5 1.1.1 Mục tiêu giáo dục THPT và mục tiêu của bộ môn Toán nước ta trong giai đoạn hiện nay: 5 1.1.2 Vai trò của vận dụng toán học vào thực tế đối với việc đáp ứng yêu cầu về mục tiêu dạ
Trang 1Chữ viết tắt Nội dung
SGK : Sách giáo khoa
NXB : Nhà xuất bản THPT : Trung học phổ thông THCS
GV
HS
: Trung học cơ sở : Giáo viên
: Học sinh HĐTN : Hoạt động trải nghiệm
Trang 2I ĐIỀU KIỆN, HOÀN CẢNH TẠO RA SÁNG KIẾN: 1
1 MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN 2
2 MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN 4
CHƯƠNG I:
1.1
PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VẤN ĐỀ VẬN DỤNG TOÁN HỌC VÀO THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
5
1.1.1 Mục tiêu giáo dục THPT và mục tiêu của bộ môn Toán nước ta
trong giai đoạn hiện nay:
5
1.1.2 Vai trò của vận dụng toán học vào thực tế đối với việc đáp ứng
yêu cầu về mục tiêu dạy học môn Toán ở trường phổ thông
6
1.1.3 Rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn,
giúp học sinh có kỹ năng thực hành các kỹ năng Toán học và làm quen dần các tình huống thực tiễn
7
1.1.4 Dạy học ứng dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn là một biện
pháp có hiệu quả, nhằm chủ động thực hiện các nhiệm vụ dạy học:
8
1.2.2 Mô hình học tập trải nghiệm của D Kolb: 10
1.2.5 Các hình thức thường vận dụng trong dạy học trải nghiệm 14 1.2.6 Những điều kiện cần thiết để tổ chức dạy - học theo hướng trải
nghiệm
18
Trang 3học môn Toán ở trường phổ thông
CHƯƠNG 2: MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 10
22
VÍ DỤ 2: Tình huống: giải quyết một số bài toán đo khoảng cách trong
VÍ DỤ 4: Tình huống phân tích chiều cao của học sinh lớp 10A7 42
VÍ DỤ 5: Tình huống: Tổ chức cho HS tìm hiểu về đường elip 46
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM
TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 11
51
VÍ DỤ 1: Tổ chức tiến hành xây dựng hình huống dạy học về khái niệm
xác suất
51
VÍ DỤ 2: Tổ chức xây dựng tình huống dạy học về cấp số cộng 60
VÍ DỤ 3: Tổ chức cho học sinh học bài: Khái niệm về phép dời hình và hai
hình bằng nhau
68
Trang 4nghệ và sự bùng nổ thông tin, giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Mục tiêu dạy học chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang hình thành, phát triển phẩm chất và năng lực người học Nâng cao chất lượng đào tạo là một nhu cầu bức thiết của xã hội ngày nay, là sự sống còn có tác động mạnh mẽ đến chất lượng đào tạo nguồn lực cho sự phát triển xã hội Trong rất nhiều các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo thì giải pháp đổi mới phương pháp dạy học được xem là khâu
vô cùng quan trọng hiện nay nhằm phát triển cho người học hệ thống năng lực cần thiết để có thể tham gia hiệu quả vào thị trường lao động trong nước và quốc tế Đồng thời để chuẩn bị cho quá trình đổi mới chương trình sách giáo khoa giáo dục phổ thông 2018 và đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực người học là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho ngành giáo dục nước nhà
Hơn 2000 năm trước, Khổng tử đã nói:“Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu” Đây được coi là một trong những nguồn gốc
tư tưởng đầu tiên của giáo dục trải nghiệm
Năm 1902, giáo dục trải nghiệm được đưa vào giáo dục hiện đại tại Mỹ thông qua
mô hình “Câu lạc bộ trồng ngô” Câu lạc bộ có mục đích dạy học sinh thực hành trồng ngô, ứng dụng khoa học kỹ thuật vào các công việc nhà nông thực tế Các câu lạc bộ thực hành này không chỉ giúp học sinh áp dụng lý thuyết vào thực hành một cách trực quan, còn giúp rèn luyện tư duy phản biện cho học sinh vô cùng hiệu quả
Ngày nay, UNESCO cũng đã nhìn nhận giáo dục trải nghiệm chính là tương lai của
giáo dục toàn cầu trong những thập kỷ tới Vì vậy, “Học tập trải nghiệm là một quá trình phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ dựa trên suy nghĩ có ý thức về một trải nghiệm từng có Do đó, người học cần có được trải nghiệm cá nhân cụ thể và chủ động lấy phản hồi từ những người xung quanh, và tự phản ánh để đánh giá kiến thức, kinh nghiệm mình có được.”
Trang 5sức với học sinh, tổ chức học sinh hoạt động theo nhóm, chuẩn bị các phương tiện dạy học hỗ trợ cần thiết và tham gia thực hành giảng dạy đổi mới phương pháp dạy học Toán trong trường THPT nhằm:
- Nâng cao năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề cho học sinh
- Qua tìm tòi giải quyết vấn đề đặt ra, học sinh học được nhiều kĩ năng trong cuộc sống
- Giúp các em thấy được ứng dụng của môn Toán trong cuộc sống và đem lại niềm tin, hứng thú học tập và yêu thích học môn Toán
- Kích thích tính tò mò, tìm hiểu của học sinh từ đó học sinh chủ động thu nhận kiến thức môn Toán
- Tạo nên những con người mới tích cực, chủ động, sáng tạo trong tương lai đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại
Từ những lí do trên, chúng tôi đã tiến hành chọn đề tài nghiên cứu: "Một số kinh nghiệm dạy học trải nghiệm để tăng hứng thú học tập môn Toán cho học sinh THPT"
II MÔ TẢ GIẢI PHÁP
1 MÔ TẢ GIẢI PHÁP TRƯỚC KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
Trong nội dung chương trình học hiện nay nói chung và môn Toán nói riêng, với nhiều nội dung học sinh học tập một cách thụ động, chỉ đơn thuần là nhớ kiến thức và áp dụng một cách máy móc mà chưa rèn luyện kỹ năng tư duy, chưa biết cách vận dụng vào thực tế hay sử dụng kiến thức gắn kết trong các môn học khác Vì vậy, học sinh chỉ học bài nào biết bài đấy hoặc cô lập nội dung của các dạng bài, các phần mà chưa có sự liên hệ kiến thức với nhau nên chưa phát triển được tư duy logic và tư duy hệ thống, tư duy thuật toán từ đó nâng cao năng lực tư duy của người học Do đó, học sinh học nội dung đơn vị kiến thức rất nhanh quên, hoặc không biết sử dụng kiến thức đó như thế nào Từ đây, học sinh cảm thấy môn Toán khô khan, trừu tượng, không có tác dụng nhiều Học là để thi, học cho qua chương trình với tâm lí không hứng thú, dần dà không có niềm đam mê với toán
Trang 6học
Để có tìm hiểu vần đề này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát tìm hiểu về phía học sinh Chúng tôi phát phiếu khảo sát cho 300 học sinh của trường để các em phát biểu những ý kiến, nguyện vọng của mình khi học môn Toán Nội dung phiếu khảo sát như sau:
(1) Em có yêu thích học môn Toán không?
(2) Em có thấy rằng môn Toán có nhiều ứng dụng thiết thực trong cuộc sống không?
(3) Em có mong muốn tìm hiểu những ứng dụng của môn Toán trong cuộc sống xung quanh chúng ta không?
(4) Em đã tham gia vào học tập trải nghiệm của môn Toán lần nào chưa?(Ví dụ: tiết học, cuộc thi, câu lạc bộ, … ) (5) Em đã bao giờ áp dụng kiến thức Toán học để tạo ra một sản phẩm nào chưa?
(6) Em có muốn tham gia vào học tập trải nghiệm của môn Toán không?
