1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề xuất một số giải pháp cải thiện công tác quản lý kinh doanh điện năng trong tập đoàn điện lực việt nam (evn)

68 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tính cấp thiết của đề tài Trong quá trình hoạt động từ khi thành lập đến nay, Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN đã cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhà nước giao, tập trung đầu tư xây dựn

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan:

Những nội dung trong luận văn này là do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS Phạm Thị Kim Ngọc Mọi tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn nguồn gốc rõ ràng Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào

Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2014

Người thực hiện

Trần Xuân Hoàng

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện Luận văn này, tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Quý Thầy Cô, bạn bè và tập thể cán bộ công nhân viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng như các đơn vị thành viên

Xin trân trọng cảm ơn TS Phạm Thị Kim Ngọc, người hướng dẫn khoa học của Luận văn, đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ tôi về mọi mặt để hoàn thành Luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy Cô Viện Kinh tế và Quản lý, Viện Sau đại học Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn

Xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy Cô trong Hội Đồng Chấm Luận Văn đã có những góp ý về những thiếu sót của Luận văn này, giúp Luận văn càng hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn các vị Lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên Tập đoàn Điện lực Việt Nam và các đơn vị thành viên đã cung cấp thông tin, tài liệu và hợp tác trong quá trình thực hiện Luận văn

Để có được kiến thức như ngày hôm nay, cho phép tôi gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội trong thời gian qua đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu

Và sau cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã quan tâm, giúp đỡ, động viên trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Xin trân trọng cảm ơn

Hà Nội, ngày 29 tháng 9 năm 2014

Tác giả

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ KINH DOANH ĐIỆN 3

1.1 Các khái niệm chung về quản lý 3

1.1.1 Khái niệm về quản lý 3

1.1.2 Các chức năng quản lý 4

1.1.3 Khái niệm về kinh doanh (sản phẩm) điện năng 5

1.1.4 Khái niệm về quản lý kinh doanh điện năng 6

1.2 Vai trò của quản lý kinh doanh điện năng 7

1.2.1 Điện năng đối với quá trình phát triển các ngành sản xuất vật chất 7

1.2.1.1 Vai trò của năng lượng trong nền kinh tế quốc dân 7

1.2.1.2 Vai trò của điện năng trong hệ thống các ngành năng lượng , đặc biệt là tiềm năng điện lực Việt Nam 8

1.2.1.3 Sự ảnh hưởng của điện năng tới quá trình phát triển các ngành sản xuất vật chất: 9

1.2.2 Điện lực đối với quá trình phát triển văn hoá giáo dục trong phạm vi toàn quốc 10

1.2.2.1 Nhu cầu điện năng trong đời sống sinh hoạt xã hội ngày càng gia tăng 10

1.2.2.2 Sử dụng điện năng trong các hoạt động dịch vụ công cộng làm tăng thêm nét đẹp cho đời sống của toàn xã hội 11

1.2.2.3 Nhu cầu điện năng trong các hoạt động văn hoá văn nghệ là không thể thay thế 12

1.3 Nội dung của công tác quản lý kinh doanh điện năng 12

1.3.1 Đặc điểm quản lý kinh doanh điện năng 12

1.3.2 Các nội dung quản lý kinh doanh điện năng 13

1.3.2.1 Lập kế hoạch: 13

1.3.2.2 Tổ chức thực hiện: 13

1.3.2.3 Điều phối thực hiện (lãnh đạo) 14

1.3.2.4 Kiểm tra giám sát: 14

1.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý kinh doanh điện năng: 14

Trang 4

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý kinh doanh điện năng 15

1.5.1 Các yếu tố bên trong: 15

1.5.2 Các yếu tố bên ngoài: 15

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KINH DOANH ĐIỆN NĂNG TRONG TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM 16

2.1 Giới thiệu tổng quan về EVN 16

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 16

2.1.1.1 Ngành Điện Việt Nam giai đoạn 1975 – 1994 16

2.1.1.2 Ngành Điện Việt Nam giai đoạn 1995 – nay 19

2.1.2 Nhiệm vụ, chức năng của EVN: 26

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của EVN: 27

2.1.4 Kết quả kinh doanh của EVN trong những năm qua: 31

2.2 Phân tích công tác quản lý kinh doanh điện năng của EVN: 44

2.2.1 Lập kế hoạch 44

2.2.1.1 Kế hoạch cung ứng điện 5 năm giai đoạn 2012 - 2015 44

2.2.1.2.Kế hoạch đầu tư phát triển nguồn điện giai đoạn 2012 - 2015 45

2.2.1.3 Kế hoạch đầu tư phát triển lưới điện giai đoạn 2012 - 2015 45

2.2.1.4 Kế hoạch chỉ tiêu tài chính, kinh doanh giai đoạn 2011 - 2015 46

2.2.2 Tổ chức thực hiện 47

2.2.3 Điều phối thực hiện 48

2.2.4 Kiểm tra giám sát 49

2.3 Đánh giá kết quả của công tác quản lý kinh doanh điện năng 49

2.4 Phân tích các yêu tố ảnh hưởng 51

2.4.1 Các yếu tố bên trong 51

2.4.2 Các yếu tố bên ngoài 53

2.5 Nhận xét chung: 54

Tóm tắt Chương 2: 54

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN CẢI THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ KINH DOANH ĐIỆN NĂNG TRONG TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM 55

3.1 Phương hướng, kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm 2011 – 2015 có tính đến 2020 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam 55

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 55

3.1.2 Nhiệm vụ chính 55

Trang 5

3.2.1 Giải pháp trong sản xuất và cung ứng điện 56

3.2.2 Giải pháp về quản lý, tổ chức 56

3.2.3 Giải pháp về đảm bảo tài chính 57

3.2.4 Giải pháp cho đầu tư xây dựng 58

3.2.5 Ứng dụng công nghệ mới để giảm chi phí, nâng cao năng suất lao động: 59

3.2.6 Giải pháp tiết kiệm điện và sử dụng điện hiệu quả: 59

KẾT LUẬN 61

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 62

Trang 6

DANH MỤC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

Bảng 2.1: tốc độ tăng trưởng điện sản xuất và mua, điện năng thương phẩm bình

quân giai đoạn 2011-2015 44

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và điều hành EVN 30

Hình 2.2 Biểu đồ tỷ lệ tổn thất điện năng 2006-2010 32

Hình 2.3 Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm 2006-2010 32

Hình 2.4 Tốc độ tăng trưởng khách hàng 2006-2010 33

Hình 2.5 Biểu đồ tỷ lệ điện khí hóa nông thôn 2006-2010 33

Hình 2.6 Kết quả hoạt động kinh doanh 2009-2010 34

Hình 2.7 Đồ thị tăng trưởng điện thương phẩm 2007-2012 35

Hình 2.8 Đồ thị tăng trưởng khách hàng 2007-2012 36

Hình 2.9 Biểu đồ tỷ lệ tổn thất điện năng 2007-2012 36

Hình 2.10 Kết quả hoạt động kinh doanh 2010-2011 37

Hình 2.11 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng sản lượng điện thương phẩmtừ 2007 -2013

38

Hình 2.12 Đồ thị sản lượng điện thương phẩm 2013 39

Hình 2.13 Biểu đồ tỷ lệ tổn thất điện năng 2007- 2013 40

Hình 2.14 Biểu đồ tỷ lệ điện khí hóa nông thôn 2007-2013 41

Hình 2.15 Đồ thị tốc độ tăng trưởng khách hàng 2007-2013 42

Hình 2.16 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 43

hợp nhất 2012- 2013 43

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình hoạt động từ khi thành lập đến nay, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ mà nhà nước giao, tập trung đầu tư xây dựng phát triển hệ thống nguồn cung ứng điện, truyền tải điện, phân phối điện

và tiêu thụ điện góp phần đáp ứng cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước với tốc độ tăng trưởng cao Tuy nhiên, mô hình tổ chức quản lý kinh doanh điện năng chưa được hoàn thiện, nhất là trong giai đoạn ngành điện đang dần từng bước hoạt động theo cơ chế thị trường, hiệu quả hoạt động còn chưa cao, công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành chưa khoa học

Để đáp ứng với nhu cầu cung ứng điện ngày càng lớn, yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao, thể chế thị trường trong ngành điện từng bước được hoàn thiện, EVN cần nghiên cứu, rà soát việc sắp xếp đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động

và tổ chức thực hiện các bước hoàn thiện cơ cấu có lộ trình, từng bước và vững chắc Do vậy, việc nghiên cứu giải pháp cải thiện công tác kinh doanh điện năng

là cần thiết và phù hợp với trình độ phát triển của ngành điện hiện nay, phù hợp với các bước đi trong Chiến lược phát triển của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

2 Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn này nhằm đề xuất các giải pháp, đề xuất các bước cụ thể để thực hiện cải thiện công tác quản lý kinh doanh điện năng trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam để đạt được các mục tiêu dài hạn theo lộ trình, cụ thể:

- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản của việc tổ chức, quản lý kinh doanh điện năng đối với ngành điện

- Nghiên cứu, phân tích thực trạng tổ chức, quản lý kinh doanh của Tập đoàn Điện lực Việt Nam từ năm 2010 đến 2013 và có xét đến 2015

- Từ đó, đưa ra các giải pháp hợp lý để cải thiện tổ chức, quản lý kinh doanh điện năng trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Trang 8

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: Luận văn nghiên cứu mô hình tổ chức

kinh doanh điện năng và cơ chế quản lý kinh doanh điện năng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu mô hình tổ chức, cơ chế quản lý

kinh doanh điện năng đến năm 2013 dựa trên Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu

tư phát triển 5 năm 2011 - 2015 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam có tính đến đến năm 2020

4 Phương pháp nghiên cứu

Nhằm nghiên cứu các vấn đề cho kết quả một cách chính xác và hiệu quả khi

áp dụng vào thực tế, tác giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

- Tổng hợp, phân tích: quá trình phát triển ngành điện là lâu dài qua nhiều giai

đoạn phát triển, thay đổi về cơ chế chính sách của đất nước Do vậy, Luận văn thực hiện tổng hợp các dữ kiện về hiện trạng, các kết quả đạt được, các khó khăn và tồn tại ảnh hưởng đến quá trình quản lý kinh doanh điện năng để có những kết luận, kiến nghị và đề xuất cho phù hợp với giai đoạn hiện nay

5 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, bảng biểu, các hình vẽ minh họa và các tài liệu tham khảo, Luận văn chia làm 03 chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận về công tác quản lý kinh doanh điện

Chương 2 Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý kinh doanh điện năng trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Chương 3 Đề xuất những giải pháp cơ bản cải thiện công tác quản lý kinh doanh trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Trang 9

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

KINH DOANH ĐIỆN 1.1 Các khái niệm chung về quản lý

1.1.1 Khái niệm về quản lý

Trên thực tế có nhiều cách tiếp cận khái niệm khác nhau về “quản lý” Thông thường, quản lý đồng nhất với các hoạt động tổ chức chỉ huy, điều khiển, động viên, kiểm tra, điều chỉnh… theo lý thuyết hệ thống: “quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới

và điều khiển hệ thống” (Giáo trình Khoa học quản lý- Tập 2; Tác giả: Đỗ Hoàng Toàn, Mai Văn Bưu, Nhà xuất bản: NXB Khoa học và kỹ thuật)

Trên cơ sở đó, chúng ta có thể hiểu quản lý kinh tế là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý trong quá trình tiến hành các hoạt động kinh tế nhằm đạt tới mục tiêu kinh tế – xã hội đã đặt ra Như vậy nội hàm khái niệm quản lý được hiểu như sau:

- Quản lý là sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Trong đó chủ thể quản lý là những tổ chức và cá nhân, những nhà quản lý cấp trên Còn đối tượng quản lý hay còn gọi là khách thể quản lý là những tổ chức, cá nhân, nhà quản

lý cấp dưới, cũng như các tập thể, cá nhân người lao động Sự tác động trong mối quan hệ quản lý mang tính hai chiều và được thực hiện thông qua các hoạt động tổ chức, lãnh đạo, lập kế hoạch, kiểm tra điều chỉnh…

- Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý cấu thành hệ thống quản lý Một nền kinh tế hay một doanh nghiệp đều xem như một hệ thống với hai phân hệ chủ yếu: chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Trong nhiều trường hợp mỗi phân hệ có thể được coi như một hệ thống phức tạp

Trang 10

- Quản lý là quá trình lựa chọn và thiết kế hệ thống chức năng, nguyên tắc, phương pháp, cơ chế, công cụ, cơ cấu tổ chức quản lý kinh tế, đồng thời xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và bảo đảm nguồn lực thông tin, vật chất cho các quyết định quản lý được thực thi

- Mục tiêu của quản lý là huy động tối đa các nguồn lực, mà trước hết là nguồn lực lao động và sử dụng hiệu quả để phát triển kinh tế phục vụ lợi ích con người

1.1.2 Các chức năng quản lý

Nội dung của quản lý kinh tế:

Hiện nay, các chức năng quản lý thường được xem xét theo hai cách tiếp cận Nếu xét theo quá trình quản lý thì nội dung quản lý có thể hiểu là: lập kế hoạch,

tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra

Nếu theo lĩnh vực hoạt động của tổ chức thì những lĩnh vực của quản lý gắn liền với các hoạt động sau đây:

- Quản lý các dịch vụ hỗ trợ cho tổ chức: thông tin, pháp lý, đối ngoại…

Đó chỉ là những nội dung cơ bản theo hoạt động của tổ chức Tuỳ vào lĩnh vực, quy mô và địa bàn hoạt đông, trong các tổ chức có thể còn tồn tại những chức năng khác nữa

Trang 11

1.1.3 Khái niệm về kinh doanh (sản phẩm) điện năng

Sản phẩm điện năng của ngành điện là hàng hoá đặc biệt, là loại hàng hoá không có hình thái vật chất cụ thể, không thể tách rời quá trình sản xuất với quá trình tiêu dùng Do tính chất sản phẩm quy định, sản phẩm điện năng từ sản xuất đến tiêu dùng gần như xảy ra đồng thời, không dự trữ Vì vậy, không đem điện năng lúc thừa bù với khi thiếu hụt và việc hỏng hóc xảy ra ở một nơi nào đó trong hệ thống điện cũng có thể gây nên mất điện một phần hay toàn bộ hệ thống, gây thiệt hại cho ngành điện và các hộ dùng điện

Điện năng không có hình thái vật chất cụ thể, nên quá trình mua - bán điện được xác định sản lượng điện (kWh) qua công tơ điện Nội dung này được quy định

và quản lý theo Pháp lệnh đo lường và Luật Điện lực

Quá trình sản xuất và tiêu dùng xảy ra đồng thời, cho phép ngành điện không cần kho dự trữ Tuy nhiên, việc sử dụng điện thay đổi có độ chênh lệch rất lớn giữa cao điểm và thấp điểm, giữa các mùa đã gây ra khó khăn rất lớn trong điều hành hệ thống, đặc biệt là lúc thiếu nguồn cung cấp Do đó, trong quản lý ngành điện đòi hỏi tính thống nhất và đồng bộ rất cao

Ngoài ra, sản phẩm điện năng có tính xã hội hoá rất cao, có tính định hướng cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội

Do sản phẩm điện là sản phẩm trung gian, là yếu tố đầu vào và đối tượng phục vụ rất rộng của các ngành, các vùng khu vực nên có tính xã hội hoá cao và còn phải xác định kinh doanh gắn với phục vụ nữa Do sản phẩm điện là yếu tố đầu vào, cần phải có đủ, kịp thời cho sản xuất tiêu dùng nên nó cần phải đi trước; và ngược lại

sự tăng trưởng kinh tế - xã hội sẽ thúc đẩy sự tăng trưởng điện năng

Sản phẩm điện năng tuy kinh doanh trong cơ chế thị trường nhưng hiện nay vẫn còn độc quyền về mặt Nhà nước và cung vẫn chưa đáp ứng cầu Do đó, biện pháp để chống những biểu hiện độc quyền và thường xuyên phải tuyên truyền sử dụng điện tiết kiệm, hợp lý là những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước và ngành điện

Trang 12

Sản phẩm ngành điện không thực hiện cơ chế “kích cầu” tiêu dùng sản phẩm, thiếu quảng bá, thiếu cạnh tranh làm cho hoạt động kinh doanh điện năng kém linh hoạt và trong một thời gian dài nữa vẫn sẽ còn áp dụng phương thức kinh doanh đi đôi với dịch vụ công cộng và phúc lợi xã hội Không có đối thủ cạnh tranh, không có đầu cơ, tích trữ nên giá cả ổn định và theo quy định thống nhất của Nhà nước (trong từng giai đoạn)

Sản phẩm điện là sản phẩm vô hình, vận chuyển trên hệ thống lưới và thiết bị phân phối định sẵn, không thể cải tiến mẫu mã sản phẩm mà chỉ cải tiến phong cách phục vụ khách hàng và nâng cao chất lượng dịch vụ

Vì điện năng là một dạng năng lượng quan trọng, tạo ra động lực cho tất

cả các thành phần kinh tế nên cần phải đảm bảo an toàn nghiêm ngặt trong tất cả các khâu công việc, từ sản xuất - truyền tải - đến phân phối Và khi có vi phạm

an toàn về điện, thì sẽ không còn có cơ hội để sửa chữa hoặc rút kinh nghiệm

Như vậy, sản phẩm điện năng là một loại hàng hoá đặc thù, là động lực thúc đẩy phát triển sản xuất và đời sống xã hội, nhất là trong điều kiện hiện nay Nhà nước ta đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Điện không thể tích trữ được trong kho như các loại hàng hoá khác, đặc thù này dẫn đến những đặc điểm riêng của hoạt động sản xuất kinh doanh điện Sản xuất và tiêu thụ điện năng xảy ra đồng thời, có sự ràng buộc chặt chẽ với nhau Quá trình giao dịch mua bán điện trên thị trường điện lực rất phức tạp, nó không chỉ có mối quan hệ với lĩnh vực thương mại, tài chính mà còn có mối quan hệ trực tiếp với quá trình sản xuất, tiêu thụ, công nghệ, thông tin liên lạc, xã hội và an ninh quốc phòng nữa

1.1.4 Khái niệm về quản lý kinh doanh điện năng

Trước hết ta phải nhắc đến khái niệm về Quản lý kinh doanh, đó là sự tác động của chủ thể quản lý một cách liên tục, có tổ chức tới đối tượng quản lý là tập thể những người lao động trong doanh nghiệp, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực

và cơ hội để tiến hành hoạt động kinh doanh đạt tới mục tiêu của doanh nghiệp theo

Trang 13

với hiệu quả tối ưu Như vậy quản lý kinh doanh điện năng chính là công tác thực hiện những nội dung trong khái niệm về quản lý kinh doanh đối với sản phẩm là điện năng

Đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam, công tác quản lý kinh doanh điện năng chính là công tác thực hiện kiểm soát lượng điện năng mua bán sao cho có hiệu quả

cao nhất theo đúng pháp luật và thông lệ

1.2 Vai trò của quản lý kinh doanh điện năng

Kinh doanh điện năng là ngành kinh doanh cung cấp năng lượng điện nhằm phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng; là một trong những yếu tố đầu vào của sản xuất, dịch vụ và tiêu dùng của xã hội

Kinh doanh điện năng là loại hình kinh doanh đặc thù, vì tác động rất lớn đến nền kinh tế quốc dân cho nên bị quản lý rất chặt chẻ bởi tiêu chuẩn sản phẩm điện năng, khung giá bán điện thống nhất và tổ chức hoạt động Ngoài ra, tính chất hoạt động kinh doanh còn mang nặng tính xã hội hay mang yếu tố phục vụ - là một yếu tố khác biệt so với các ngành kinh doanh thông thường khác

Do đó công tác quản lý kinh doanh điện năng có tính hệ thống, có sự thống nhất rất cao và cơ bản giống nhau trên toàn lãnh thổ Việt Nam

1.2.1 Điện năng đối với quá trình phát triển các ngành sản xuất vật chất

1.2.1.1 Vai trò của năng lượng trong nền kinh tế quốc dân

Trong nền kinh tế quốc dân năng lượng là một trong những yếu tố tối quan trọng để thúc đẩy sự tăng trưởng của quá trình kinh tế xã hội Xét về mọi mặt, cả về tiêu dùng cũng như trong sản xuất , năng lượng là một yếu tố khong thể thiếu trong quá trình sản xuất cũng như các lĩnh vực xã hội khác Mặt khác hầu hết các khả năng không thể tái sinh nên nó chịu tác động rất mạnh xủa quy luật khan hiếm các nguồn lực Ngày nay, khi sự khan hiếm các nguồn lực trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu thì việc sử dụng và khai thác có hiệu quả các nguồn năng lượng đã trở thành một yếu tố hàng đầu của sự phát triển

Trang 14

Nước ta là một trong số các nước trên thế giới có những tiềm năng dồi dào về năng lượng Ta có thể kể đến như: than đá, than bùn, thuỷ năng, dầu khí, năng lượng thuỷ triều, năng lượng mặt trời, gió Sử dụng và khai thác có hiệu quả nguồn năng lượng đó không những có tác dụng phục vụ sản xuất và tiêu dùng trong nước mà còn là nguồn lực quan trọng để xuất khẩu năng lượng sau này Trong giai đoạn hiện nay, để đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hơn bao giờ hết ngành năng lượng nói chung và ngành điện nói riêng phải có những bước phát triển vượt bậc trong cung ứng, phục vụ cũng như trong hoạt động kinh doanh , góp phần đưa nền kinh tế nước nhà phát triển kịp thời đại

1.2.1.2 Vai trò của điện năng trong hệ thống các ngành năng lượng , đặc biệt là tiềm năng điện lực Việt Nam

Trong các nguồn năng lượng thì điện năng đóng một vai trò quan trọng, nó ảnh hưởng tới toàn bộ nền kinh tế quốc dân, nhất là đối với các nước đang tiến hành công nhiệp hoá Bởi vì , công nhiệp hoá chỉ có thể thực hiện được dựa trên điện khí hoá Loại “ nhiên liệu” này cung cấp cho đa số nhu cầu sản xuất cũng như trong tiêu dùng, ở nước ta điện năng lại có vai trò vô cùng quan trọng vì những lí do sau đây: Thứ nhất, do trình độ phát triển kinh tế của ta còn thấp nên khả năng khai thác các nguồn năng lượng khác như: năng lượng mặt trời , năng lưọng gió, năng lượng hạt nhân là một điều mà còn rất xa ta mới có thể đạt tới được, trong khi nền kinh tế đang phát triển ở nước ta lại có những đòi hỏi rất lớn về năng lượng

Thứ hai, trong các nguồn năng lượng được khai thác như dầu khí, than đá đang cạn dần và chất lượng có phần hạn chế thì điện năng với hai nguồn cung cấp chủ yếu là nhiệt điện và thuỷ điện , đặc biệt là thuỷ điện lại là một nguồn lực rất phong phú, mới được khai thác, sử dụng rất ít so với tiềm năng thực có Trong khi

đó, nhờ sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật hiện nay năng lượng điện qua các giải pháp

kĩ thuật đã có thể tích luỹ được năng lượng dư thừa bằng cách tích điện vào ắc quy, hay chuyển từ điện năng thành thế năng thông qua việc sử dụng năng lượng dư thừa

Trang 15

giờ thấp điểm, bơm nước vào các hồ chứa nước trên cao để xả lại các tuốc bin giờ cao điểm

Thứ ba, và cũng là điều mà các nhà kinh tế thường quan tâm, đó là giá thành Điện năng và đặc biệt là thuỷ điện có giá thành mà ít loại năng lượng phổ biến hiện nay có thể cạnh tranh được Kể cả trong đầu tư ban đầu cũng như đầu tư trong khai thác đều tiết kiệm hơn các loại năng lượng khác Bên cạnh đó, khai thác nguồn năng lượng thuỷ điện lại có tác dụng điều tiết và cải tạo khí hậu môi trường

Vì những căn cứ trên, ta có thể nói rằng điện năng là nguồn năng lượng chủ yếu, tối quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội ở nước ta

1.2.1.3 Sự ảnh hưởng của điện năng tới quá trình phát triển các ngành sản xuất vật chất:

Sự ảnh hưởng của điện năng tới quá trình phát tiển các ngành sản xuất vật chất

là vô cùng to lớn, đối với nhiều ngành nó có ý nghĩa sống còn trong sản xuất và kinh doanh bởi lẽ sau

Thứ nhất, như trên đã nêu điện năng là một dạng năng lượng phổ biến và rẻ tiền hiện nay Chính vì vậy, trong sản xuất cũng như trong tiêu dùng tỉ trọng sử dụng năng lượng điện thường chiếm đa số

Thứ hai, ở nước ta hiện nay cũng như nhiều nước trên thế giới việc sử dụng năng lượng điện đă ăn sâu vào tiềm bao thế hệ, đến mức ta có thể dễ dàng nhận thấy hầu hết các thiết bị sản xuất, các thiết bị truyền tải đều trực tiếp hay gián tiếp sử dụng năng lượng điện trong hệ thống động lực hay truyền tải

Thứ ba, điện năng là một nguồn năng lượng được sử dụng như một nhân tố sản xuất không thể thiếu được của rất nhiều ngành sản xuất vật chất

Cùng với nguyên liệu, điện năng với tư cách là nguyên liệu chính là một trong những yếu tố để sản xuất ra sản phẩm, ngoài ra ở một số ngành công nghiệp điện năng còn là chất xúc tác, là điều kiện để cho các công nghệ được thực hiện

Trang 16

Đặc biệt là đối với nước ta hiện nay, giá điện lại có ảnh hưởng rất lớn đến giá thành của các ngành sản xuất – dịch vụ Gía điện tăng sẽ đẩy chi phí của các ngành này lên và sản phẩm công nghiệp Việt Nam khó cạch tranh với hàng nhập khẩu Nguyên nhân chính là do thiết bị của các ngành công nghiệp Việt Nam đều đã cũ, tiêu hao nhiều năng lượng, khiến chi phí điện năng tính vào giá thành sản phẩm của Việt Nam tăng cao hơn so với các đối thủ cạnh tranh mặc dù giá điện Việt Nam rẻ hơn Vì vậy, đối với nhiều ngành sản xuất như công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ thì chỉ cần một thay đổi nhỏ trong cung ứng điện hay giá bán điện cũng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của họ như dệt may, luyện kim, thông tin liên lạc Do đó mọi chủ trương về phát triển cơ cấu hạ tầng ngành điện cũng như thay đổi về giá bán điện trên tầm vĩ mô của Nhà nước cần phải được cân nhắc cẩn thận để tránh dẫn tình trạng mất ổn định trong phát triển kinh tế Xác định được vai trò quan trọng của điện năng nên trong văn kiện đại hội đảng lần thứ VIII đã nêu:

“Phát triển nguồn điện, cải tạo và mở rộng lưới điện đáp ứng nhu cầu cung cấp điện

ổn định” ( Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII- NXB chính trị quốc gia, trang 98)

1.2.2 Điện lực đối với quá trình phát triển văn hoá giáo dục trong phạm vi toàn quốc

1.2.2.1 Nhu cầu điện năng trong đời sống sinh hoạt xã hội ngày càng gia tăng

Trong đời sống sinh hoạt xã hội hiện nay, không chỉ riêng nước ta mà trên toàn thế giới điện năng cũng là loại năng lượng phổ biến nhất được sử dụng trong đời sống sinh hoạt Ngày nay, việc điện khí hoá toàn quốc cũng là một vấn đề mà hầu hết các quốc gia quan tâm, và trên một khía cạnh nào đó nó còn là thước đo trình độ phát triển kinh tế, trình độ văn minh mà quốc gia đó đạt được

Ở nước ta nhu cầu về điện năng đang phát triển với một tốc độ nhanh chóng Trong sinh hoạt, cùng với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, việc mức sống dân cư ngày càng được nâng cao, quá trình đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ dẫn đến nhu cầu

Trang 17

cầu chiếu sáng sinh hoạt và một số nhu cầu thiết yếu của đời sống, thì ngày nay điện năng đã trở thành nguồn năng lượng không thể thiếu trong việc phục vụ mức sống tinh thần của người dân

Ngày nay nhiều vùng nông thôn và vùng núi đã có điện sử dụng và nhu cầu điện năng ngày càng trở nên không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt và trong đời sống xã hội của các vùng dân cư đó

1.2.2.2 Sử dụng điện năng trong các hoạt động dịch vụ công cộng làm tăng thêm nét đẹp cho đời sống của toàn xã hội

Điện năng không những chỉ phục vụ cho mục đích cá nhân mà còn là một nhu cầu thiết yếu trong lĩnh vực phát triển các dịch vụ công cộng nhằm không ngừng nâng cao đời sống tinh thần cho toàn xã hội Trong đời sống xã hội hiện đại thì mức

độ phân phối các dịch vụ công cộng tới từng thành viên trong xã hội cũng là một thước đo để đánh giá sự phát triển

Ngày nay đi trên đường phố chúng ta có thể nhận thấy vai trò quan trọng của việc sử dụng điện năng cho các hoạt động công cộng: Những hàng đèn cao áp, những đài phun nước ( Đặc biệt trong các ngày lễ hội) được trang hoàng đủ mầu sắc làm sinh động thêm các nơi vui chơi giải trí, là một nét đẹp tinh thần và là một nguồn động viên giúp mọi người tin tưởng về một cuộc sống tươi đẹp ở phía truớc Ngoài việc sử dụng điện năng vào các công việc giải trí, làm đẹp thêm thành phố thì rất nhiều hoạt động dịch vụ công cộng khác cần sử dụng điện năng đặc biệt

là trong giao thông hiện đại, các phương tiện vận chuyển hành khách dùng năng lượng điện là rất phổ biến Tuy nhiên ở Việt Nam bộ phận này còn nhiều hạn chế Tóm lại, việc sử dụng năng lượng điện trong các hoạt động công cộng vừa rẻ tiền lại vừa đảm bảo yêu cầu mĩ quan và giữ cho môi trường luôn luôn trong sạch

Trang 18

1.2.2.3 Nhu cầu điện năng trong các hoạt động văn hoá văn nghệ là không thể thay thế

Cuối cùng ta không thể không nói đến nhu cầu điện năng sử dụng trong các hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động văn hoá nghệ thuật là không gì có thể thay thế được Không thể hình dung được một xã hội hiện đại mà không có các rạp chiếu phim, nhà hát, sân khấu và các hoạt động trên lại không thể thiếu nhu cầu về điện năng Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, công nghệ và trang thiết bị cho việc sáng tạo ra các sản phẩm trí tuệ cho các ngành văn hoá nghệ thuật, ngày nay việc dùng năng lượng điện để phục vụ cho các hoạt động này là một nhu cầu quen thuộc

và tất yếu Ngay kể cả khi cuộc biểu diễn, sân khấu ngoài trời cũng phải có điện để phục vụ Khi đời sống ngày một nâng cao, khi nhu cầu thiết yếu dần đến giới hạn thì nhu cầu văn hoá tinh thần trở nên vô cùng quan trọng trong đời sống và do đó nhu cầu điện năng cho hoạt động này cũng trở nên mạnh mẽ

1.3 Nội dung của công tác quản lý kinh doanh điện năng

1.3.1 Đặc điểm quản lý kinh doanh điện năng

- Việc quản lý kinh doanh điện phụ thuộc tương đối lớn bởi nguyên tắc tổ chức kinh doanh điện Việc quản lý kinh doanh điện có tính nguyên tắc cao vì bị chi phối và ràng buộc chặt chẽ bởi Luật Điện lực-2005

- Đối với EVN, việc quản lý kinh doanh điện năng được quy định cụ thể theo Quy trình kinh doanh điện năng thống nhất trong toàn quốc

- Yếu tố phục vụ cho chính trị - xã hội trong kinh doanh điện cũng chi phối nhất định đến việc quản lý và hiệu quả kinh doanh ở mỗi địa phương Thường các trường hợp này chi phí đầu tư lớn, doanh thu thấp nên thường không có hiệu quả Nói một cách khác, việc quản lý kinh doanh điện năng chịu sự tác động nhất định bởi các yếu tố chính trị - xã hội và sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương

Trang 19

1.3.2 Các nội dung quản lý kinh doanh điện năng

1.3.2.1 Lập kế hoạch:

- Trên cơ sở yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hay từng địa phương, theo phương pháp dự báo mức yêu cầu dùng điện gia tăng theo từng thành phần kinh tế, từng khu vực mà lập nên kế hoạch kinh doanh năm sau (hay 5 năm)

- Kế hoạch được lập theo các chỉ tiêu chính là: sản lượng điện năng thương phẩm (kWh), doanh thu (VNĐ) theo một số thành phần cơ bản (Công nghiệp, Dịch

vụ, Nông nghiệp và ánh sáng sinh hoạt); một số chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật cơ bản khác như tỉ lệ điện năng dùng cho phân phối, tỉ lệ điện tự dùng, suất tiêu hao nhiên liệu cho phát điện; đầu tư xây dựng; lao động và chi phí

- Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho nguồn - lưới: Việc sử dụng điện tăng lên mỗi năm, cần thiết phải tăng cường năng lực của nguồn điện và hệ thống điện truyền tải - phân phối Chính vì vậy, cần thiết phải tính toán để đầu tư xây dựng thêm nguồn điện mới (hay phải mua điện từ các nguồn bên ngoài), cần cải tạo nâng cấp lưới điện hiện có như thế nào hay phải xây dựng thêm lưới điện cho các phụ tải điện mới

- Việc đầu tư xây dựng nguồn - lưới, ngoài việc phải đảm bảo theo trình tự đầu tư xây dựng, cần phải đáp ứng kịp thời nhu cầu dùng điện của khách hàng sử dụng điện và hiệu quả của việc đầu tư xây dựng Đây là công việc khó khăn, yêu cầu phải quản lý chặt chẽ và khoa học Và đây là cơ sở vật chất kỹ thuật then chốt

để đảm bảo việc cung cấp sản phẩm điện năng có chất lượng đến khách hàng dùng điện đi kèm với yêu cầu nghiêm ngặt của công tác quản lý kỹ thuật của chuyên ngành

1.3.2.2 Tổ chức thực hiện:

Công tác kinh doanh điện năng là khâu cuối cùng trong hoạt động sản xuất, truyền tải, phân phối và tiêu thụ điện năng, do đó EVN đã đề ra Bộ quy trình kinh doanh điện năng áp dụng trong Tập đoàn Điện lực Việt Nam ban hành tại Quyết

Trang 20

định số 1232/QĐ-EVN ngày 21/12/2011 nhằm phân cấp và tổ chức thực hiện công tác quản lý kinh doanh điện năng cho các đơn vị thành viên trong EVN nhằm đáp ứng đầy đủ, an toàn và tin cậy nhu cầu sử dụng điện của khách hàng và không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng

Bộ quy trình này quy định thống nhất việc triển khai, tổ chức hoạt động phân phối, bán buôn và bán lẻ điện năng trong Tập đoàn

1.3.2.3 Điều phối thực hiện (lãnh đạo)

Dựa trên các quy trình, quy định và chiến lược phát triển của mình, EVN phân cấp các tổ chức, các đơn vị tham gia vào quá trình sản xuất - truyền tải - phân phối điện với các mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ với nhau, đảm bảo quyền tự quyết

và sự phụ thuộc lẫn nhau khi phối hợp thực hiện và tránh gây xung đột, mâu thuẫn

về lợi ích

1.3.2.4 Kiểm tra giám sát:

- Chính là để điều chỉnh kịp thời các sai sót trong quá trình kinh doanh điện năng - đặc biệt là tuân thủ theo đúng Luật Điện lực Việc kiểm tra kiểm soát các nội dung thực hiện theo quy định kinh doanh điện năng của các đơn vị luôn được ngành điện quan tâm và duy trì theo định kỳ (kiểm định định kỳ chất lượng hệ thống đo đếm và hệ thống thu thập số liệu điện năng mua bán) hay đột xuất (xử lý sự cố) Mọi thắc mắc của khách hàng sử dụng điện phải được kiểm tra trả lời kịp thời, đồng thời báo cáo lên cấp trên Mọi sai phạm quy trình kinh doanh điện năng đều được xem xét xử lý, tuỳ theo mức nặng hay nhẹ

1.4 Các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý kinh doanh điện năng:

- Doanh thu: tốc độ tăng trưởng doanh thu so sánh với năm kinh doanh trước (tỷ đồng)

- Điện năng thương phẩm: tốc độ tăng trưởng điện năng thương phẩm so với năm sản xuất trước (tỷ kWh)

Trang 21

- Giá bán điện bình quân: theo quy định của Chính phủ, được tính bằng doanh thu (tỷ đồng)/điện năng thương phẩm (tỷ kWh), mục tiêu của EVN là thực hiện công tác quản lý kinh doanh đạt hiệu quả cao sao cho với giá điện bình quân thực tế bằng giá bán điện bình quân theo quy định của chính phủ

- Tỷ lệ tổn thất điện năng hàng năm: đạt kế hoạch đặt ra theo lộ trình và giảm thiểu so với cùng kỳ năm trước

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý kinh doanh điện năng

1.5.1 Các yếu tố bên trong:

- Cơ sở hạ tầng hệ thống truyền tải, phân phối, đo đếm và thu thập số liệu điện năng mua bán

- Đội ngũ cán bộ thực hiện công tác quản lý kinh doanh điện năng

- Vốn đầu tư phục vụ làm mới và nâng cấp cơ sở hạ tầng hệ thống hệ thống truyền tải, phân phối, đo đếm và thu thập số liệu điện năng mua bán

- Các quy trình, quy định về kinh doanh điện năng trong ngành

1.5.2 Các yếu tố bên ngoài:

- Các thông tư, nghị định ngoài ngành

- Yếu tố chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế, địa lý và môi trường

Trang 22

CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ KINH DOANH ĐIỆN NĂNG TRONG TẬP ĐOÀN

ĐIỆN LỰC VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu tổng quan về EVN

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

2.1.1.1 Ngành Điện Việt Nam giai đoạn 1975 – 1994

- Thành lập Công ty Điện lực miền Trung: Ngày 7/10/1975, Công ty Điện

lực miền Trung (nay là Công ty Điện lực 3) được thành lập Sau khi được giải phóng, các cơ sở điện lực khu vực miền Trung hầu hết đều nhỏ bé, manh mún, không có lưới truyền tải cao thế, toàn miền chỉ có 150 máy phát diezel phân tán ở các đô thị, tổng công suất đặt là 74 MW Công ty Điện lực miền Trung ra đời là điều kiện đảm bảo cho sự thống nhất trong công tác quản lý điều hành; đồng thời củng cố, phát triển sản xuất kinh doanh điện trong toàn khu vực miền Trung: Công

ty Điện lực miền Trung sau đó đổi tên thành Công ty Điện lực 3 Hiện Công ty Điện lực 3 (PC3) là doanh nghiệp thành viên thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), hoạt động đa ngành nghề trong đó ngành nghề chính là sản xuất, kinh doanh điện năng với địa bàn hoạt động tại 13 tỉnh, thành phố miền Trung, Tây Nguyên

- Thành lập Công ty Điện lực miền Nam: Ngày 7/8/1976, Bộ trưởng Bộ Điện

và Than ra Quyết định số 1592/QĐ-TCCB.3 về việc đổi tên Tổng cục Điện lực (thành lập ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng) thành Công ty Điện lực miền Nam Ngày 9/5/1981, Công ty Điện lực miền Nam đổi tên thành Công ty Điện lực 2 theo Quyết định số 15/TTCBB.3 của Bộ trưởng Bộ Điện lực Ngày 7/4/1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 147-TTg chuyển Công ty Điện lực 2 trực thuộc Bộ Năng lượng Từ ngày 1/4/1995, Công ty Điện lực 2 được thành lập lại, trực thuộc Tổng công ty Điện lực Việt Nam (nay là Tập đoàn Điện lực Việt Nam)

Trang 23

- Tuyến đường dây 220 kV đầu tiên được xây dựng: Tháng 3/1979, tuyến đường dây 220 kV Hà Đông – Hòa Bình được khởi công xây dựng và đến tháng 5/1981 đưa vào vận hành Đây là đường dây truyền tải 220 kV đầu tiên ở miền Bắc, nâng cao năng lực truyền tải, cung cấp điện và tạo cơ sở kỹ thuật cho việc xây dựng đường dây siêu cao áp 500 kV Bắc-Nam sau này

- Xây dựng công trình Thuỷ điện Hòa Bình lớn nhất đầu tiên ở Việt Nam: Ngày 6/11/1979, hàng vạn CBCNV Việt Nam và 186 chuyên gia Liên Xô đã cùng tham gia Lễ khởi công công trình Thủy điện Hòa Bình Thời điểm đó, đây là công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam do Liên Xô giúp xây dựng với 8 tổ máy có tổng công suất 1.920 MW Sau hơn 3 năm, đúng 9h00 ngày 12/1/1983, Lễ ngăn sông đợt

1 được tổ chức trọng thể với sự có mặt của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước Ngày 9/1/1986, ngăn sông Đà đợt 2 Ngày 30/12/1988, tổ máy 1 (240 MW) đã phát điện, hòa lưới điện quốc gia Sau đó, mỗi năm hoàn thành

và đưa từ 1-2 tổ máy vào vận hành Ngày 20/12/1994, công trình Thủy điện Hòa Bình đã được khánh thành Việc hoàn thành Thủy điện Hòa Bình đánh dấu một bước phát triển mới của ngành năng lượng và sự nghiệp CNH - HĐH đất nước

- Thực hiện Tổng sơ đồ phát triển điện năng giai đoạn 1 (1981-1985)

Lần đầu tiên, Việt Nam xây dựng và thực hiện quy hoạch phát triển điện lực Trong giai đoạn này, ngành Điện đã khẩn trương xây dựng, hoàn thành những công trình lớn có tầm cỡ chiến lược quốc gia như: Nhiệt điện Phả Lại, Thủy điện Hòa Bình, củng cố các nhà máy Nhiệt điện Ninh Bình, Thái Nguyên, khai thác hết công suất Thủy điện Thác Bà… Về lưới điện, đã đưa các đường dây 220 kV Thanh Hóa –Vinh, Phả Lại - Hà Đông, trạm 110 kV, 220 kV Hà Đông mang tải sớm trước thời hạn, thi công xây dựng trạm 110 kV Yên Phụ Nhiều trạm trung gian và đường dây phân phối được lắp đặt, vận hành Nhìn chung, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế song về tổng thể, Tổng sơ đồ 1 đã đạt được kết quả nổi bật là: Đưa được công trình nhiệt điện Phả Lại và các công trình lưới điện vào đúng tiến độ, đáp ứng được nhu cầu về điện giai đoạn 1981-1985 Lần lượt các giai đoạn sau đó, ngành

Trang 24

Điện liên tục thực hiện các Tổng sơ đồ (Quy hoạch) điện II, III, IV, V Hiện, Quy hoạch điện VI (giai đoạn 2006-2015, định hướng tới 2025) đang được triển khai thực hiện Trong đó, EVN đầu tư góp vốn 42 dự án nguồn với tổng công suất 22.748 MW/59.463 MW (chiếm 38,3% tổng công suất đặt mới của cả nước) Thực hiện đầu tư lưới 500 kV gồm 13.200 MVA trạm biến áp và 3.178 km đường dây; lưới 220 kV gồm 39.063 MVA trạm biến áp và 9.592 km đường dây; lưới 110 kV gồm 41.315 MVA trạm biến áp và 12.659 km đường dây Hiện nay, EVN và các

bộ ngành liên quan đang chuẩn bị tiếp tục xây dựng Quy hoạch điện VII

- Xây dựng đường dây siêu cao áp 500 kV: Ngày 5/4/1992, đường dây siêu cao áp 500 kV Bắc - Nam (mạch 1) dài 1.487 km được khởi công xây dựng và ngày 27/5/1994 đã khánh thành, đóng điện vận hành Sự kiện này đánh dấu bước trưởng thành mang tính đột phá của Điện lực Việt Nam Hệ thống điện quốc gia Việt Nam

từ đây được hình thành trên cơ sở liên kết lưới điện các khu vực Bắc – Trung – Nam thông qua trục “xương sống” là đường dây 500 kV Ngày 23/10/2005, đường dây 500 kV Bắc – Nam mạch 2 tiếp tục được hoàn thành và đưa vào vận hành, đảm bảo hệ thống truyền tải siêu cao áp 500 kV hai mạch song song truyền tải điện 2 chiều Nam – Bắc, liên kết vững chắc, vận hành an toàn, tin cậy Nếu đường dây 500

kV mạch 1 thể hiện sự quyết tâm, nỗ lực và trình độ trí tuệ của những người làm điện thì thành công của công trình ĐZ 500 kV mạch 2 tiếp tục khẳng định “thương hiệu Việt” trong chế tạo thiết bị, thiết kế và thi công đường dây siêu cao áp

- Thành lập Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia: Ngày 11/4/1994, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Thái Phụng Nê ký Quyết định số 180/NL/TCCB-LĐ về việc thành lập Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia (A0), với nhiệm vụ: Chỉ huy, điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối điện năng trong hệ thống điện quốc gia theo phân cấp quản lý điều độ, nhằm đạt kết quả tối ưu về kỹ thuật và kinh

tế, đảm bảo hệ thống điện quốc gia vận hành an toàn, liên tục, tin cậy

Trang 25

2.1.1.2 Ngành Điện Việt Nam giai đoạn 1995 – nay

- Thành lập Tổng công ty Điện lực Việt Nam: Ngày 1/1/1995, Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) chính thức ra mắt, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện năng trên toàn quốc Tổng công ty Điện lực Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 562/QĐ-TTg ngày 10/10/1994 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp lại các đơn vị thuộc Bộ Năng lượng; tổ chức và hoạt động theo Điều lệ ban hành kèm theo Nghị định số 14/CP ngày 27/1/1995 của Chính phủ Từ 1/4/1995, EVN bắt đầu điều hành toàn bộ công việc của ngành Điện, bao gồm: Phát điện, truyền tải, phân phối, đầu tư xây dựng trên cơ sở các Tổng sơ đồ phát triển điện đã được phê duyệt Sự ra đời của EVN đánh dấu bước ngoặt trong quá trình đổi mới, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Là một doanh nghiệp lớn, ngành Điện tự cân đối tài chính, hạch toán kinh tế, tự trang trải nhằm bảo toàn, phát triển vốn, đẩy mạnh hội nhập khu vực và quốc tế

- Sản xuất thành công MBA 220 kV công suất 250 MVA: Năm 1995, ngành

Cơ khí ĐLVN được đánh dấu một bước phát triển quan trọng khi hoàn thành việc nghiên cứu và thiết kế thành công máy biến áp 110 kV – 25.000 kVA Năm 2003, chế tạo thành công MBA 220 kV – 125 MVA Đến năm 2005, ngành Cơ khí điện lực đã tự sửa chữa MBA 500 kV và sản xuất thành công MBA 220 kV công suất

250 MVA Đây là bước tiến vượt bậc của ngành Cơ khí điện lực Việt Nam trong việc khẳng định nội lực, hạn chế sử dụng hàng nhập ngoại và thuê chuyên gia sửa chữa, tư vấn của nước ngoài

- Áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù cho các công trình điện cấp bách

Nhằm đảm bảo đẩy nhanh tiến độ các công trình điện đáp ứng nhu cầu điện ngày càng cao, EVN đã được Chính phủ cho phép áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù đối với các công trình điện Cụ thể, các dự án thủy điện đang xây dựng và sẽ khởi công xây dựng trong giai đoạn 2006 – 2010 được thực hiện theo các cơ chế, chính sách quy định tại các văn bản của Chính phủ: số 797/CP-CN ngày 17/6/2003 và số 400/CP-CN ngày 26/3/2004 Tiếp đến, 14 dự án xây dựng điện cấp bách giai đoạn

Trang 26

2006 – 2010 và giai đoạn sau năm 2010 được tiếp tục áp dụng cơ chế này theo Quyết định số 1195/QĐ-TTg ngày 9/11/2005 của Chính phủ Sau thời gian ngắn áp dụng, các cơ chế này đã thể hiện tính ưu việt, đạt được hiệu quả cao trong các dự án

đã và đang đầu tư xây dựng

- Luật Điện lực chính thức được ban hành: Ngày 3/12/2004, tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật Điện lực và chính thức ban hành có hiệu lực

kể từ ngày 1/7/2005 Sự ra đời của Luật Điện lực đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động điện lực, nâng cao tính minh bạch, công bằng cho các bên tham gia hoạt động lĩnh vực điện lực, góp phần nâng cao năng lực cung ứng điện năng cho nền kinh tế đất nước

- Khánh thành Trung tâm Điện lực Phú Mỹ: Ngày 10/4/2005, Trung tâm Điện lực Phú Mỹ được khánh thành với 6 nhà máy điện có tổng công suất 3.859

MW, lớn gấp đôi Thủy điện Hòa Bình Trong đó, EVN đầu tư xây dựng Nhà máy Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2.1, Phú Mỹ 2.1 mở rộng và Phú Mỹ 4; các nhà máy Phú Mỹ 3, Phú Mỹ 2.2 do các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư theo hình thức BOT Đây là công trình quan trọng ghi nhận sự phát triển vượt bậc của ngành công nghiệp Điện lưc Việt Nam Đồng thời, qua việc tham gia xây dựng công trình, lực lượng tư vấn xây dựng điện của ngành đã bước đầu tiếp cận được công nghệ hiện đại và chủ động trong công tác tư vấn thiết kế nhà máy điện chạy khí

- Thành lập Cục Điều tiết Điện lực: Ngày 19/10/2005, Thủ tướng Phan Văn Khải đã ký Quyết định số 258/2005/QĐ-TTg thành lập Cục Điều tiết Điện lực (ERAV) thuộc Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công Thương) Cục Điều tiết Điện lực

có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức năng điều tiết hoạt động điện lực và thị trường điện lực, nhằm góp phần cung cấp điện an toàn, ổn định, chất lượng, sử dụng điện tiết kiệm, có hiệu quả và bảo đảm tính công bằng, minh bạch, đúng quy định của pháp luật

- Hình thành và chính thức vận hành thị trường điện cạnh tranh tại Việt

Trang 27

duyệt lộ trình, các điều kiện hình thành và phát triển các cấp độ thị trường điện lực tại Việt Nam Để thực hiện mục tiêu từng bước phát triển thị trường điện lực cạnh tranh, thu hút vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thị trường điện lực tại Việt Nam sẽ được hình thành và phát triển qua 3 cấp độ: Cấp độ 1 (2005 - 2014): Thị trường phát điện cạnh tranh; Cấp độ 2 (2015 - 2022): Thị trường bán buôn điện cạnh tranh; Cấp độ 3 (từ sau 2022): Thị trường bán lẻ điện cạnh tranh Từ ngày 1/7/2012, thị trường phát điện cạnh tranh chính thức được vận hành Trong đợt đầu đã có 32 nhà máy điện (tổng công suất 8.965 MW) trực tiếp tham gia chào giá trên thị trường, 26 nhà máy điện khác gián tiếp tham gia vào thị trường phát điện cạnh tranh Việc hình thành và phát triển thị trường điện là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự chỉ đạo nhất quán của Chính phủ và sự phối hợp đồng bộ của các đơn vị Trong đó Tập đoàn Điện lực Việt Nam đóng vai trò quan trọng hàng đầu cho quá trình phát triển này

- Thành lập Tập đoàn Điện lực Việt Nam: Ngày 22/6/2006, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 147/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Điện lực Việt Nam, với 3 lĩnh vực kinh doanh chính là điện năng, cơ khí và viễn thông Quyết định 148/2006/QĐ-TTG ngày 22/6/2006 về việc thành lập Công

ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam Ngày 17/12/2006, Tập đoàn Điện lực Việt Nam chính thức ra mắt, đánh dấu một bước ngoặt trọng đại, đưa ngành Điện nhanh chóng trở thành một Tập đoàn kinh tế mạnh, kinh doanh đa ngành nghề, đa sở hữu,

có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại, chuyên môn hóa cao và hội nhập quốc tế có hiệu quả

- Đảng bộ Tập đoàn Điện lực Việt Nam ra đời: Ngày 8/10/2007, Đảng ủy Khối doanh nghiệp Trung ương có Quyết định số 299 QĐ/ĐUK về việc thành lập Đảng bộ Công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam, lấy tên là Đảng bộ Tập đoàn Điện lực Việt Nam Sự ra đời của Đảng bộ Tập đoàn Điện lực Việt Nam và việc kiện toàn, sắp xếp các tổ chức đảng trực thuộc sẽ tạo điều kiện phát huy hơn nữa vai trò, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong các doanh nghiệp ngành Điện

Trang 28

- Thành lập Công ty Mua bán điện: Ngày 31/12/2007, Hội đồng quản trị Tập đoàn Ðiện lực Việt Nam đã ban hành quyết định số 1182/QÐ-EVN-HÐQT về việc thành lập Công ty Mua bán điện (EPTC), với nhiệm vụ chính: Lập kế hoạch, đàm phán, thực hiện các hợp đồng mua bán điện; thoả thuận, ký kết thiết kế kỹ thuật, quản lý hệ thống đo đếm điện năng phục vụ mua bán điện; tham gia vận hành thị trường điện nội bộ và cạnh tranh… Công ty Mua bán điện đã và đang tự hoàn thiện, tiến hành nghiên cứu, đổi mới, đào tạo và chuẩn bị các điều kiện tối ưu, sẵn sàng cho các cấp độ tiếp theo của thị trường điện và hoạt động kinh doanh trong thời gian tới

- Thành lập Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia: Ngày 4/7/2008, Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (NPT) được thành lập với mô hình công ty TNHH MTV, do EVN sở hữu 100% vốn, gồm 4 công ty truyền tải 1, 2, 3, 4 và 3 Ban quản

lý dự án các công trình điện miền Bắc, Trung, Nam NPT có trách nhiệm đầu tư, tổ chức vận hành và quản lý hệ thống truyền tải điện từ 220 kV đến 500 kV của hệ thống điện quốc gia Mục tiêu chính là cung cấp dịch vụ truyền tải điện an toàn, liên tục, ổn định và tin cậy; bảo đảm cung ứng điện cho các hoạt động kinh tế, chính trị,

xã hội an ninh và quốc phòng cho đất nước; sản xuất kinh doanh có hiệu quả, bảo toàn và phát triển nguồn vốn được giao

- Chính phủ công nhận ngày truyền thống ngành Điện lực Việt Nam

Ngày 12/10/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1594/QĐ-TTg chính thức công nhận ngày 21/12 hàng năm là “Ngày truyền thống ngành Điện lực Việt Nam” Thủ tướng yêu cầu việc tổ chức ngày Truyền thống phải đảm bảo tiết kiệm, giáo dục truyền thống của ngành Điện lực Việt Nam, động viện phong trào thi đua lao động sản xuất vì sự phát triển của ngành và đất nước Đến nay, trải qua hơn nửa thế kỷ, các thế hệ CBCNV ngành Điện vẫn luôn thực hiện đúng lời Bác dặn 55 năm trước, khi về thăm 2 nhà máy điện Yên Phụ và Bờ Hồ vào ngày 21/12/1954, gìn giữ

và phát huy những thành quả các thế hệ đi trước để lại, không ngừng phát triển sản

Trang 29

xuất, thực hiện tốt công tác quản lý, vận hành an toàn hệ thống điện quốc gia, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

- Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 6 thông qua chủ trương đầu tư xây dựng Nhà máy Điện hạt nhân Ninh Thuận: Ngày 25/11/2009, với 77,48% đại biểu tán thành, chủ trương đầu tư xây dựng Nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) Ninh Thuận – nhà máy ĐHN đầu tiên của Việt Nam đã được Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 6 thông qua Theo đó, dự án ĐHN Ninh Thuận bao gồm 2 nhà máy có tổng công suất 4000 MW Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1 xây dựng tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, sẽ khởi công vào năm 2014 và đưa tổ máy đầu tiên vận hành vào năm 2020 Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2 sẽ đặt tại xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải Đây là bước tiến quan trọng trong tiến trình phát triển ĐHN vì mục đích hòa bình ở Việt Nam Trước đó, tháng 9/2007, EVN đã thành lập Ban Chuẩn bị đầu tư Dự án Điện hạt nhân và Năng lượng tái tạo (NRPB) để thực hiện công tác chuẩn bị đầu tư cho dự án này

- Ra mắt 5 Tổng công ty Điện lực: Tháng 4/2010, 5 Tổng công ty Điện lực

đã ra mắt và chính thức đi vào hoạt động Đó là: Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVN NPC); Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC); Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVN CPC); Tổng công ty Điện lực thành phố Hà Nội (EVN HANOI); Tổng công ty Điện lực thành phố Hồ Chí Minh (EVN HCMC) Đây là bước ngoặt mới, giúp hoàn thiện cơ cấu tổ chức, mô hình quản lý, nâng cao quản trị doanh nghiệp, tạo đà cho sự phát triển trong sản xuất, kinh doanh của các đơn vị ngành Điện

- Chuyển công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) thành Công ty TNHH một thành viên: Ngày 25/6/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định

số 975/QĐ-TTg về việc chuyển Công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam thành công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu Tên gọi sau khi chuyển đổi là: Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, các quy định pháp luật có liên quan và Điều lệ tổ chức hoạt động do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Tại thời điểm chuyển đổi, vốn điều

Trang 30

lệ của EVN là 110 nghìn tỷ đồng; Ngành nghề kinh doanh chính là: Sản xuất, điều

độ, mua, bán buôn điện năng; xuất nhập khẩu điện năng; đầu tư và quản lý vốn đầu

tư các dự án điện Đây là bước chuyển đổi quan trọng theo đúng lộ trình cam kết của Việt Nam với tổ chức WTO

- Chế tạo thành công MBA 500 kV đầu tiên tại Việt Nam: Ngày 7/10/2010, Công ty cổ phần Chế tạo Thiết bị điện Đông Anh đã tổ chức “Lễ gắn biển công trình 1000 năm Thăng Long - Hà Nội” cho máy biến áp 500 kV Việc chế tạo thành công máy biến áp 500 kV “made in Vietnam” tiếp tục tạo nên dấu son lịch sử của ngành Cơ khí điện lực nước ta, giúp tăng cường sự chủ động trong đầu tư, xây dựng, tiết kiệm chi phí cũng như giảm phụ thuộc vào nhập khẩu thiết bị nước ngoài

- Khởi công và khánh thành Nhà máy Thủy điện Sơn La lớn nhất Việt Nam

và Đông Nam Á: Ngày 2/12/2005, Thủy điện Sơn La – công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam và Đông Nam Á được khởi công xây dựng, với tổng công suất thiết

kế 2.400 MW, sản điện lượng trung bình hàng năm 10,2 tỷ kWh Tổng mức đầu tư

là 36.933 tỷ đồng, đập chính của Thủy điện Sơn La cao 138,1m, chiều dài đập 961m Ngày 17/12/2010, tổ máy số 1 Nhà máy Thủy điện Sơn La đã hòa thành công vào điện lưới quốc gia

Ngày 23/12/2012, EVN tổ chức Lễ khánh thành công trình Nhà máy Thủy điện Sơn La, về đích sớm 3 năm so với Nghị Quyết của Quốc hội, làm lợi cho đất nước hàng chục nghìn tỷ đồng Đây là công trình đa mục tiêu, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước

- Quốc hội thông qua Luật Điện lực (Sửa đổi, bổ sung): Ngày 20/11/2012, tại

Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật Điện lực Điểm mới đáng chú ý của Luật Điện lực sửa đổi bổ sung lần này là đã “luật hóa” nguyên tắc giá điện theo cơ chế thị trường Luật

có hiệu lực từ ngày 1/7/2013

- Thành lập 3 tổng công ty phát điện (EVN GENCO 1, 2, 3): Thực hiện lộ

Trang 31

ngày 3/2/2012, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho phép thành lập 3 Tổng công ty phát điện trực thuộc EVN Ngày 1/6/2012, Bộ trưởng Bộ Công Thương đã ra quyết định thành lập các tổng công ty phát điện (GENCO 1, 2, 3) hoạt động theo hình thức Công ty mẹ - Công ty con, trực thuộc EVN Các Tổng công ty phát điện (EVN GENCO 1, 2, 3) đã chính thức ra mắt và đi vào hoạt động từ ngày 1/1/2013

- Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 2 đề án lớn định hướng cho EVN:

Ngày 10/7/2012, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 854/QĐ-TTg phê duyệt

Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm 2011 – 2015 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam Theo đó, giai đoạn 5 năm (2011 – 2015), EVN sẽ tập trung vào

7 nhiệm vụ chính và 6 giải pháp đồng bộ để hoàn thành mục tiêu, phát triển thành Tập đoàn kinh tế mạnh, giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Hoàn thành mục tiêu điện khí hóa nông thôn, đến năm 2015 đảm bảo 100% số xã có điện và 98% số hộ dân nông thôn có điện và hưởng giá bán điện theo quy định hiện hành

Thủ tướng Chính phủ cũng đã có Quyết định số 1782/QĐ-TTG ngày 23/11/2012 phê duyệt “Đề án Tái cơ cấu Tập đoàn Điện lực Việt Nam giai đoạn

2012 – 2015” Theo đó, EVN sẽ thực hiện tái cấu trúc quản trị doanh nghiệp, tập trung vào những ngành nghề kinh doanh chính với vốn điều lệ sau khi đánh giá lại tài sản là 143.404 tỷ đồng

Đây là 2 đề án lớn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ban hành năm 2012, có

ý nghĩa quan trọng trong định hướng tái cơ cấu và phát triển bền vững của EVN

- Khởi công các công trình cáp ngầm xuyên biển đưa điện lưới quốc gia đến với các huyện đảo: Ngày 4/11/2012, Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVN NPC) chính thức khởi công dự án đưa lưới điện quốc gia đến với đảo Cô Tô và 5 xã đảo thuộc huyện Vân Đồng – tỉnh Quảng Binh Dự án có tổng vốn đầu tư 1.106 tỷ đồng, với tổng chiều dài tuyến đường dây là 58,3 km, trong đó có 25 km cáp ngầm xuyên biển Dự án hoàn thành ngày 16/10/2013, cung cấp điện cho người dân và góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng khu vực Đông Bắc của Tổ quốc Dự án cáp ngầm 110

Trang 32

kV xuyên biển Hà Tiên – Phú Quốc được khởi công ngày 17/11/2013, nhằm cấp điện cho huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) có tổng mức đầu tư 2.336 tỷ đồng, trong đó hạng mục tuyến cáp ngầm có chiều dài 55,8 km Dự án đang được Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC) tích cực triển khai và dự kiến sẽ hoàn thành trong tháng 1/2014 Ngày 10/10/2013, Bộ Công Thương đã có Quyết định số 7609/QĐ-BCT phê duyệt dự án đầu tư xây dựng công trình “Cấp điện từ hệ thống điện quốc gia cho huyện đảo Lý Sơn bằng cáp ngầm” Dự án có tổng mức đầu tư 652,5 tỷ đồng, bao gồm 26,219 km cáp ngầm xuyên biển, do Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVN CPC) làm chủ đầu tư EVN CPC đang gấp rút triển khai để đưa

dự án hoàn thành đúng tiến độ vào cuối quý III/2014

Từ nay đến năm 2020, EVN sẽ tiếp tục nỗ lực triển khai đề án cấp điện cho các thôn, bản và hải đảo của cả nước

2.1.2 Nhiệm vụ, chức năng của EVN:

- Tập đoàn Điện lực Việt Nam có ngành, nghề kinh doanh chính là: Sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia; xuất nhập khẩu điện năng; đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện; quản lý, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, đại tu, cải tạo, nâng cấp thiết bị điện, cơ khí, điều khiển,

tự động hóa thuộc dây truyền sản xuất, truyền tải và phân phối điện, công trình điện; thí nghiệm điện

- Thực hiện nhiệm vụ cung cấp điện cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, EVN hiện có 3 tổng công ty phát điện (GENCO 1, 2, 3) thuộc lĩnh vực sản xuất điện năng, 5 tổng công ty điện lực kinh doanh điện năng đến khách hàng là Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVN NPC), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVN SPC), Tổng công ty Điện lực miền Trung (EVN CPC), Tổng công ty Điện lực TP Hà Nội (EVN HANOI), Tổng công ty Điện lực TP Hồ Chí Minh (EVN HCMC) Phụ trách lĩnh vực truyền tải điện của Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Trang 33

tổ chức lại 4 công ty truyền tải (Công ty Truyền tải 1, 2, 3, 4) và 3 Ban quản lý dự

án (Ban quản lý dự án các công trình điện miền Bắc, Trung, Nam)

2.1.3 Cơ cấu tổ chức của EVN:

Theo Nghị định số 205/2013/NĐ-CP ngày 06/12/2013 của Thủ tướng Chính phủ về Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (Nghị định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 03/02/2014), cơ cấu tổ chức quản lý và điều hành của EVN gồm:

- Hội đồng Thành viên EVN

- Tổng giám đốc EVN

- Các Phó tổng giám đốc và Kế toán trưởng

- Bộ máy giúp việc của EVN: các Ban thuộc cơ quan Tập đoàn Điện lực Việt Nam

Các Ban thuộc cơ quan Tập đoàn Điện lực Việt Nam: Ngày 3/10/2011, Tập đoàn Điện lực Việt Nam có Quyết định số 959/QĐ-EVN về việc ban hành Quy định chức năng, nhiệm vụ của các Ban thuộc cơ quan Tập đoàn Điện lực Việt Nam Ngày 25/3/2013, Tập đoàn Điện lực Việt Nam ban hành Quyết định số 240/QĐ-EVN về việc thành lập Ban Quản lý đầu tư vốn; ngày 29/3/2013, Tập đoàn Điện lực Việt Nam ban hành Quyết định số 275/QĐ-EVN về việc thành lập Ban An toàn Các Ban bao gồm:

- Văn phòng: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc quản lý, điều hành công tác hành chính, văn thư, lưu trữ và quản trị

- Ban Tổ chức và Nhân sự: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc quản lý, điều hành công tác tổ chức bộ máy, đổi mới và phát triển doanh nghiệp, cán bộ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, lao động, tiền lương, y tế, chế độ bảo hộ lao động, thi đua và khen thưởng

- Ban Kế hoạch: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc quản

Trang 34

lý, điều hành công tác kế hoạch hàng năm, dài hạn, quy hoạch và chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển và công tác thống kê kết quả hoạt động của EVN

- Ban Tài chính Kế toán: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc quản lý, điều hành công tác kinh tế tài chính và hạch toán kế toán của EVN

- Ban Thanh tra bảo vệ: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc quản lý, điều hành các lĩnh vực công tác: Thanh tra, kiểm tra; xử lý, giải quyết khiếu nại, tố cáo; công tác phòng, chống tham nhũng; công tác bảo vệ; bảo vệ bí mật Nhà nước và EVN; công tác quốc phòng

- Ban Pháp chế: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc quản

lý, điều hành công tác pháp chế trong EVN, những vấn đề pháp lý liên quan đến hoạt động của EVN; bảo vệ quyền và lợi ích pháp lý của EVN

- Ban Quan hệ cộng đồng: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc quản lý, điều hành công tác thông tin truyền thông, quảng bá thương hiệu, tuyên truyền văn hóa doanh nghiệp, công tác truyền thống của EVN

- Ban Quan hệ quốc tế: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc hoạch định chiến lược, quản lý, điều hành công tác quan hệ, hợp tác với các đối tác nước ngoài trong việc tìm kiếm, thu xếp nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng và các tổ chức tài chính nước ngoài, hợp tác với các đối tác nước ngoài và các quan hệ quốc

tế khác

- Ban Kỹ thuật - Sản xuất: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc quản lý, điều hành công tác quản lý kỹ thuật sản xuất, vận hành, sửa chữa nguồn điện và lưới điện, công tác quản lý vật tư cho sản xuất kinh doanh của EVN

và các vấn đề kỹ thuật có liên quan trong công tác hoạch định chiến lược khoa học công nghệ và phát triển hệ thống điện của EVN

- Ban Thị trường điện: Tham mưu giúp Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc

Ngày đăng: 20/01/2021, 16:22

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm