ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả NVYT đang làm việc tại BV Đại học Y Dược TP.HCM cơ sở 2.
Tất cả NVYT đang làm việc tại bệnh viện Đại học Y Dược TP.HCM cơ sở
2 đồng ý tham gia nghiên cứu.
NVYT nghỉ hậu sản, nghỉ phép năm, nghỉ ốm, công tác, học tập.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 5/2020 đến tháng 8/2020. Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại BV Đại học Y Dược TP.HCM cơ sở 2, 201Nguyễn Chí Thanh, phường 12, Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả.
Cỡ mẫu
Toàn thể NVYT của BV Đại học Y Dược TP.HCM cơ sở 2
Phương pháp chọn mẫu
Phương pháp thu thập số liệu
Người nghiên cứu cần xin phép Trưởng cơ sở để thực hiện đề tài nghiên cứu Sau khi nhận được sự đồng ý từ Trưởng cơ sở, quá trình thu thập số liệu sẽ được tiến hành theo các bước cụ thể.
Bước 1 : Người nghiên cứu trao đổi với Trưởng khoa phương pháp lấy mẫu và lên kế hoạch lấy mẫu tại khoa.
Bước 2 : Giải thích cho đối tượng nghiên cứu hiểu rõ mục đích nghiên cứu và ký tên vào phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu.
Bước 3: Tiến hành thu thập dữ liệu bằng cách phát bảng câu hỏi cho đối tượng nghiên cứu tự điền, với thời gian dự kiến khoảng 15 phút để hoàn thành khảo sát.
Công cụ thu thập số liệu
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng công cụ tự đánh giá theo WHO,
Năm 2009, nghiên cứu được thực hiện để đo lường kiến thức về thực hành VST của nhân viên y tế (NVYT) Bộ câu hỏi khảo sát được chia thành hai phần: phần A gồm 10 câu hỏi về đặc điểm cá nhân của NVYT như giới tính, tuổi, nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, nơi đào tạo, thâm niên công tác, khoa làm việc, số lượng bệnh nhân điều trị trong ca làm việc, việc có được tập huấn trong 3 năm gần đây, số lần tham gia tập huấn và thói quen sử dụng dung dịch chứa cồn VST Phần B gồm 8 câu hỏi đánh giá kiến thức về thực hành VST, trong đó có 4 câu yêu cầu chọn đáp án đúng nhất và 3 câu hỏi có/không.
1 câu chọn đúng/sai Phần B có 8 câu hỏi với 25 câu trả lời; mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm (Phụ lục 2).
Biến số nghiên cứu
Tên biến số Định nghĩa Phân loại
1 Kiến thức về thực hành
Là sự hiểu biết về vấn đề thực hành VST.
2 Giới tính Là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về sinh học có sẵn từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi.
Biến nhị giá: nam- nữ
3 Tuổi Là tuổi tính theo năm dương lịch (Hiệu số của
Hoạt động lao động tạo ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần đáp ứng được những nhu cầu của xã hội
Là chuyên ngành cao nhất mà đối tượng đó trải qua và đang làm việc.
- Khác (trung học cơ sở, trung học phổ thông, sơ cấp)
6 Nơi đào tạo Nơi học tập và cấp bằng chuyên môn Biến định tính
- Trường Đại học Y Dược Tp.HCM
Là thời gian được tính từ lúc bắt đầu công tác chuyên môn cho đến hiện tại.
NB điều trị/chăm sóc trong ca làm việc
- Là số lượng NB mà NVYT đó tiếp xúc hay được phân công điều trị/chăm sóc trong 1ca làm việc trong ngày.
8 Khoa làm việc Đơn vị người đó đang làm việc, chịu sự quản lý và phân công của Trưởng khoa đó.
10 Số lần được tập huấn
Là số lần tham gia khóa học để tiếp nhận những thông tin mới, và thực hành theo nội dung mới đó
Là điểm trung bình đạt được khi trả lời hết phần
Xử lý và phân tích số liệu
Sử dụng phần mềm SPSS 20.0, chúng tôi đã tiến hành nhập liệu, chạy thử và làm sạch dữ liệu để đảm bảo độ chính xác Sau đó, các kết quả nghiên cứu được thống kê và phân tích một cách chi tiết.