Kết quả thu được như sau:
Có Không Có Không Có Không Có Chưa Có Không Có Không
60% 40% 92% 8% 89.7% 11.3% 40,3% 59,7% 10,7% 89,3% 87,7% 12,3%
Trang 7Như vậy, thông qua phiếu khảo sát trên cho thấy nhiều HS chưa hứng thú với môn Toán học vì chưa biết ứng dụng của Toán học vào thực tế cuộc sống Đa số cảm thấy môn Toán khô khan và trừu tượng Chủ yếu học với tâm lí để qua các bài kiểm tra và kì thi mà không thích môn học
Qua tìm hiểu các giáo viên đang giảng dạy môn Toán tại trường và một số trường bạn trên địa bàn tỉnh Nam Định, tôi thấy rằng, đã có nhiều sự thay đổi đáng kể trong việc áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực, trong đó có tổ chức dạy học trải nghiệm sáng tạo trong môn Toán ở trường THPT để tăng hứng thú học Toán trong HS Nhưng để nâng cao hiệu quả trong dạy học bằng việc tổ chức hoạt động dạy học trải nghiệm để cho học sinh có điều kiện được thực tế trải nghiệm sáng tạo thì chưa được tổ chức một cách bài bản do nhiều nguyên nhân như:
+ Do chưa có tài liệu chính thức về hướng dẫn dạy học trải nghiệm cho môn Toán THPT
+ Do mất nhiều thời gian chuẩn bị, cơ sở vật chất chưa đáp ứng đủ, GV ngại mất tiết,…
Chính vì vậy, chúng tôi viết nên đề tài “Một số kinh nghiệm dạy học trải nghiệm
để tăng hứng thú học tập môn Toán cho học sinh THPT” nhằm chia sẻ một số kinh
nghiệm mà GV Toán trường THPT Nguyễn Huệ đã áp dụng Từ đó góp phần đổi mới phương pháp dạy học, hướng đến mục tiêu chương trình giáo dục trung học 2018
2 MÔ TẢ GIẢI PHÁP SAU KHI TẠO RA SÁNG KIẾN
Thông qua đề tài này, chúng tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các bạn đồng nghiệp, phụ huynh và học sinh Chúng tôi cũng mong muốn đề tài này góp phần nhỏ vào việc tổ chức dạy học trải nghiệm của GV các trường, thông qua đó HS hứng thú hơn với môn Toán, đồng thời biết cách sử dụng các kiến thức Toán học vào cuộc sống
Từ đó sẽ đạt kết quả môn Toán cao hơn nữa
Trang 8NỘI DUNG SÁNG KIẾN PHẦN I: LÝ LUẬN CHUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 VẤN ĐỀ VẬN DỤNG TOÁN HỌC VÀO THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
1.1.1 Mục tiêu giáo dục THPT và mục tiêu của bộ môn Toán nước ta trong giai đoạn hiện nay:
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2200/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình trọng điểm quốc gia phát triển Toán học giai đoạn 2021 đến 2030” Chương trình đặt ra mục tiêu chung là tiếp tục phát triển Toán học Việt Nam bền vững và mạnh mẽ về mọi mặt: nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo, tương xứng với tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư; đưa
TH trở thành một bộ phận hữu cơ trong sự phát triển chung của khoa học, công nghệ và kinh tế - xã hội; nâng cao vị thế của TH Việt Nam trong khu vực và trên thế giới
Tình hình mới của kinh tế, xã hội Việt Nam cũng đặt riêng cho giáo dục trung học những yêu cầu mới Những yêu cầu đó được phản ánh qua mục tiêu bộ môn Toán trong nhà trường phổ thông:
Cung cấp cho HS những kiến thức, kỹ năng, phương pháp TH phổ thông, cơ bản, thiết thực
Góp phần quan trọng vào việc phát triển năng lực trí tuệ, hình thành khả năng suy luận đặc trưng của TH cần thiết cho cuộc sống
Góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất, phong cách lao động khoa học, biết hợp tác lao động, có ý chí và thói quen tự học thường xuyên
Tạo cơ sở để học sinh tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động
Riêng đối với cấp THPT, môn Toán có vai trò và ý nghĩa quan trọng, đó là tiếp nối chương trình THCS, cung cấp vốn văn hoá toán học phổ thông một cách có hệ thống bao gồm các kiến thức, kỹ năng, phương pháp tư duy TH Những kiến thức, kỹ năng TH cùng với phương pháp làm việc trong môn Toán trở thành công cụ để người học học tập những
Trang 9môn học khác, bước đầu tiếp cận các lĩnh vực khoa học khác nhau, là công cụ để học sinh đi vào thực tiễn cuộc sống
Trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay, môn Toán càng trở thành môn học có vai trò quan trọng để chuẩn bị tiềm lực con người có học vấn phổ thông Vì vậy, vận dụng
TH vào đời sống thực tiễn càng trở thành một trong những yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy học toán ở trường THPT hiện nay
1.1.2 Vai trò của vận dụng toán học vào thực tế đối với việc đáp ứng yêu cầu về mục tiêu dạy học môn Toán ở trường phổ thông
Vận dụng TH vào thực tiễn trong dạy học Toán ở trường THPT là cơ sở để người học toán nâng cao năng lực ứng dụng TH vào thực tiễn, vừa đáp ứng các yêu cầu của mục tiêu bộ môn, vừa thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện qua môn Toán, cụ thể:
• Góp phần thực hiện tốt hơn nhiệm vụ kiến tạo tri thức
• Góp phần củng cố các kỹ năng TH, kỹ năng vận dụng TH
Thông qua việc vận dụng TH vào thực tiễn trong dạy học Toán, HS sẽ được rèn luyện những kỹ năng trên những bình diện khác nhau:
- Kỹ năng vận dụng tri thức trong nội bộ môn Toán
- Kỹ năng vận dụng tri thức TH vào các môn học khác nhau
- Kỹ năng vận dụng TH vào đời sống
Ngoài ra, vận dụng TH vào thực tiễn trong dạy học Toán làm tăng lượng thông tin giữa thực tiễn và TH, một trong những điều kiện để phát triển ở người học năng lực vận dụng TH vào thực tiễn
Góp phần phát triển các năng lực trí tuệ
Góp phần rèn luyện, phát triển văn hóa toán học cho HS
Toán học là môn học quan trọng được sử dụng như là tiêu chuẩn để chọn lọc con người vào một số trường và một số nghề Hơn nữa, qua tìm hiểu các lĩnh vực ứng dụng của TH, người học thấy được giá trị, cái hay, cái đẹp của toán học trong các lĩnh vực thực tế (Vật lý, Sinh học, Kinh tế,…), từ đó mong muốn đem hiểu biết về TH của bản thân để tìm hiểu sâu các vấn đề trong lĩnh vực đó Đây là một trong những con đường khởi đầu cho việc tạo dựng tương lai và sự nghiệp của người học toán và yêu thích toán
Như vậy, chúng ta thấy TH có vai trò to lớn đối với thực tiễn và việc vận dụng TH
Trang 10vào thực tiễn là một yêu cầu có tính nguyên tắc trong dạy học Toán ở trường phổ thông giai đoạn hiện nay Trong các bước của quá trình vận dụng TH vào thực tiễn thì bước lập mô hình TH cho bài toán thực tiễn mang tính quyết định
1.1.3 Rèn luyện năng lực vận dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn, giúp học sinh
có kỹ năng thực hành các kỹ năng Toán học và làm quen dần các tình huống thực tiễn
Trong thực tế dạy học ở trường phổ thông, một vấn đề nổi lên là giáo viên chỉ quan tâm, chú trọng việc hoàn thành những kiến thức lí thuyết quy định trong Chương trình và Sách giáo khoa; rèn luyện bài tập mẫu; mà quên, sao nhãng việc thực hành, không chú tâm dạy những bài toán có nội dung thực tiễn HS gặp nhiều khó khăn trong việc vận dụng kiến thức TH vào cuộc sống Theo Trần Kiều, việc dạy học Toán hiện nay ''đang rơi vào tình trạng coi nhẹ thực hành và ứng dụng TH vào cuộc sống''
