ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Điều dưỡng tại các khoa lâm sàng là biên chế chính thức của 08 bệnh viện đa khoa tuyến huyện, bao gồm các khoa hệ ngoại sản như khoa Phụ sản, Ngoại Sản và Ngoại tổng hợp; các khoa hệ nội như khoa Nội tổng hợp, Hồi sức cấp cứu, Nhi và Nội Hồi sức cấp cứu; cùng với các khoa khác như khoa Liên chuyên khoa, Y học cổ truyền, Gây mê hồi sức và Khám bệnh.
- Báo cáo, kế hoạch, số liệu tổng hợp về công tác đào tạo liên tục năm 2015,
- Đại diện lãnh đạo bệnh viện (phụ trách công tác đào tạo)
- Trưởng khoa các khoa lâm sàng
- Điều dưỡng trưởng khoa các khoa lâm sàng hoặc trưởng phòng điều dưỡng
- Trưởng phòng chỉ đạo tuyến của cơ sở đào tạo liên tục
- Điều dƣỡng hợp đồng, nữ 54 tuổi trở lên, nam 59 tuổi trở lên
- Điều dƣỡng đang nghỉ thai sản, đi học, nghỉ ốm trong thời gian tiến hành nghiên cứu
- Các đối tƣợng từ chối tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Thời gian nghiên cứu: 11/2016 đến 07/2017
08 bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Giang (BVĐK huyện: Sơn Động, Lục Nam, Lạng Giang, Yên Dũng, Yên Thế, Hiệp Hòa, Tân Yên, Việt Yên).
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả, kết hợp phương pháp định lượng và định tính
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu: 299 người (45 điều dưỡng quản lý, 254 nhân viên điều dưỡng) Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu toàn bộ (điều dƣỡng các khoa lâm sàng) 2.4.2 Phương pháp định tính
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích (những người liên quan đến công tác tổ chức, quản lý, theo dõi đào tạo liên tục) gồm có:
- 02 đại diện lãnh đạo bệnh viện đa khoa huyện (BVĐK huyện Việt Yên, BVĐK huyện Yên Thế)
- 04 trưởng khoa các khoa lâm sàng (chuyên ngành nội, nhi, hồi sức cấp cứu, ngoại sản)
- 04 điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng chuyên ngành nội, nhi, hồi sức cấp cứu, ngoại sản) hoặc trưởng phòng điều dưỡng
- 02 trưởng phòng chỉ đạo tuyến của cơ sở đào tạo liên tục (BVĐK tỉnh Bắc Giang, bệnh viện Sản Nhi).
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Dựa trên số liệu về công tác đào tạo liên tục trong năm 2015 và 2016 từ báo cáo và bảng tổng hợp của các bệnh viện đa khoa tuyến huyện, cũng như từ các cơ sở đào tạo liên tục và báo cáo của phòng Tổ chức cán bộ Sở Y tế (phụ lục 3).
2.5.2 Thu thập số liệu sơ cấp
Thu thập số liệu định lượng
Công cụ thu thập: Căn cứ qui định tại Thông tƣ số 26/2015/TTLT- BYT-
Vào ngày 7/10/2015, Bộ Y tế và Bộ Nội vụ đã ban hành quy định về mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp cho điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên y Hướng dẫn thực hành 55 kỹ thuật điều dưỡng cơ bản được phát hành bởi Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam vào năm 2010 Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 của Bộ Y tế cũng đã hướng dẫn công tác điều dưỡng trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện Ngoài ra, chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam được xác định theo Quyết định số 1352/QĐ-BYT ngày 24/4/2012 của Bộ Y tế.
Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày 9/8/2013 của Bộ Y tế hướng dẫn đào tạo liên tục cho cán bộ y tế Bài viết tham khảo danh mục kỹ thuật điều dưỡng và mô tả công việc hàng ngày của điều dưỡng tại ba bệnh viện đa khoa tuyến huyện tỉnh Bắc Giang, đồng thời dựa vào khung lý thuyết để xây dựng bộ câu hỏi phát vấn tự điền.
Theo Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ, điều dưỡng được phân thành 3 chức danh nghề nghiệp dựa trên trình độ chuyên môn Tuy nhiên, tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện ở Bắc Giang, chỉ có viên chức điều dưỡng hạng III và hạng IV, và họ đều thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng tương tự nhau Do đó, chúng tôi đã xây dựng bộ câu hỏi chung cho điều dưỡng có trình độ đại học (hạng III), cao đẳng và trung cấp (hạng IV).
Trước khi xây dựng bộ câu hỏi, chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn nhanh điều dưỡng trưởng bệnh viện và điều dưỡng trưởng khoa, đồng thời kiểm tra các bảng mô tả công việc liên quan đến vị trí của điều dưỡng tại bệnh viện huyện Sau đó, chúng tôi đã thử nghiệm bộ câu hỏi này.
02 đối tượng điều dưỡng, 02 điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng, sau đó chỉnh sửa, bổ sung nội dung câu hỏi
Học viên sẽ đặt lịch hẹn với lãnh đạo bệnh viện và thông báo lịch làm việc với các trưởng khoa cùng điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng Sau đó, lập danh sách điều dưỡng các khoa lâm sàng và lựa chọn đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn đã đề ra Tiến hành phát vấn đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi tự điền, trong đó thông báo mục đích của nghiên cứu và hướng dẫn cách điền phiếu Cuối cùng, thu thập và kiểm tra phiếu phát vấn để đảm bảo về số lượng và chất lượng.
Thu thập số liệu định tính
Công cụ thu thập dữ liệu bao gồm phỏng vấn sâu và phiếu câu hỏi dành cho lãnh đạo bệnh viện, trưởng khoa, điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng, và trưởng phòng điều dưỡng Ngoài ra, còn có sự tham gia của trưởng phòng chỉ đạo tuyến từ cơ sở đào tạo liên tục.
Học viên sẽ đặt lịch hẹn với lãnh đạo đơn vị và các đối tượng phỏng vấn sâu để tiến hành phỏng vấn ĐTNC Quá trình này sử dụng phiếu câu hỏi đã được xây dựng sẵn, có ghi âm hoặc biên bản Mỗi cuộc phỏng vấn có thời gian trung bình khoảng 20 phút.
Các biến số nghiên cứu
Dựa vào mục tiêu nghiên cứu, khung lý thuyết và tài liệu tổng quan, chúng tôi tiến hành xây dựng các biến số nghiên cứu Các nhóm biến chính được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:
- Các biến số về thông tin chung của ĐTNC: tuổi, giới, trình độ chuyên môn, khoa làm việc, thâm niên công tác
Các biến về thực trạng đào tạo lý thuyết (ĐTLT) bao gồm việc cập nhật thông tin liên quan đến ĐTLT, hiểu biết cá nhân về thời gian ĐTLT, các khóa ĐTLT đã tham gia, thời gian tham gia các khóa học, nội dung của ĐTLT, địa điểm tổ chức ĐTLT, chi phí cho các khóa học, cũng như mức độ sử dụng thường xuyên và sự tự tin khi thực hiện các nội dung và kỹ thuật điều dưỡng.
- Các biến về nhu cầu ĐTLT: địa điểm, thời gian, nội dung, kỹ thuật điều dƣỡng mong muốn đƣợc ĐTLT.
Phương pháp phân tích số liệu
Dữ liệu định lượng được thu thập, làm sạch và mã hóa Số liệu được nhập vào phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng SPSS 20.0, sử dụng các thuật toán thống kê mô tả như tần số và tỷ lệ.
Số liệu định tính: Tiến hành gỡ băng, kiểm tra biên bản phỏng vấn, mã hóa thông tin và trích dẫn theo mục tiêu, nội dung nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu này tuân thủ các quy định đạo đức trong nghiên cứu và đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo số 064/2017/YTCC-HD3 vào ngày 15/02/2017, liên quan đến việc chấp thuận các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh học.
Nghiên cứu đã được phê duyệt và nhận được sự đồng ý từ lãnh đạo Sở Y tế, lãnh đạo bệnh viện đa khoa huyện, cùng với lãnh đạo cơ sở đào tạo liên tục.
Trước khi bắt đầu nghiên cứu, các đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) sẽ được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, và nghiên cứu chỉ được tiến hành khi có sự đồng ý của các ĐTNC tham gia.
Thông tin cá nhân của ĐTNC được bảo mật hoàn toàn Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ lãnh đạo Sở Y tế và bệnh viện trong việc xây dựng chiến lược và kế hoạch đào tạo liên tục phù hợp với tình hình hiện tại và tương lai Đồng thời, nghiên cứu cũng giúp các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh điều chỉnh nội dung và chương trình đào tạo để đáp ứng nhu cầu của người học.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu
Mặc dù Việt Nam đã triển khai đào tạo liên tục từ sớm, nhưng vẫn chưa có hệ thống chuẩn để đánh giá kết quả Hơn nữa, thiếu các nghiên cứu cấp ngành, cấp bộ và cấp nhà nước về đào tạo liên tục đã gây khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu tham khảo và đối chiếu kết quả nghiên cứu Các tài liệu nước ngoài chỉ có giá trị tham khảo, không thể so sánh do sự khác biệt về tiêu chuẩn đánh giá mô hình đào tạo liên tục.
Nghiên cứu này chỉ thực hiện đối với điều dƣỡng nên không thể áp dụng kết quả nghiên cứu với các đối tƣợng chuyên ngành khác
Việc phân chia các khoa lâm sàng tại các bệnh viện đa khoa huyện còn mơ hồ và không chuyên sâu như ở bệnh viện tuyến trung ương và tỉnh, dẫn đến sự chồng chéo giữa các khoa như khoa Nội tổng hợp, Nội Nhi, và Hồi sức cấp cứu Điều này gây khó khăn trong việc xác định rõ ràng các kỹ thuật điều dưỡng của từng khoa Hơn nữa, địa bàn nghiên cứu rộng và việc thu thập số liệu tốn nhiều thời gian.
2.9.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Nghiên cứu này sử dụng thông tin từ các khóa đào tạo và nội dung đào tạo trong năm 2015 và 2016, do đó, đối tượng nghiên cứu có thể nhớ lại không chính xác.
Để khắc phục vấn đề, cần đối chiếu với các chứng nhận tham gia khóa đào tạo liên tục, giấy mời hội thảo, tập huấn, sổ theo dõi và bảng chấm công của khoa.
Sai số có thể xảy ra khi sử dụng bộ câu hỏi tự điền, do một số cá nhân có thể chưa hiểu rõ câu hỏi hoặc không trả lời đúng theo yêu cầu của nghiên cứu.
Để khắc phục vấn đề, cần hướng dẫn trực tiếp ĐTNC theo từng khoa và giải đáp thắc mắc trước khi thu thập ý kiến Cung cấp hướng dẫn chi tiết cho từng cá nhân và kiểm tra kết quả nghiên cứu khi thu phiếu Nếu phát hiện phiếu không tuân theo hướng dẫn, cần đề nghị và hướng dẫn cá nhân thực hiện lại và bổ sung thông tin cần thiết.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin về đối tƣợng nghiên cứu
Nghiên cứu trên 299 điều dưỡng nhân viên (ĐTNC) cho thấy độ tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là từ 31 đến 40 tuổi, với 57,8% ở nhóm điều dưỡng quản lý hạng III và 39,8% ở nhóm viên chức điều dưỡng hạng IV Tỷ lệ điều dưỡng nữ cao hơn điều dưỡng nam, với 53,3% nữ trong nhóm quản lý hạng III và 20,0% trong nhóm hạng IV, trong khi viên chức điều dưỡng có 15,4% nữ ở hạng III và 65,7% ở hạng IV Về trình độ học vấn, 68,9% điều dưỡng quản lý có trình độ đại học, trong khi 73,2% viên chức điều dưỡng có trình độ trung cấp Thâm niên công tác cao nhất của điều dưỡng quản lý là từ 10-19 năm (44,4%) ở hạng III, trong khi nhân viên điều dưỡng có thâm niên từ 5-9 năm (42,1%) ở hạng IV.
Khoa Nhi có 4 điều dưỡng quản lý và 20 nhân viên điều dưỡng Khoa Ngoại Sản và Ngoại tổng hợp có 9 điều dưỡng quản lý cùng 60 nhân viên điều dưỡng Khoa Nội, Hồi sức cấp cứu - Nội có 12 điều dưỡng quản lý và 98 nhân viên điều dưỡng Các khoa khác như Khám bệnh, Y học cổ truyền, Liên chuyên khoa, Truyền nhiễm có 20 điều dưỡng quản lý và 74 nhân viên điều dưỡng Thông tin chi tiết được trình bày trong bảng 3.1.
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu
Thông tin Điều dƣỡng quản lý
(n = 254) Hạng III Hạng IV Hạng III Hạng IV
Khoa Hồi sức cấp cứu - nội, Nội
3.2 Thông tin về thực trạng đào tạo liên tục
Dựa trên số liệu từ phòng Tổ chức cán bộ Sở Y tế và các cơ sở ĐTLT, BVĐK huyện tại tỉnh Bắc Giang, chúng tôi đã tổng hợp kết quả công tác ĐTLT trong giai đoạn 2015 - 2016 như sau:
3.2.1 Công tác ĐTLT tại cơ sở ĐTLT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
Tỉnh Bắc Giang đã được Bộ Y tế cấp mã ĐTLT cho 05 cơ sở y tế, bao gồm Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Sản Nhi, Bệnh viện Phục hồi chức năng, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật và Bệnh viện Y học cổ truyền Ngoài ra, tỉnh còn có 02 trường trung cấp đào tạo về y dược, tập trung vào việc đào tạo học sinh chính quy và bồi dưỡng chuyên ngành quản lý bệnh viện, quản lý điều dưỡng, cũng như phương pháp sư phạm cho giáo viên Tuy nhiên, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật chưa triển khai các lớp ĐTLT do chưa có chương trình cụ thể, trong khi Bệnh viện Phục hồi chức năng và Bệnh viện Y học cổ truyền chủ yếu đào tạo cho bác sĩ, kỹ thuật viên và y sĩ.
33 chương trình ĐTLT đã được Hội đồng thẩm định chương trình ĐTLT của
Sở Y tế đã phê duyệt 05 chương trình chuyên sâu về điều dưỡng và một số chương trình đào tạo liên tục cho điều dưỡng, hộ sinh, bác sĩ và kỹ thuật viên Nội dung và kỹ thuật điều dưỡng trong chương trình đào tạo liên tục (ĐTLT) phù hợp với quy định về chức năng và nhiệm vụ của điều dưỡng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện ĐTLT, các đơn vị chưa thực hiện việc rà soát và điều chỉnh nội dung chương trình định kỳ, mà chỉ trình cấp có thẩm quyền phê duyệt bổ sung chương trình mới khi cần thiết "Chúng tôi vẫn chưa thực hiện được công tác điều chỉnh nội dung chương trình ĐTLT thường xuyên theo định kỳ, chỉ bổ sung mới chương trình khi có nhu cầu ĐTLT" (PVS cán bộ quản lý 3,4).
Trong năm 2015 và 2016, cơ sở ĐTLT tuyến tỉnh đã tổ chức 20 lớp đào tạo liên tục, tuy nhiên không có lớp riêng cho đội ngũ điều dưỡng, khiến họ phải tham gia cùng với nhiều đối tượng khác Nội dung đào tạo chủ yếu tập trung vào các kỹ thuật hồi sức cấp cứu và nhi khoa, đây là những kỹ thuật phức tạp và thường xuyên được áp dụng tại Bệnh viện ĐK huyện Việc cập nhật kiến thức và kỹ thuật mới là cần thiết để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng cao.
Mặc dù ĐTLT có mục tiêu củng cố và cập nhật kiến thức, kỹ năng cho nhân viên y tế, nhưng các cơ sở ĐTLT chưa thực hiện khảo sát đánh giá nhu cầu trước khi tuyển sinh và chưa đánh giá hiệu quả công việc của học viên sau khi trở về đơn vị Hiện tại, công tác khảo sát trước tuyển sinh chưa được thực hiện, và trong thời gian tới, chúng tôi sẽ điều chỉnh và triển khai quy trình này Một số khảo sát đã được thực hiện nhưng chỉ mang tính chất cá nhân, riêng lẻ.
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát nhu cầu đào tạo của các đơn vị trong ngành thông qua các cuộc gọi điện thoại và lồng ghép vào các đợt chuyển giao kỹ thuật mới theo Đề án 1816 Tuy nhiên, đến nay, chúng tôi vẫn chưa thực hiện đánh giá học viên sau khi họ trở về đơn vị làm việc do thiếu nhân lực và kinh phí Bảng 3.2 cung cấp thông tin chi tiết về công tác đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh Bắc Giang.
Bảng 3.2: Công tác ĐTLT tại cơ sở ĐTLT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
TT Nội dung Năm 2015 Năm 2016
1 Số cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh đƣợc Bộ Y tế cấp mã ĐTLT 5 5
2 Số chương trình ĐTLT đã được Hội đồng Sở
3 Số chương trình ĐTLT dành riêng cho điều dƣỡng đã đƣợc Hội đồng Sở Y tế phê duyệt 3 5
4 Số lớp ĐTLT đã thực hiện cho nhân viên y tế trên địa bàn tỉnh 11 9
5 Số lớp ĐTLT dành riêng cho điều dƣỡng 0 0
6 Nội dung, kỹ thuật chuyên môn điều dƣỡng có số học viên tham gia đào tạo nhiều nhất
Hồi sức cấp cứu, Nhi
Hồi sức cấp cứu, Nhi
Chương trình đào tạo điều dưỡng có bài giảng về nội dung:
- Tƣ vấn, giáo dục sức khỏe
- Kỹ thuật điều dƣỡng cơ bản
- Các kỹ thuật điều dƣỡng
- Phối hợp, hỗ trợ công tác điều trị của bác sỹ
8 Điều chỉnh nội dung, bài giảng ĐTLT định kỳ (ít nhất 02 năm/01 lần) Không Không
9 Thực hiện khảo sát nhu cầu đào tạo trước khi tuyển sinh học viên Không Không
10 Khảo sát đánh giá hiệu quả công việc của học viên tại đơn vị sau các khóa ĐTLT Không Không
3.2.2 Công tác ĐTLT tại các BVĐK huyện
Rà soát công tác đào tạo liên tục (ĐTLT) cho đội ngũ điều dưỡng tại các bệnh viện đa khoa (BVĐK) huyện cho thấy còn nhiều hạn chế Các BVĐK huyện chủ yếu tập trung vào việc nâng cao trình độ chuyên môn cho viên chức, với số lượng viên chức dự kiến cử đi ĐTLT trong giai đoạn 2015-2016 chỉ đạt từ 52-70 người, tương đương 13,1% - 15,2% so với tổng biên chế điều dưỡng là 462 người Thực tế, chỉ có 51 điều dưỡng được cử đi ĐTLT, chiếm 72,9% so với kế hoạch, trong đó 36 điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng.
Tại tỉnh, có 24/36 điều dưỡng lâm sàng được đào tạo lâm sàng, bao gồm 10 điều dưỡng hạng III và 14 điều dưỡng hạng IV Khoa Hồi sức cấp cứu, Ngoại Sản và Nhi khoa là những khoa có số lượng điều dưỡng được đào tạo lâm sàng nhiều nhất, trong khi khoa Khám bệnh và khoa Liên có số lượng ít hơn.
HUPH chuyên khoa, Y học cổ truyền, Truyền nhiễm Chi tiết công tác ĐTLT ở BVĐK huyện đƣợc trình bày tại bảng 3.3
Bảng 3.3: Công tác ĐTLT tại BVĐK huyện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
TT Nội dung Năm 2015 Năm 2016
1 Số viên chức điều dƣỡng cử đi ĐTLT
Dự kiến Thực tế Dự kiến Thực tế
2 Số điều dƣỡng lâm sàng đƣợc cử đi ĐTLT
Tổng số ĐTLT tuyến tỉnh Tổng số ĐTLT tuyến tỉnh
Khoa lâm sàng có số điều dƣỡng đi ĐTLT nhiều nhất
Hồi sức cấp cứu Nội, Ngoại, Sản
Hồi sức cấp cứu Nội, Ngoại Sản, Nhi
Khoa lâm sàng có số điều dƣỡng đi ĐTLT ít nhất
Khám bệnh, Liên chuyên khoa, Truyền nhiễm, Y học cổ truyền
Khám bệnh, Liên chuyên khoa, Truyền nhiễm, Y học cổ truyền,
Kết quả định lượng cho thấy, 85,8% ĐTNC cập nhật đầy đủ thông tin về ĐTLT, trong khi 11,8% thỉnh thoảng cập nhật và 2,4% không cập nhật thông tin về ĐTLT.
Biểu đồ 3.1: Thực trạng cập nhật thông tin ĐTLT của ĐTNC
11.8 % 2.4 % Đầy đủ Thỉnh thoảng Không cập nhật
Mặc dù 85,8% đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) đã được cập nhật đầy đủ thông tin về ĐTLT, chỉ có 34,3% ĐTNC trả lời đúng thời gian ĐTLT theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BYT (48 giờ/02 năm liên tục) Hơn một nửa (51,2%) ĐTNC không biết thời gian ĐTLT bắt buộc đối với nhân viên y tế, và một số ĐTNC biết quy định về ĐTLT nhưng không nhớ chính xác thời gian.
Biểu đồ 3.2 Hiểu biết về thời gian ĐTLT của ĐTNC
Qua khảo sát và trao đổi với cán bộ quản lý công tác đào tạo liên tục (ĐTLT) tại các cơ sở y tế huyện Bắc Giang, chúng tôi nhận thấy rằng điều dưỡng tham gia các khóa tập huấn ngắn ngày không được cấp giấy chứng nhận, trong khi điều dưỡng tham gia các khóa ĐTLT từ 01 tháng trở lên sẽ được cấp chứng chỉ theo quy định tại Thông tư số 22/2013/TT-BYT Do đó, nghiên cứu này chỉ trình bày thông tin liên quan đến các khóa ĐTLT được cấp chứng chỉ theo quy định của Bộ Y tế.
Trong một nghiên cứu, 254 nhân viên điều dưỡng từ các khoa lâm sàng đã được phỏng vấn và so sánh với dữ liệu học viên tham gia các khóa đào tạo liên tục (ĐTLT) tại tỉnh Kết quả cho thấy chỉ có 36 điều dưỡng (14,2%) tham gia các khóa ĐTLT, trong đó 86,1% chỉ tham gia 01 khóa, 13,9% tham gia 02 khóa, và không có ai tham gia từ 03 khóa trở lên Khóa ĐTLT có thời gian từ 1-3 tháng thu hút nhiều điều dưỡng nhất với tỷ lệ 55,6%, trong khi chỉ có 01 cá nhân (2,7%) tham gia khóa ĐTLT kéo dài từ 6 tháng trở lên.
12 giờ 24 giờ 36 giờ 48 giờ Không biết
Cơ sở ĐTLT tuyến tỉnh có tỷ lệ điều dưỡng tham gia ĐTLT cao nhất (66,7%), trong khi tỷ lệ tại cơ sở ĐTLT tuyến trung ương chỉ đạt 27,8% Tại các trường y dược, do môi trường thực hành không đa dạng và không sát với thực tế, tỷ lệ tham gia ĐTLT rất thấp, chỉ 5,5% Đối với ĐTNC, 41,7% tham gia các khóa ĐTLT được dự án hoặc chương trình chi trả kinh phí, 38,9% do đơn vị chi trả hoàn toàn, và 19,4% là sự kết hợp giữa cá nhân và đơn vị Theo PVS – cán bộ quản lý, cá nhân đi ĐTLT chủ yếu nhận hỗ trợ từ các dự án hoặc chương trình, trong khi một số trường hợp khác, đơn vị hỗ trợ tùy theo khóa học và quy chế chi tiêu nội bộ Bảng 3.4 cung cấp thông tin chi tiết về ĐTLT của nhân viên điều dưỡng.
Bảng 3.4 Kết quả tham gia các khóa ĐTLT của nhân viên điều dƣỡng
Số người tham gia các khóa ĐTLT (n = 254 người )
Số khóa đào tạo liên tục cá nhân đã tham gia
Thời gian trung bình của khóa ĐTLT các cá nhân đã tham gia (n = 36 người)
Cơ sở y tế cá nhân đã tham gia ĐTLT (n = 36 người)
Kinh phí chi trả cho các khóa ĐTLT
Cá nhân chi trả hoàn toàn 0 0 Đơn vị chi trả hoàn toàn 14 38,9
(n = 36 người) Cá nhân và đơn vị cùng chi trả 7 19,4
Do các dự án/chương trình chi trả 15 41,7
Nhu cầu đào tạo liên tục giai đoạn 2017 - 2018
Khảo sát 254 nhân viên điều dưỡng (48 điều dưỡng hạng III, 206 điều dưỡng hạng IV) và 45 điều dưỡng quản lý về nhu cầu đào tạo liên tục (ĐTLT) trong giai đoạn 2017-2018 nhằm tìm hiểu sự tương đồng và khác nhau giữa nhu cầu ĐTLT của nhân viên điều dưỡng và điều dưỡng quản lý đã cho thấy những kết quả đáng chú ý.
3.3.1 Về địa điểm, thời gian mong được ĐTLT
Khảo sát 254 nhân viên điều dưỡng và 45 điều dưỡng quản lý cho thấy nhu cầu của hai nhóm này có sự tương đồng trong việc lựa chọn địa điểm và thời gian đào tạo liên tục.
Hơn 50% nhân viên điều dưỡng và điều dưỡng quản lý bày tỏ nhu cầu tham gia các khóa đào tạo liên tục tại cơ sở đào tạo của tỉnh, với tỷ lệ lần lượt là 54,3% và 53,3% Khoảng 2/3 trong số họ mong muốn thời gian trung bình của các khóa đào tạo liên tục là từ 3 đến 6 tháng, trong đó 78,3% nhân viên điều dưỡng và 80,0% điều dưỡng quản lý có cùng nguyện vọng này.
Nhu cầu tập huấn của nhân viên điều dưỡng tại các cơ sở tuyến tỉnh đạt 46,9%, gần tương đương với 53,3% của điều dưỡng quản lý Hơn 50% nhân viên điều dưỡng (53,9%) và điều dưỡng quản lý (53,3%) mong muốn thời gian tập huấn trung bình từ 3-5 ngày, đồng thời đều yêu cầu cấp giấy chứng nhận để chuyển đổi số giờ đào tạo liên tục theo quy định của Bộ Y tế Bảng 3.9 cung cấp thông tin chi tiết về địa điểm và thời gian có nhu cầu đào tạo liên tục.
Bảng 3.9 Địa điểm, thời gian mong muốn đào tạo liên tục
Tỷ lệ (%) Địa điểm mong muốn đƣợc ĐTLT
Cơ sở đào tạo liên tục tuyến tỉnh 138 54,3 24 53,3
HUPH Địa điểm mong muốn đƣợc ĐTLT
Các viện nghiên cứu, bệnh viện tuyến trung ƣơng
Thời gian mong muốn đƣợc ĐTLT
Từ 7- 9 tháng 12 4,7 2 4,4 Địa điểm mong muốn đƣợc tập huấn
Tại đơn vị mình công tác 82 32,3 13 28,9
Thời gian mong muốn đƣợc tập huấn
3.3.2 Nhu cầu ĐTLT về nội dung, kỹ thuật điều dưỡng cơ bản
Kết quả khảo sát cho thấy hơn 50% nhân viên điều dưỡng và điều dưỡng quản lý có nhu cầu được đào tạo liên tục về các nội dung điều dưỡng Cụ thể, 72,4% nhân viên điều dưỡng và 64,4% điều dưỡng quản lý mong muốn được đào tạo về đảm bảo an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn trong chăm sóc người bệnh Ngoài ra, 61,0% nhân viên điều dưỡng và 53,3% điều dưỡng quản lý cần được tư vấn giáo dục sức khỏe, trong khi 50,4% nhân viên điều dưỡng và 53,3% điều dưỡng quản lý quan tâm đến việc theo dõi và đánh giá người bệnh.
Kỹ thuật điều dƣỡng cơ bản có nhu cầu ĐTLT trong giai đoạn 2017- 2018 là:
Trong việc cấp cứu sốc phản vệ, tỷ lệ nhân viên điều dưỡng thực hiện đạt 81,5%, trong khi điều dưỡng quản lý đạt 91,1% Đối với kỹ thuật truyền máu, tỷ lệ nhân viên điều dưỡng là 71,7% và điều dưỡng quản lý là 64,4% Về kỹ năng bóp bóng ambu và ép tim ngoài lồng ngực, tỷ lệ nhân viên điều dưỡng đạt 64,2%, trong khi điều dưỡng quản lý là 73,3%.
Các nội dung và kỹ thuật điều dưỡng cơ bản liên quan đến nhu cầu đào tạo liên tục của nhân viên điều dưỡng và điều dưỡng quản lý đều đạt dưới 50,0%, như được thể hiện trong bảng 3.10.
Bảng 3.10 Nội dung, kỹ thuật điều dƣỡng cơ bản có nhu cầu ĐTLT
1 Đảm bảo an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn, kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh
2 Tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe 155 61,0 24 53,3
3 Theo dõi đánh giá người bệnh 128 50,4 24 53,3
5 Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh 116 45,7 19 42,2
6 Chăm sóc phục hồi chức năng 112 44,1 19 42,2
7 Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật 111 43,7 14 31,1
8 Chăm sóc về tinh thần, vệ sinh cá nhân 103 40,6 13 28,9
9 Ghi chép hồ sơ bệnh án
Kỹ thuật điều dƣỡng cơ bản
10 Cấp cứu sốc phản vệ 207 81,5 44 91,1
12 Bóp bóng ambu, ép tim ngoài lồng ngực 163 64,2 33 73,3
14 Dẫn lưu nước tiểu liên tục 101 39,8 20 44,4
17 Lấy máu, nước tiểu xét nghiệm 28 11,0 8 17,8
18 Tiêm bắp, tiêm dưới da, tiêm tĩnh mạch 27 10,6 6 13,3
19 Đo dấu hiệu sinh tồn 17 6,7 4 8,9
3.3.3 Nhu cầu về các kỹ thuật điều dưỡng nội, hồi sức cấp cứu
Khảo sát 98 nhân viên điều dƣỡng (19 điều dƣỡng hạng III, 79 điều dƣỡng hạng IV), 12 điều dƣỡng quản lý khoa Nội, Hồi sức cấp cứu, Nội- Hồi sức cấp cứu
Trong khoa Nhi, có 22 nhân viên điều dưỡng, bao gồm 02 điều dưỡng hạng III và 20 điều dưỡng hạng IV, cùng với 04 điều dưỡng quản lý Chúng tôi nhận thấy nhu cầu đào tạo liên tục (ĐTLT) của người quản lý và viên chức có sự tương đồng ở một số kỹ thuật.
Nhóm kỹ thuật nội và hồi sức cấp cứu cho thấy rằng 5/9 kỹ thuật nhu cầu ĐTLT của nhân viên điều dưỡng và điều dưỡng quản lý đều vượt quá 50% Cụ thể, nhu cầu của nhân viên điều dưỡng dao động từ 67,3% đến 75,5%, trong khi nhu cầu của điều dưỡng quản lý từ 91,7% đến 100% Đặc biệt, kỹ thuật sử dụng máy monitor có nhu cầu là 49,0% đối với nhân viên điều dưỡng và 75,0% đối với điều dưỡng quản lý.
Kỹ thuật hồi sức cho trẻ bị ngạt có nhu cầu ĐTLT của nhân viên điều dưỡng là 77,3%, trong khi nhu cầu của điều dưỡng quản lý đạt 100,0% Đối với việc hút đờm dãi cho trẻ, nhu cầu ĐTLT của nhân viên điều dưỡng là 36,4%, còn nhu cầu của điều dưỡng quản lý là 75,0%.
Trong hai năm tới, điều dưỡng sẽ ưu tiên các kỹ thuật ĐTLT theo thứ tự sau: (1) Hồi sức cho trẻ sơ sinh bị ngạt, (2) Chuẩn bị đặt catheter tĩnh mạch trung tâm, (3) Trợ giúp bác sĩ trong việc mở và đặt khí quản, và (4) Cấp cứu.
HUPH hỗ trợ trong việc cứu sống bệnh nhân ngừng tim và ngừng thở Ngoài ra, HUPH còn trợ giúp bác sĩ trong các kỹ thuật chọc dò dịch màng phổi, màng tim và màng bụng, cũng như chọc dò dịch não tủy Bảng 3.11 cung cấp thông tin chi tiết về nhu cầu đào tạo lâm sàng cho các kỹ thuật này.
Bảng 3.11 Nhu cầu ĐTLT về kỹ thuật điều dƣỡng chuyên khoa nội, hồi sức cấp cứu, nhi
Nhân viên điều dƣỡng Điều dƣỡng quản lý
Kỹ thuật chuyên ngành nội, hồi sức cấp cứu n = 98 n= 12
1 Chuẩn bị đặt catheter tĩnh mạch trung tâm 74 75,5 12 100,0
2 Trợ giúp bác sỹ mở và đặt khí quản 74 75,5 12 100,0
3 Cấp cứu ngừng tim, ngừng thở 72 73,5 12 100,0
4 Trợ giúp bác sỹ chọc dò dịch màng phổi, màng tim, màng bụng 71 72,4 12 100,0
5 Trợ giúp bác sỹ chọc dò dịch não tủy 66 67,3 11 91,7
7 Nuôi dƣỡng qua ống thông dạ dày 34 34,7 1 8,3
Kỹ thuật chuyên ngành nhi n = 22 n = 4
10 Hồi sức cho trẻ sơ sinh khi bị ngạt 17 77,3 4 100
11 Hút đờm dãi cho trẻ 8 36,4 3 75,0
3.3.4 Nhu cầu ĐTLT các nội dung, kỹ thuật điều dưỡng ngoại khoa, sản khoa
Nhu cầu đào tạo liên tục (ĐTLT) giữa điều dưỡng quản lý và nhân viên điều dưỡng ở nhóm kỹ thuật ngoại và sản khoa có sự khác biệt rõ rệt Qua việc phỏng vấn 60 nhân viên điều dưỡng, trong đó có 34 người thực hiện cả kỹ thuật ngoại và kỹ thuật sản, bao gồm 14 điều dưỡng hạng III và 46 điều dưỡng hạng IV, cùng với 09 điều dưỡng quản lý, kết quả cho thấy sự phân hóa trong nhu cầu ĐTLT giữa các nhóm này.
Thay băng hậu môn nhân tạo là kỹ thuật duy nhất có nhu cầu đào tạo lý thuyết (ĐTLT) trên 50,0% ở nhân viên điều dưỡng, trong khi 9/10 kỹ thuật ngoại khoa còn lại có nhu cầu ĐTLT dưới 45,0% Đặc biệt, 4/10 kỹ thuật có nhu cầu ĐTLT của điều dưỡng quản lý trên 50,0%, bao gồm thay băng hậu môn nhân tạo, đặt và chăm sóc ống dẫn lưu, mang găng và mặc áo vô khuẩn, cũng như thay băng và rửa vết thương có dẫn lưu Ngược lại, 2/10 kỹ thuật mà nhân viên điều dưỡng có nhu cầu nhưng điều dưỡng quản lý lại không có nhu cầu ĐTLT là thay băng, rửa, cắt chỉ vết thương thông thường và băng bằng băng cuộn Nhu cầu ĐTLT cho kỹ thuật trợ giúp bác sĩ và hộ sinh khâu tầng sinh môn ở cả điều dưỡng quản lý và nhân viên điều dưỡng đều dưới 30,0% Chi tiết được mô tả tại bảng 3.12.
Bảng 3.12: Nhu cầu ĐTLT về kỹ thuật điều dƣỡng chuyên khoa ngoại, sản
Nhân viên điều dƣỡng Điều dƣỡng quản lý
1 Thay băng hậu môn nhân tạo 45 75,0 7 77,8
2 Đặt, theo dõi, chăm sóc ống dẫn lưu 26 43,3 7 77,8
3 Mang găng, mặc và cởi áo vô khuẩn 21 35,0 5 55,6
4 Thay băng, rửa vết thương có dẫn lưu 20 33,3 5 55,6
5 Cố định gãy xương kín, xương hở 20 33,3 2 22,2
6 Chuẩn bị dụng cụ tiệt khuẩn 19 3,17 3 33,3
7 Rửa tay ngoại khoa (rửa tay vô khuẩn) 17 28,3 4 44,4
8 Chuẩn bị người bệnh trước mổ 16 23,3 3 22,2
9 Thay băng, rửa, cắt chỉ vết thương thông thường 9 15,0 0 0,0
11 Trợ giúp bác sỹ, hộ sinh khâu tầng sinh môn 9 26,5 1 12,5
BÀN LUẬN
Nghiên cứu này nhằm mô tả thực trạng công tác đào tạo lâm sàng đối với đội ngũ điều dưỡng tại các bệnh viện đa khoa huyện, tổ chức đào tạo lâm sàng của các cơ sở tuyến tỉnh, và nhu cầu đào tạo lâm sàng của điều dưỡng quản lý cũng như nhân viên điều dưỡng lâm sàng trong giai đoạn 2017-2018 tại 08 bệnh viện đa khoa huyện ở tỉnh Bắc Giang Thông tin được thu thập định lượng thông qua phiếu phát vấn tự điền với 299 điều dưỡng viên.
Trong tổng số 299 nhân viên điều dưỡng, có 254 người là nhân viên điều dưỡng và 45 người là viên chức điều dưỡng quản lý Kế hoạch đào tạo và số liệu tổng hợp về công tác đào tạo liên tục tại Bệnh viện Đa khoa huyện được thu thập từ phòng Tổ chức cán bộ Sở Y tế và các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh Thông tin định tính được thu thập thông qua phỏng vấn sâu với các cá nhân liên quan đến tổ chức, xây dựng và thực hiện đào tạo liên tục Điều dưỡng quản lý hạng III chủ yếu có trình độ đại học và thâm niên nghề nghiệp từ 10-19 năm, trong khi điều dưỡng quản lý hạng IV thường có trình độ trung cấp và thâm niên trên 20 năm Kết quả cho thấy viên chức quản lý cần có độ chín về tuổi đời, kỹ năng ứng xử và quản lý, cũng như trình độ chuyên môn và lý luận chính trị Điều dưỡng quản lý hạng IV chủ yếu là những người được bổ nhiệm từ giai đoạn trước, khi tiêu chí bổ nhiệm còn hạn chế Hiện nay, tiêu chí bổ nhiệm đã thay đổi, yêu cầu cao hơn về trình độ chuyên môn và năng lực quản lý Điều dưỡng hạng III trong độ tuổi 31-40 chiếm tỷ lệ cao nhất, phù hợp với thực tế hiện nay, nhờ vào trình độ đại học chính quy và năng lực chuyên môn tốt Kết quả nghiên cứu này tương ứng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thu Hằng tại Bệnh viện C Thái Nguyên.
Nhân viên điều dưỡng chủ yếu có trình độ trung cấp (73,2%), cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoài Thu (56,2%) và Nguyễn Thu Hằng (47,5%) Điều này cho thấy nhu cầu tuyển dụng điều dưỡng tại các đơn vị tương đối cao, có thể do mức lương thấp nhưng công việc vẫn yêu cầu trình độ cao Tuy nhiên, thách thức lớn đối với các bệnh viện đa khoa huyện là việc nâng cao trình độ chuyên môn theo quy định tại Thông tư số 26/2015/TTLT-BYT-BNV, yêu cầu tất cả nhân viên y tế phải có trình độ tối thiểu là cao đẳng đến 01/01/2025 Tỷ lệ điều dưỡng nữ cao hơn so với nam, điều này thuận lợi cho việc thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng yêu cầu tính tỷ mỉ và cẩn thận Tỷ lệ nữ điều dưỡng trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó của Nguyễn Thị Hoài Thu (78,1%) và Nguyễn Thu Hằng (76,7%).
4.2 Thực trạng công tác ĐTLT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang
4.2.1 Công tác tổ chức ĐTLT tại các cơ sở ĐTLT
Hiện nay, vẫn còn 01/05 cơ sở y tế được Bộ Y tế cấp mã ĐTLT chưa triển khai các lớp ĐTLT do chưa được Hội đồng thẩm định Sở Y tế phê duyệt chương trình ĐTLT Điều này cho thấy sự cần thiết trong công tác quản lý và chỉ đạo của các phòng chức năng thuộc Sở Y tế.
Sở Y tế cần cải thiện quản lý, vì Trung tâm Kiểm soát bệnh tật đã được cấp mã ĐTLT từ năm 2011, dẫn đến lãng phí về cơ sở vật chất và nguồn lực.
Chỉ có 5 trong số 33 chương trình (15,1%) được Sở Y tế phê duyệt ĐTLT cho đối tượng điều dưỡng, cho thấy tỷ lệ này quá thấp so với tổng số 1482 điều dưỡng trong ngành y tế (trong tổng số 5914 biên chế) Điều này cho thấy nhu cầu đào tạo và phát triển cho đội ngũ điều dưỡng vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ.
HUPH nhật lại, bổ sung kiến thức, kỹ thuật mới cho đối tƣợng điều dƣỡng trên địa bàn tỉnh
Kể từ khi triển khai công tác ĐTLT, các đơn vị chưa thực hiện rà soát và điều chỉnh nội dung chương trình đào tạo, lý do chủ yếu là do thiếu nhân lực quản lý và giảng viên chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng sư phạm Khối lượng công việc lớn và kinh phí hạn chế cho việc soạn giáo trình cũng là những rào cản lớn Việc không điều chỉnh và bổ sung kiến thức mới định kỳ đã khiến các khóa ĐTLT trở nên kém hấp dẫn đối với người tham gia Nghiên cứu của Lyn Dyson tại hai bệnh viện ở New Zealand nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng và điều chỉnh chương trình ĐTLT để phù hợp với từng đối tượng điều dưỡng, cho thấy rằng việc cập nhật nội dung đào tạo liên tục là rất cần thiết.
Trong giai đoạn 2015 - 2016, đã có 20 lớp ĐTLT được triển khai, nhưng không có lớp nào dành riêng cho đội ngũ điều dưỡng Điều này tạo ra sự bất công giữa các đối tượng, vì điều dưỡng cũng cần cập nhật kiến thức theo quy định và thực tế bệnh tật Kết quả này cho thấy các đơn vị chưa quan tâm đúng mức đến công tác điều dưỡng trong quá trình khám, chữa bệnh và chưa thực hiện trách nhiệm của tổ chức sử dụng lao động đối với người lao động.
Chuyên ngành hồi sức cấp cứu và nhi có số điều dưỡng tham gia ĐTLT cao nhất do tính phức tạp của bệnh tật trong hai lĩnh vực này Kỹ thuật hồi sức cấp cứu là nền tảng quan trọng trong công tác cấp cứu bệnh nhân; nếu nhân viên y tế thành thạo các kỹ thuật này, họ sẽ tự tin làm việc ở bất kỳ vị trí nào.
Chương trình ĐTLT được xây dựng dựa trên các nội dung điều dưỡng theo quy định, cho thấy sự chú trọng của người biên soạn vào các công việc và nhiệm vụ cần thiết Điều này không chỉ đảm bảo tính phù hợp của chương trình mà còn thu hút các đơn vị cử điều dưỡng tham gia ĐTLT tại tỉnh.
Công tác tổ chức đào tạo lý thuyết tại các cơ sở trên địa bàn tỉnh hiện chưa được thực hiện một cách bài bản và khoa học Điều này dẫn đến việc chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, người học và các đơn vị sử dụng lao động.
HUPH chưa thực hiện khảo sát nhu cầu đào tạo liên tục (ĐTLT) của người học và tổ chức sử dụng lao động trước khi xây dựng kế hoạch đào tạo hàng năm Công tác đánh giá hiệu quả khóa học chỉ được thực hiện vào cuối khóa, thiếu sự tương tác giữa các bên và không xác định mục tiêu ĐTLT theo nhu cầu xã hội Điều này dẫn đến chất lượng đào tạo liên tục chưa đạt kết quả cao So với nghiên cứu của Triệu Văn Tuyến về nhân viên trạm y tế tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2013-2014, qui trình tuyển sinh ĐTLT tại hầu hết các cơ sở vẫn chưa bài bản, khảo sát nhu cầu trước tuyển sinh mang tính hình thức và chưa phản ánh đúng nhu cầu thực tế của người học và tổ chức sử dụng lao động.
4.2.2 Công tác ĐTLT tại các BVĐK huyện
Theo quy định hàng năm, các đơn vị y tế cần xây dựng kế hoạch đào tạo cho nhân viên, bao gồm nâng cao trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, quản lý nhà nước và đào tạo lý thuyết Tuy nhiên, thực tế cho thấy các đơn vị chủ yếu tập trung vào đào tạo chuyên môn, trong khi chỉ tiêu đào tạo lý thuyết thường ít hoặc không có Đào tạo chuyên môn và lý luận chính trị thường dựa trên nhu cầu cá nhân từ các khoa phòng, trong khi đào tạo kỹ thuật mới thường do các khoa đăng ký hoặc được chỉ định bởi đơn vị Mặc dù chỉ tiêu đào tạo lý thuyết được xây dựng dựa trên nhu cầu tổ chức, nhưng nội dung cụ thể chưa được xác định do phụ thuộc vào chương trình và đối tượng tuyển sinh của các cơ sở đào tạo Điều này cho thấy công tác đào tạo lý thuyết tại BVĐK huyện còn thụ động và chưa đáp ứng đúng nhu cầu của người lao động, chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của tổ chức và các chương trình, dự án.
HUPH được cử đi ĐTLT những nội dung và kỹ năng mà bản thân đã thành thục, hoặc những kỹ năng không cần thiết cho công việc hiện tại, dẫn đến lãng phí nguồn lực và tài chính, đồng thời không thu hút người tham gia đào tạo.
Số lượng điều dưỡng đi đào tạo lâm sàng chưa đạt chỉ tiêu kế hoạch, chỉ đạt 72,9%, cho thấy sự thiếu quan tâm trong việc đào tạo điều dưỡng Các đơn vị vẫn coi điều dưỡng là người hỗ trợ, chưa nhận thức đúng vai trò của họ trong quá trình chăm sóc bệnh nhân Điều dưỡng lâm sàng chiếm 70,6% tổng số điều dưỡng được cử đi đào tạo, tỷ lệ này phản ánh thực tế vì họ thường xuyên tiếp xúc và thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng trên bệnh nhân, do đó cần được đào tạo thường xuyên.