KMC cư trú) KMCnhư được mô tả trong tài liệu này khuyến nghị tiếp xúc da kề da liên tục thừanhận rằng có thể không thể thực hiện được trong tất cả các cài đặt và trongmọi trường hợp Các nguyên tắc và thực hành của KMC được nêu trong tàiliệu này cũng có giá trị đối với việc tiếp xúc giữa da với da không liên tục,cung cấp sự chăm sóc đầy đủ cho LBW và trẻ sơ sinh non tháng khi chúng bịtách khỏi mẹ[25] Sự tiếp xúc giữa da với da không liên tục như vậy đã đượcchứng minh là có lợi, nếu bổ sung bằng cách chăm sóc lồng ấp thích hợp.Hướng dẫn về chăm sóc da kề da có thể được sử dụng để quấn lại trẻ sơ sinh
bị hạ thân nhiệt hoặc giữ ấm cho chúng trong quá trình vận chuyển đến cơ sởgiới thiệu[30]
Trang 22Ở Mỹ, thường sử dụng khái niệm chăm sóc Căng-gu-ru với định nghĩa là
“tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con trong bệnh viện” Chăm sóc Căng-gu-ruthường bắt đầu muộn hơn và ở trẻ sinh non đã ổn định và được sử dụng kếthợp với các kỹ thuật chăm sóc khác[40] Các quốc gia châu Âu áp dụng chămsóc Căng-gu-ru bao gồm tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con vài giờ mỗi ngày Một số tài liệu định nghĩa phương pháp da kề da là “ tiếp xúc da kề datrực tiếp giữa mẹ và con càng sớm càng tốt sau khi sinh (<24 giờ), hoặc “giữ
ấm trẻ sơ sinh bằng cách đặt trẻ trần hoặc quấn một lớp tã mỏng trực tiếp lên
da (ngực hoặc bụng) của mẹ (hoặc một người lớn khác)” Phương pháp da kề
da (skin-toskin contact) được sử dụng trong nghiên cứu này với định nghĩa là:
“Tiếp xúc da kề da trực tiếp giữa mẹ và con trong vòng 30 phút sau khisinh”[41]
Hình 1.1: Vị trí của trẻ trong KMC
Can thiệp chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru đầy đủ được nhóm bác sĩ nhikhoa Rey và Martinez áp dụng lần đầu từ năm 1979 ở Bogota, Columbia đểkhắc phục tình trạng bệnh tật và tử vong cao ở trẻ sinh non và nhẹ cân dothiếu lồng ấp và nhiễm khuẩn bệnh viện nghiêm trọng Kết quả là tỉ lệ tử vongtrẻ sơ sinh ở Bogota đã giảm từ 70% xuống còn 30%[35] Nhờ tính ưu việt,
kỹ thuật này được phát triển rộng khắp ở Columbia cũng như nhiều nướcđang phát triển như một phương pháp can thiệp rẻ tiền thay thế cho liệu phápchăm sóc trẻ nhẹ cân thông thường với rất nhiều ưu điểm: điều chỉnh nhiệt độ,
Trang 23kéo dài thời gian bú mẹ, thúc đẩy mối tương tác mẹ con[10],[42],[13], giảm tỉ
lệ tử vong[37] Được nghiên cứu sâu kể từ năm 1983, phần lớn các nghiêncứu đều chứng minh chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru có tác động lớn và tích cựctới mẹ và trẻ, một số cho rằng không có sự thay đổi nhưng không nghiên cứunào cho biết phương pháp này có tác động xấu tới mẹ hoặc con[10]
Sau đó, chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru được các chuyên gia khuyến cáocần áp dụng thích hợp cho từng trẻ, từng giai đoạn phát triển và phù hợp vớiđiều kiện ở từng cơ sở y tế hoặc khu vực Là một nội dung của chăm sóc bà
mẹ Căng-gu-ru, phương pháp da ủ ấm kề da giữa mẹ và con (skin-to- skincontact) tốt nhất nên thực hiện ngay sau khi sinh nhưng nó vẫn có tác dụngvào bất kỳ thời gian nào và với thời gian tiếp xúc ngắn vẫn mang lại lợi íchcho trẻ[10],[15] Các lợi ích bao gồm:
Kiểm soát thân nhiệt và chuyển hóa: kiểm soát thân nhiệt tốt, khôi phụcnhiệt độ bình thường nhanh hơn đối với những trẻ bị lạnh, kể cả trẻ sinhnon[40] Các quan sát cho thấy nhịp tim phổi, sự thở, giấc ngủ và hành vi củatrẻ tiếp xúc da kề da tương tự hoặc tốt hơn so với trẻ bị tách mẹ Sự tương tácgiữa mẹ và con còn có nhiều hiệu quả khác nữa như làm giảm lượng cortisol -
là chỉ số báo hiệu stress trong nước bọt của trẻ[30], giảm đau[43], giảm khóc,giúp trẻ sớm thích nghi với môi trường mới sau sinh, tác động tốt tới môitrường gia đình và sự phát triển nhận thức của trẻ[44]
Giảm tỉ lệ mắc bệnh và tỉ lệ tử vong: Nhiều năm trước đây, các bác sĩcho rằng tách mẹ giúp trẻ được an toàn hơn vì trẻ ít có nguy cơ tiếp xúc với vikhuẩn từ mẹ Nhưng sau đó người ta nhận thấy tiếp xúc da kề da giúp trẻgiảm được nguy cơ mắc bệnh do vi khuẩn có hại Các nghiên cứu đối chứngđược thực hiện ở các nước có thu nhập thấp cho thấy tỉ lệ nhiễm khuẩn bệnhviện và tỉ lệ tái nhập viện thấp hơn ở trẻ được tiếp xúc da kề da Trẻ cũngkhông có nguy cơ bội nhiễm mới liên quan đến việc tiếp xúc da kề da với
mẹ [33]
Trang 24Thúc đẩy nuôi con bằng sữa mẹ và sự tăng trưởng của trẻ: Các nghiên vềhiệu quả của phương pháp da kề da đối với việc nuôi con bằng sữa mẹ đượcthực hiện ở các nước có thu nhập thấp đều cho thấy phương pháp này làmtăng tỉ lệ và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ[45] Một số nghiên cứu khác thựchiện ở các nước có thu nhập cao nơi thực hiện da kề da muộn hơn và thời giantiếp xúc ít hơn cũng cho thấy phương pháp này có ảnh hưởng tốt đối với việcnuôi con bằng sữa mẹ [46] Ở tư thế da kề da với mẹ, trẻ dễ thở và có biểuhiện các hành vi như tiết nước bọt, tìm kiếm vú mẹ, vì vậy giúp trẻ thànhcông trong lần bú mẹ đầu tiên và thúc đẩy tự nhiên việc bú mẹ sau này[45].Mặc dù phụ thuộc hoàn toàn vào sự chăm sóc của người lớn nhưng trẻ sơ sinhvẫn có một số khả năng bẩm sinh như tìm bú vú mẹ, nên nếu được ở gần mẹngay sau sinh trẻ sẽ có cơ hội được bú mẹ trong vòng một giờ sau sinh nhiềuhơn so với trẻ bị tách mẹ[47].
Hình 1.2: Cho con bú trong KMC
Các hiệu quả khác: Tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con còn làm tăng giảiphóng oxytocin, một hormon gây co cơ tử cung, giảm nguy cơ chảy máu sau
đẻ [28] Phân tích số liệu từ các nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng ởColombia, Tesier kết luận rằng cần khuyến khích thực hiện da kề da càng sớmcàng tốt sau khi sinh bởi vì nó thúc đẩy mối tương tác giữa mẹ và con làm cho
Trang 25người mẹ cảm thấy mình có khả năng chăm sóc con hơn [42] Ngoài ra, có thể
áp dụng phương pháp da kề da để làm ấm lại đối với trẻ bị hạ nhiệt hoặc để ủ
ấm cho trẻ trong khi vận chuyển[48]
Thực hiện phương pháp da kề da như thế nào? Tất cả các bà mẹ,không phân biệt độ tuổi , số con, trình độ văn hóa, phong tục tập quán và tôngiáo đều có thể thực hiện da kề da nếu điều kiện sức khỏe cho phép [49].Theo tiêu chuẩn nghiên cứu này, trẻ sơ sinh được đặt trực tiếp da kề da lênngực hoặc bụng mẹ trong vòng 30 phút sau sinh[29]
1.3.3 Phương pháp ủ ấm da kề da cho trẻ
Lau khô, quấn khăn, tã khô, nằm phòng ấm, tốt nhất ủ ấm bằng phươngpháp cho trẻ sơ sinh tiếp xúc da kề da trên ngực/hoặc bụng mẹ Dưới đây làmột số trong “10 bước giữ ấm” mà TCYTTG khuyến nghị như một thực hànhthường quy trong chăm sóc trẻ sơ sinh[41]:
- Duy trì nhiệt độ phòng đẻ ít nhất là 250C
- Phòng tránh hạ nhiệt vào lúc sinh: lau khô, quấn khăn (tã), đặt trẻ da kề
da với mẹ
Hình 1.3: Phương pháp ủ ấm da kề da
Trang 26- Thời gian tắm cho trẻ: chỉ nên tắm sau 24 hoặc 48 giờ khi trẻ đã ổnđịnh về sức khỏe và thân nhiệt.
- Giữ ấm trong khi vận chuyển: cách tốt nhất là vận chuyển trẻ sơ sinhtrong tư thế da kề da với mẹ hoặc một người lớn khác[50]
1.4 Thực hành phương pháp ủ ấm da kề da
1.4.1 Trên thế giới
Từ định nghĩa về phương pháp da kề da tại Hội thảo Quốc tế lần đầu tiên
1996 ở Italy, đến 1998, đã có Hội nghị Quốc tế đầu tiên về tiếp xúc da kề da ởBaltimore, Maryland, Mỹ, và Hội thảo Quốc tế lần thứ 2 tại Bogota,Colombia
Ngày nay, theo ước tính, chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru đã được thực hiện
ở nhiều nơi trên thế giới như Colombia, Mexico, Braxin, Mỹ, Việt Nam,Indonesia, Lào Campuchia, Thụy Điển, Pháp với hơn 200 đơn vị chăm sócđặc biệt trẻ sơ sinh có thực hành ủ ấm da kề da so với dưới 70 đơn vị vàonhững năm 1990 Riêng ở Mỹ, có 82 đơn vị chăm sóc đặc biệt trẻ sơ sinh cóthực hành da kề da Vào đầu những năm 1990, phương pháp ủ ấm da kề dađược áp dụng ở Bắc Mỹ cho trẻ sinh non và sau đó được áp dụng cho trẻ sơsinh khỏe mạnh[40]
Những biện pháp chăm sóc thiết yếu cho trẻ sơ sinh này rất đơn giản và