Bằng cách áp dụng phép kiểm One-Way ANOVA và phép kiểm Kruskal-Wallis, chúng tôi đã xác định sự khác biệt trong kiến thức thực hành VST giữa các đối tượng nhân viên y tế (NVYT) và khám phá mối liên hệ giữa các đặc điểm cá nhân với kiến thức thực hành VST.
Chọn đối tượng có đúng tiêu chí chọn vào.
Người nghiên cứu hướng dẫn đối tượng trả lời bộ câu hỏi một cách rõ ràng trước khi điền vào phiếu khảo sát Để đảm bảo tính chính xác cho nghiên cứu, đối tượng thực hiện khảo sát dưới sự giám sát của người nghiên cứu, nhằm tránh thảo luận và tham khảo tài liệu.
Phương pháp kiểm soát sai lệch
Nghiên cứu này áp dụng công cụ tự đánh giá của WHO năm 2009 để đo lường kiến thức về thực hành VST của nhân viên y tế Để đảm bảo tính chính xác của bản dịch, bộ câu hỏi đã được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại Phiên bản gốc tiếng Anh cùng với bản dịch tiếng Việt sẽ được một chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn tại bệnh viện kiểm tra độ chính xác.
Trước khi thực hiện nghiên cứu, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 5 đối tượng trong dân số mục tiêu để đánh giá sự rõ ràng và cách dùng từ Kết quả cho thấy cả 5 đối tượng đều nhận xét bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu và có thể hoàn thành trong khoảng 15 phút.
Vấn đề đạo đức và tính ứng dụng
Nghiên cứu này chỉ được thực hiện khi có sự chấp thuận của Trưởng cơ sở
BV Đại học Y Dược Tp.HCM cơ sở 2 yêu cầu người nghiên cứu phải thông báo rõ ràng với các đối tượng tham gia rằng quyết định tham gia hoặc từ chối tham gia nghiên cứu sẽ không ảnh hưởng đến công việc cũng như mối quan hệ của họ.
Tất cả thông tin từ người tham gia nghiên cứu sẽ được bảo mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác Người tham gia có quyền đặt câu hỏi về nghiên cứu với các nhà nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu giúp xây dựng chương trình tập huấn phù hợp nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc NB, an toàn cho NB và NVYT.
KẾT QUẢ
Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (N%7)
Khác (sơ cấp, trung học phổ thông, trung học cơ sở)
Nơi đào tạo Đại học Y Dược Tp.HCM 126 49,0
Khoa Lâm sàng (TMH, GMHS, Ngoại
TH, Sản, Khám bệnh, ĐTVT, KSNK,
Khoa cận lâm sàng (XN, trung tâm chẩn đoán y sinh học phân tử, CĐHA, nội soi)
Khối Hành chánh (Ban KHTH, Ban
Số lượng NB điều trị chăm sóc trong ca làm việc
Thường xuyên dùng DD chứa cồn VST
Tập huấn vệ sinh tay trong 3 năm gần đây
Nguồn thông tin về VST
Nhận xét: Đa số đối tượng nghiên cứu là nữ chiếm 71,6% với độ tuổi chủ yếu từ 30 -
Đối tượng 40 tuổi chiếm 46,7%, trong khi những người có thâm niên công tác dưới 5 năm chiếm 36,3% Ngành điều dưỡng có tỷ lệ cao nhất với 28,5%, tiếp theo là nữ hộ sinh với 13,3%, và thấp nhất là bảo vệ với 2,3%.
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học (54,1%), trong khi trình độ trung cấp chiếm 30,4% và 6,2% có trình độ khác Gần 49% nhân viên y tế (NVYT) được đào tạo tại trường Đại học Y Dược TP.HCM, với 53,3% làm việc trong khối lâm sàng và 10,5% trong khối cận lâm sàng Tỷ lệ NVYT không chăm sóc bệnh nhân chiếm 46,7%, trong khi 29,9% chăm sóc từ 1-15 bệnh nhân Hơn 97% NVYT thường xuyên sử dụng dung dịch chứa cồn VST, và 84,8% được tập huấn trong 3 năm qua, với 68,9% đã tham gia từ 1-3 lần Tuy nhiên, 15,2% không được tập huấn trong khoảng thời gian này Kiến thức về VST chủ yếu đến từ bệnh viện (88,3%), trong khi các nguồn khác như ti vi, sách, báo, mạng xã hội, bạn bè, đồng nghiệp chiếm từ 30,3% đến 45,1%.
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về thực hành vệ sinh tay
NỘI DUNG n % Đường lây truyền mầm bệnh chính gây nguy cơ nhiễm khuẩn cho NB trong cơ sở chăm sóc y tế
Khi tay NVYT không sạch 203 78,9
Sự thông khí trong bệnh viện 6 2,3
Tiếp xúc bề mặt môi trường xung quanh NB (ví dụ: giường bệnh, ghế, bàn, sàn nhà)
Dùng chung các vật dụng như ống nghe, máy đo huyết áp giữa các NB
Nguồn lây truyền mầm bệnh thường gặp nhất liên quan đến nhiễm khuẩn trong chăm sóc y tế
Hệ thống nước của bệnh viện 4 1,6
Môi trường của bệnh viện 19 7,4
Mầm bệnh sẵn có trên hoặc trong NB 62 24,1 Môi trường tiếp xúc trong bệnh viện (các bề mặt) 172 66,9
78,9% đối tượng nghiên cứu hiểu đúng về đường lây truyền mầm bệnh chính gây nguy cơ nhiễm khuẩn cho người bệnh trong cơ sở chăm sóc y tế Tuy nhiên, chỉ có 24,1% đối tượng có kiến thức chính xác về nguồn lây truyền mầm bệnh phổ biến nhất liên quan đến nhiễm khuẩn trong lĩnh vực này.
Bảng 3.3 Kiến thức về thời điểm vệ sinh tay ngăn ngừa sự lây truyền mầm bệnh cho NB và NVYT (N%7)
Hành động vệ sinh tay nào sau đây sẽ ngăn ngừa sự lây truyền mầm bệnh Cho NB
Trước khi chạm vào NB (có) 227 88,3
Ngay sau khi có nguy cơ tiếp xúc với dịch cơ thể (có) 164 63,8
Sau khi tiếp xúc vật dụng xung quanh NB (không) 187 72,8 Trước khi thực hiện thủ thuật hoặc quy trình sạch/vô khuẩn
Sau khi động chạm NB (có) 215 83,7
Sau khi có nguy cơ tiếp xúc với dịch cơ thể (có) 211 82,1
Trước khi thực hiện thủ thuật hoặc quy trình sạch/vô khuẩn
Sau khi tiếp xúc vật dụng xung quanh NB (có) 213 82,9
Từ nghiên cứu, có từ 63,8% đến 88,3% đối tượng hiểu đúng về thời điểm vệ sinh tay (VST) để ngăn ngừa sự lây truyền mầm bệnh cho người bệnh (NB) Đồng thời, tỷ lệ người có kiến thức đúng về thời điểm VST nhằm ngăn ngừa lây truyền mầm bệnh cho nhân viên y tế (NVYT) dao động từ 49% đến 83,7%.
Bảng 3.4 so sánh đặc điểm giữa việc chà tay bằng dung dịch chứa cồn và rửa tay bằng nước cùng xà phòng, đồng thời chỉ ra thời gian tối thiểu cần thiết cho việc chà tay bằng dung dịch chứa cồn (N= 257).