Để tạo điều kiện vận dụng tri thức vào thực tế, còn phải có những kỹ năng thực hành cần thiết cho đời sống, đó là các kỹ năng tính toán, vẽ hình, đo đạc, Trong hoạt động thực tế ở bất kỳ lĩnh vực nào cũng đòi hỏi kỹ năng tính toán: Tính đúng, tính nhanh, tính hợp lí, cùng với các đức tính cẩn thận, chu đáo kiên nhẫn Cần tránh tình trạng
ít ra bài tập đòi hỏi tính toán, cũng như khi dạy giải bài tập chỉ dừng lại ở "phương hướng"
mà ngại làm các phép tính cụ thể để đi đến kết quả cuối cùng Tình trạng này có tác hại không nhỏ đối với HS trong học tập hiện tại và trong cuộc sống sau này
Trong thực tiễn lao động sản xuất, hoạt động xã hội, việc tính toán đo đạc với độ chính xác cần thiết thường xảy ra từng giờ, từng phút; phải biết vận dụng TH như tính nhẩm, tính bằng bảng tính, thước tính, bảng đồ thị, toán đồ, máy tính, một cách thành thạo và đúng đắn Ngoài ra, cần giải quyết nhiều vấn đề trong thực tiễn với phương pháp hợp lí, ngắn gọn, tiết kiệm tư duy, thời gian, tiền của và sức lao động Việc vận dụng TH vào thực tiễn cũng như tập dượt nghiên cứu khoa học trong đó có các hoạt động như: thu thập tài liệu trong thực tế, mò mẫm, dùng quy nạp không hoàn toàn để dự kiến quy luật, rồi dùng quy nạp TH để chứng minh tính đúng đắn của các quy luật dự kiến; thu thập tài liệu thống kê trong sản xuất, quản lí kinh tế trong xã hội để tìm quy luật chung, ước lượng một số dấu hiệu từ mẫu thống kê đến tập hợp tổng quát về năng suất vụ mùa, năng suất lao động, bình quân nhân khẩu, phế phẩm, số lượng cỡ hàng,
Để thực hiện tốt những hoạt động này, cần có những hoạt động tập thể, đi vào nhà
Trang 11máy, xí nghiệp, hợp tác xã, thu thập tư liệu (ghi chép vào sổ thực tế), trao đổi với công nhân, nông dân tập thể, kỹ thuật viên, với người quản lí kinh tế, để có được những tài liệu sống, rồi trên cơ sở đó dùng kiến thức TH mà phân tích hoặc để tích luỹ thực tiễn, làm vốn quý cho việc tiếp tục học toán cũng như học các môn học khác Bằng các hoạt động đó, học sinh làm quen với các bước vận dụng TH vào thực tiễn: đặt bài toán, xây dựng mô hình, thu thập
số liệu; xử lí mô hình để tìm lời giải bài toán, đối chiếu lời giải với thực tế, kiểm tra và điều chỉnh
Qua các hoạt động tiếp xúc với người lao động, ngoài thu hoạch về TH, còn có thu hoạch về đạo đức, phẩm chất, quan điểm, lập trường của họ Chính vì vậy mà V I Lênin đã nhấn mạnh: " Từ buổi còn thơ, học sinh cần được vận dụng lí thuyết vào thực tiễn Khi trẻ
em giúp đỡ các nông trang viên tính toán hàng ngày mà tính đúng, các em đã làm một việc không phải tách rời học tập mà chính việc đó đã giúp chúng áp dụng kiến thức vào đời sống Khi trẻ em giúp uỷ ban xã làm những phép tính thông kê về kinh tế cần thiết thì điều đó đã giúp vào việc học tập của chúng, giúp cho việc giáo dục Cộng sản đối với chúng"
Chính vì vậy, việc tăng cường rèn luyện năng lực vận dụng TH vào thực tiễn một mặt giúp học sinh thực hành tốt các kỹ năng toán học (như tính nhanh, tính nhẩm, kỹ năng đọc biểu đồ, kỹ năng suy diễn TH, tính có căn cứ đầy đủ của các lập luận, .) Mặt khác, giúp học sinh thực hành làm quen dần với các tình huống thực tiễn gần gũi trong cuộc sống, góp phần tích cực trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo học sinh phổ thông, đáp ứng mọi yêu cầu của xã hội
1.1.4 Dạy học ứng dụng kiến thức Toán học vào thực tiễn là một biện pháp có hiệu quả, nhằm chủ động thực hiện các nhiệm vụ dạy học:
Tổ chức cho học sinh luyện tập ứng dụng kiến thức (bao gồm cả kỹ năng) vào những tình huống khác nhau là một khâu quan trọng của quá trình dạy học, không những giúp học sinh lĩnh hội và củng cố kiến thức mà còn là cơ sở quan trọng chủ yếu để đánh giá chất lượng
và hiệu quả học tập Trên cơ sở đó, người thầy lựa chọn hoạt động dạy học tiếp theo: tiếp tục củng cố hoàn thiện nội dung đó hay chuyển sang học nội dung khác Giai đoạn này - theo G Pôlya - là giai đoạn củng cố kiến thức mới được kết hợp, được làm vững chắc, được
tổ chức chặt chẽ, rốt cuộc trở thành kiến thức thực chất Sự kiện mới cần liên quan tới thế giới quanh ta, với kiến thức đã có, với kinh nghiệm hàng ngày, dựa vào chúng, tìm trong
Trang 12chúng sự giải thích, nó phải phù hợp với tính ham hiểu biết tự nhiên của học sinh
Trong thực tiễn dạy học ở trường phổ thông, để truyền thụ một tri thức nào đó, các thầy cô giáo dạy Toán giàu kinh nghiệm thường cho học sinh thực hiện những bài tập được xây dựng có tính phân bậc từ những tình huống quen thuộc đến những tình huống mới lạ, từ chỗ thực hiện có sự giúp đỡ của thầy dần dần tới hoàn toàn độc lập, từng bước đạt tới các trình độ lĩnh hội, tiến tới hoàn toàn nắm vững kiến thức Có thể nói một cách khác, tổ chức cho học sinh luyện tập ứng dụng kiến thức, kỹ năng, phương pháp toán học vào những tình huống khác nhau là một biện pháp nhằm chủ động thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học một cách toàn diện
Như vậy: Tăng cường rèn luyện cho học sinh khả năng và thói quen ứng dụng kiến thức, kỹ năng và phương pháp toán học vào những tình huống cụ thể khác nhau (trong học tập, lao động sản suất, đời sống ) là một nhiệm vụ quan trọng của giáo dục TH, nhằm đạt được các mục tiêu đào tạo; tổ chức cho học sinh luyện tập ứng dụng kiến thức để tiếp thu chúng là một khâu quan trọng trong quá trình dạy học Toán, đồng thời cũng là một biện pháp nhằm chủ động thực hiện các nhiệm vụ dạy học, có tác động trực tiếp và quyết định tới chất lượng đích thực của giáo dục phổ thông Vì thế cần phải tổ chức thực hiện tốt khâu này Điều đó phản ánh sự quán triệt tinh thần của Nguyên lý giáo dục Có thể nói: rèn luyện
khả năng và ý thức ứng dụng TH cho học sinh vừa là mục đích vừa là phương tiện của dạy
học toán ở trường phổ thông
1.2 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ DẠY HỌC TRẢI NGHIỆM:
1.2.1 Lí thuyết học tập trải nghiệm:
Lí thuyết Học tập trải nghiệm (HTTN – Experiential learning) do David Kolb đề xuất là sự kế thừa và phát triển lí thuyết học tập, liên quan đến kinh nghiệm của các nhà tâm
lí học, giáo dục học như: John Dewey (1859-1952), Kurt Lewin (1868-1933), Jean Piaget (1896-1980), Lev Vygotsky (1896-1987) và nhiều nhà nghiên cứu khoa học khác Hiện nay, tư tưởng “học thông qua trải nghiệm” vẫn là một xu hướng giáo dục của nước Mĩ và nhiều nước trên thế giới Các nghiên cứu về mô hình học tập trải nghiệm (HTTN) của các tác giả trên được Kolb coi như cơ sở khoa học nền tảng để xây dựng nên lí thuyết của mình Năm 1971, lí thuyết HTTN của D Kolb chính thức được công bố Đây được xem là một lí thuyết tương đối toàn diện về một phương thức học tập tích lũy, chuyển hóa kinh nghiệm
Trang 131.2.2 Mô hình học tập trải nghiệm của D Kolb:
Mô hình học tập trải nghiệm của D Kolb gồm 4 giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1: Kinh nghiệm cụ thể (Concrete Experience – CE) Tự người học hoặc
nhóm chỉ làm nhiệm vụ Họ tiến hành làm và có những hành động thực sự Trong thời gian đó, họ làm và không phản ánh việc họ đang làm nhưng trong trong tâm trí vẫn có
ý định phản ánh
Giai đoạn 2: Quan sát có suy tưởng / phản ánh (Reflective Observation – RO)
Người học sẽ quay trở lại điểm bắt đầu của nhiệm vụ và có sự đối chiếu thực tế Người học cần phân tích, đánh giá những quan điểm đã có sẵn trước đó Sự phản ánh được thể hiện ở đây khi người học tự mình suy tưởng về các kinh nghiệm đó, xem có hợp lí không, có quan điểm hay thực tế nào đi ngược lại với các kinh nghiệm mình vừa trải
qua hay không…
Giai đoạn 3: Khái niệm hóa trừu tượng (Abstract Conceptualization) Khái niệm ở
đây có thể hiểu là sự giải thích của kết quả đã được rút ra và sự hiểu biết các mối liên
hệ giữa chúng Lí thuyết này có thể sẽ hữu ích và được xem như là một cơ sở để định hình và giải thích các kết quả Trong giai đoạn này, những kinh nghiệm đã có trước đó
sẽ tiếp tục phản ánh, học sinh nỗ lực tìm kiếm câu trả lời cho đến khi khái niệm mới
được hình thành
Giai đoạn 4: Thử nghiệm tích cực (Active Experimentation – AE) Các hoạt động
trong giai đoạn này tạo ra cơ hội để người học làm chủ những tri thức mới Đồng thời người học giải quyết được các vấn đề tương tự và người học hình thành nên năng lực giải quyết những vấn đề mới trong tương lai Trong mô hình học tập trải nghiệm của Kolb (1984) có thể bắt đầu từ một giai đoạn bất kì trong 4 giai đoạn nhưng phải đảm
bảo thực hiện liên tiếp theo chiều của chu trình
Trang 14Mô hình học tập bằng trải nghiệm của Kolb (Kolb’s Model of Experiential Learing)
(Dao, & Nguyen, 2018)
1.2.3 Khái niệm “giáo dục trải nghiệm”:
Định nghĩa của Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm quốc tế: “Giáo dục trải nghiệm là
một phạm trù bao hàm nhiều phương pháp trong đó người dạy khuyến khích người học tham gia trải nghiệm thực tế, sau đó phản ánh, tổng kết lại để tăng cường hiểu biết, phát triển kỹ năng, định hình các giá trị sống và phát triển tiềm năng bản thân, tiến tới đóng góp tích cực cho cộng đồng và xã hội.”
Người dạy ở đây có thể là: giáo viên, tình nguyện viên, hướng dẫn viên, huấn luyện viên, bác sỹ tâm lý… Nó nói lên tính đơn giản, đa dạng, phổ biến và ứng dụng của “Giáo dục trải nghiệm”
“Giáo dục trải nghiệm” cũng có cơ sở lý thuyết dựa trên một nghiên cứu (Edgar Dale 1946) chỉ ra rằng:
Trang 15Các đặc điểm nổi bật của “Giáo dục trải nghiệm”:
Quá trình học qua trải nghiệm diễn ra khi trải nghiệm được lựa chọn kỹ càng và sau khi thực hiện được tổng kết bởi quá trình chia sẻ, phân tích, tổng quát hoá và áp dụng
Người học được sử dụng toàn diện: trí tuệ, cảm xúc, thể chất, kỹ năng và các quan
hệ xã hội trong quá trình tham gia
Trải nghiệm được thiết kế để yêu cầu người học phải sáng tạo, tự chủ, tự ra quyết định và thỏa mãn với kết quả đạt được
Qua “Giáo dục trải nghiệm”, người học được tham gia tích cực vào việc: đặt câu hỏi, tìm tòi, trải nghiệm, giải quyết vấn đề, tự chịu trách nhiệm
Kết quả của trải nghiệm không quan trọng bằng quá trình thực hiện và những điều học được từ trải nghiệm đó
Kết quả đạt được là của cá nhân, tạo cơ sở nền tảng cho việc học và trải nghiệm của
cá nhân đó trong tương lai
Các mối quan hệ được hình thành và hoàn thiện: người học với bản thân mình, người học với những người khác, và người học với thế giới xung quanh
Trang 161.2.4 Phương pháp “Học tập qua trải nghiệm”:
ĐỊNH NGHĨA
Học trải nghiệm là phương pháp khuyến khích người học khám phá, thử nghiệm trực tiếp với kiến thức, hình thành các khái niệm và đưa ra các phân tích, kết luận của bản thân về kiến thức ấy Trong đó, giáo viên chỉ đóng vai trò là người định hướng, định hình nên hành vi tích cực cho người học
QUY TRÌNH 5 BƯỚC KHÉP KÍN
Phương pháp “Học tập qua trải nghiệm” thể hiện theo mô hình 5 bước khép kín như dưới đây:
Trải nghiệm: Người học thực hiện một hoạt động thực tế tuân theo các hướng dẫn cơ
bản về an toàn, tổ chức hoặc quy định về thời gian, trước khi được chỉ dẫn cụ thể về cách làm
Trang 17 Thông báo: Học sinh chia sẻ lại các kết quả, chú ý và những điều quan sát, cảm nhận
được trong phần hoạt động đã thực hiện của mình
Thảo luận: Người học cùng thảo luận, nhìn lại cả quá trình trải nghiệm, phân tích và
phản ánh lại Học sinh, sinh viên sẽ liên hệ trải nghiệm với chủ đề của hoạt động và các kỹ năng học được
Tổng quan: Liên hệ những kết quả và điều học được từ trải nghiệm với các ví dụ
trong cuộc sống thực tế Bước này thúc đẩy người học suy nghĩ về việc có thể áp dụng những điều học đường vào các tình huống khác như thế nào
Triển khai: Người học sử dụng những kỹ năng hiểu biết mới vào cuộc sống thực tế
của mình Các bạn trực tiếp áp dụng những điều học được vào tình huống tương tự hoặc các tình huống khác – thực hành
Sự khác biệt của phương pháp “Học tập qua trải nghiệm” với việc đơn giản chỉ học từ việc làm hàng ngày đó là các bước đúc kết sau quá trình trải nghiệm Mỗi bước bao gồm các câu hỏi mở được đưa ra để học sinh trả lời, khiến học sinh phải thực sự động não, từ đó tự rút ra bài học cho bản thân Đây cũng là lúc để đánh giá lại quá trình trải nghiệm của người học Các câu hỏi rất đa dạng tùy theo từng hoạt động cụ thể Phương pháp và các bước có thể áp dụng với tất cả các chủ đề, lĩnh vực, tùy theo định hướng của người thiết kế
1.2.5 Các hình thức thường vận dụng trong dạy học trải nghiệm là:
Thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm là một trong những phương pháp được yêu thích và sử
dụng thường xuyên trong hoạt động dạy và học các bộ môn Khoa học - Công nghệ, Ngoại ngữ hiện nay Từ đó, người học cảm thấy việc học tập dễ dàng hơn và suy ngẫm về bài học theo một cách mới
Trong hình thức thảo luận nhóm, người dạy và người học đóng vai trò cụ thể như sau:
Vai trò của người dạy: Mỗi giáo viên phải nắm vững phương pháp, có kỹ năng trong
tổ chức chuỗi hoạt động gồm lựa chọn vấn đề thảo luận; chia nhóm, bố trí chỗ ngồi; giao nhiệm vụ, giới hạn thời gian thảo luận; theo sát hoạt động của từng nhóm; tổng kết kiến thức sau buổi thảo luận
Vai trò của người học: Mỗi học sinh, sinh viên cần chủ động nghiên cứu kiến thức
trước khi lên lớp để mở rộng nội dung thảo luận, phối hợp với cả nhóm bằng cách chia
sẻ những kiến thức mình hiểu, học hỏi từ bạn những kiến thức mình thiếu Kết thúc buổi
Trang 18thảo luận, người học sẽ chủ động báo cáo kết quả và phản biện ý kiến của các thành viên trong lớp để khai thác vấn đề sâu hơn
Phương pháp thảo luận nhóm đem đến nhiều lợi ích thiết thực như:
Giúp khám phá nhiều kiến thức mới: Mỗi người học sẽ bày tỏ một quan điểm, góc