ít tốn kém nhưng không phải lúc nào cũng được thực hiện ở nhiều nước trênthế giới, kể cả ở các nước phát triển Một nghiên cứu ở Anh cho thấy, canthiệp này rất khó được thực hiện vì đòi hỏi có sự biến chuyển lớn trong thựchành, qui tắc và văn hóa đối với nhiều cán bộ y tế Do vậy, để thúc đẩy thựchiện tiếp xúc da kề da giữa mẹ và con, cần nêu ra lợi ích của phương phápcho bà mẹ, trẻ em, gia đình, bệnh viện, cán bộ y tế và cộng đồng ở các nướcphát triển và các nước đang phát triển Cần nghiên cứu thêm để cung cấpthông tin có giá trị về can thiệp dựa vào bằng chứng trong chăm sóc bà mẹ vàtrẻ sơ sinh [39]
Trang 271.4.2 Tại Việt Nam
Lau khô và ủ ấm cho trẻ ngay sau khi sinh: Theo một cuộc khảo sát thựcđịa ở một số bệnh viện trong 3 tỉnh Cần Thơ, Quảng Trị, Huế, trẻ sơ sinhkhông được lau khô, ủ ấm ngay sau đẻ mà phải chờ đến khi hút nhớt và làmrốn xong Theo số liệu từ Bệnh viện Nhi Trung ương năm 1998-2000, có65,9% số trẻ nhẹ cân và sơ sinh bị bệnh nặng vào phòng điều trị đặc biệt vớitriệu chứng hạ thân nhiệt Tình trạng hạ thân nhiệt đã ảnh hưởng nghiêmtrọng đến tử vong sơ sinh: trong tổng số sơ sinh tử vong tại BV, có 32% cótriệu chứng hạ thân nhiệt khi nhập viện Ở nước ta, chăm sóc bà mẹ Căng-gu-
ru được thực hiện ở khá nhiều bệnh viện: Bệnh viện Việt Nam Thụy ĐiểnUông Bí, Bệnh viện Phụ Sản Thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Phụ sản HảiPhòng, Bệnh viện Phụ Sản Thái Bình, Bệnh viện Phụ Sản Thanh Hóa, Bệnhviện Đa khoa Thái Nguyên, Bệnh viện Nhi Trung ương, Bệnh viện Đa khoaTrung ương Huế Tuy nhiên do chưa có hệ thống theo dõi liên tục và hiệuquả nên có rất ít số liệu về thực hiện những hành vi này Tại Bệnh viện Uông
Bí [27]
Những trẻ sơ sinh non tháng, nhẹ câc có tình trạng ổn định không đượctiếp xúc da kề da kéo dài, cho bú sớm và bú sữa mẹ hoàn toàn Thay vào đó,những trẻ này bị tách khỏi mẹ và chyển vào nằm điều trị cách ly tại các đơn vịNICU để theo dõi và ăn sữa công thức những trẻ được sinh ra bằng phươngpháp mổ đẻ, tình trạng ổn định( cả trẻ non tháng và đủ tháng) cũng đượcchăm sóc tương tự như vậy Những thực hành này đã hạn chế thực hiện nhữngcan thiệp cứu sống trẻ sinh non và nhẹ cân, trong đó có phương pháp KMC.Thông thường, hướng dẫn của bệnh viện hoặc quốc gia hạn chế người mẹtiếp cân đơn vị NICU, do đó hạn chế việc áp dụng KMC liên tục[14]
Chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru được áp dụng từ năm 1985 và đã trởthành thường quy trong điều trị và chăm sóc trẻ đẻ non và trẻ có cân nặngkhi sinh thấp
Trang 28Quyết định số 1142/QĐ – BYT ngày 18/4/2011 của Bộ trưởng Bộ Y tếphê duyệt “Hướng dẫn tổ chức thực hiện đơn nguyên sơ sinh và góc sơ sinhtại các tuyến y tế”
1.5 Tình hình nghiên cứu về phương pháp ủ ấm da kề da
1.5.1 Trên thế giới
Theo Conde-Agudelo A, Díaz-Rossello J, KMC đã được chứng minh làlàm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong trẻ đẻ non ở tuổi thai 40-41 tuần bằng 40% vàcải thiện kết quả khác bao gồm nhiễm trùng nặng / nhiễm trùng huyết, gắn bótình cảm ở các bà mẹ, và tăng cân so với chăm sóc trẻ sơ sinh thông thường ởtrẻ sinh non [12]
Theo Joy E Lawn và cộng sự thì KMC làm giảm đáng kể tỷ lệ tử vong ởtrẻ sơ sinh trong số trẻ sơ sinh non tháng (cân nặng <2000g) trong bệnh viện,
và có hiệu quả cao trong việc giảm tỷ lệ mắc bệnh nghiêm trọng, đặc biệt là từnhiễm trùng Tuy nhiên, KMC vẫn không có sẵn ở quy mô trong hầu hết cácnước có thu nhập thấp [51]
Nghiên cứu từ nhiều nước khác nhau cũng cho thấy KMC là một phươngpháp hiệu quả để điều trị trẻ sinh non, mà các bà mẹ đã thực hành KMC cóthể thấy nó chấp nhận được, và rằng KMC có thể có một tác động tích cựcđến sức khỏe của bà mẹ trong trường hợp nhất định[29]
1.5.2 Tại Việt Nam
Về thực hành giữ ấm trẻ sơ sinh, còn ít số liệu về thực hành giữ ấm nóichung cho trẻ sơ sinh ở Việt Nam Viện Nhi Trung ương 1998-2000, đã cómột số báo cáo về tỉ lệ trẻ nhập viện liên quan đến hạ thân nhiệt, tỉ lệ trẻ códấu hiệu hạ nhiệt trong tổng số sơ sinh tử vong tại bệnh viện trong 24 giờ đầusau đẻ Một nghiên cứu tại Hải Phòng của Đoàn Thị Thanh Hường có nói đến
tỉ lệ hạ thân nhiệt trong tổng số tử vong sơ sinh sớm [26]
Trang 29Về phương pháp ủ ấm da kề da có một số nghiên cứu của Nguyễn ThuNga về thực hành chăm sóc bà mẹ Căng-gu-ru ở Việt Nam với trẻ đẻ non/trẻ
có cân nặng khi sinh thấp Còn thực hành giữ ấm da kề da cho trẻ sơ sinhkhỏe mạnh chưa được nghiên cứu tại Việt Nam [27]
Nghiên cứu của Đặng Thị Hà, Nguyễn Thị Thúy về kiến thức, thái độ,thực hành của bà mẹ ủ ấm cho trẻ sinh non tại khoa sơ sinh Bệnh viện Nhiđồng Thành phố Cần Thơ cho thấy 63,2% bà mẹ biết Kangaroo là phươngpháp ủ ấm da kề da Đánh giá chung có 57,55% các đối tượng nghiên cứu cókiến thức đúng về ủ ấm cho TSN Bà mẹ có thực hành đúng cao nhất ở bước
2 chiếm 99,1%, kế đến là bước 12 chiếm 97,2% và bước 10 chiếm 93,4% Bà
mẹ có thực hành đúng thấp nhất ở bước 9 chỉ chiếm 34% và bước 11 chiếm56,6% Đánh giá chung có 63,21% bà mẹ có thực hành đúng về ủ ấm chotrẻ sinh non theo phương pháp Kangaroo [50]
Trang 30CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
a Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Khoa Nhi Bệnh viện Bạch Mai Hà nội
b Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 06/2019 đến tháng 08/2020 trong đóthời gian thu thập số liệu tại cơ sở thực tế từ 9/2019 đến 3/2020
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Bà mẹ và trẻ đẻ non đang nằm trong khoa Nhi Bệnh viện Bạch mai
2.2.1 Tiêu chuẩn lựa chọn
- Bà mẹ từ 18 tuổi trở lên, không mắc các bệnh ngoài da, lây nhiễm
- Bà mẹ có con đẻ non đang điều trị nội trú tại khoa Nhi Bệnh viện Bạch mai
- Trẻ đẻ non tuổi thai từ 32 tuần