Phát biểu nào sau đây là đúng cho chà tay bằng DD chứa cồn và rửa tay bằng nước và xà phòng
Chà tay bằng DD chứa cồn thì nhanh hơn và cho tay sạch hơn rửa tay bằng nước và xà phòng (đúng)
Chà tay bằng DD chứa cồn gây khô da tay hơn rửa tay bằng nước và xà phòng (sai)
Chà tay bằng DD chứa cồn ngăn ngừa hiệu quả sự lây truyền mầm bệnh hơn rửa tay bằng nước và xà phòng (sai)
Rửa tay bằng nước và xà phòng và chà tay bằng DD chứa cồn được thực hiện theo trình tự (sai)
Thời gian tối thiểu cần thiết cho kỹ thuật chà sát tay bằng DD chứa cồn để diệt mầm bệnh trên tay
Chỉ có 10,9% đối tượng nghiên cứu hiểu rằng việc chà tay bằng dung dịch chứa cồn nhanh hơn và hiệu quả hơn so với rửa tay bằng nước và xà phòng Hơn nữa, 39,3% cho rằng dung dịch chứa cồn không gây khô da tay hơn nước và xà phòng, trong khi chỉ 12,1% nhận thức đúng rằng nó không hiệu quả trong việc ngăn ngừa sự lây truyền mầm bệnh Đặc biệt, 81,7% cho thấy rằng việc thực hiện rửa tay bằng nước và xà phòng cùng với chà tay bằng dung dịch chứa cồn không đúng trình tự.
71,2% đối tượng nghiên cứu hiểu đúng về thời gian tối thiểu cần thiết khi sử dụng dung dịch chứa cồn để chà sát tay, nhằm tiêu diệt mầm bệnh.
Bảng 3.5 Các thời điểm liên quan đến việc chọn phương pháp VST và nguyên nhân làm tăng khả năng xâm nhập các mầm bệnh có hại qua bàn tay (N= 257)
Phương pháp VST nào được đề nghị trong từng trường hợp sau
Chà tay bằng DD chứa cồn
Rửa tay bằng nước và xà phòng
Trước khi thăm khám vùng bụng 218 (84,8) 39 (15,2)
Sau khi đổ bồn tiêu 82 (38,2) 175 (61,8)
Sau khi tháo găng tay 177 (68,9) 80 (31,1)
Sau khi thay ga giường cho NB 165 (64,2) 92 (35,8)
Sau khi phơi nhiễm với máu 31 (12,1) 226 (87,9)
Những điều nào sau đây cần tránh, do có liên quan đến việc làm tăng khả năng xâm nhập của các mầm bệnh có hại qua bàn tay n (%)
Da bị tổn thương (có) 217 (84,4)
Thường xuyên sử dụng kem dưỡng da tay (không)
Đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về việc chà tay bằng dung dịch chứa cồn trước khi thăm khám vùng bụng đạt 84,8%, trước khi tiêm thuốc là 93,4%, sau khi tháo găng là 68,9%, và sau khi thay ga giường cho bệnh nhân là 64,2%.
87,9% đối tượng nghiên cứu hiểu rõ tầm quan trọng của việc rửa tay bằng nước và xà phòng sau khi sử dụng bồn tiêu và sau khi tiếp xúc với máu.
Chỉ có 26,9% đối tượng nghiên cứu hiểu rằng việc thường xuyên sử dụng kem dưỡng da tay không làm tăng nguy cơ xâm nhập của mầm bệnh qua bàn tay Trong khi đó, tỷ lệ kiến thức đúng về các yếu tố khác như nữ trang, da tổn thương và móng tay giả dao động từ 78,2% đến 84,4%.
Mối liên hệ giữa đặc điểm cá nhân của NVYT và kiến thức về thực hành VST
Bảng 3.6 Mối liên hệ giữa đặc điểm cá nhân của NVYT và điểm kiến thức về thực hành VST.
NỘI DUNG Điểm tổng cộng kiến thức chung (25 câu)
Nơi đào tạo Đại học Y dược TPHCM 17,0 0,2
Số lượng NB điều trị chăm sóc trong ca làm việc
Thường xuyên vệ sinh tay
Tham gia tập huấn vệ sinh tay
Phép kiểm One-Way ANOVA
Không có mối liên hệ thống kê đáng kể nào giữa kiến thức thực hành vệ sinh thực phẩm (VST) với các yếu tố như giới tính, tuổi tác, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác và số lần tham gia tập huấn.
