ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2021, Khoa điều trị tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương đã cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế cho các sản phụ (bao gồm cả đẻ thường và đẻ mổ), bệnh nhân mổ phụ khoa, thực hiện thủ thuật sản phụ khoa, và phá thai quý II.
- Nhân viên y tế đang làm việc tại khoa Điều trị theo yêu cầu và Bệnh viện Phụ sản TW tại thời điểm tiến hành nghiên cứu
- Người bệnh gồm sản phụ, người bệnh điều trị phụ khoa, phá thai
- Tuổi > 18 tuổi, không phân biệt dân tộc
- Đã điều trị và làm xong thủ tục xuất viện tại Khoa điều trị yêu cầu của Bệnh viện Phụ sản Trung ương
- Người bệnh điều trị các bệnh phụ khoa ác tính (ung thư)
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh đang có các bệnh lý khác đi kèm: rối loạn tâm thần, không làm chủ được hành vi, trầm cảm…
Đối với nhân viên y tế
- NVYT từ chối tham gia nghiên cứu
- NVYT có thời gian làm việc toàn thời gian tại khoa Điều trị theo yêu cầu dưới
THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
- Thời gian: từ tháng 03/2021 đến tháng 06/2021
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Điều trị theo yêu cầu- Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp cả phương pháp định lượng và định tính, trong đó nghiên cứu định lượng được thực hiện trước để mô tả mức độ hài lòng của người tham gia.
Bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Điều trị theo yêu cầu được đánh giá qua 5 khía cạnh: sự tin tưởng, sự phản hồi, sự đảm bảo, sự cảm thông và yếu tố hữu hình Sau khi thu thập một phần ba cỡ mẫu dự kiến, học viên tiến hành rà soát và tổng hợp số liệu theo các nhóm thông tin chủ đề Nghiên cứu định tính được thực hiện song song với nghiên cứu định lượng nhằm khai thác và làm rõ thông tin, từ đó đưa ra giải pháp theo các chủ đề nghiên cứu.
CỠ MẪU
2.4.1 Cỡ mẫu định lượng Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước lượng 1 tỷ lệ:
Tỷ lệ ước lượng người bệnh hài lòng về chăm sóc y tế, ký hiệu là p, được xác định qua khảo sát nhanh của bệnh viện vào quý II/2019 Kết quả cho thấy tỷ lệ hài lòng tại khoa Điều trị theo yêu cầu đạt 86,0%, tức là p = 0,86.
Z = 1,96 (α = 0,05, độ tin cậy 95%, thu từ bảng Z) và d = 0,05 là sai số tuyệt đối cho phép Thay các giá trị này vào công thức, chúng tôi tính được n = 185, tức là số đối tượng tối thiểu cần tham gia nghiên cứu để phát hiện tỷ lệ hài lòng về dịch vụ chăm sóc Dự kiến có khoảng 5% bệnh nhân sẽ bỏ cuộc, do đó mẫu nghiên cứu cần có 194 bệnh nhân Trên thực tế, chúng tôi đã khảo sát hơn 200 bệnh nhân.
Chọn 13 đối tượng phỏng vấn sâu gồm có:
- 6 người bệnh (1 người đẻ mổ, 1 người đẻ thường, 2 người phẫu thuật phụ khoa, 2 người phá thai)
- 01 thành viên ban giám đốc BV phụ trách khoa
- 02 bác sỹ và 02 điều dưỡng có thời gian làm việc liên tục tại khoa từ 3 năm trở lên
Nghiên cứu đã thực hiện phỏng vấn 6 bệnh nhân cùng với 1 Phó giám đốc, 1 trưởng phòng KHTH, 1 trưởng khoa, 2 điều dưỡng và 2 bác sĩ đủ điều kiện tham gia.
CÁCH CHỌN ĐỐI TƯỢNG VÀO NGHIÊN CỨU
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được áp dụng để xác định đối tượng nghiên cứu, cụ thể là dựa vào danh sách bệnh nhân điều trị tại khoa ĐTTYC trong tháng 3.
Vào năm 2019, tỷ lệ ba nhóm bệnh nhân được ghi nhận là: đẻ thường 10%, mổ lấy thai 67%, và mổ phụ khoa cùng nạo phá thai 27% Để đảm bảo sự cân đối giữa các nhóm này, chúng tôi đã quyết định chọn 20 người cho nhóm đẻ thường, 130 người cho nhóm mổ lấy thai, và 50 người cho nhóm mổ phụ khoa và nạo phá thai, tổng cộng là 200 bệnh nhân.
Bảng phân bố số lượng người bệnh tại Khoa ĐTTYC, tháng 3-4/2019
Số đẻ thường Mổ lấy thai Mổ phụ Tổng
Để chọn mẫu phỏng vấn, cần tính tỷ lệ người bệnh theo tuần, cụ thể là phỏng vấn 2 sản phụ đẻ thường, 10 sản phụ mổ lấy thai, 4 người mổ phụ khoa và nạo phá thai Danh sách bệnh nhân chuẩn bị ra viện sẽ được lấy vào thứ 2 và thứ 5 hàng tuần Người đầu tiên trong danh sách sẽ được chọn để phỏng vấn, nếu họ đồng ý tham gia nghiên cứu Nếu không, sẽ chọn người tiếp theo trong danh sách Quá trình này sẽ tiếp tục cho đến khi đủ số lượng phỏng vấn trong tuần, sau đó sẽ chuyển sang tuần tiếp theo.
Sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích như sau: Đối tượng Số lượng Tiêu chí chọn
Ban lãnh đạo 01 Phó giám đốc bệnh viện phụ trách khoa
KHTH 01 Trưởng phòng hoặc phó phòng Kế hoạch tổng hợp
Trưởng khoa Điều trị theo yêu cầu 01 Trưởng khoa điều trị theo yêu cầu
Từ danh sách bác sĩ của khoa, hãy chọn những bác sĩ có thời gian làm việc liên tục từ 3 năm trở lên, sau đó ngẫu nhiên chọn 2 người trong danh sách này Điều dưỡng 02.
- Chọn chủ đích điều dưỡng trưởng
Từ danh sách điều dưỡng của khoa, chúng tôi đã chọn những điều dưỡng có thời gian làm việc liên tục từ 3 năm trở lên và ngẫu nhiên chọn 2 người trong số họ.
Khi người bệnh tham gia nghiên cứu định lượng, điều tra viên sẽ mời họ tham gia nghiên cứu định tính Nếu người bệnh đồng ý, sẽ tiến hành phỏng vấn; nếu không, sẽ chuyển sang đối tượng tiếp theo Quá trình phỏng vấn sẽ tiếp tục cho đến khi đạt đủ số lượng yêu cầu, với tỷ lệ như sau: 1 người sinh thường, 1 người sinh mổ, và 2 người phẫu thuật phụ khoa.
02 người sử dụng dịch vụ phá thai
Nghiên cứu viên sẽ liên hệ trước với đối tượng phỏng vấn để sắp xếp lịch hẹn, sau đó tiến hành phỏng vấn tại phòng làm việc hoặc phòng hành chính của khoa.
PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
Bệnh nhân được cung cấp thông tin đầy đủ về lý do và mục đích nghiên cứu, đảm bảo sự bảo mật thông tin và hoàn toàn tự nguyện tham gia Sau khi hoàn tất thủ tục ra viện, bệnh nhân được phỏng vấn định lượng bằng bộ câu hỏi Để đánh giá sự hài lòng của sản phụ tại Khoa ĐTTYC của Bệnh viện Phụ sản Trung ương, học viên sử dụng bộ câu hỏi 29 câu theo mô hình SERVQUAL, phỏng vấn trực tiếp từng sản phụ Để phân tích giải pháp cải thiện sự hài lòng của bệnh nhân, học viên xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn sâu theo từng nhóm giải pháp Trong quá trình thu thập dữ liệu định lượng, học viên rà soát phiếu trả lời để bổ sung nội dung cho nghiên cứu định tính, đồng thời ghi âm và ghi chép các ý kiến quan trọng trong phỏng vấn sâu.
Bước 1: Tập huấn điều tra viên:
Nghiên cứu định lượng yêu cầu sự hợp tác chặt chẽ giữa điều tra viên (ĐTV) và học viên, trong đó học viên đóng vai trò giám sát và đào tạo ĐTV tại bệnh viện Nội dung tập huấn bao gồm việc giới thiệu cấu trúc bộ câu hỏi, kỹ năng phỏng vấn và cách điền bảng hỏi Hơn nữa, ĐTV cũng được hướng dẫn về cách cung cấp thông tin nghiên cứu cho đối tượng tham gia và xin phiếu đồng thuận, đồng thời được cảnh báo về những điều không nên làm để giảm thiểu sai sót và nhiễu trong quá trình thu thập thông tin khách hàng.
Nghiên cứu định tính: Học viên là người trực tiếp PVS các đối tượng để đảm bảo khai thác được hết các thông tin, chủ đều cần thu thập
Bước 2: Thử nghiệm và hoàn thiện bộ câu hỏi:
Hoàn thiện bộ câu hỏi để đảm bảo tính logic, nhất quán và dễ hiểu Thực hiện phỏng vấn thử và thu thập dữ liệu từ bệnh án của 10-20 người bệnh Cần sửa chữa các câu hỏi khó hiểu và xem xét loại bỏ các biến số không thu thập được.
Bước 3: Tiến hành thu thập số liệu tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, điều tra viên sẽ sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn và thu thập thông tin Đối tượng nghiên cứu được chọn theo tiêu chí đã nêu Sau khi bệnh nhân khám và nhận thuốc, điều tra viên sẽ tiếp cận, giới thiệu bản thân và giải thích ý nghĩa của việc tham gia nghiên cứu Nếu đối tượng đồng ý, sẽ đề nghị họ đọc và ký xác nhận giấy đồng ý tham gia nghiên cứu.
Bộ câu hỏi sẽ được giới thiệu cho ĐTNC, trong đó ĐTV sẽ đọc câu hỏi để ĐTNC trả lời và ghi chép lại Sau khi phỏng vấn, ĐTV sẽ kiểm tra lại bản ghi chép và cảm ơn ĐTNC Thời gian phỏng vấn dự kiến là khoảng 15-20 phút cho mỗi người bệnh.
Sau khi hoàn thành phỏng vấn, tiến hành thu thập dữ liệu từ bệnh án của người bệnh đó nếu cần ghi vào phiếu điều tra
Học viên sẽ thực hiện giám sát trong suốt quá trình triển khai Vào ngày đầu tiên, ĐTV sẽ thu thập số liệu và học viên sẽ giám sát trực tiếp 1 kèm 1 với ĐTV.
HUPH sẽ kiểm tra các phiếu sau khi thu thập; những phiếu đạt yêu cầu sẽ được tiếp tục thu thập Nếu điều tra viên (ĐTV) có bất kỳ thắc mắc nào, họ sẽ liên hệ trực tiếp với học viên để được giải đáp.
Bước 4: Tổng hợp và làm sạch phiếu:
Giám sát viên tổng hợp phiếu điều tra hàng ngày và kiểm tra dữ liệu thứ cấp từ bệnh án cùng với câu trả lời trong phiếu phỏng vấn Nếu phiếu có thiếu thông tin từ bệnh án, sẽ được bổ sung vào ngày hôm sau Đối với nội dung phỏng vấn thiếu thông tin hoặc không đạt yêu cầu, cần gọi điện cho ĐTNC theo số điện thoại đã thu thập để bổ sung và xác minh.
CÁC BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU
Các biến số chính của nghiên cứu bao gồm 2 phần (Xem chi tiết phụ lục
Bài viết này bao gồm hai phần chính: (1) thông tin chung về đặc điểm của người bệnh cùng với các thông tin hành chính và bệnh tật khác; và (2) đánh giá mức độ hài lòng của sản phụ dựa trên nguyên lý thang đo SERVQUAL Các khía cạnh được đánh giá bao gồm:
5 Yếu tố hữu hình Phần I các yếu tố nhân khẩu học gồm 6 câu hỏi, phần II đặc điểm quá trình nằm viện gồm 7 câu hỏi và phần III bộ câu hỏi SERVQUAL gồm 29 câu hỏi, trong đó có 22 câu chính của bộ câu hỏi này và bổ sung 7 câu hỏi thêm phù hợp cho ngữ cảnh của địa điểm nghiên cứu Các câu hỏi ở phần 3 được đánh giá bằng thang điểm Likert 5 mức độ, từ rất không hài lòng đến rất hài lòng (1-5) Như vậy tổng số câu hỏi áp dụng cho nghiên cứu này là 42 câu hỏi, hầu hết ở dạng có cấu trúc đóng (xem chi tiết phụ lục 1)
2.7.2 Chủ đề của nghiên cứu định tính
Các giải pháp nhằm nâng cao sự hài lòng của người bệnh
- Giải pháp cơ sở vật chất
- Giải pháp tổ chức cung cấp dịch vụ
- Giải pháp cải thiện chất lượng liên tục
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ
Tiêu chí đánh giá hài lòng của người bệnh: các câu hỏi được đánh giá bằng thang đo Likert với 5 mức độ:
- Mức 1 điểm: Rất không hài lòng
- Mức 2 điểm: Không hài lòng
- Mức 3 điểm: Bình thường/không rõ hoặc không đánh giá
- Mức 5 điểm: Rất hài lòng
Nghiên cứu này áp dụng hai phương pháp đánh giá khác nhau Phương pháp đầu tiên sử dụng thang Likert để phân loại thành hai biến nhị phân: “Hài lòng” và “Không hài lòng” Cụ thể, điểm số từ 4-5 được coi là “Hài lòng”, trong khi điểm số ≤3 được xem là “Không hài lòng”, tương ứng với mức cut-off ≥60% Đánh giá này được thực hiện cho từng khía cạnh hài lòng trong nghiên cứu, bao gồm cả đánh giá tổng thể cho toàn bộ thang điểm SERVQUAL.
Tiêu chí đánh giá mức độ đáp ứng mong đợi của người bệnh trong quá trình khám chữa bệnh được xác định bằng tỷ lệ phần trăm, dựa trên đánh giá của người bệnh theo các mức độ khác nhau.
•