- Con cân nặng từ 1000g đến 2500g
- Hiện tại trẻ không nằm điều trị tại NICU
- Tình nguyện tham gia nghiên cứu
2.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Bà mẹ và trẻ đẻ non không đủ tiêu chuẩn trên
- Bà mẹ mắc bệnh ảnh hưởng đến trẻ
- Trẻ suy hô hấp, dị tật bẩm sinh, vàng da, sốt , đang nằm trong NICU…
- Những người sau khi đã được giải thích về mục đích và mục tiêunghiên cứu nhưng từ chối tham gia nghiên cứu
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu:
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang
Trang 312.3.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
p = 0,6 Tỷ lệ người người có kiến thức và thực hành về phương pháp ủ
ấm da kề da qua nghiên cứu thử
= 0,25: Sai số mong muốn giữa mẫu nghiên cứu và quần thể
Như vậy cỡ mẫu của nghiên cứu n=246
b Phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu cho nghiên cứu chọn theo ngẫu nhiên đơn
Tất cả các bà mẹ có đủ điều kiện tại khoa Nhi Bệnh viện Bạch mai sẽđược lựa chọn cho đến khi đủ cỡ mẫu
2.3.3 Biến số và chỉ số
Bảng 2.1 Biến số chỉ số về kiến thức, thực hành của bà mẹ về phương
pháp da kề da Nội dung
Tỷ lệ các bà mẹ có trình
độ học vấn là tiểu học/trung học cơ sở/
Danh mục
Trang 32nghiên cứu trung học phổ thông/
trung cấp, cao đẳng/ đại học trở lên
- Nghề nghiệp của
bà mẹ
Tỷ lệ các bà mẹ làm nông dân/công nhân/ cán bộ viên chức/kinh doanh/
khác
Danh mục
- Nơi cư trú của các
bà mẹ
Tỷ lệ bà mẹ ở nống thôn/thành thị
Danh mục
- Tuổi thai của trẻ khi sinh
Tỷ lệ trẻ sinh ra có tuổi thai 28-30 tuần/30-32 tuần
Liên tục
- Giới tính của trẻ Tỷ lệ trẻ nam/nữ
- Cân nặng khi sinh của trẻ sơ sinh
Tỷ lệ trẻ có cân nặng khi sinh <1000g/ 1000-1500g/ >1500g
Liên tục
- Thứ tự sinh của trẻ trong gia đình
Tỷ lệ trẻ là con đầu/con thứ 2 trở lên
Danh mục
- Nhiệt độ của trẻ Tỷ lệ trẻ có nhiệt độ khi
Liên tục
- Nhịp thở Tỷ lệ trẻ có nhịp thở khi
sinh <40/40-60/ >60 lần/
Liên tục
Trang 33Tỷ lệ bà mẹ biết các phương pháp giữ ấm chotrẻ sau sinh: da kề da/
nằm cạnh mẹ/ quấn tã/đội mũ/ cho bú mẹ/nằm phòng ấm
Danh mục
- Kiến thức của bà
mẹ về sự cần thiết phải giữ ấm cho trẻ sau sinh
Tỷ lệ bà mẹ biết về sự cần thiết phải giữ ấm cho trẻ sau sinh
Danh mục
- Kiến thức của bà
mẹ về phương pháp
ủ ấm da kề da
Tỷ lệ bà mẹ biết về phương pháp ủ ấm da kề da
Danh mục
- Kiến thức chung về
ủ ấm cho trẻ sinh non
Tỷ lệ bà mẹ biết các kiến thức chung về ủ ấm cho trẻ
sơ sinh theo phương pháp KMC
Danh mục
- Kiến thức của bà
mẹ về lợi ích đối với con của phương pháp da kề da
Tỷ lệ bà mẹ biết về các lợi ích đối với con của phương pháp da kề da
Danh mục
- Kiến thức của bà
mẹ về lợi ích đối với
mẹ của phương pháp da kề da
Tỷ lệ bà mẹ biết về các lợi ích đối với mẹ của phương pháp da kề da
Danh mục
- Nguồn tiếp cận Tỷ lệ bà mẹ biết thông Danh