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê giữa kiến thức về thực hành VST và các yếu tố như nghề nghiệp, nơi đào tạo, khoa làm việc, số lượng bệnh nhân được điều trị trong ca làm việc, thói quen VST, và tham gia tập huấn VST trong 3 năm gần đây Cụ thể, nhân viên y tế (NVYT) tại các khoa lâm sàng như Tai mũi họng, Gây mê hồi sức, và Ngoại tổng hợp có điểm kiến thức chung là 16,7, cao hơn so với khoa Dược với 14,2 điểm Đặc biệt, NVYT điều trị từ 1-15 bệnh nhân có điểm kiến thức cao nhất là 17,3, trong khi nhóm điều trị từ 36-55 bệnh nhân chỉ đạt 14,9 điểm Hơn nữa, điểm kiến thức chung của NVYT tham gia tập huấn đạt 16,2, cao hơn so với nhóm không tham gia (14,2 điểm), với p= 0,012.
BÀN LUẬN
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức đúng về thực hành VST
Theo khảo sát về kiến thức thực hành vệ sinh tay (VST) của 257 nhân viên y tế (NVYT), có đến 78,9% NVYT nhận thức đúng rằng đường lây truyền mầm bệnh chính gây nguy cơ nhiễm khuẩn cho bệnh nhân trong cơ sở chăm sóc y tế là do bàn tay không sạch của nhân viên y tế Số còn lại cho rằng nguyên nhân lây nhiễm có thể do tiếp xúc với bề mặt môi trường xung quanh bệnh nhân, sự thông khí trong bệnh viện, và việc sử dụng chung các vật dụng như ống nghe và máy đo huyết áp.
Chỉ có 24,1% nhân viên y tế (NVYT) hiểu đúng về nguồn lây truyền mầm bệnh phổ biến trong chăm sóc y tế, mà chủ yếu là do mầm bệnh có sẵn trên hoặc trong bệnh nhân Hơn một nửa số NVYT lại cho rằng môi trường tiếp xúc trong bệnh viện là nguồn lây chính, trong khi họ có thể đã bỏ qua vai trò quan trọng của đôi bàn tay trong việc truyền bệnh.
Các bề mặt được xác định là nguồn lây chính, trong khi một số ít cho rằng môi trường và hệ thống nước là nguyên nhân lây truyền mầm bệnh chủ yếu Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây, chẳng hạn như nghiên cứu của Ahmed AMahfouz và cộng sự (2014) tại Abha, Tây Nam Ả Rập Saudi với tỷ lệ 59,2% và 26,4%, cũng như nghiên cứu của Pranav DModi và cộng sự (2017) tại Ấn Độ với tỷ lệ 50,7% và 27% Điều này cho thấy rằng, nhìn chung, nhân viên y tế có kiến thức hạn chế về các con đường lây truyền và nguồn lây chính gây nhiễm khuẩn bệnh viện.
Trong nghiên cứu, có từ 63,8% đến 88,3% đối tượng có kiến thức đúng về thời điểm VST ngăn ngừa sự lây truyền mầm bệnh cho người bệnh (NB), và từ 49% đến 83,7% có kiến thức đúng về thời điểm VST ngăn ngừa lây truyền cho nhân viên y tế (NVYT) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Ahmed AMahfouz và cộng sự (2014) tại Abha, Tây Nam Ả Rập Saudi, trong đó 72% NVYT có kiến thức đúng về thời điểm VST cho NVYT và 76% cho NB So với nghiên cứu tại trường đại học Jayewardenepura, tỷ lệ này lần lượt là 17,3% và 38,7% Kết quả cũng cao hơn so với nghiên cứu của Kamble và cộng sự (2015) tại Ấn Độ với tỷ lệ 13% cho NVYT và 11% cho NB, cũng như nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2013) tại BV Hùng Vương với tỷ lệ 13,3% và 30%.
