1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích và đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần nhiệt điện phả lại

106 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của d

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG

PHÂN TÍCH VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP CẢI THIỆN TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

NGÀNH : QUẢN TRỊ KINH DOANH

MÃ SỐ : 004727C810

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS NGÔ VĂN VƯỢNG

HÀ NỘI 2010

Trang 2

- Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

- Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều

đã chỉ rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 3

- Ban giám hiệu, Trung tâm bồi dưỡng và Đào tạo sau đại học, các thầy

cô giáo khoa Kinh tế và quản lý trường Đại học Bách khoa Hà Nội đã giúp

đỡ trong thơi gian tác giả học tập và nghiên cứu tại trường

- Ban giám đốc, các phòng ban của Công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại

- Đặc biệt tác giả xin chân thành cảm ơn TS Ngô Văn Vượng người trực tiếp hướng dẫn và dành thời gian công sức giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Mặc dù tác giả đã cố gắng và cẩn trọng trong việc lựa chọn nội dung cũng như trình bày luận văn, tuy vậy vẫn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tác giả xin trân trọng và cảm ơn những đóng góp quý báu để đề tài hoàn thiện hơn và ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn nâng cao hiệu quả hoạt động tài chính tại Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại

Xin trân trọng cảm ơn!

TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Thu Hương

Trang 4

2 Mục đích nghiên cứu……….….……… 1

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ……… 2

4 Phương pháp nghiên cứu ……… … …… 2

5 Kết cấu của luận văn ……….….…… 2

Chương 1: Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp … ……3

1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp ……… … … 3

1.1.1 Tài chính doanh nghiệp ……… …… … ….3

1.1.2 Khái niệm phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp … 4

1.1.3.Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp… …4

1.1.4.Trình tự và các bước tiến hành phân tích báo cáo tài chính 6

1.1.5 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp … 7

1.2 Cơ cấu về tài sản và nguồn vốn trong kinh doanh ……… … 8

1.2.1 Khái quát về tài sản ……… ……… … .9

1.2.1.1.Tài sản lưu động ……… ……… 9

1.2.1.2 Tài sản cố định ……… …… … 9

1.2.2 Cơ cấu nguồn vốn ……… … … ….12

1.2.2.1 Khái niệm ……….……… … 12

1.2.2.2 Phân loại ……… ……….… … 13

1.3 Các công cụ tài chính và các chỉ số đánh giá hoạt động tài chính doanh nghiệp 14

1.3.1 Các công cụ tài chính 14

1.3.1.1 Các công cụ tài chính ngắn hạn ……….… 14

1.3.1.2 Các công cụ tài chính dài hạn ……….…….….15

1.3.2 Các chỉ số đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp 18

1.3.2.1 Chỉ số tình hình vay nợ và khả năng thanh khoản …… ………18

1.3.2.2 Chỉ số về khả năng quản lý tài sản ……… ………19

1.3.2.3 Chỉ số khả năng quản lý nợ .……… 20

Trang 5

1.4.2 Rủi ro tài chính ……… ……….…… 29

Tóm tắt chương 1……… …….……….… 30

Chương 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI 2.1.Tổng quan về Công ty ……….…… ………31

2.1.1 Giới thiệu chung về Công ty … ……….……… ….…31

2.1.2.Chức năng nhiệm vụ ……… ……….32

2.1.3.Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty ……….……32

2.1.4.Những thành tựu của Công ty ……….……35

2.2 Phân tích tình hình tài chính tại Công Ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại 36

2.2.1.Phân tích cơ cấu tài sản và nguồn vốn ……….….… 36

2.2.1.1 Phân tích biến động cơ cấu tài sản … ……….…….………36

2.2.1.2 Phân tích biến động cơ cấu nguồn vốn. ……… ………… 44

2.2.2 Phân tích tình hình vay nợ và khả năng thanh khoản …… ………46

2.2.2.1 Khả năng thanh toán hiện thời ………47

2.2.2.2 Khả năng thanh toán nhanh ………47

2.2.3 Phân tích khả năng quản lý tài sản ……….……… 48

2.2.3.1 Vòng quay hàng tồn kho ………48

2.2.3.2 Kỳ thu nợ ……… ……….……….49

2.2.3.3 Vòng quay tài sản cố định ……… …………49

2.2.3.4 Vòng quay tổng tài sản ……… ….…………49

2.2.4 Phân tích khả năng quản lý vốn vay ………50

2.2.4.1 Chỉ số nợ ……….……… 50

2.2.4.2 Khả năng thanh toán lãi vay ……….……… 50

2.2.5 Phân tích khả năng sinh lợi ……… ……… 51

2.2.5.1 Hệ số sinh lợi doanh thu (ROS) ……….……….52

2.2.5.2 Hệ số sinh lợi tổng tài sản ( ROA ) ………….….…….… 53

Trang 6

2.2.6.3 Mức độ tác động của đòn bảy tổng (DTL) ……….………64 2.2.7 Nhận xét đánh giá hoạt động tài chính của công ty ……… ……….66

2.2.7.1 Ưu điểm ……….……66

Tóm tắt chương 2 ……… ……68

CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI

3.1 Phương hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty……69 3.3.1 Mục tiêu hoạt động ……… …69 3.3.2 Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức … 71 3.2 Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại ……… … 72

3.2.1 Giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá hối đoái .72 3.2.2 Giải pháp giảm chi phí nguyên vật liệu.……… ……80 3.2.3 Tổng hợp kết quả thực hiện của hai giải pháp trên ….… … 84 3.2.4 Một số kiến nghị ……….…….….86 Tóm tắt chương 3 ……….…….….87

Kết luận ……….… … 88 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 7

STT

1 Sơ đồ 2.1 Sơ đồ bộ máy quản lý công ty cổ phần Nhiệt

4 Bảng 2.3 Bảng phân tích cơ cấu tài sản ngắn hạn 39

5 Bảng 2.4 Bảng phân tích cơ cấu tài sản dài hạn 43

6 Bảng 2.5 Bảng phân tích tổng quát biến động cơ cấu

7 Bảng 2.6 Tình hình vay nợ và khả năng thanh khoản 47

8 Bảng 2.7 Các tỷ số khả năng quản lý tài sản 48

9 Bảng 2.8 Bảng phân tích khả năng quản lý vốn vay 50

10 Bảng 2.9 Bảng phân tích khả năng sinh lợi 51

11 Bảng 2.10 Bảng phân tích báo cáo kết quả sản xuất kinh

12 Bảng 2.11 Bảng phân tích chi phí tài chính 54

13 Bảng 2.12 Bảng phân tích chi phí nguyên vật liệu trực

14 Bảng 2.13 Bảng phân tích điểm hoà vốn và đòn bảy định

Trang 8

Bảng 3.3 Tỷ giá đồng JPY theo thời gian 74

19 Bảng 3.4 Ảnh hưởng của tỷ giá tới lợi nhuận 76

20 Bảng 3.5 Bảng so sánh lợi nhuận từ đầu tư tài chính và

21 Bảng 3.6 Bảng so sánh các chỉ tiêu sau giải pháp 1 79

22 Bảng 3.7 Bảng suất tiêu hao than và dầu FO 2006 –

23 Bảng 3.8 Chi phí nguyên vật liệu tiết kiệm được sau giải

24 Bảng 3.9 So sánh các chỉ tiêu sau giải pháp 2 84

25 Bảng 3.10 Kết quả các chỉ tiêu sau khi thực hiện các giải

Trang 9

1 Lý do chọn đề tài

Để tiến hành sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định bao gồm: vốn lưu động, vốn cố định và vốn chuyên dùng khác Nhiệm

vụ của doanh nghiệp là phải tổ chức, huy động và sử dụng vốn sao cho có hiệu

quả nhất trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc về tài chính, tín dụng và chấp hành luật pháp Vì vậy để kinh doanh đạt hiệu quả mong muốn, hạn chế rủi ro xảy ra, doanh nghiệp phải phân tích hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời dự đoán điều kiện kinh doanh trong thời gian tới, vạch ra chiến lược phù hợp Việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà doanh nghiệp thấy rõ thực trạng tài chính hiện tại, xác định đầy đủ và đúng đắn nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính Từ đó có giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính

Phân tích tình hình tài chính chính là công cụ cung cấp thông tin cho các nhà quản trị, nhà đầu tư, nhà cho vay mỗi đối tượng quan tâm đến tài chính doanh nghiệp trên góc độ khác nhau để phục vụ cho lĩnh vực quản lý, đầu tư của

họ Chính vì vậy, phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp là công việc làm thường xuyên không thể thiếu trong quản lý tài chính doanh nghiệp, nó có ý nghĩa thực tiễn và là chiến lược lâu dài Chính vì tầm quan trọng đó tôi chọn đề tài “Phân tích và đề xuất một số giải pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại ’’

2 Mục đích nghiên cứu

- Luận văn tập trung nghiên cứu và hệ thống hoá những vấn đề lý luận liên quan đến tài chính của doanh nghiệp, nêu bật được sự cần thiết của công tác tài chính đối với các doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Trang 10

Lại trong ba năm gần đây, chỉ ra những kết quả đạt được và những hạn chế của công tác tài chính tại công ty

- Từ cơ sở lý luận và phân tích thực trạng tài chính công ty đề xuất các giải pháp và các kiến nghị để hoàn thiện tình hình tài chính ở Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tình hình tài chính tại Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại qua 3 năm

- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thực tiễn công tác tài chính trong Công

ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại và chủ yếu tập trung xem xét, phân tích, đánh giá các chỉ tiêu tài chính doanh nghiệp thông qua các số liệu, tài liệu báo cáo tài chính của công ty

4 Ph ương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp quan sát, điều tra, so sánh và phân tích để nghiên cứu giải quyết vấn đề đặt ra Dùng các số liệu báo cáo kinh doanh của Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại để phân tích thấy rõ được thực trạng tài chính của công ty từ đó đưa ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính

của công ty

5 Kết cấu của luận văn

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung bao gồm ba chương

CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp

CHƯƠNG 2: Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại

CHƯƠNG 3: Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính tại công ty

Trang 11

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp

1.1.1 Tài chính doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp phản ánh những luồng chuyển dịch giá trị gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời phản ánh các quan hệ kinh tế phát sinh giữa doanh nghiệp với thị trường và các chủ thể khác trong nền kinh tế Trong thị trường tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn

để đảm bảo nhu cầu vốn lưu động hoặc phát hành cổ phiếu, trái phiếu huy động vốn dài hạn tài trợ cho các dự án đầu tư Mặt khác, doanh nghiệp phải trả lãi vay ngân hàng, trả cổ tức cho cổ đông Giữa doanh nghiệp với ngân hàng, với trái chủ, với các cổ đông phát sinh các quan hệ kinh tế về huy động, đầu tư và phân

phối thu nhập

Tham gia vào thị trường hàng hoá, dịch vụ, doanh nghiệp vừa đóng vai trò

là người tiêu thụ vừa đóng vai trò là nhà cung cấp Do đó, giữa doanh nghiệp và các nhà cung cấp sẽ phát sinh quan hệ kinh tế khi mua sắm tài sản, thiết bị, vật

tư, nguyên nhiên liệu đầu vào… phục vụ nhu cầu sản xuất Đóng vai trò là người tiêu thụ, doanh nghiệp có quan hệ kinh tế về tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ với khách hàng Ngoài ra, giữa doanh nghiệp và người lao động cũng phát sinh những mối quan hệ kinh tế đặc biệt vừa mang tính chất trao đổi trên thị trường

mà hàng hoá là sức lao động, vừa mang tính nội bộ do người lao động trực tiếp làm việc trong doanh nghiệp Giữa doanh nghiệp và nhà nước cũng phát sinh mối quan hệ kinh tế trong thu và nộp thuế, ngược lại nhà nước tạo ra môi trường kinh doanh (cơ sở hạ tầng, môi trường pháp lý…) thuận lợi cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển Nền kinh tế càng phát triển, sự vận động của các nguồn tài

Trang 12

chính doanh nghiệp càng đa dạng phong phú do nhu cầu phát triển sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp

Như vậy, tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế

1.1.2.Khái ni ệm phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp

Trong hệ thống kế toán Việt Nam, báo cáo tài chính là loại báo cáo kế toán phản ánh một cách tổng quát, toàn diện tình hình tài sản, nguồn vốn, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời

kỳ nhất định

Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và

so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp

1.1.3 Mục tiêu của phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp

Thứ nhất: Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin đầy đủ, hữu

ích cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính để họ có quyết định đúng đắn nhất phù hợp với lợi ích của mình

Thứ hai: Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin đầy đủ, hữu

ích cho các đối tượng sử dụng thông tin tài chính trong việc đánh giá khả năng

và tính chắc chắn của các dòng tiền mặt vào ra và tình hình sử dụng có hiệu quả vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp

Thứ ba: Phân tích báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin về nguồn vốn

chủ sở hữu, các khoản nợ, kết quả của quá trình, sự kiện và các tình huống làm

Trang 13

biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của doanh nghiệp

Các mục tiêu trên đây có quan hệ mật thiết với nhau và nó góp phần cung cấp thông tin quan trọng cho những đối tượng nghiên cứu khác nhau của doanh

nghiệp như:

+ Đối với các chủ doanh nghiệp và các nhà quản trị doanh nghiệp:

Phân tích báo cáo tài chính nhằm đánh giá hoạt động của doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp Đó là cơ sở để định hướng các quyết định của ban giám đốc, dự báo kế hoạch tài chính như: kế hoạch đầu tư, ngân quỹ và kiểm soát các hoạt động quản lý

+ Đối với các chủ ngân hàng và các nhà cho vay tín dụng: Phân tích

báo cáo tài chính giúp họ nhận biết khả năng vay và trả nợ của doanh nghiệp, đồng thời biết được tỷ trọng của vốn chủ sở hữu, đây chính là khoản bảo hiểm cho họ trong trường hợp doanh nghiệp gặp rủi ro Bên cạnh đó người cho vay cũng rất quan tâm đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, vì đó là cơ sở của việc hoàn trả vốn và lãi vay dài hạn

+ Đối với các nhà cung cấp vật tư thiết bị, hàng hoá dịch vụ: Phân tích

báo cáo tài chính doanh nghiệp giúp họ nhận biết khả năng thanh toán của doanh nghiệp, từ đó có thể quyết định bán hàng hay không bán hàng, áp dụng phương thức thanh toán hợp lý để có thể thu hồi tiền bán hàng nhanh chóng

+ Đối với các nhà đầu tư: Phân tích báo cáo tài chính giúp họ nhận biết

tình hình thu nhập của vốn chủ sở hữu, lợi tức cổ phần và giá trị tăng thêm của vốn đầu tư Họ quan tâm tới phân tích tài chính để nhận biết khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, đó chính là căn cứ quan trọng trong việc ra quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không

Trang 14

+ Đối với khách hàng: Phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp giúp họ

đánh giá khả năng, năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, mức độ uy tín của doanh nghiệp để quyết định có ứng trước tiền hàng hay không

+ Đối với người lao động trong doanh nghiệp: Phân tích báo cáo tài

chính giúp họ hiểu biết về hoạt động của doanh nghiệp, nắm bắt được xu hướng phát triển của doanh nghiệp, từ đó nâng cao trách nhiệm đối với công việc mà họ đảm nhận, giúp họ đánh giá được thu nhập của bản thân sẽ tăng lên hay giảm đi

+ Đối với các cơ quan quản lý nhà nước như tài chính, ngân hàng, kiểm toán, thuế: Phân tích báo cáo tài chính giúp cho việc kiểm tra, giám sát,

kiểm toán, hướng dẫn và tư vấn cho doanh nghiệp thực hiện các chính sách, chế

độ, thể lệ về tài chính, kế toán, thuế và kỷ luật tài chính, tín dụng, ngân hàng…

Tóm lại, phân tích báo cáo tài chính là cơ sở để dự đoán tài chính, nó có thể được ứng dụng theo nhiều hướng khác nhau, nhằm mục đích phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau Chính vì lẽ đó phân tích tài chính chứng tỏ thực sự có

ích và cần thiết đối với nhiều đối tượng

1.1.4 Trình tự và các bước tiến hành phân tích báo cáo tài chính

a - Thu thập thông tin

Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải và thuyết minh thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp nhằm phục vụ cho quá trình dự đoán tài chính Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ đến những thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và thông tin quản lý khác, những thông tin

về số lượng và giá trị trong đó các thông tin kế toán phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính doanh nghiệp là những nguồn thông tin đặc biệt quan trọng Do vậy căn cứ để phân tích và đánh giá tài chính doanh nghiệp là các báo

Trang 15

cáo tài chính doanh nghiệp (bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, bảng thuyết minh báo cáo tài chính), các tài liệu liên quan, các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp, các chỉ tiêu tài chính

mục tiêu

b - Xử lý thông tin

Trong giai đoạn này, người ta sử dụng thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lý thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phân tích đã đặt ra Xử lý thông tin là quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tính toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhân của các kết quả đã đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định

c - Dự đoán và quyết định

Thu thập và xử lý thông tin nhằm chuẩn bị những tiền đề và điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu cầu và đưa ra các quyết định tài chính Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài chính là đưa ra các quyết định tài chính Đối với chủ doanh nghiệp phân tích tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối

đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá giá trị xí nghiệp Đối với người cho vay và đầu

tư vào xí nghiệp thì đưa ra các quyết định về tài trợ và đầu tư; đối với cấp trên

của doanh nghiệp đưa ra các quyết định quản lý doanh nghiệp…

1.1.5 Phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp

Về lý thuyết, có nhiều phương pháp phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng phương pháp so sánh và phân tích tỷ số

- Phương pháp tỷ số

Trang 16

Phương pháp tỷ số là phương pháp truyền thống trong phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp Theo phương pháp này, các tỷ số được thiết lập bởi chỉ tiêu tài chính này so với chỉ tiêu khác Phương pháp này dễ hiểu, dễ thực hiện và giúp nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích có hệ thống hàng loạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn Ngày nay, sự phát triển của công nghệ tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và tính toán hàng loạt các tỷ số Đồng thời những cải tiến trong việc hình thành các tỷ lệ tham chiếu đáng tin cậy nhằm đánh giá một tỷ số của của doanh nghiệp, từ đó tạo cơ

sở hoàn thiện cho phương pháp này

- Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh được sử dụng kết hợp với các phương pháp khác trong quá trình phân tích Phương pháp so sánh có thể được tiến hành theo thời gian (kỳ này, kỳ trước), theo không gian (mức trung bình ngành, lĩnh vực)…khi

áp dụng phương pháp này doanh nghiệp sẽ nhận biết được xu hướng vận động

của tình hình tài chính của doanh nghiệp cũng như đánh giá được vị thế của mình trên thị trường

1.2 Cơ cấu về tài sản và nguồn vốn trong kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, thế mạnh cạnh tranh của các doanh nghiệp phụ thuộc vào tiềm lực về nguồn vốn và tài sản Song việc phân bố tài sản như thế nào, tỷ trọng từng loại tài sản so với tổng tài sản có hợp lý hay không mới là điều kiện kiên quyết Điều này có nghĩa nếu chỉ xem xét lượng vốn nhiều hay ít thì sẽ không đủ mà phải đảm bảo sử dụng vốn như thế nào để nâng cao hiệu quả

sự dụng vốn Muốn vậy chúng ta phải xem xét kết cấu tài sản của doanh nghiệp

có hợp lý nhau hay không

Trang 17

1.2.1 Khái quát về tài sản

Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh bất cứ doanh nghiệp nào cũng cần phải có một số lượng tài sản nhất định ban đầu Tài sản là các quỹ bằng tiền của doanh nghiệp mà hình thái vật chất của nó là nhà cửa, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, vốn bằng tiền và các loại chứng khoán có giá… Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của từng loại tài sản trong các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh, người ta chia tài sản thành hai loại: tài sản lưu động và tài sản cố định

1.2.1.1.Tài sản lưu động

Tài sản lưu động là toàn bộ giá trị tài sản (vô hình, hữu hình) của đơn vị

có thời gian luân chuyển ngắn (thường là một chu kỳ kinh doanh hoặc một năm) như: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, nguyên vật liệu, thành phẩm, hàng hoá,…

Theo lĩnh vực tham gia luân chuyển toàn bộ tài sản lưu động của đơn vị chia thành:

- Tài sản lưu động trong lĩnh vực sản xuất: bao gồm những tài sản đang dự trữ trong kho (nguyên liệu, vật liệu, công cụ dụng cụ,…) hay đang trong quá trình sản xuất (sản phẩm làm dở)

- Tài sản lưu động trong lĩnh vực lưu thông: là những tài sản đã và đang chuẩn bị tham gia vào quá trình lưu thông, phân phối bao gồm:

+ Tài sản dự trữ trong lưu thông: thành phẩm, hàng hoá, hàng gửi bán + Tài sản đang lưu thông: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản phải thu (phải thu khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác,…

1.2.1.2 Tài sản cố định

Tài sản cố định là những tài sản của đơn vị có thời gian luân chuyển dài (thường là trên một năm hoặc lớn hơn một chu kỳ kinh doanh)

Trang 18

Căn cứ vào hình thái biểu hiện toàn bộ tài sản cố định được chia làm hai loại sau:

+ Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định hữu hình

Các tài sản được ghi nhận là tài sản cố định hữu hình phải thoả mãn đồng thời bốn tiêu chuẩn ghi nhận sau:

- Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản

đó

- Nguyên giá tài sản cố định phải được xác định một cách đáng tin cậy

- Thời gian sử dụng ước tính trên một năm

- Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo qui định hiện hành

+ Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ, sử dụng trong sản xuất kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình

Căn cứ vào công dụng kinh tế: TSCĐ dùng trong sản xuất kinh doanh và

TSCĐ dùng ngoài sản xuất kinh doanh

Căn cứ tình hình sử dụng: TSCĐ đang sử dụng, TSCĐ chưa sử dụng và

TSCĐ không cần dùng

Căn cứ quyền sở hữu: TSCĐ tự có và TSCĐ đi thuê

- Phân tích tình hình cơ cấu tài sản:

Phân tích kết cấu tài sản là đánh giá sự biến động của các bộ phận cấu thành tổng tài sản của một doanh nghiệp Mục đích của việc phân tích này cho thấy tình hình sử dụng tài sản, việc phân bổ các loại tài sản trong các giai đoạn

Trang 19

của một quá trình sản xuất kinh doanh có hợp lý hay không, để từ đó rút ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản

Phân tích những thay đổi của tài sản lưu động cho thấy những thay đổi về

dự trữ có liên quan đến quy mô sản xuất của doanh nghiệp Nếu quy mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mở rộng sẽ kéo theo sự tăng lên của dự trữ Khi

mở rộng quy mô mà dự trữ không đủ sẽ không đảm bảo cho tính liên tục của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh Tuy nhiên cũng có những trường hợp đặc biệt, khi quy mô sản xuất tăng lên, dự trữ thấp nhưng vẫn đảm bảo phục vụ tốt cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, không thiếu hụt vật tư, hàng hoá dẫn đến phải ngừng sản xuất thì lúc đó dự trữ thấp lại có lợi cho doanh nghiệp Do đó đánh giá sự thay đổi của dự trữ ta cần xem xét khả năng quay vòng của vốn lưu động trong khâu dự trữ, xem lượng dự trữ có đảm bảo cho sản xuất kinh doanh hay không, mặt khác cần phải xem xét kết cấu của từng loại tài sản dự trữ, đánh giá xem loại nào thừa, loại nào thiếu để đưa ra biện pháp điều chỉnh cho phù hợp

Quy mô sản xuất tăng lên thì nợ phải thu không nhất thiết phải gia tăng Việc gia tăng công nợ phải thu phụ thuộc chủ yếu vào chính sách thương mại nói chung và chính sách bán hàng của doanh nghiệp nói riêng Nhìn chung, nếu các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp thấp thì doanh nghiệp ít bị chiếm dụng vốn Tuy nhiên nếu doanh nghiệp có một chính sách thương mại và chính sách giá hợp lý thì sẽ khuyến khích khách hàng trả tiền đúng thời hạn

Những thay đổi về các khoản tiền của doanh nghiệp có ảnh hưởng hết sức quan trọng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp Tiền của doanh nghiệp không chỉ bao gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng mà còn bao gồm các khoản tương đương tiền như trái phiếu, cổ phiếu, thương phiếu…Nói chung, doanh

Trang 20

nghiệp không nên dự trữ một lượng tiền quá lớn vì như thế sẽ gây ứ đọng vốn, lãng phí vốn Doanh nghiệp chỉ nên dự trữ một lượng tiền vừa đủ để thanh toán các khoản nợ đến hạn trả cũng như các chi phí phát sinh thường xuyên phải thanh toán bằng tiền mặt

Khi phân tích các chỉ tiêu này, cần lưu ý đến các lĩnh vực và tính chất hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp sản xuất,

tỷ trọng tài sản cố định thường lớn hơn nhiều so với doanh nghiệp thương mại Kết cấu tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp sản xuất cũng khác so với các doanh nghiệp thương mại Tỷ trọng tiền mặt của doanh nghiệp sản xuất thường thấp, trong khi đó dự trữ và các khoản phải thu chiếm một tỷ trọng rất cao Đối với các doanh nghiệp thương mại thì kết cấu của ba bộ phận tài sản ngắn hạn này đồng đều hơn, tỷ trọng tiền mặt thường cao hơn, các khoản phải thu và bị chiếm dụng chiếm tỷ trọng thấp hơn Khi xem xét kết cấu tài sản của doanh nghiệp ta cần phải so sánh với số liệu bình quân của ngành.Thực tế cho thấy không có một kết cấu tài sản chung nào cho tất cả các doanh nghiệp, kết cấu này thường phụ thuộc vào nhiều yếu tố, đặc biệt là chính sách thương mại của doanh nghiệp

1.2.2 Cơ cấu nguồn vốn

Cơ cấu vốn của doanh nghiệp bao gồm nợ phải trả và vốn chủ sở hữu Nguồn gốc và sự cấu thành hai loại vốn này xác định sự ổn định tài chính và khả năng thanh toán dài hạn của doanh nghiệp Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cho phép chúng ta đánh giá sự độc lập về tài chính của doanh nghiệp, đánh giá khả năng tự tài trợ của doanh nghiệp

1.2.2.1 Khái niệm

Khi một doanh nghiệp mới thành lập bao giờ cũng cần có một số vốn tối thiểu theo quy định của Nhà nước, vốn này gọi là vốn điều lệ Trong quá trình

Trang 21

hoạt động sản xuất kinh doanh, để đảm bảo cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững, đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng bổ sung thêm vốn từ nhiều nguồn khác nhau:

- Từ Ngân sách cấp nếu là Doanh nghiệp Nhà nước mới thành lập

- Từ vốn tự có của chủ doanh nghiệp nếu là công ty tư nhân

- Từ vốn cổ phần huy động được từ các cổ đông nếu là công ty cổ phần

- Từ vốn liên doanh của các bên đối tác liên kết nếu là công ty liên doanh Ngoài ra các công ty có thể huy động thêm vốn bằng cách vay Ngân hàng hay các tổ chức tín dụng, hoặc huy động vốn bằng cách phát hành trái phiếu

Như vậy, cơ cấu nguồn vốn của doanh nghiệp là sự kết hợp nhiều nguồn vốn theo một cấu trúc nào đó nhằm tài trợ cho quyết định đầu tư của doanh nghiệp

- Nợ phải trả: Là số tiền mà doanh nghiệp đi vay mượn, hoặc chiếm dụng và cam kết phải thanh toán cho các chủ sở hữu số tiền đó trong một khoảng thời gian nhất định, bao gồm: nợ ngắn hạn (vay ngắn hạn, phải trả người bán, người mua trả tiền trước, thuế và các khoản phải nộp ngân hàng, các khoản phải trả công

Trang 22

nhân viên, các khoản phải trả ngắn hạn khác) và nợ dài hạn (vay dài hạn, nợ dài hạn…)

1.3 Các công cụ tài chính và các chỉ số đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp

1.3.1 Các công cụ tài chính

Khi có các quỹ tiền tệ thặng dư, doanh nghiệp có khả năng thực hiện đầu

tư dưới nhiều hình thức khác nhau Doanh nghiệp có thể đầu tư trực tiếp gọi là đầu tư công nghiệp hoặc đầu tư gián tiếp gọi là đầu tư tài chính tuỳ theo tài sản

có được là các tài sản hữu hình (máy móc, nhà xưởng ) hay các tài sản tài chính (các loại chứng khoán) Để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận thì doanh nghiệp phải lựa chọn các tài sản có thể tạo ra giá trị lớn hơn chi phí bỏ ra mua sắm chúng Muốn làm được điều này, doanh nghiệp cần nắm được các công cụ tài chính mà doanh nghiệp sử dụng khi đầu tư

1.3.1.1 Các công cụ tài chính ngắn hạn

- Các khoản phải trả:

Các khoản phải trả là khoản doanh nghiệp phải thanh toán cho các chủ thể

có liên quan nhưng tạm thời chưa thanh toán, bao gồm: phải trả công nhân viên, phải trả cho người bán, người mua phải trả tiền trước, thuế và lệ phí phải nộp, phải trả nội bộ, phải trả khác

Đây là một nguồn tài chính của doanh nghiệp mà đặc trưng chung là có kỳ hạn rất ngắn nhưng không có chi phí hoặc có chi phí “ẩn” (phải trả cho người bán, người mua trả tiền trước, phải trả khác)

- Vay ngắn hạn:

Bao gồm các dạng như sau:

Trang 23

+ Vay theo hạn mức tín dụng: Theo loại hình này thì khi doanh nghiệp có nhu cầu có thể sử dụng một số tiền nhất định của ngân hàng vào bất kỳ lúc nào

mà không cần qua thủ tục thẩm định và thế chấp Đây là hình thức tài trợ có chi phí thấp, song bất lợi là doanh nghiệp có thể phải trả khoản vay nếu ngân hàng yêu cầu

+ Vay có đảm bảo: được thực hiện khi bên vay trình cho ngân hàng hợp đồng phải thực hiện, thế chấp bằng các khoản phải thu, bằng hàng hoá hoặc tài sản của doanh nghiệp Loại hình này thường qua thủ tục thẩm định kỹ lưỡng Ngân hàng cho vay một khoản thấp hơn giá trị thế chấp và kiểm soát chặt chẽ việc sử dụng khoản vay Chi phí của loại hình này thường cao nếu tính cả đến những chi phí liên quan đến tài sản, hàng hoá đem thế chấp

1.3.1.2 Các công cụ tài chính dài hạn

- Vay dài hạn truyền thống:

Vay dài hạn truyền thống có đặc điểm:

+ Kỳ hạn trên một năm và nguyên khối

+ Lãi phải trả vào thời điểm đã thoả thuận, được tính trên cơ sở lãi suất danh nghĩa thoả thuận và phần vốn gốc chưa hoàn trả tính đến thời điểm tính lãi

+ Khoản vay được bảo hiểm bằng bảo lãnh hoặc bằng tài sản của người đi vay được gọi là tài sản thế chấp

+ Chi phí giao dịch thấp, ít có sự khác biệt giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực vì lãi suất danh nghĩa thường phù hợp với thời kỳ tính lãi

Căn cứ vào thời kỳ thanh toán và bản chất số tiền thanh toán ở mỗi thời

kỳ, vay dài hạn truyền thống được phân thành các loại hình như sau:

+ Trả gốc cuối kỳ, trả lãi theo thời kỳ

+ Trả gốc đều, trả lãi theo thời kỳ

Trang 24

+ Trả đều theo thời kỳ cả gốc và lãi

- Tín dụng thuê mua:

Tín dụng thuê mua là việc thuê tài sản dùng cho hoạt động doanh nghiệp trong một thời gian nhất định Đây là một công cụ tài trợ cho phép doanh nghiệp

có quyền sử dụng tài sản mà không cần phải sở hữu nó

Có 3 loại hình thuê khác nhau: Bán và thuê lại, thuê ngắn hạn, thuê dài hạn

- Cổ phiếu:

Cổ phiếu là một loại chứng khoán do một chủ thể phát hành (bên gọi vốn)

để huy động vốn dài hạn dưới dạng góp vốn, bên góp vốn gọi là cổ đông Như vậy, cổ phiếu xác nhận sự sở hữu của cổ đông đối với một phần tài sản của doanh nghiệp tương ứng với tỷ lệ vốn góp so với tổng số vốn sở hữu

Hàng năm, các cổ đông sẽ nhận được khoản chia lãi từ lãi ròng của doanh nghiệp theo tỷ lệ vốn góp khoản lãi mà các cổ đông nhận được hàng năm gọi là

cổ tức, tỷ lệ trích lãi ròng để chia cổ tức có thể được trước hoặc quyết định hàng năm bởi hội đồng cổ đông

Cổ phiếu có các loại sau: Cổ phiếu thường (cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu đại chúng) và cổ phiếu ưu đãi

+ Cổ phiếu thường: là loại cổ phiếu cho phép chủ thể sở hữu nó có quyền được chia cổ tức nếu doanh nghiệp có lợi nhuận Quyền sở hữu và kiểm soát doanh nghiệp thông qua việc bỏ phiếu bầu hội đồng quản trị hoặc bỏ phiếu về các vấn đề được đưa ra bàn luận tại hội nghị cổ đông thường kỳ Ngoài ra, cổ đông đại chúng được quyền ưu tiên mua trước cổ phiếu mới do doanh nghiệp phát hành nhằm đảm bảo quyền kiểm soát cũng như lợi nhuận của họ Chính

Trang 25

quyền được mua này cũng có thể được chuyển nhượng như một loại chứng khoán

+ Cổ phiếu ưu đãi: có đặc điểm cơ bản giống cổ phiếu thường là quyền được chia cổ tức và quyền sở hữu một phần tài sản của doanh nghiệp Tính chất

ưu đãi là chỗ cổ đông ưu đãi được chia cổ tức ưu đãi tính theo lãi suất cố định trên mệnh giá giống như trái phiếu nếu doanh nghiệp có lãi Ngoài ra, cổ đông

ưu đãi có quyền bảo lưu không tính lãi suất với cổ tức chưa chia, còn gọi là cổ tức luỹ kế nếu doanh nghiệp trì hoãn việc chia lợi tức cho cổ đông Cổ phiếu ưu đãi có tính chất chuyển đổi, nghĩa là có thể được chuyển thành cổ phiếu đại chúng sau một khoản thời gian nhất định Song cổ đông ưu đãi không có quyền

bỏ phiếu bầu hội đồng quản trị…hoặc có quyền này trong phạm vi hẹp, tức là có quyền sở hữu nhưng không có hoặc có quyền quản lý ở mức độ hạn chế và hoàn toàn không có quyền được ưu tiên mua cổ phiếu mới

- Trái phiếu:

Trái phiếu là một loại chứng khoán do một chủ thể phát hành (bên đi vay)

để huy động vốn dài hạn dưới dạng đi vay của bên cho vay Như vậy, trái phiếu xác nhận về một sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn trong một kỳ hạn nhất định của bên cho vay đối với bên đi vay

Định kỳ, thường là hàng năm, chủ thể sở hữu nhận được một khoản lãi suất danh nghĩa tính trên mệnh giá trái phiếu, không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Khi đến hạn, chủ thể sở hữu trái phiếu trả lại trái phiếu cho chủ thể phát hành và nhận được khoản tiền gốc bằng mệnh giá trái phiếu

Căn cứ theo chủ thể phát hành, trái phiếu được phân chia thành: trái phiếu kho bạc và trái phiếu công ty

Trang 26

Căn cứ theo lãi suất áp dụng, trái phiếu được phân thành: Trái phiếu có tính lãi suất cố định và trái phiếu có lãi suất biến đổi

Căn cứ theo khả năng chuyển đổi của trái phiếu, trái phiếu được phân thành: trái phiếu không thể chuyển đổi và trái phiếu có thể chuyển đổi cổ phiếu