nhìn khác nhau về vấn đề được đưa ra Quá trình trình bày – diễn giải ý kiến đó sẽ tạo ra một nguồn kiến thức phong phú cho học sinh, sinh viên chỉ trong một thời gian ngắn
Giúp hiểu rõ bản chất và ghi nhớ thông tin tốt hơn: Thảo luận nhóm yêu cầu người
học phải chủ động tìm hiểu thông tin, thuyết trình và bảo vệ quan điểm trước đám đông Học sinh, sinh viên buộc phải hiểu sâu, nhớ lâu kiến thức để “giành chiến thắng” trong buổi học
Phát triển các kỹ năng sống cần thiết: Việc phát biểu trên lớp và tham gia tích cực vào
các cuộc thảo luận mở với bạn bè là cơ hội để người học luyện tập các kỹ năng sống Đó
là kỹ năng giao tiếp, trình bày trước đám đông, lắng nghe ý kiến đa chiều, phân tích vấn
đề, phản biện quan điểm, Những kỹ năng này là hành trang quan trọng cho cuộc sống
và công việc tương lai của học sinh, viên
Thảo luận nhóm thay đổi vị trí của người dạy – người học Học sinh trình bày kiến thức còn thầy cô lắng nghe rồi đưa ra nhận xét
Để khơi gợi cảm hứng học tập, mở mang vốn sống về thế giới xung quanh cho học sinh, nhiều trường học triển khai phương pháp học trải nghiệm qua hoạt động thảo luận theo chủ
đề
Nghiên cứu tình huống: Nghiên cứu tình huống hay nghiên cứu trường hợp điển hình (case
study) là một trong những phương pháp học trải nghiệm dạy học chủ động, được sử dụng phổ biến ở các nước phát triển Tại Việt Nam, phương pháp này được áp dụng ở hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng giảng dạy về kinh doanh, quản lý nhân sự, y khoa, luật, báo chí, truyền thông,…
Ở hình thức này, giáo viên đóng vai trò định hướng, học trò có nhiệm vụ tự tìm hiểu, cụ thể như sau:
Vai trò của người dạy: Tùy vào từng mục tiêu bài học, người dạy cần phải biên soạn
tình huống đảm bảo các yêu cầu như mang tính thời sự, phù hợp với trình độ của học
Trang 19sinh, sát với thực tế, có tính thách thức để buộc người học phải tư duy, đưa ra nhiều giải pháp mang tính thực tiễn
Vai trò của người học: Chủ động tìm hiểu thông tin, nghiêm túc tư duy để đưa ra
phương pháp giải quyết phù hợp nhất Sinh viên phải tự trang bị cho mình khả năng tự học, tự tìm hiểu cơ sở lý thuyết, sắp xếp thông tin một cách có hệ thống để hoàn thành vai trò này
Đặc biệt, học sinh phải có thói quen đặt câu hỏi với giáo viên, chủ động phản biện, đưa ra ý tưởng giải quyết tình huống để tiếp nhận kiến thức sâu sắc, đa chiều
Phương pháp nghiên cứu tình huống tạo điều kiện rèn luyện các kỹ năng mềm cho học sinh:
Không bị lúng túng khi đối diện với thực tế: Càng thực hành, đối diện sớm với
vấn đề thì người học càng bình tĩnh làm chủ tình huống do có sự luyện tập từ trước
Kích thích tư duy sáng tạo: Khi được đặt vào một tình huống khó, người học sẽ
phải tìm kiếm thông tin, đổi mới tư duy để khắc phục vấn đề
Phương pháp phân tích các trường hợp điển hình giúp học sinh cảm thấy kiến thức có ích hơn, say mê học tập hơn Thông qua nghiên cứu các ví dụ điển hình, học sinh sẽ rút ra được kinh nghiệm xử lý nếu rơi vào trường hợp tương tự hoặc sáng tạo ra các phương pháp mới
để giải quyết vấn đề
Đóng vai, trò chơi: Bản chất của phương pháp học trải nghiệm thông qua đóng vai, trò chơi
là dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động Đây là môi trường để người học chủ động tham gia vào quá trình học, kích thích tư duy sáng tạo và rèn luyện các kỹ năng lãnh đạo, quản lý đội nhóm, làm việc nhóm, kết nối với mọi người,
Các môn học thuộc nhóm Xã hội (Ngữ văn, Giáo dục công dân, Lịch sử) và nhóm Tự nhiên (Toán, Vật lý) rất phù hợp để áp dụng phương pháp đóng vai, trò chơi Ở đó,giáo viên đóng vai trò định hướng, điều phối, học sinh chủ động thực hiện:
Vai trò của người dạy: Giáo viên cần chia lớp học thành các nhóm nhỏ, đặt ra đề bài
để người học tiếp thu kiến thức và hình thành kỹ năng mới Thầy cô chủ động xác định mục đích của hoạt động, xác định kiến thức và kỹ năng mà người học cần tiếp nhận, đồng hành với học trò trong quá trình hoạt động, nhận xét và đánh giá
Trang 20 Vai trò của người học: Đây là phương pháp yêu cầu người học có sự hợp tác với các
thành viên trong nhóm, chủ động đưa ra các ý tưởng mới và lắng nghe tư vấn của giáo viên hướng dẫn Ngoài ra, các bạn còn cần tự lên kế hoạch tổ chức, phối hợp để chuẩn bị và hiện thực hóa kế hoạch đó thành các vở kịch, trò chơi cụ thể
Phương pháp đóng vai, trò chơi mang lại cơ hội cải thiện, nâng cao kỹ năng, kích thích trí tưởng tượng và mài dũa năng khiếu cho học sinh:
Tăng trí tưởng tượng: Việc đóng vai vào một nhân vật hay tình huống giúp người
học tăng trí tưởng tượng, rèn luyện kỹ năng tìm tòi và đào sâu về một nhân vật, một cảnh ngộ liên quan tới nhân vật đó
Phát triển kỹ năng xã hội: Đây là kết quả quan trọng nhất của hình thức đóng vai,
trò chơi Thông qua việc lắng nghe hướng dẫn của giáo viên và phối hợp với bạn bè
để tổ chức hoạt động, người học sẽ hình thành các kỹ năng làm việc nhóm, chia sẻ ý kiến, tư duy phản biện và đàm phán, giải quyết các mâu thuẫn
Phát triển năng khiếu cá nhân: Tham gia các trò chơi là cách để người học hiểu rõ
hơn về bản thân, xác định năng khiếu (diễn xuất, âm nhạc, thể thao…) và là cơ sở để xây dựng con đường phát triển trong tương lai
Học tập từ thực tế: Học tập từ thực tế là phương pháp được nhiều trường học trải nghiệm
ứng dụng Hoạt động này được triển khai mạnh ở bên ngoài khuôn khổ lớp học như tham gia talkshow, workshop, đi dã ngoại, trại hè,…
Cũng như nhiều phương pháp học trải nghiệm khác, giáo viên vẫn sẽ giữ vai trò hướng dẫn, học sinh vẫn sẽ là trung tâm của hoạt động ở hình thức học tập thực tế:
Vai trò của người dạy: Thầy cô giáo đóng vai trò là người xây dựng kế hoạch, sáng
tạo nội dung cho các chương trình trải nghiệm dựa nhu cầu thực tế, tâm lý người học Trong quá trình học tập từ thực tế, giáo viên phải luôn đồng hành, sẻ chia để các hoạt động này thực sự phát huy hiệu quả
Vai trò của người học: Trong tất cả các hoạt động học tập trải nghiệm, người học
chuẩn bị tâm thế chủ động để tiếp thu kiến thức, kỹ năng một cách tốt nhất Riêng với học tập từ thực tế, người học cần xác định rõ mục tiêu học tập, tìm kiếm thông tin, chủ động liên hệ với giáo viên và các bạn trong nhóm (nếu có) để không bị mất định hướng
Trang 21Ví dụ, khi tham gia workshop và talkshow, học sinh, sinh viên có thể tìm hiểu trước về chủ
đề, liệt kê các câu hỏi mà mình còn đang băn khoăn để có thể trao đổi thẳng thắn trong buổi trò chuyện Còn với hoạt động dã ngoại, trại hè, người học cần chú ý về hành trình và các hoạt động diễn ra trong chuyến đi, từ đó chuẩn bị hành lý cho phù hợp
Lợi ích của phương pháp học tập từ thực tế thiên về kỹ năng thực hành, giảm bớt gánh nặng lý thuyết:
Kiểm chứng kiến thức hàn lâm với thực tế: Người học thâm nhập vào cuộc sống,
đem kiến thức đã được học tại trường ứng dụng vào hoàn cảnh thực tế để rút ra bài học hoặc tìm ra phương pháp giải quyết hiệu quả hơn
Mở rộng vốn kiến thức thực tế: Sách vở không thể cung cấp đủ kiến thức cho người
học Những chuyến đi giúp người học có cơ hội quan sát sự vật, hiện tượng và lắng nghe phản hồi từ mọi người xung quanh, từ đó rút ra bài học mới cho riêng mình
Rèn luyện kỹ năng sống: Bước ra ngoài cánh cổng trường, người học phải chủ động
giao tiếp với mọi người, hình thành thói quen quan sát và phân tích, lắng nghe và tư duy, Nhờ vậy, các kỹ năng sống quan trọng như phân tích vấn đề, xử lý tình huống,
tư duy sáng tạo, sẽ được nâng cao từng ngày
Phương pháp học trải nghiệm đã chứng minh tính ưu việt, hiệu quả cao đối với học sinh
thông qua các hình thức tổ chức sáng tạo, thú vị Với những lợi ích thiết thực đó, phương pháp học trải nghiệm đã được UNESCO công nhận đây là phương pháp học tập hiệu quả nhất của thế kỷ 21
1.2.6 Những điều kiện cần thiết để tổ chức dạy - học theo hướng trải nghiệm
Thứ nhất, cần có đủ điều kiện và phương tiện giảng dạy tiến tiến trang thiết bị hiện
đại như phòng thí nghiệm, phương tiện nghe nhìn, học cụ, thư viện với đầy đủ tài liệu
Thứ hai, qui mô lớp học phải hợp lý, không quá đông học sinh, đảm bảo để giáo viên
có thể quán xuyến, theo dõi, hỗ trợ học sinh một cách tốt nhất
Thứ ba, cần có sự thay đổi của giáo viên bản thân mỗi giáo viên phải thường xuyên
học tập, nâng cao trình độ, có vốn hiểu biết và kỹ năng giải quyết các thắc mắc của học sinh này sinh trong quá trình học tập thực tế
Trang 221.2.7 Lợi ích của dạy- học trải nghiệm
Thông qua các hoạt động thực tế và hữu ích, phương pháp học trải nghiệm mang lại cho học sinh nền tảng kiến thức vững chắc cùng hệ thống kỹ năng cần thiết cho tương lai
Tăng tính chủ động, sáng tạo cho người học
Đa dạng cách thức dạy và học giúp học sinh được tiếp thu kiến thức thông qua nhiều vai trò, trong nhiều bối cảnh khác nhau Chẳng hạn trong sự kiện của CLB hay các sự kiện lớn của trường, học sinh có thể tham gia với vai trò Trưởng ban tổ chức hay thành viên từng tiểu ban Đây là là cơ hội tốt để các bạn tích lũy các kỹ năng quản lý, kỹ năng giao tiếp, xử
lý tình huống,… cũng như hình dung được cách thức để tổ chức một sự kiện
Đứng trước mỗi thử thách mới như trên, người học sẽ dần hình thành khả năng thích ứng,
tư duy sáng tạo linh hoạt, phân tích và tìm ra các phương pháp mới để giải quyết vấn đề Tính chủ động, sáng tạo được phát huy triệt để khi bạn tự mình triển khai công việc và đối diện với những khó khăn mà nó mang lại
Tăng khả năng ghi nhớ kiến thức:
Con người thường sử dụng nhiều hơn một giác quan để tiếp nhận và ghi nhớ thông tin Đối với phương pháp học trải nghiệm, người học phải sử dụng cả thị giác, thính giác, khứu giác, xúc giác,…
Khi quan sát bằng thị giác, cảm nhận bằng xúc giác,… cơ chế của não bộ sẽ tiến hành ghi chép, tổng hợp thông tin từ các hoạt động đó một cách chủ động hơn Có thể nói, việc sử dụng đa giác quan trong suốt quá trình học làm tăng khả năng lưu giữ những điều
đã học được lâu hơn
Khắc phục sự nhàm chán trong việc dạy và học
Phương pháp này tạo cơ hội cho người học được trực tiếp thực hành, nêu lên quan điểm, bày tỏ ý kiến,… về một chủ đề liên quan đến khoa học xã hội, khoa học tự nhiên Từ
đó, học sinh sẽ cảm thấy hứng thú hơn, chuyên tâm hơn nên ít mắc phải các vấn đề về tuân thủ kỷ luật trong tiết học
Trong khi đó, giáo viên từ vị trí người truyền đạt kiến thức chuyển sang lên kế hoạch, định hướng, hướng dẫn trong suốt buổi học Điều này giúp thầy cô giáo linh hoạt phương pháp giảng dạy, đồng thời, hạn chế cảm giác chán nản do giảng bài liên tục mà không nhận được sự tương tác từ phía học trò
Trang 23 Tăng khả năng ứng dụng các kỹ năng vào thực tế
Học sinh có thể học kỹ năng sống như giao tiếp trước đám đông, ứng biến với các tình huống phát sinh, kỹ năng sinh tồn trong tự nhiên,… nhờ phương pháp học trải nghiệm Các
kỹ năng này được tái sử dụng qua các bài tập, hoạt động nhằm giúp người học tăng cường khả năng ứng dụng vào thực tế
1.2.8 So sánh phương pháp học truyền thống và phương pháp học tập qua trải nghiệm
*Phương pháp giáo dục mô phạm (Didactics Education): là một phương pháp dạy học tuân theo các trình tự dạy khoa học, chính xác, các kiến thức đã được tổng hợp sẵn và được kiểm nghiệm là hoàn toàn đúng đắn Người dạy chủ yếu là truyền thụ các kiến thức này đến cho học sinh, có thể bằng nhiều cách thức khác nhau (đọc chép, nghe nhìn, trình chiếu, minh họa…)
Trang 241.2.9 Vận dụng lí thuyết HTTN vào thiết kế, tổ chức HĐTN trong dạy học môn Toán
ở trường phổ thông
Căn cứ vào nội dung lí thuyết HTTN, chúng tôi cụ thể hóa các bước tổ chức một tình huống dạy học Toán gắn với HĐTN như sau:
Bước 1 Tổ chức cho HS tham gia các trải nghiệm cụ thể: Cần tổ chức cho HS
tham gia vào tình huống cụ thể nhằm khai thác những kinh nghiệm đã có của HS, kết nối với tình huống mới Tình huống trong HĐTN được lựa chọn và thiết kế sao cho người học phải sử dụng và kết nối được kinh nghiệm cũ trong bối cảnh mới Tình huống phải khơi dậy được sự hứng thú của người học để người học phải chủ động hành động tích cực và sáng tạo
Bước 2 Tổ chức phân tích/ xử lí trải nghiệm: Người học tìm hiểu bản chất của
hoạt động trong tình huống họ vừa tham gia Quan sát, suy ngẫm, chiêm nghiệm và người học đưa ra cái gì đang diễn ra và cái gì sẽ diễn ra trong tình huống tương tự Thử nghiệm cách thức tiến hành hoạt động và họ tìm ra nguyên lí hoạt động
Bước 3 Tổng quát/ khái quát hóa: Yêu cầu HS miêu tả những gì đã trải nghiệm,
phân tích những ý nghĩa của các trải nghiệm đó để đúc kết thành kiến thức của riêng mình Điều này sẽ giúp HS hình thành những kinh nghiệm mới dưới dạng kiến thức mới, kĩ năng mới dưới các hình thức: chia sẻ bằng lời, bài thu hoạch…
Bước 4 Ứng dụng/ thử nghiệm tích cực: Bước này yêu cầu HS nêu cách thức áp
dụng những điều vừa mới học vào thực hiện các nhiệm vụ học tập, những bài toán ứng dụng trong thực tiễn HS biết vận dụng kiến thức, kĩ năng vào một tình huống học tập mới GV gợi mở để HS áp dụng hoặc bàn luận những điều đã học chia sẻ với các bạn khác Các bước trên là những gợi ý có tính chất định hướng, GV cần linh hoạt, sáng tạo để tình huống tạo ra phù hợp với nội dung học tập, phù hợp với HS, điều kiện của nhà trường Quan trọng nhất
là phải đảm bảo được sự kết nối giữa kinh nghiệm cũ và kinh nghiệm mới Qua hoạt động,
HS phải được quan sát, suy ngẫm, phân tích, liên hệ, suy luận và chiêm nghiệm HS khái
quát hóa thành kiến thức mới của bản thân và HS biết vận dụng trong bối cảnh mới
Trang 25CHƯƠNG 2: MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRẢI NGHIỆM TRONG
DẠY HỌC MÔN TOÁN LỚP 10
VÍ DỤ 1: Tình huống “tính tiền khi đi taxi”:
* Nội dung: Tổ chức dạy học với tình huống “Tính tiền khi đi taxi” để dạy học khái niệm Hàm số bậc nhất một ẩn trong bài : Hàm số y ax b [Đại số 10; SGK trang 39]
GV chuẩn bị phiếu học tập cho HS
HS chuẩn bị bút, giấy, máy tính
Tiến trình hoạt động
Bước 1 Tổ chức cho HS tham gia các trải nghiệm cụ thể:
GV chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 10 HS để thực hiện phiếu học tập số 1
Để giải quyết bài toán này, các thành viên trong nhóm trao đổi, phân tích, nghiên cứu bài toán GV yêu cầu HS thực hiện từng hoạt động theo yêu cầu trong phiếu học tập số 1
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1
Giá cước của hãng Taxi Mai Linh được niêm yết như sau ( xem hình 1):
Hình 1: Bảng giá cước của hãng Taxi Mai Linh a) Tính số tiền mà khách hàng phải trả khi đi 500m, 600m, 700m, 1km, 12km, 30km, 40km, 60km ( Giả sử taxi đi liên tục, không phải chờ đợi)
b) Hãy biểu diễn hàm số thể hiện số tiền phải trả tính theo x (km) c) Hãy biểu diễn hàm số ở yêu cầu 2 lên hệ trực toạ độ và nhận xét khi số km càng tăng thì giá cước có chiều hướng như thế nào?
d) Nếu khách phải trả 350 nghìn đồng, thì họ đã đi được bao nhiêu km?
Trang 26Bước 2 Tổ chức phân tích/ xử lí trải nghiệm:
Trong giai đoạn này, HS sẽ tìm hiểu bản chất của hoạt động, tình huống mà các em vừa tham gia HS quan sát và đặt câu hỏi, tìm phương án trả lời Yếu tố quan trọng nhất là HS phải phát huy và vận dụng những kiến thức đã biết vào giải quyết vấn đề Cụ thể:
a) Với yêu cầu: Tính số tiền mà khách hàng phải trả khi đi 500m, 600m, 700m, 1km, 12km, 30km, 40km, 60km ( Giả sử taxi đi liên tục, không phải chờ đợi)
HS sẽ áp dụng các phép tính, suy luận để tính được số tiền và đưa ra công thức cho mỗi trường hợp Thông qua hoạt động này giúp HS nắm được khái niệm hàm số bậc nhất một
ẩn và hàm hằng
b) Với yêu cầu: Hãy biểu diễn hàm số thể hiện số tiền phải trả tính theo x (km)
HS sẽ tiến hành phân tích và tổng hợp những dữ liệu từ hoạt động ở yêu cầu 1 để đưa ra được hàm số cần tìm Hoạt động này giúp HS nắm được thế nào là hàm số bậc nhất một ẩn được cho bởi nhiều công thức
c) Với yêu cầu: Hãy biểu diễn hàm số ở yêu cầu 2 lên hệ trực toạ độ và nhận xét khi số km càng tăng thì giá cước có chiều hướng như thế nào?
HS sử dụng các kiến thức về đồ thị của hàm số đã học trước đó để vẽ Qua hoạt động này HS nắm được cách vẽ của đồ thị hàm số bậc nhất
d) Với yêu cầu: Nếu khách phải trả 350 nghìn đồng, thì họ đã đi được bao nhiêu km?
HS cần suy nghĩ, lập luận để đưa ra được đáp án Thông qua hoạt động này, GV sẽ giúp HS hiểu được một vấn đề ở nhiều góc độ khác nhau
Bước 3 Tổng quát/ khái quát hóa:
GV yêu cầu các nhóm trình bày tóm tắt kết quả của hoạt động và nêu những kiến thức mà các em đã thu được từ hoạt động đó
Bước 4 Ứng dụng/ thử nghiệm tích cực:
Ở bước này GV tạo điều kiện cho HS áp dụng các kiến thức đã học vào một số bài toán tương tự Chẳng hạn, GV cho HS giải bài toán sau: “Một hộ gia đình có ý định mua một cái máy bơm để phục vụ cho việc tưới tiêu vào mùa hạ Khi đến cửa hàng thì được ông chủ giới thiệu về hai loại máy bơm có lưu lượng nước trong một giờ và chất lượng máy là như nhau Máy thứ nhất giá 1,5 triệu đồng và trong một giờ tiêu thụ hết 1,2kW Máy thứ hai giá 2 triệu đồng và trong một giờ tiêu thụ hết 1kW Theo bạn, người nông dân nên chọn loại
Trang 27nào để đạt hiệu quả kinh tế cao? ”
Đối với bài toán trên, HS sẽ sử dụng kinh nghiệm đã có ở bài trước để viết hai hàm
số khi tính tiền trong mỗi trường hợp, sau đó vẽ đồ thị Để có được phương án trả lời hợp lí,
GV yêu cầu phân tích, so sánh để đưa ra lời giải cho bài toán này
VÍ DỤ 2: Tình huống: giải quyết một số bài toán đo khoảng cách trong thực tế Mục đích: Cho HS thực hành trải nghiệm sau khi học xong bài “Các hệ thức lượng
trong tam giác và giải tam giác”
Cách thức tổ chức: Chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 10HS Sau khi GV giao nhiệm
vụ cho các nhóm, các nhóm tiến hành phân tích, định hướng cách thức để có thể thực hiện được nhiệm vụ
HS cần chuẩn bị: Giấy, bút, thước kẻ, máy tính cầm tay, điện thoại, tính xách tay (nếu cần) , thước dây, giác kế (nếu có) Kiến thức trong bài “Các hệ thức lượng trong tam giác”:
1 Hệ thức lượng trong tam giác vuông:
Trang 28R C
4 Công thức trung tuyến:
Gọi m a, m b, m c là các đường trung tuyến xuất phát từ đỉnh A, B, C của tam giác ABC
S a h b h c h (h a, h b, h c là các đường cao xuất phát từ đỉnh A, B, C) (1)
1 sin 1 sin 1 sin
4
abc S R
(Rlà bán kính đường tròn ngoại tiếp tam giác) (3)
S pr (r là bán kính đường tròn nội tiếp tam giác) (4)
S p pa pb pc (công thức Hê rông) (5) Trước khi thực hiện, GV và HS trao đổi về phương án để có thể tính được khoảng cách trong các bài toán thực tế nói chung Từ đó thống nhất các bước giải các bài toán thực tế về
đo khoảng cách như sau:
B1: Tìm hiểu yêu cầu bài toán: Tìm hiểu xem bài toán yêu cầu đo cái gì
B2: Xây dựng mô hình toán học thích hợp và giải bài toán trên lí thuyết
Trên cơ sở yêu cầu bài toán đề ra cần xây dựng mô hình toán học phù hợp để có thể giải được bài toán theo lí thuyết
B3: Tiến hành đo đạc để lấy số liệu
Sử dụng các dụng cụ là: Thước đo chiều dài để đo khoảng cách, thước đo góc (giác kế)
để lấy số liệu từ thực tế trên cơ sở mô hình toán học đã xây dựng
Trang 29B4: Tính toán trên số liệu đo được
Sử dụng các hệ thức lượng trong tam giác, máy tính cầm tay để tìm kết quả theo yêu cầu
B5: Kết luận: Dựa trên kết quả tìm được từ thực tế để trả lời yêu cầu bài toán ban đầu
Bài toán 1: Tính chiều cao của một vật thể (cây, cột cờ, toà nhà, tháp truyền hình,… )
Tiến trình hoạt động
Bước 1 Tổ chức cho HS tham gia các trải nghiệm cụ thể:
GV tổ chức cho HS trải nghiệm đo chiều cao của cột cờ trường THPT Nguyễn Huệ
• HS định hướng được yêu cầu bài toán: tính chiều cao của cột cờ trường THPT Nguyễn Huệ
• Các nhóm xây dựng mô hình toán học cho bài toán, sau đó trao đổi và thống nhất phương án tính toán
• Sau khi thống nhất xong phương án, các nhóm tiến hành đo đạc để lấy số liệu bằng cách sử dụng thước dây, điện thoại có phần mềm Angle Meter hoặc giác kế
Hình ảnh các nhóm tổ chức xây dựng mô hình toán học và thực hành đo đạc theo phương án đã thống nhất
Nhóm 1
Trang 30Nhóm 2
Trang 31Nhóm 3
Trang 32Bước 2 Tổ chức phân tích/ xử lí trải nghiệm:
Sau khi đo đạc xong, các nhóm HS dựa vào phương án thống nhất ban đầu, chụp ảnh, dùng phầm mềm Angle Meter để tính góc dựa trên mô hình đã vẽ và sử dụng các công thức lượng giác đã học để tính chiều cao của cột cờ
Kết quả của nhóm 1
Trang 33Kết quả của nhóm 2
Trang 34Kết quả của nhóm 3
Trang 35Bước 3 Tổng quát/ khái quát hóa:
* Sau khi các nhóm hoàn thành nhiệm vụ Các nhóm tập trung lại nghe đại diện các nhóm báo cáo phương án giải quyết và cách thức thực hiện, kết quả thu được
* GV: Phương án thực hiện của các nhóm đã trình bày đều cho chúng ta hướng để tính được chiều cao của cột cờ Nhưng kết quả có sự chênh lệch Em hãy tìm hiểu nguyên nhân?
* HS1: Nguyên nhân là do quá trình đo đạc vị trí của các bạn so với chân cột cờ có sự sai lệch
* HS2: Nguyên nhân do quá trình sử dụng phần mềm lấy điểm để tính góc có sự sai lệch
* GV: Như vậy, trong quá trình chúng ta tính toán và đo đạc đều có thể xảy ra sự chênh lệch trong các trường hợp nên kết quả có thể không chính xác tuyệt đối Nhưng chúng ta
có thể dự đoán được con số gần nhất với chiều cao thực tế của cột cờ Từ đó, các em có thể áp dụng kiến thức của hệ thức lượng trong tam giác ở nhiều trường hợp khác nữa
Bước 4 Ứng dụng/ thử nghiệm tích cực:
GV giao cho các nhóm HS nhiệm vụ về nhà:
Nhóm 1: Từ bờ biển Vũng Chùa, tỉnh Quảng Bình ta có thể ngắm được Đảo Yến Hãy đề
Trang 36xuất một cách để xác định bề rộng của hòn đảo ( theo chiều ta ngắm được)
Nhóm 2: Một đường hầm được dự kiến xây dựng xuyên qua một ngọn núi Để ước tính
chiều dài của đường hầm, một kĩ sư đã thực hiện các phép đo và cho ra kết quả như hình
mô tả Tính chiều dài của đường hầm từ các số liệu đã khảo sát được
Nhóm 3: Để xác định chiều cao của một toà nhà cao tầng, một người đứng tại điểm M, sử
Trang 37dụng giác kế nhìn thấy đỉnh toà nhà với góc nâng RQA840, người đó lùi ra xa một khoảng cách LM 49,4m thì nhìn thấy đỉnh toà nhà với góc nâng RPA780 Tính chiều cao của toà nhà, biết rằng khoảng cách từ mặt đất đến ống ngắm của giác kế đó là
1,2
PL QM m
Giải thích: Góc nâng là góc tạo bởi tia ngắm nhìn lên và đường nằm ngang
Nhóm 4: Để đo khoảng cách giữa hai vị trí M,N ở hai phía ốc đảo, người ta chọn vị trí O
bên ngoài ốc đảo sao cho: O không thuộc đường thẳng MN; các khoảng cách OM, ON và góc MON là đo được như hình
Trang 38Sau khi đo, ta có OM 200 ,m ON500 ,m MON1350 Khoảng cách giữa hai vị trí
M,N là bao nhiêu mét (làm tròn kết quả đến hàng đơn vị) ?
VÍ DỤ 3: Tổ chức hướng dẫn HS ôn tập kiến thức về thống kê lớp 7 trong SGK đại số
10
Mục đích: Thông qua một số trải nghiệm cụ thể, GV hướng dẫn HS ôn tập lại kiến thức về
thống kê lớp 7, tiếp cận kiến thức Thống kê trong SGK đại số 10
GV chuẩn bị các phiếu học tập
HS chuẩn bị sách giáo khoa toán 7 tập 2, giấy, bút, bút màu, máy tính,
Tiến trình hoạt động
Bước 1 Tổ chức cho HS tham gia các trải nghiệm cụ thể:
GV yêu cầu HS dựa vào kiến thức về thống kê đã học trong chương trình lớp 7 để tiến hành phân tích điểm thi môn Toán lớp 10A7 giữa học kì 2 trường THPT Nguyễn Huệ Cách thức: GV chia lớp thành 4 nhóm, mỗi nhóm 10 HS Các nhóm trao đổi và thực hiện yêu cầu trong phiếu học tập số 1 tại nhà
PHIẾU HỌC TẬP SỐ 1 CH1: Em hãy trình bày hiểu biết của mình về kiến thức về thống kê đã được học ở lớp 7
thông qua phiếu học tập KWL
K (What we Know)
W (What we Want to learn)
L (What we learned)
Em đã biết gì về thống kê? Em muốn biết thêm gì về thống
kê?
Em đã học được gì về thống kê qua bài học hôm nay?
Trang 39CH2: Dựa vào bảng điểm môn toán lớp 10A7 giữa học kì 2 năm học 2022 - 2023 BẢNG ĐIỂM MÔN TOÁN LỚP 10A7 GIỮA HỌC KÌ 2 NĂM HỌC 2022 – 2023
2 Ngô Quang Tuấn Anh 6 22 Nguyễn Phương Linh 8
3 Phạm Thị Linh Anh 6 23 Nguyễn Thị Khánh Linh 3
9 Trần Thị Châu Giang 10 29 Nguyễn Thành Nam 4
16 Đỗ Ngọc Khánh Huyền 4 36 Đoàn Thị Thu Phượng 9
17 Vũ Thị Khánh Huyền 6 37 Trần Nguyễn Đăng Quang 5
Em hãy:
a) Lập bảng phân bố tần số, tần suất điểm thi giữa kì 2 lớp 10A7
b) Tính điểm trung bình, mốt của điểm thi giữa kì 2 lớp 10A7
c) Lập biểu đồ đoạn thẳng, biểu đồ hình quạt về điểm thi giữa kì 2 lớp 10A7
d) Em có nhận xét gì về điểm thi giữa kì 2 lớp 10A7
Trang 40Sau khi các nhóm hoàn thành các yêu cầu trong phiếu học tâp số 1, HS mang sản phẩm của mình đến lớp
Bước 2 Tổ chức phân tích/ xử lí trải nghiệm:
GV gọi đại diện 2 nhóm lên trình bày sản phẩm của mình Các nhóm khác nhận xét và bổ sung
Đây là kết quả Sản phẩm của nhóm 4 về câu hỏi 1:
Thông qua câu hỏi 1, GV đã cho HS ôn tập lại 1 số kiến thức về thống kê đã học ở lớp 7: Khái niệm về dấu hiệu, số các giá trị, Biết cách lập bảng phân bố tần số, tần suất, tính được điểm trung bình môn toán, tìm được mốt và nhận xét về điểm thi