Khi khảo sát kiến thức về việc chà tay bằng dung dịch chứa cồn so với rửa tay bằng nước và xà phòng, chỉ 10,9% điều dưỡng cho rằng chà tay bằng dung dịch chứa cồn nhanh và sạch hơn; 39,3% không cho rằng nó gây khô da tay; và 12,1% cho rằng nó không ngăn ngừa sự lây truyền mầm bệnh hiệu quả hơn nước và xà phòng Những kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Pranav DModi và cộng sự (2017) tại Ấn Độ Nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2013) tại BV Hùng Vương cũng cho thấy sát khuẩn tay không gây khô tay và không ngăn ngừa sự lây truyền mầm bệnh hiệu quả hơn so với rửa tay bằng nước và xà phòng với tỷ lệ lần lượt là 31,3% và 70,6% Điều này có thể giải thích lý do tại sao nhân viên y tế không có thói quen vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn, có thể do lo ngại về khô da tay và cảm giác không sạch bằng rửa tay với nước và xà phòng.
Theo nghiên cứu của Pranav DModi và cộng sự (2017) cùng Kamble và cộng sự (2015) tại Ấn Độ, tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) có kiến thức đúng về thời gian tối thiểu cần thiết để chà tay bằng dung dịch chứa cồn chỉ đạt 36,1% và 38,1% Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ này cao hơn, đạt 71,2% Đặc biệt, nghiên cứu của Dương Duy Quang và cộng sự (2015) tại BV Đa khoa khu vực Định Quán ghi nhận tỷ lệ 71%, cho thấy sự khác biệt trong mức độ hiểu biết của NVYT về quy trình vệ sinh tay.
BV có kiến thức về thời gian tối thiểu cần thiết để chà tay bằng dung dịch chứa cồn, tuy nhiên, kiến thức này ảnh hưởng đến thực hành vệ sinh tay (VST), dẫn đến nguy cơ lây truyền mầm bệnh và tăng nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) Đặc biệt, 14,8% nhân viên y tế (NVYT) làm việc trong điều kiện thiếu bồn rửa tay, gây giảm tỷ lệ tuân thủ VST do mất thời gian; 3,1% cho rằng thời gian chà tay chỉ cần 3 giây và 10,9% cho rằng 10 giây, quá nhanh so với quy định, ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc y tế Hầu hết NVYT biết chọn phương pháp chà tay bằng dung dịch chứa cồn trước khi thăm khám (84,8%), trước khi tiêm (93,4%), sau khi tháo găng (68,9%) và sau khi thay ga giường (64,2%); trong khi 61,8% chọn rửa tay với nước và xà phòng sau khi đổ bồn tiêu và 87,9% sau khi phơi nhiễm với máu Nghiên cứu của Pranav DModi (2017) tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ chọn chà tay bằng dung dịch chứa cồn là 67,1%; 43,4%; 76,7%; 27,9% và rửa tay với nước và xà phòng là 80,1%; 82,3% Kết quả của Kamble (2015) cũng cho thấy tỷ lệ tương ứng là 54,5%; 23,6%; 70,9%; 29,1% cho chà tay bằng dung dịch chứa cồn và 80%; 72,7% cho rửa tay với nước và xà phòng Điều này cho thấy NVYT có kiến thức về thời điểm VST nhưng vẫn còn nhầm lẫn khi lựa chọn dung dịch VST.
Khi khảo sát về các yếu tố làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn bàn tay, đa số nhân viên y tế (NVYT) cho rằng việc mang nữ trang, da bị tổn thương và móng tay giả có liên quan đến việc tăng khả năng nhiễm khuẩn Đáng chú ý, 66,8% NVYT nhận thức rằng việc sử dụng kem dưỡng da tay thường xuyên không làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn Kết quả này cao hơn so với các nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước, như nghiên cứu của Trần Thị Mỹ Hạnh và cộng sự (2013) tại BV Hùng Vương với tỷ lệ 52,8% và nghiên cứu của Kamble và cộng sự (2015) tại Ấn Độ với tỷ lệ 45,4% Điều này cho thấy NVYT có thể lo ngại rằng việc sử dụng kem dưỡng da sẽ làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn bàn tay, dẫn đến việc họ ít hoặc không sử dụng dung dịch chứa cồn, từ đó ảnh hưởng đến tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay.