1.3.2 Các ch ỉ số đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp

1.3.2.1 Chỉ số tình hình vay nợ và khả năng thanh khoản

Khả năng sẵn sàng thanh toán là khả năng của tài sản có thể nhanh chóng chuyển hoá thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ đến hạn phải trả Phân tích khả năng sẵn sàng thanh toán của doanh nghiệp tức là phân tích sự cân đối tài chính của doanh nghiệp thông qua mối quan hệ so sánh giữa khả năng chuyển hoá thành tiền của các tài sản và các khoản nợ ngắn hạn

1.3.2.1.1 Chỉ số lưu động (Khả năng thanh toán hiện thời)

Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán đáp ứng các khoản nợ đến hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp (phải thanh toán trong vòng 1 năm hay 1 chu

kỳ kinh doanh) Tính hợp lý của độ lớn hệ số thanh toán ngắn hạn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh Hệ số này nói lên doanh nghiệp có bao nhiêu đồng tài

sản có thể chuyển đổi để đảm bảo có thể thanh toán một đồng nợ đến hạn trả Nếu hệ số này cao điều đó chứng tỏ doanh nghiệp luôn sẵn sàng thanh toán các khoản nợ và ngược lại Tuy nhiên hệ số này quá cao sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn vì doanh nghiệp đã đầu tư quá nhiều vào tài sản lưu động Qua thực tế chúng ta thấy thường hệ số này bằng hoặc lớn hơn bằng 2 là tốt hơn

Khả năng thanh toán hiện thời = Tài sản ngắn hạn

Tổng nợ ngắn hạn

1.3.2.1.2 Chỉ số nhanh (Khả năng thanh toán nhanh) (Quick Ratio)

Khả năng thanh toán nhanh là mối quan hệ giữa số tài sản dùng để thanh

Trang 27

toán nhanh với tổng số nợ ngắn hạn của đơn vị, là thước đo về khả năng trả nợ ngay không dựa vào việc phải bán các tài sản dự trữ (tồn kho), tức là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm: tiền ,chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu

Khả năng thanh toán nhanh = Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho

Tổng nợ ngắn hạn Nếu tỷ lệ này quá nhỏ thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ Tuy nhiên, độ lớn của tỷ lệ này cũng phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và kỳ hạn thanh toán các món nợ phải thu, phải trả trong kỳ

1.3.2.2 Chỉ số về khả năng quản lý tài sản

1.3.2.2.1.Vòng quay hàng tồn kho (Inventory Turnover)

Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hoá tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì việc kinh doanh được đánh giá càng tốt bởi lẽ doanh nghiệp chỉ đầu tư cho hàng tồn kho thấp nhưng vẫn đạt được doanh số cao

Vòng quay hàng tồn kho = Doanh thu thuần

Hàng tồn kho bình quân

1.3.2.2.2.Kỳ thu nợ (Collection Period)

Kỳ thu nợ bình quân hay thời gian thu tiền bình quân là số ngày của một vòng quay các khoản phải thu, nhằm đánh giá việc quản lý của công ty đối với các khoản phải thu do bán chịu

Kỳ thu nợ bình quân = Khoản phải thu bình quân

Doanh thu/360

1.3.2.2.3 Vòng quay tài sản cố định (Fixed-Aset Turnover)

Phản ánh 100 đồng tài sản cố định bình quân tạo ra bao nhiêu đồng

Trang 28

doanh thu thuần Tỷ số này cao phản ánh tình hình giá trị tài sản cố định chuyển dịch nhanh vào giá trị sản phẩm, sớm hoàn thành kỳ luân chuyển vốn Nếu tỷ số này thấp chứng tỏ việc đầu tư tài sản cố định không hợp lý, vốn ứ đọng

Vòng quay tài sản

Doanh thu thuần Tài sản dài hạn bình quân

1.3.2.2.4 Vòng quay tổng tài sản ( Total Assets Turnover)

Chỉ tiêu này cho biết 100 đồng tài sản bình quân tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh đã thu được bao nhiêu đồng doanh thu thuần Sức sản xuất của tổng tài sản càng lớn hiệu quả sử dụng tổng tài sản càng tăng và ngược lại

Vòng quay của tổng tài sản = Doanh thu thuần

1.3.2.3.2 Khả năng thanh toán lãi vay

Khả năng thanh toán lãi vay = Lợi nhuận trước lãi vay và thuế

Lãi vay

Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay cho chúng ta biết được số vốn đi vay đã sử dụng tốt tới mức nào và đem lại một khoản lợi

nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay không

Trang 29

1.3.2.4.Chỉ số khả năng sinh lợi

1.3.2.4.1 Hệ số sinh lợi doanh thu (ROS- Return On Sales)

Tỷ số này cho biết cứ 100 đồng doanh thu thuần có bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế Tỷ số càng lớn thì khả năng sinh lợi của công ty càng cao và ngược lại Sự biến động của tỷ số này phản ánh sự biến động về hiệu quả

Hệ số sinh lợi doanh thu

Lợi nhuận sau thuế Doanh thu

1.3.2.4.2 Hệ số sinh lợi của tổng tài sản (ROA- Return On Assets)

Chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi của 100 đồng giá trị tài sản bình quân

mà doanh nghiệp đã huy động vào sản xuất kinh doanh có khả năng tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ số này càng cao thể hiện sự sắp xếp phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và hiệu quả

Hệ số sinh lợi của tổng tài sản

Lợi nhuận sau thuế Tổng tài sản bình quân

1.3.2.4.3 H ệ số sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE – Return On Equip )

Hệ số sinh lợi của vốn chủ sở hữu

Trang 30

1.3.2.5 Lý thuyết đòn bảy và hiệu ứng Du Pont

1.3.2.5.1 Đòn bảy tác nghiệp DOL (Đòn bảy định phí)

Đòn bảy tác nghiệp phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng chi phí cố định trong hoạt động của mình Doanh nghiệp có đòn bảy tác nghiệp cao khi tỷ trọng chi phí cố định trong tổng chi phí của doanh nghiệp cao Đòn bảy tác nghiệp cao sẽ khiến cho một thay đổi nhỏ về doanh thu có thể gây ra một thay đổi lớn về lợi nhuận trước lãi và thuế (EBIT)

Độ nghiêng của đòn bảy tác nghiệp (DOL) là mức thay đổi tính bằng tỷ

lệ phần trăm của EBIT ứng với mức thay đổi tính bằng phần trăm của doanh thu

EBIT = 0 ↔ Q x (P – V) – F = 0

Suy ra: QHV = F/ (P – V)

Xác định doanh thu hoà vốn:

S HV = F/ [1 – (V/P)] = F/ [1 – (Q.V/ Q.P)]

Hay S HV = Tổng định phí/ [1 – (Tổng biến phí/Tổng doanh thu)]

Trong đó: [1 – (Tổng biến phí/Tổng doanh thu)] : là tỷ lệ số dư đảm phí

Một số ứng dụng của việc phân tích điểm hoà vốn:

+ Đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp:

Trang 31

Qua việc phân tích điểm hoà vốn, ta có thể đánh giá rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp bằng cách xem xét sự ảnh hưởng đối với EBIT và điểm hoà vốn khi các điều kiện kinh doanh thay đổi

Phân tích điểm hoà vốn đối với sự thay đổi của giá bán đơn vị sản phẩm P

và tổng định phí (tương tự như trên) cũng cho ta thấy độ nhạy của lợi nhuận hoạt động