Sự khác biệt kiến thức về thực hành VST giữa các đối tượng NVYT tại Bệnh viện Đại học Y Dược Tp.HCM cơ sở 2
Khi so sánh kiến thức về thực hành VST giữa các đối tượng NVYT tại Bệnh viện Đại học Y Dược Tp.HCM cơ sở 2, chúng tôi nhận thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với điểm trung bình tổng cộng cho thấy kế toán đạt 13,8 điểm, trong khi bác sĩ đạt 17,3 điểm Sự chênh lệch này có thể do nhân viên kế toán ít tiếp xúc với bệnh nhân, trong khi bác sĩ thường xuyên thăm khám và nhận thức rõ tầm quan trọng của VST Kết quả này không giống với nghiên cứu của Lò Thị Hà và cộng sự (2013) tại BV Việt Nam - Cu Ba, nơi điều dưỡng có tỷ lệ kiến thức đúng về VST cao hơn bác sĩ.
Xác định mối liên hệ giữa đặc điểm cá nhân của NVYT và kiến thức về thực hành VST
Nghiên cứu này không phát hiện mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức chung về thực hành vệ sinh tay (VST) và các yếu tố cá nhân của nhân viên y tế (NVYT) như giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, thâm niên công tác và nơi đào tạo Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Lò Thị Hà và cộng sự (2013) tại BV Việt Nam - Cu Ba, cũng như nghiên cứu của Hosein Zakeri và cộng sự (2015) tại hai BV ở Mashhad, Iran, cho thấy không có sự liên quan giữa kiến thức với tuổi, giới tính, khoa làm việc hoặc chức danh công việc Ngược lại, nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền và cộng sự (2015) tại BV Hòe Nhai - Hà Nội lại chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức đúng về thực hành VST và nhóm tuổi từ 30 trở lên.
Nghiên cứu này phát hiện mối liên hệ thống kê giữa kiến thức thực hành VST và đặc điểm cá nhân của nhân viên y tế (NVYT) như khoa làm việc và số lượng bệnh nhân (NB) được chăm sóc Điểm trung bình về kiến thức VST cao nhất ở khoa Lâm sàng (17,3 điểm) và thấp nhất ở khoa Dược (gần 15 điểm) với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê NVYT tiếp xúc với nhiều NB có thể cảm thấy rằng việc thực hành VST gây tốn thời gian, dẫn đến điểm trung bình thấp hơn Sự khác biệt này không được ghi nhận trong các nghiên cứu trước, có thể do đặc điểm riêng của các bệnh viện tham gia nghiên cứu và sự khác biệt trong thành phần đối tượng.
BV không hoàn toàn giống nhau.
Điểm mạnh, điểm hạn chế và điểm mới của nghiên cứu
Nghiên cứu này nổi bật với việc đánh giá kiến thức thực hành vệ sinh tay (VST) của nhân viên y tế (NVYT) qua nhiều nội dung khác nhau, giúp xác định những hạn chế về kiến thức VST ở các đối tượng và nhóm khoa phòng cụ thể, từ đó xây dựng chiến lược tập huấn bổ sung phù hợp Đặc biệt, nghiên cứu đã phát hiện tỷ lệ NVYT có kiến thức sai về thực hành VST trong các thời điểm có nguy cơ cao, làm tăng khả năng nhiễm khuẩn cho bệnh nhân, NVYT và cộng đồng Tuy nhiên, điểm hạn chế của nghiên cứu là chỉ dựa trên khảo sát qua bộ câu hỏi mà không quan sát trực tiếp hành vi, dẫn đến việc chưa phản ánh chính xác thực hành VST của NVYT Điểm mới của nghiên cứu là khảo sát toàn bộ NVYT trong bệnh viện, bao gồm cả những người chăm sóc bệnh nhân trực tiếp và gián tiếp như điều dưỡng hành chính và dược sĩ, nhằm đánh giá thực trạng kiến thức về thực hành VST tại bệnh viện.