+ Dùng để lựa chọn phương án sản xuất:

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, xu hướng chung của các doanh nghiệp là ứng dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất nhằm nâng cao năng xuất lao động, điều này có thể giúp các doanh nghiệp giảm thiểu chi phí Mặt khác, do

áp dụng các phương pháp sản xuất hoặc quản lý khác nhau sẽ dẫn đến sự thay đổi kết cấu chi phí cũng như giá bán của doanh nghiệp Nhà quản lý doanh nghiệp có thể sử dụng kiến thức về phân tích điểm hoà vốn để phân tích các khả năng lựa chọn và dự báo những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của mình

+ Đánh giá lợi nhuận đạt được từ việc đưa ra thị trường sản phẩm mới

Khi đưa một sản phẩm mới vào thị trường, doanh nghiệp cần đánh giá xem khả năng đem lại lợi nhuận của sản phẩm này là như thế nào Từ việc đánh giá đó sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra phương hướng điều chỉnh kịp thời để có thể nâng cao lợi nhuận Để đánh giá lợi nhuận có thể đạt được của sản phẩm mới, nhà quản trị doanh nghiệp có thể sử dụng phương pháp phân tích điểm hoà vốn Muốn vậy, doanh nghiệp cần thu thập đầy đủ thông tin về kỹ thật cũng như Marketing để dự báo chính xác doanh số tiềm năng nhằm cung cấp cho việc phân tích điểm hoà vốn của sản phẩm mới

Trang 32

Phân tích điểm hoà vốn được coi là một công cụ rất hữu ích để xem xét hoạt động của một doanh nghiệp hay một dự án Tuy vậy, phương pháp này cũng

- Chúng ta đều biết rằng giá trị của đồng tiền tại các thời điểm khác nhau

là khác nhau.Trong khi đó phân tích điểm hoà vốn lại không quan tâm đến thời giá của tiền Vì vậy, chỉ áp dụng phương pháp này đối với những khoảng thời gian ngắn, nếu áp dụng với những khoảng thời gian dài thì chi phí và doanh thu cần được biểu hiện dưới hình thức giá trị hiện tại Điều này đòi hỏi phải ứng dụng phương pháp phân tích độ nhạy với yêu cầu chính xác về doanh số hàng bán được với mức doanh thu mà tại đó NPV >0

Mô hình phân tích điểm hoà vốn cơ bản đánh giá theo đường thẳng (tức là giá bán và biến phí đơn vị sản phẩm không thay đổi), nhưng giá bán và biến phí đơn vị hàng bán lại có thể thay đổi tuỳ theo mức độ sản xuất

Tóm lại, phân tích điểm hoà vốn là một công cụ hữu hiệu để phân tích đòn

bảy định phí của một doanh nghiệp hay dự án đầu tư trong tình huống đơn giản

Trang 33

Trong tình huống phức tạp, tính hữu ích của điểm hoà vốn lại bị hạn chế, do đó đòi hỏi phải có sự hỗ trợ của các công cụ tài chính khác

1.3.2.5.2 Đòn bảy tài chính DFL (Đòn bảy nợ)

Đòn bảy tài chính là một khái niệm phản ánh mức độ doanh nghiệp sử dụng các khoản vay nợ có lãi suất tương đối ổn định trong cơ cấu vốn của mình

Doanh nghiệp được coi là có đòn bảy tài chính cao khi tỷ trọng nợ trên tổng tài sản của doanh nghiệp cao Đòn bảy nợ càng cao thì rủi ro tài chính càng lớn, tuy

nhiên lợi nhuận cổ đông đại chúng càng cao nếu tỷ suất sinh lời chung của doanh nghiệp cao hơn lãi suất vay nợ

Độ tác nghiệp của đòn bảy tài chính (DFL) là mức thay đổi tính bằng tỷ lệ phần trăm của lãi ròng của cổ đông đại chúng (ESP) ứng với mức thay đổi tính bằng phần trăm của lợi nhuận trước lãi vay và thuế (EBIT)

Trang 34

Đòn bảy tổng là kết quả tổng hợp của đòn bảy định phí và đòn bảy nợ, do

đó nếu doanh nghiệp sử dụng đòn bảy định phí và đòn bảy nợ cao thì chỉ tác động nhỏ về doanh thu sẽ gây ra tác động lớn về lợi nhuận trên mỗi cổ phần (EPS)

Hệ số sinh lợi doanh thu Số vòng quay tài sản

Lãi ròng Doanh thu thuần

Tổng chi phí

Chi phí

sản xuất Vốn bằng tiền, phải thu…

Trang 35

ROE = Lãi ròng

Vốn chủ sở hữu

= ROA X Tài sản

Vốn chủ sở hữu

Cụ thể ta xem tác động của đòn bảy nợ lên hệ số sinh lợi trên vốn CSH

Vì: Lợi nhuận sau thuế (lãi ròng) = (EBIT – i.D)(1 - T)

Trong đó:

(i.D) : Chi phí lãi vay được xác định bởi lãi suất vay i và số nợ vay D

T : Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp

E/(D+E)

E Và: i (1 – T) = i’ : Lãi suất vay nợ sau thuế

Trong đó: D/E: Nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu (Hệ số nợ)

Công thức ROE này chỉ ra giới hạn quan trọng mà doanh nghiệp phải vượt qua để lợi dụng khía cạnh tích cực của hệ số nợ (D/E), từ đó doanh nghiệp ra

= ROS x Số vòng quay tài sản X Tài sản

Vốn chủ sở hữu

Trang 36

- Khi r > i’ : ROE được khuếch đại bởi hệ số nợ, doanh nghiệp có xu hướng tăng mức vay nợ để tăng ROE

- Khi r = i’ : ROE không phụ thuộc vào hệ số nợ

- Khi r < i’ : ROE bị thu nhỏ bởi hệ số nợ, doanh nghiệp có xu hướng giảm mức vay nợ để giảm thiệt hại ROE

Như vậy đòn bảy nợ càng cao thì rủi ro tài chính càng lớn Tuy nhiên đòn

bảy nợ cao cũng mang lại lợi ích như tỷ lệ sinh lời kỳ vọng của vốn chủ sở hữu tăng lên nhanh chóng Chính vì thế doanh nghiệp cần phải lựa chọn một mức độ

sử dụng hợp lý để đem lại hiệu quả cao nhất

1.4 Rủi ro

Rủi ro là sự không chắc chắn của kết quả thu được, nó được đo lường bằng mức độ tổn thất do không lường trước các tình huống xấu đã xảy ra Rủi ro

là yếu tố tiềm ẩn trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận tối đa của doanh nghiệp Rủi

ro được phân thành 2 loại chính: Rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính

1.4.1 Rủi ro kinh doanh

Rủi ro kinh doanh là loại rủi ro do tác động đến hoạt động của doanh nghiệp nhưng hầu như không gây tác động lớn đến thị trường tài chính.Rủi ro kinh doanh có thể được phân thành rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản

Rủi ro tín dụng thường liên quan đến các khoản vay khi bên đi vay mất đi khả năng thanh toán khoản vay do các nguyên nhân khách quan, như biến động

có tác động tiêu cực của nền kinh tế hoặc do sai lầm bởi chính doanh nghiệp trong hoạch định chiến lược phát triển

Rủi ro thanh khoản phụ thuộc vào khoảng thời gian cần thiết chuyển hoá thành tiền của tài sản có liên quan, được xem xét trong mối quan hệ về tính cấp thiết của nhu cầu vốn cả về thời gian và số lượng Khoảng thời gian cần thiết

Trang 37

chuyển hoá thành tiền của tài sản phụ thuộc vào giá trị chào bán, bản chất tài sản cần bán và độ linh hoạt của thị trường trong việc tạo ra cơ hội mua bán

Rủi ro kinh doanh thường gắn với các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm những điều kiện không chắc chắn xung quanh các khoản thu nhập và chi phí hoạt động Những doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành thường có mức rủi ro kinh doanh tương đương nhau Vì vậy, ban lãnh đạo doanh nghiệp giữ một vai trò kiểm soát quan trọng đối với mức độ kinh doanh thông qua sự lựa chọn những dự án đầu tư công nghệ và các chiến lược đầu tư cụ thể

1.4.2 Rủi ro tài chính

Rủi ro tài chính là loại rủi ro có ảnh hưởng đến thị trường tài chính và thường thể hiện ở sự biến động lãi suất trên thị trường do quan hệ cung cầu vốn đầu tư bị thay đổi Sự biến động của lãi suất trên thị trường lại tác động đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Rủi ro tài chính có thể phân nhóm như sau:

Rủi ro chính sách: là rủi ro do thay đổi chính sách điều tiết vĩ mô của nhà nước dẫn tới những thay đổi môi trường kinh doanh tác động doanh nghiệp

Rủi ro lạm phát xảy ra khi mức lạm phát thực tế chênh lệch đáng kể so với mức dự kiến, làm thay đổi sức mua đồng tiền trong nước, tác động đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp

Rủi ro lãi suất tác động đến lãi suất trung bình của thị trường tài chính, làm ảnh hưởng đến hoạt động đi vay của doanh nghiệp

Rủi ro tỷ giá có thể là hệ quả của rủi ro chính sách và rủi ro lạm phát nhưng cũng có thể do những thay đổi đột biến trong quan hệ thương mại với các quốc gia có liên quan, thể hiện sự biến động thâm hụt cán cân thương mại vượt trội so với dự kiến

Trang 38

Rủi ro tài chính xuất phát từ sử dụng nợ vay và nợ vay tạo ra một khoản chi tiêu nhất định đó là chi phí lãi vay Nói chung các doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay sẽ có rủi ro tài chính cao hơn các doanh nghiệp sử dụng nợ vay ít

Để hạn chế ảnh hưởng của rủi ro, doanh nghiệp phải xác định hướng các loại rủi ro tác động tới mình và có giải pháp phòng ngừa trước

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Mục đích của phân tích báo cáo tài chính giúp ta đánh giá được tình hình tài chính của doanh nghiệp Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập theo định kỳ, phản ánh một cách tổng hợp và toàn diện về tình hình tài sản, nguồn vốn, công nợ, kết quả kinh doanh…bằng các chỉ tiêu giá trị, nhằm mục đích thông tin về kết quả hoạt động và tình hình tài chính của doanh nghiệp cho các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước, công chúng , tuỳ theo mối quan hệ nhất định mỗi cá nhân hay tổ chức có được các thông tin thích hợp trong mối quan hệ với doanh nghiệp

Để phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp, ta sử dụng các công cụ tài chính và các chỉ số đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp Doanh nghiệp phải phân tích đánh giá tình hình tài chính thông qua các chỉ tiêu tài chính một cách thường xuyên, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp đồng thời đạt được các mục tiêu đề ra

Trang 39

CHƯƠNG 2

NHIỆT ĐIỆN PHẢ LẠI

2.1.1.Giới thiệu chung về công ty

Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại tiền thân là nhà máy điện Phả Lại được khởi công xây dựng ngày 17-5-1980 và hoàn thành năm 1986, có công suất thiết kế 440MW gồm 4 tổ Tuốc bin-máy phát và 8 lò hơi theo khối 2 lò-1 máy, mỗi tổ máy có công suất 110MW Nhà máy điện Phả Lại 2 (mở rộng) được khởi công xây dựng ngày 8-6-1998 trên mặt bằng còn lại phía Đông Nhà máy, có công suất thiết kế 600MW gồm 2 tổ hợp lò hơi-tuốc bin-máy phát, công suất mỗi tổ máy 300MW, gọi là tổ máy số 5 và tổ máy số 6 Tổ máy số 5 được bàn giao ngày 28/12/2002 và tổ máy số 6 được bàn giao ngày 14/3/2003 Kể từ đó, Nhà máy nhiệt điện Phả Lại có tổng công suất là 1040

MW, là nhà máy nhiệt điện chạy than lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á Ngày 30 tháng 3 năm 2005 Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại chuyển thành Công

ty Nhiệt điện Phả Lại Ngày 26/1/2006 chuyển thành Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại nằm trên địa bàn phường Phả Lại, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, vị trí địa lý này đã mang lại nhiều thuận lợi cho công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh Nằm gần mỏ than Vàng Danh và Mạo Khê nên Công ty có điều kiện nhập nguyên liệu chi phí vận chuyển thấp

Ngoài ra, dây chuyền 1 trong những năm gần đây thường xuyên được EVN đầu tư kinh phí để sửa chữa, cải tạo, nâng cấp thiết bị, nên dù đã vận hành khai thác 24 năm, nhưng các tổ máy vẫn phát điện ổn định và kinh tế ở mức 80-85% công suất thiết kế, trong khi máy móc thiết bị đã khấu hao gần hết, nên chi phí sản xuất giảm Dây chuyền 2 mới được đầu tư mới với công

Trang 40

nghệ hiện đại, tự động hoá cao, thiết bị chủ yếu được chế tạo từ các nước G7, hứa hẹn khả năng hoạt động ổn định và hiệu quả cao trong dài hạn

Công ty dự tính lợi nhuận sau thuế hàng năm sẽ đạt từ 300 đến 500 tỷ đồng, với mức cổ tức dự kiến trả cho cổ đông ổn định là 12%/năm Năm

2009, lợi nhuận sau thuế đã đạt trên 892 tỷ đồng, cổ tức trả cho cổ đông đạt 12%/năm Công ty đã và đang góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá, phục vụ công cuộc xây dựng kinh tế của đất nước

2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ

Công ty cổ phần nhiệt điện Phả Lại là công ty trực thuộc tập đoàn điện lực Việt Nam và được cấp phép hoạt động trên các lĩnh vực sau:

- Hoạt động sản xuất, kinh doanh điện năng

- Thí nghiệm, hiệu chỉnh các thiết bị điện

- Lập dự án đầu tư xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng

- Tư vấn giám sát thi công xây lắp các công trình điện

- Mua bán xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị

- Sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng

- Sản xuất, chế tạo các thiết bị, vật tư phụ tùng cơ - nhiệt điện

- Đầu tư các công trình nguồn và lưới điện

- Quản lý, vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa, các công trình nhiệt điện, công trình kiến trúc của nhà máy điện

- Bồi dưỡng cán bộ công nhân viên về quản lý thiết bị vận hành, bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị nhà máy điện

- Đầu tư tài chính và môi giới chứng khoán

- Kinh doanh bất động sản

2.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy của công ty

Ngày đăng: 20/01/2021, 11:34

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm