1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017

98 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Bạo lực Bệnh viện Đối Với Điều Dưỡng Viên Và Một Số Yếu Tố Ảnh Hưởng Tại Bệnh Viện Nhi Trung Ương Năm 2017
Tác giả Đào Ngọc Phức
Người hướng dẫn TS Phạm Thu Hiền, PGS.TS Lã Ngọc Quang
Trường học Học viện Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Khái niệm, phân loại bạo lực và bạo lực bệnh viện (15)
      • 1.1.1. Khái niệm và phân loại bạo lực (15)
      • 1.1.2. Khái niệm và phân loại bạo lực nơi làm việc (16)
    • 1.2 Khái niệm và chức trách nhiệm vụ của điều dưỡng (18)
      • 1.2.1. Khái niệm về điều dưỡng (18)
      • 1.2.2. Chức năng nhiệm vụ của điều dưỡng (18)
    • 1.3. Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế (20)
      • 1.3.1. Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế trên thế giới (20)
      • 1.3.2. Thực trạng bạo lực với nhân viên Y tế tại Việt Nam (25)
    • 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện của nhân viên y tế (27)
    • 1.5. Giới thiệu về Bệnh viện Nhi Trung ương (28)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (31)
    • 2.1. Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu (31)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu (31)
      • 2.1.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu (31)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (31)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (31)
      • 2.2.2. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (31)
    • 2.3. Nội dung và biến số nghiên cứu (33)
      • 2.3.1. Bộ câu hỏi đánh giá bạo lực nghề nghiệp của điều dưỡng viên (33)
      • 2.3.2. Biến số nghiên cứu (33)
      • 2.3.3. Chủ đề nghiên cứu định tính (34)
    • 2.4. Phương pháp thu thập số liệu (34)
      • 2.4.1. Thử nghiệm phiếu điều tra (34)
      • 2.4.2. Thu thập số liệu định lượng (35)
      • 2.4.3. Thu thập số liệu định tính (35)
      • 2.4.4. Phân tích số liệu (35)
    • 2.5. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (36)
    • 2.6. Sai số và biện pháp khắc phục (36)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (37)
    • 3.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu (37)
    • 3.2. Thực trạng BLBV đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại bệnh viện Nhi Trung ương (39)
      • 3.2.1. Tỷ lệ bạo lực đối với ĐDV do bệnh nhân/người nhà bệnh nhân gây ra tại Bệnh viện Nhi Trung ương (39)
      • 3.2.2. Phản ứng khi ĐDV bị bạo lực do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại Bệnh viện Nhi Trung ương (41)
      • 3.2.3. Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố có thể làm gia tăng BLBV (42)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện ở điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi Trung ương (46)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (50)
    • 4.1. Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại bệnh viện Nhi Trung ương (50)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi Trung ương (59)
    • 4.3. Hạn chế của nghiên cứu (62)
  • KẾT LUẬN (63)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (65)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Điều dưỡng viên làm việc tại các khoa lâm sàng của bệnh viện

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

- Những điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng của bệnh viện Nhi trên 6 tháng tính đến thời điểm nghiên cứu

- Vắng mặt tại thời điểm tiến hành nghiên cứu

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Đại diện BGĐ, trưởng phòng tổ chức cán bộ, trưởng phòng Điều dưỡng, điều dưỡng trưởng khoa khám bệnh, điều dưỡng trưởng khoa cấp cứu

2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 04/2017 đến tháng 07/2017

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Nhi Trung ương 18/879 Đê La Thành- Đống Đa- Hà Nội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.2.2.Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu a) Cỡ mẫu

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:

- Z: Hệ số tin cậy, ứng với độ tin cậy 95%, tra bảng có (1 )

- p = 0,75 (lấy theo tỷ lệ điều dưỡng đã bị bạo lực trong nghiên cứu của và Ucmak 74,5%)[21]

- d: Sai số tuyệt đối cho phép, lấy d= 0,06 (sai số cho phép 6%)

- Thay số vào ta được kết quả n = 288 mẫu Dự phòng 10% đối tượng nghiên cứu bỏ cuộc hoặc điền thiếu thông tin nên cỡ mẫu sẽ là 317 mẫu

 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính

+ Thảo luận nhóm: 2 cuộc b) Phương pháp chọn mẫu:

Bệnh viện Nhi hiện có 761 điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng, trong đó chỉ 641 điều dưỡng đủ điều kiện tham gia nghiên cứu Điều này có nghĩa là cứ 2 điều dưỡng thì có 1 người được chọn vào nghiên cứu Nghiên cứu viên sẽ tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên để lựa chọn điều dưỡng tham gia từ từng khoa.

Trong một khoa có 10 người, quá trình chọn ngẫu nhiên 5 người đã thu thập được tổng cộng 325 phiếu Sau khi làm sạch dữ liệu, nghiên cứu viên chỉ chọn được 300 mẫu để đưa vào phân tích kết quả.

+ Phỏng vấn sâu: 05 cuộc (đại diện BGĐ, trưởng phòng tổ chức cán bộ, trưởng phòng Điều dưỡng, điều dưỡng trưởng khoa khám bệnh, điều dưỡng trưởng khoa cấp cứu)

+ Thảo luận nhóm: 2 cuộc: Nhóm 1 (5 cán bộ đã từng bị bạo lực); Nhóm 2 (5 cán bộ chưa bị bạo lực)

Nội dung và biến số nghiên cứu

2.3.1 Bộ câu hỏi đánh giá bạo lực nghề nghiệp của điều dưỡng viên

Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên nghiên cứu “Bạo lực tại nơi làm việc đối với điều dưỡng ở 3 cơ sở y tế khác nhau của Hy Lạp” năm 2014, được đăng trên tạp chí WORK của tác giả Fafliora E và cộng sự (2015) Bộ câu hỏi này tuân thủ các tiêu chuẩn của Văn phòng người lao động quốc tế, Hội điều dưỡng thế giới và Tổ chức Y tế thế giới, với 109 câu hỏi ban đầu nhằm thu thập thông tin về cá nhân, môi trường làm việc và các loại bạo lực bệnh viện như bạo lực thể chất, tinh thần và tình dục Để phù hợp với thực tiễn tại bệnh viện Nhi Trung ương, bộ câu hỏi đã được điều chỉnh và rút gọn còn 39 câu hỏi, loại bỏ một số câu hỏi liên quan đến bạo lực tình dục và quấy rối chủng tộc.

Bộ câu hỏi bao gồm các phần: thông tin chung về đối tượng nghiên cứu, đánh giá bạo lực xảy ra tại các khoa/phòng của bệnh viện, khảo sát trải nghiệm bạo lực, xác định thủ phạm và các tình huống gây ra bạo lực, cũng như mức độ ảnh hưởng của bạo lực đến sức khỏe và công việc của điều dưỡng viên, và cuối cùng là đề xuất các giải pháp phòng ngừa hiệu quả.

- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu như: Tuổi, giới tính, trình độ, thâm niên công tác, khoa phòng công tác, loại hình công việc

Tình trạng bạo lực trong bệnh viện đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng, bao gồm bạo lực lời nói và bạo lực thể chất Nhiều nhân viên y tế đã từng trải qua những tình huống này, dẫn đến nhu cầu cấp thiết về quy trình báo cáo hiệu quả Phản hồi từ lãnh đạo sau các sự cố bạo lực cũng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện môi trường làm việc Hơn nữa, mức độ an ninh của bệnh viện cần được nâng cao để bảo vệ nhân viên và bệnh nhân khỏi những hành vi bạo lực.

Các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên bao gồm nguyên nhân gây ra tình trạng bạo lực, việc sử dụng chất kích thích của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, sự quá tải trong bệnh viện, và mức độ minh bạch trong cung cấp dịch vụ Ngoài ra, thiếu hướng dẫn và chỉ dẫn trong bệnh viện, sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ, hành vi không phù hợp của điều dưỡng viên, cũng như thiếu thông tin từ bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, cùng với thời gian chờ đợi, đều góp phần làm gia tăng bạo lực trong môi trường y tế.

Bạo lực bệnh viện có tác động tiêu cực đến điều dưỡng, gây ra stress, lo lắng và trầm cảm Những cảm xúc này dẫn đến sự không hài lòng với công việc, mong muốn thay đổi nơi làm việc và hiệu suất làm việc kém.

2.3.3 Chủ đề nghiên cứu định tính

- Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân/người nhà bệnh nhân gây ra tại bệnh viện Nhi Trung ương

Bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên tại Bệnh viện Nhi Trung ương chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm áp lực từ bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, tình trạng quá tải trong bệnh viện, và sự thiếu hụt nguồn nhân lực Những yếu tố này không chỉ làm gia tăng căng thẳng cho điều dưỡng viên mà còn ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe Việc nhận diện và giải quyết các nguyên nhân này là cần thiết để bảo vệ điều dưỡng viên và cải thiện môi trường làm việc tại bệnh viện.

Các yếu tố giảm thiểu bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên tại Bệnh viện Nhi Trung ương bao gồm việc nâng cao nhận thức của bệnh nhân và người nhà về vai trò của điều dưỡng, cải thiện quy trình giao tiếp giữa nhân viên y tế và gia đình bệnh nhân, cũng như tăng cường đào tạo kỹ năng xử lý tình huống cho điều dưỡng viên Việc xây dựng môi trường làm việc an toàn và hỗ trợ cũng góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu các hành vi bạo lực.

- Những khó khăn, thách thức trong việc phòng chống bạo lực bệnh viện cho điều dưỡng viên.

Phương pháp thu thập số liệu

2.4.1 Thử nghiệm phiếu điều tra

- Phiếu điều tra được thiết kế dựa trên mục tiêu nghiên cứu, các tiêu chuẩn biến số nghiên cứu và một số tài liệu tham khảo

Phiếu điều tra đã được thử nghiệm với 30 phiếu, chia thành 3 khu vực: cấp cứu, phòng khám và nội trú Mỗi khu vực phỏng vấn khoảng 10 cán bộ ĐDV tại các khoa để kiểm tra các sai sót, từ ngữ và cách đặt câu hỏi chưa phù hợp với phương pháp điều tra.

- Sau khi thử nghiệm phiếu điều tra đã được chỉnh sửa, bổ sung phù hợp

2.4.2 Thu thập số liệu định lượng Được sự đồng ý của Ban giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương, nhóm nghiên cứu làm việc với lãnh đạo các khoa/phòng về kế hoạch và thời gian thu thập số liệu của từng khoa/ phòng

Sau khi các khoa/phòng kết thúc giao ban, các điều dưỡng tham gia nghiên cứu đã được tập hợp tại phòng giao ban để trả lời câu hỏi theo phương pháp phỏng vấn Trong buổi thu thập số liệu, các điều tra viên đã giải thích rõ ràng về mục đích nghiên cứu và hướng dẫn cách điền câu trả lời vào phiếu phỏng vấn Những điều dưỡng đồng ý tham gia đã ký vào phiếu đồng ý và nhận phiếu điều tra.

Trong quá trình thu thập thông tin, các điều tra viên giám sát chặt chẽ để đảm bảo rằng đối tượng nghiên cứu không trao đổi câu trả lời, nhằm bảo vệ tính chính xác của kết quả Sau khi các đối tượng hoàn thành việc trả lời, các điều tra viên sẽ kiểm tra thông tin để xác nhận tính đúng đắn và đầy đủ trước khi thu phiếu.

2.4.3 Thu thập số liệu định tính

Mục đích của thu thập số liệu định tính là nhằm tìm hiểu sâu hơn kết quả của nghiên cứu định lượng

Sau khi thực hiện phân tích sơ bộ kết quả nghiên cứu định lượng, các nghiên cứu viên đã tiến hành phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các đối tượng nghiên cứu dựa trên những phát hiện từ nghiên cứu định lượng.

Nghiên cứu viên đã thực hiện 05 cuộc phỏng vấn sâu với các đại diện từ Ban Giám đốc, trưởng phòng tổ chức cán bộ, trưởng phòng Điều dưỡng, điều dưỡng trưởng khoa khám bệnh và điều dưỡng trưởng khoa cấp cứu Ngoài ra, đã tổ chức 02 cuộc thảo luận nhóm, trong đó Nhóm 1 gồm 5 cán bộ đã từng trải qua bạo lực và Nhóm 2 gồm 5 cán bộ chưa bị bạo lực Dữ liệu được thu thập thông qua việc ghi âm biên bản phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.

Dữ liệu sau khi thu thập được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS 20.0 để cung cấp các thông tin mô tả và thực hiện phân tích thống kê.

- Tính tỷ suất chênh OR để tìm hiểu các mối liên quan.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo Quyết định số 220/2017/YTCC-HĐ3 vào ngày 30 tháng 3 năm 2017, và được thực hiện với sự đồng ý của Bệnh viện Nhi Trung ương Tất cả các đối tượng tham gia đều được thông báo rõ ràng về mục đích nghiên cứu và đã đồng ý tham gia Nghiên cứu không gây ảnh hưởng tiêu cực đến các đối tượng, và thông tin cá nhân của họ được bảo mật thông qua mã hóa Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu mà không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.

Sai số và biện pháp khắc phục

Nghiên cứu thu thập thông tin qua phương pháp phát vấn có thể gặp sai số do đối tượng phải nhớ lại các sự kiện trong quá khứ, dẫn đến khả năng chọn nhầm Việc sử dụng bộ câu hỏi dài có thể khiến đối tượng không hợp tác hoặc từ chối tham gia Để giảm thiểu sai số, nghiên cứu viên tham gia trực tiếp vào quá trình thu thập thông tin và giải thích rõ ràng nội dung câu hỏi Ngoài ra, để đảm bảo tính chính xác trong quá trình nhập liệu, nghiên cứu viên thực hiện việc nhập liệu hai lần.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 1: Đặc điểm nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Số lượng (n00) Tỷ lệ (%)

Sau đại học 5 1,7 Đại học 126 42,0

Theo bảng 3.1, tại bệnh viện Nhi Trung ương, đa số điều dưỡng viên là nữ giới, chiếm 89,3% Tỷ lệ điều dưỡng có trình độ trung cấp và đại học tương đương nhau, lần lượt là 42%

Bảng 3 2: Đặc điểm công việc đối tượng nghiên cứu Nội dung Số lượng (n00) Tỷ lệ (%)

Tần suất trực đêm hoặc làm ca đêm

Theo Bảng 3.2, 82,7% đội ngũ điều dưỡng viên (ĐDV) thực hiện công việc chăm sóc bệnh nhân, trong đó 79,0% làm việc tại khối điều trị nội trú Tỷ lệ ĐDV có thâm niên làm việc dưới 10 năm chiếm 72,0%, và 90,7% điều dưỡng phải trực trên 4 buổi mỗi tháng.

Bảng 3 3: Tính chất công việc đối tượng nghiên cứu

Nội dung Số lượng (n00) Tỷ lệ (%)

Thường xuyên tiếp xúc bệnh nhân/người nhà bệnh nhân

Không 2 0,7 ĐDV thực hiện các thủ thuật trên người bệnh

Hầu hết các ĐDV thường xuyên tiếp xúc với bệnh nhân/người nhà bệnh nhân (99,3%) và thực hiện các thủ thuật trên người bệnh (96,3%).

Thực trạng BLBV đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại bệnh viện Nhi Trung ương

3.2.1 Tỷ lệ bạo lực đối với ĐDV do bệnh nhân/người nhà bệnh nhân gây ra tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Biểu đồ 3 1: Tỷ lệ điều dưỡng đã từng bạo lực trong 12 tháng qua

Theo biểu đồ 3.1, trong 12 tháng qua, 72,7% điều dưỡng đã trải qua bạo lực, trong đó 30,7% bị bạo lực thể chất và 65,3% bị bạo lực bằng lời nói.

Bảng 3 4: Phân loại bạo lực Loại bạo lực Số lượng Tỷ lệ % Bạo lực lời nói

Lời nói chửi bới, xấc lược 173 57,67

Lăng mạ, xúc phạm 88 29,33 Đe dọa 87 29,00

Bạo lực thể chất Đánh đập, xô đẩy 52 17,33

Phá đồ vật cá nhân 23 7,67

Dùng dao/ súng/ các vật khác 8 2,67

Theo Bảng 3.4, 57,67% điều dưỡng viên cho biết họ đã từng bị chửi bới trong quá trình thực hiện chăm sóc bệnh nhân Tỷ lệ bị lăng mạ, xúc phạm và đe dọa đạt khoảng 30%, trong khi các hành vi bạo lực khác chiếm 6,7% Đặc biệt, 17,33% điều dưỡng viên đã từng bị bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân đánh đập, xô đẩy; gần 8% đã trải qua việc khách hàng phá hoại đồ đạc; 6% đã bị khách hàng cấu cắn; và gần 3% đã bị khách hàng cầm dao, gậy đuổi đánh.

Biểu đồ 3 2: Vị trí điều dưỡng gặp tình trạng bạo lực bệnh viện

Biểu đồ 3.2 chỉ ra rằng khu vực cấp cứu là nơi điều dưỡng viên gặp bạo lực bệnh viện nhiều nhất, chiếm 50,5% Tiếp theo là khu vực khám bệnh với 37,2% và khu điều trị nội trú với 36,7% Ngoài ra, có 2,3% điều dưỡng viên gặp bạo lực ở các vị trí khác.

Biểu đồ 3 3: Đối tượng gây nên BLBV đối với ĐDV

Trong tổng số 218 đối tượng được khảo sát về bạo lực tại bệnh viện, 85% trường hợp xảy ra do cả bệnh nhân và người nhà, trong khi 13% là do người nhà bệnh nhân gây ra, và chỉ 2% nguyên nhân xuất phát từ bệnh nhân.

3.2.2 Phản ứng khi ĐDV bị bạo lực do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại Bệnh viện Nhi Trung ương

Biểu đồ 3 4: Tỷ lệ phản ứng của điều dưỡng viên khi xảy ra bạo lực bệnh viện

Trong số 218 điều dưỡng viên từng trải qua bạo lực, có 26,61% không có phản ứng, trong khi 73,4% có các phản ứng khác nhau Cụ thể, 62,4% đã báo cáo trực tiếp với người quản lý, 18,8% thông báo cho bộ phận an ninh/công an, 10,6% thông báo cho ban giám đốc bệnh viện, và 22,9% sử dụng các hình thức phản ứng khác.

Nhiều điều dưỡng viên ngại làm to chuyện vì lo ngại ảnh hưởng đến công việc của mình Họ cũng thể hiện sự cảm thông với nỗi đau và lo lắng của người nhà bệnh nhân, dẫn đến việc muốn bỏ qua những vấn đề khó khăn.

Trong thời điểm đó, con người đang phải chịu đựng bệnh tật, với nhiều người bị sốt cao Sự bức xúc của họ là điều dễ hiểu và cần được thông cảm.

Trong một số tình huống căng thẳng hoặc khi bị đe dọa, tấn công bằng hung khí, đội ngũ điều dưỡng (ĐDV) thường chỉ báo cáo cho cán bộ quản lý, ban giám đốc và đội an ninh bệnh viện sau khi sự việc xảy ra "Khi người nhà bệnh nhân đe dọa đánh, giết, cần phải báo ngay cho lãnh đạo trực và bảo vệ để họ có biện pháp can thiệp kịp thời," một nhân viên cho biết.

3.2.3 Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố có thể làm gia tăng BLBV

Bảng 3.5 trình bày đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố khách quan có thể ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực bệnh viện Theo đó, thời gian chờ đợi được cho là một yếu tố quan trọng tác động đến bạo lực trong bệnh viện, với số lượng và tỷ lệ cụ thể được ghi nhận.

Tăng khả năng bị bạo lực 286 95,3

Giảm khả năng bị bạo lực 9 3,0

Quá tải bệnh viện ảnh hưởng đến BLBV

Tăng khả năng bị bạo lực 291 97,0

Giảm khả năng bị bạo lực 5 1,7

Khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ ảnh hưởng đến BLBV

Tăng khả năng bị bạo lực 238 79,3

Giảm khả năng bị bạo lực 6 2,0

Theo khảo sát, 95,3% điều dưỡng viên cho rằng thời gian chờ đợi lâu của bệnh nhân và người nhà sẽ làm tăng nguy cơ bạo lực tại bệnh viện Bên cạnh đó, 97,0% cho rằng tình trạng quá tải cũng góp phần vào việc gia tăng bạo lực Hơn nữa, 79,3% điều dưỡng viên nhận định rằng sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ cũng là yếu tố làm tăng bạo lực trong môi trường bệnh viện.

Bảng 3 6: Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố chủ quan có thể ảnh hưởng tới tình trạng bạo lực bệnh viện

Nội dung Số lượng (n00) Tỷ lệ (%)

Minh bạch trong cung cấp dịch vụ

Tăng khả năng bị bạo lực 50 16,7

Giảm khả năng bị bạo lực 231 77,0

Thiếu hướng dẫn/chỉ dẫn trong bệnh viện

Tăng khả năng bị bạo lực 279 93,0

Giảm khả năng bị bạo lực 15 5,0

Hành vi không phù hợp của ĐDV

Tăng khả năng bị bạo lực 285 95,0

Giảm khả năng bị bạo lực 5 1,7

Thiếu thông tin của bệnh nhân/người nhà bệnh nhân

Tăng khả năng bị bạo lực 261 87,0

Giảm khả năng bị bạo lực 5 1,7

Sử dụng chất kích thích của bệnh nhân/người nhà bênh nhân

Tăng khả năng bị bạo lực 287 95,7

Giảm khả năng bị bạo lực 2 0,7

Không ảnh hưởng gì 11 3,7 ĐDV thiếu kỹ năng ứng phó với bạo lực

Tăng khả năng bị bạo lực 291 97,0

Giảm khả năng bị bạo lực 4 1,3

Theo đánh giá của các điều dưỡng, 77% cho rằng minh bạch trong cung cấp dịch vụ giúp giảm khả năng bị bạo lực Đặc biệt, 95% điều dưỡng nhận định rằng các hành vi không phù hợp của điều dưỡng và việc sử dụng chất kích thích của bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân làm tăng nguy cơ bạo lực Sự thiếu kỹ năng ứng phó với bạo lực của điều dưỡng cũng ảnh hưởng lớn, với 97% cho rằng điều này làm tăng nguy cơ Thêm vào đó, thông tin không chính xác từ bệnh nhân hoặc người nhà và sự thiếu hướng dẫn trong bệnh viện cũng làm tăng khả năng bạo lực, lần lượt là 87% và 93%.

Biểu đồ 3 5 : Ảnh hưởng của bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên

Trong số 218 điều dưỡng, có 89,4% gặp phải bạo lực lao động, 92,7% trải qua stress và lo lắng, 43,6% bị trầm cảm, và 41,7% chịu chấn thương Hơn nữa, 76,1% cho biết hiệu suất làm việc giảm sút, trong khi 26,6% mong muốn thay đổi nơi làm việc Đáng chú ý, chỉ có 27,1% điều dưỡng cảm thấy hài lòng với công việc của họ.

Tìm hiểu sâu về vấn đề bạo lực trong môi trường y tế, chúng tôi nhận thấy rằng tất cả nhân viên đều lo lắng về khả năng bị đánh đập hoặc chửi mắng từ bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân.

Khi bị hành hung hoặc chửi bới, mọi người thường cảm thấy lo lắng khi làm việc hoặc tiếp xúc với bệnh nhân đó, vì sợ rằng mình có thể lại bị hành hung hoặc chửi bới một lần nữa.

Nhiều điều dưỡng bày tỏ sự thất vọng khi bệnh nhân hoặc người nhà không hiểu hoặc cố tình không hiểu công việc của họ Họ cho biết rằng nếu có thể, họ sẽ tránh tiếp xúc với những bệnh nhân như vậy, vì sự không hài lòng có thể dẫn đến hành vi bạo lực đối với nhân viên y tế.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện ở điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi Trung ương

Bảng 3 7: Liên quan giữa yếu tố công việc và BLBV của điều dưỡng viên

Yếu tố Có Không p OR

Sau đại học, Đại học 102 29

Mối quan hệ của ĐDV và BN/NNBN

Theo bảng 3.7, điều dưỡng làm việc tại khu vực cấp cứu/phòng khám có nguy cơ bị bạo lực bệnh viện cao gấp 2 lần so với điều dưỡng tại khu vực nội trú (95%CI: 1,03 – 4,10, p=0,048) Ngoài ra, những điều dưỡng có mối quan hệ chưa thân thiện với bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân cũng có khả năng bị bạo lực cao hơn.

HUPH cao gấp 2,3 lần so với các đối tượng khác (95%CI: 1,36– 3,96, p=0,02) Không có yếu tố nào khác liên quan đến tình trạng bạo lực bệnh viện của điều dưỡng viên (ĐDV) Qua thảo luận nhóm, đa số ĐDV cho biết họ đã gặp phải tình trạng bị người nhà bệnh nhân chửi bới và sử dụng ngôn từ thô tục trong 12 tháng qua Thường thì, nhân viên y tế bị chửi bới trong khu khám bệnh do thời gian chờ đợi xếp hàng hoặc lấy kết quả lâu.

Do tình trạng quá tải bệnh nhân, thời gian chờ khám kéo dài dẫn đến việc khách hàng bức xúc và có hành vi chửi bới Tại khu vực cấp cứu, không chỉ có chửi bới mà còn thường xuyên xảy ra đe dọa đối với đội ngũ y tế, chủ yếu do việc ngăn cản người nhà bệnh nhi vào khu vực cấp cứu.

Trong tình huống cấp cứu, người nhà cảm thấy lo lắng và sốt ruột, dẫn đến việc họ cố gắng xông vào khu vực cấp cứu, mặc dù theo quy định chỉ có nhân viên y tế mới được phép vào Sự không hài lòng này đã khiến họ có những lời chửi bới.

Các hành vi đe dọa mà ĐDV phản ánh thường liên quan đến việc đe dọa đánh đập hoặc lợi dụng mối quan hệ với các lãnh đạo bệnh viện và những người có chức tước trong xã hội Họ tự giới thiệu mình là những người có địa vị và kinh tế, nhằm yêu cầu nhân viên y tế khám chữa bệnh nhanh chóng Nếu không được đáp ứng, họ có thể đe dọa sẽ báo cáo cho lãnh đạo, gọi đường dây nóng hoặc đưa thông tin lên báo chí và mạng xã hội Một số trường hợp cụ thể như việc đe dọa đánh nếu điều dưỡng ngăn cản họ vào khu điều trị, hoặc yêu cầu quyền ưu tiên khám chữa bệnh với lý do là con của người có quyền lực.

Bạo lực thể chất đối với điều dưỡng viên là một vấn đề nghiêm trọng, với nhiều điều dưỡng viên cho biết họ đã từng bị bệnh nhân và người nhà bệnh nhân hành hung Đặc biệt, phần lớn các trường hợp bạo lực thể chất xảy ra dưới hình thức xô đẩy, mà thường bị các điều dưỡng viên bỏ qua do mức độ ít nghiêm trọng Một điều dưỡng viên chia sẻ: “BN/NHBN xô đẩy là chuyện bình thường, đôi khi họ bực tức vì một lý do nào đó họ có thể xô đẩy nhân viên y tế.”

Nghiên cứu chỉ ra rằng không chỉ phụ huynh mà cả bệnh nhi cũng có thể là nguyên nhân gây ra bạo lực trong môi trường y tế Khi phải tiêm hoặc thực hiện các thủ thuật, bệnh nhi thường rơi vào trạng thái hoảng loạn, dẫn đến hành vi cắn hoặc cào nhân viên y tế.

HUPH là phản ứng tự nhiên khi chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em, vì chúng chưa đủ nhận thức và dễ bị hoảng loạn.

Qua thảo luận với nhóm điều dưỡng viên từng trải qua bạo lực bệnh viện, một số bệnh nhân và người nhà bệnh nhân thể hiện sự xúc phạm do thiếu hiểu biết về giá dịch vụ Một điều dưỡng viên cho biết: “Có trường hợp người nhà bệnh nhân bực bội chửi mắng vì họ cho rằng bệnh viện tăng giá dịch vụ, trong khi thực tế giá đã được quy định bởi phòng tài chính.”

Một số người cho rằng người nhà bệnh nhân có biểu hiện ngáo đá, sử dụng ma túy và rượu bia khi có hành vi bạo lực với đội ngũ y tế Có trường hợp người nhà bệnh nhi quát tháo ầm ĩ, mặt đỏ và có mùi rượu nồng nặc.

Kết quả nghiên cứu cho thấy khu vực làm việc có ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng bạo lực đối với điều dưỡng viên, trong đó các điều dưỡng viên cho rằng khu vực cấp cứu và phòng khám có tỷ lệ bạo lực cao hơn so với các khu vực khác Đặc biệt, khu vực cấp cứu vào ban đêm ghi nhận tỷ lệ bạo lực cao nhất trong bệnh viện.

Từ khi bắt đầu công việc, tôi nhận thấy rằng phần lớn nhân viên thường gặp phải bạo lực tại khu vực cấp cứu và phòng khám, trong khi tỷ lệ này ở các khoa khác lại thấp hơn.

Thảo luận nhóm cho thấy bạo lực trong bệnh viện không phân biệt giới tính hay trình độ của điều dưỡng viên Hầu hết điều dưỡng viên cho rằng khi người nhà bệnh nhân bức xúc, họ có thể chửi bới, lăng mạ, thậm chí hành hung mà không e ngại, trong khi bác sĩ có thể được tôn trọng hơn.

Kết quả thảo luận với các điều dưỡng viên từng trải qua bạo lực tại bệnh viện cho thấy mối quan hệ giữa điều dưỡng viên và bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân có ảnh hưởng lớn đến tình trạng bạo lực đối với nhân viên y tế Thái độ không thân thiện của điều dưỡng viên đối với bệnh nhân và người nhà là một trong những yếu tố chính làm gia tăng bạo lực tại bệnh viện, đặc biệt là đối với điều dưỡng viên.

Mối quan hệ tích cực giữa nhân viên y tế và bệnh nhân hoặc người nhà có thể giảm thiểu tình trạng bạo lực, bởi những câu nói và hành động của nhân viên y tế thường ảnh hưởng đến cảm xúc và hành vi của bệnh nhân.

BÀN LUẬN

Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân/ người nhà bệnh nhân gây ra tại bệnh viện Nhi Trung ương

Kết quả khảo sát của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho thấy tình trạng bạo lực tại nơi làm việc đang gia tăng trên toàn cầu, với nhiều hình thức như đe dọa, đánh đập, quấy rối tình dục và hãm hiếp ILO cảnh báo rằng hành động đe dọa khủng bố cũng là một hình thức bạo lực mới Nguy cơ bạo lực đã gia tăng ngay cả ở những nghề trước đây được xem là “miễn nhiễm”, như giáo viên và nhân viên y tế Tại Việt Nam, tình trạng bạo lực tại các cơ sở y tế, đặc biệt là tại Bệnh viện Nhi trung ương, đang trở nên nghiêm trọng do quá tải và sự căng thẳng từ bệnh nhân và người nhà Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ điều dưỡng viên bị bạo lực tại bệnh viện này trong năm qua là 72,7%, trong đó 65,3% bị bạo lực bằng lời nói và 23,7% bị bạo lực thể chất Các hình thức bạo lực lời nói bao gồm chửi bới (57,67%) và đe dọa (29,0%), trong khi bạo lực thể chất có 17,33% điều dưỡng viên bị đánh đập Tình trạng này phản ánh tâm lý bức xúc của con người khi không được giải quyết thỏa đáng.

HUPH đáp không thỏa đáng họ có thể to tiếng, chửi bới xúc phạm đến đối tượng, đồng thời họ có thể dùng bạo lực

Nghiên cứu của Hà Thế Tấn năm 2010 cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế bị bệnh nhân/người nhà bệnh nhân lăng mạ và hành hung tương đối thấp, lần lượt là 18,4% và 2,4% Điều dưỡng viên cũng không ngoại lệ, với tỷ lệ bị lăng mạ là 14,0% và hành hung là 2,7% Đặc biệt, tỷ lệ lăng mạ và hành hung tại tuyến trung ương cao hơn so với tuyến tỉnh, với 15,6% và 3,7% so với 12,9% và 2,7% Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, có thể do nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại một bệnh viện tuyến trung ương luôn trong tình trạng quá tải bệnh nhân, bao gồm cả bệnh nhân nặng.

Hà Thế Tấn đã triển khai tại 79 cơ sở y tế đa dạng trong các lĩnh vực điều trị, dự phòng và nghiên cứu y học, bao gồm tất cả các cấp từ xã, huyện, tỉnh đến trung ương trên toàn quốc.

Tỷ lệ điều dưỡng viên bị bạo lực tại Bệnh viện Nhi trong nghiên cứu này cao hơn so với tỷ lệ nhân viên y tế bị bạo lực trong nghiên cứu của Nguyễn Bích Diệp Cụ thể, theo nghiên cứu năm 2009 của Nguyễn Bích Diệp, tỷ lệ nhân viên y tế bị chửi mắng là 17,2%, bị đe dọa 11,2% và đã từng bị hành hung là 2,7%.

Nghiên cứu của Nguyễn Bích Diệp chỉ ra sự khác biệt trong đối tượng nghiên cứu, bao gồm bác sỹ, dược sỹ, y sỹ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên, hộ lý và các nhân viên y tế khác Họ làm việc trong lĩnh vực khám chữa bệnh, xét nghiệm và phòng chống dịch bệnh tại 132 bệnh viện và cơ sở y tế dự phòng từ trung ương đến tuyến xã.

So với nghiên cứu của Pai HC và Lee S về tình trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên lâm sàng tại Đài Loan năm 2011, tỷ lệ điều dưỡng bị bạo lực bệnh viện trong nghiên cứu này cao hơn Cụ thể, nghiên cứu của Pai HC cho thấy 19,6% người tham gia đã từng trải qua bạo lực thể chất, một con số cũng cao hơn so với nghiên cứu tại Bệnh viện của trường đại học ở Seoul, Hàn Quốc.

Năm 2014, tỷ lệ điều dưỡng viên bị bạo hành lời nói trong 12 tháng qua đạt 63,8%, trong khi tỷ lệ bạo lực thể chất là 22,3% Sự khác biệt này xuất phát từ các nghiên cứu được thực hiện tại những địa điểm khác nhau, đặc biệt là tại Hàn Quốc và Đài Loan.

HUPH áp dụng các biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với những hành vi bạo lực nhằm vào nhân viên y tế, điều này giúp ngăn chặn bệnh nhân và người nhà có thể thực hiện các hành động bạo lực đối với họ.

Nghiên cứu của Mingli Jiao và cộng sự năm 2014 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng bị bạo lực thể chất tại tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc là 7,8%, thấp hơn so với 23,7% trong nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, tỷ lệ điều dưỡng bị bạo lực lời nói lại cao hơn, với 71,9% so với 65,3% Sự khác biệt này có thể do nghiên cứu của Mingli Jiao được thực hiện tại các bệnh viện Thị xã, trong khi nghiên cứu của chúng tôi tập trung vào bệnh viện Nhi trung ương, nơi có đặc thù bệnh nhân là trẻ em.

Nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ điều dưỡng bị bạo lực lời nói và thể chất thấp hơn so với nghiên cứu của Pinar và Ucmak năm 2010 tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ Cụ thể, tỷ lệ bạo lực lời nói là 91,4% và 74,9% điều dưỡng trải qua bạo lực thể chất ít nhất một lần trong 12 tháng trước đó Sự khác biệt này xuất phát từ việc nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên toàn bộ các khoa lâm sàng tại một bệnh viện, trong khi nghiên cứu của Pinar và Ucmak chỉ tập trung vào khoa cấp cứu Khoa cấp cứu thường tiếp nhận bệnh nhân trong tình trạng nặng và đau đớn, dẫn đến khả năng xảy ra bạo lực cao hơn so với các khoa khác.

Nghiên cứu của Teris Cheung và cộng sự về bạo lực tại nơi làm việc đối với bác sĩ và điều dưỡng ở Ma Cao, Trung Quốc, cho thấy 57,2% người tham gia đã trải qua bạo lực bệnh viện trong năm trước Các hình thức bạo lực phổ biến nhất bao gồm lạm dụng lời nói (53,4%) và bạo lực thể chất (16,1%) Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, mà chúng tôi cho rằng sự khác biệt là do đối tượng nghiên cứu khác nhau; trong khi Teris Cheung khảo sát cả điều dưỡng và bác sĩ, nghiên cứu của chúng tôi chỉ tập trung vào điều dưỡng viên.

Các tác giả đều thống nhất rằng tỷ lệ bạo lực lời nói cao hơn bạo lực thể chất, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa hai hình thức bạo lực này.

Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, chỉ có 2% vụ bạo lực đối với điều dưỡng viên do bệnh nhân gây ra, trong khi 13% là do người nhà và 85% là do cả bệnh nhân lẫn người nhà Nguyên nhân có thể là do bệnh nhân chủ yếu là trẻ nhỏ, dẫn đến khả năng gây bạo lực cho nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng viên, là rất thấp.

Nghiên cứu về bạo lực đối với nhân viên y tế tại các Trung tâm Y tế gia đình ở Saudi Arabia cho thấy 71,5% vụ bạo lực do bệnh nhân gây ra, 20,3% do người đi cùng, và 3,3% do cả hai Tương tự, nghiên cứu của Fisekovic Kremic và cộng sự tại Serbia năm 2016 cũng chỉ ra rằng bệnh nhân là đối tượng chính gây ra bạo lực bằng lời nói Một nghiên cứu khác của Ebrima tại Gimba cho thấy bệnh nhân gây ra 33,6% vụ bạo lực lời nói và 39,5% vụ bạo lực thể chất đối với điều dưỡng, trong khi người nhà hoặc người đi cùng bệnh nhân gây ra 54,2% và 47,4% tương ứng Sự khác biệt này có thể do đối tượng khám chữa bệnh trong nghiên cứu này chủ yếu là trẻ nhỏ, trong khi hai nghiên cứu trước đó chủ yếu tập trung vào người lớn, dẫn đến tỷ lệ bạo lực của bệnh nhân đối với điều dưỡng cao hơn.

Trong số các khu vực mà điều dưỡng viên gặp bạo lực bệnh viện, khu vực cấp cứu chiếm tỷ lệ cao nhất với 50,5%, tiếp theo là khu khám bệnh (37,2%) và khu điều trị nội trú (36,7%) Kết quả phỏng vấn cho thấy đa số điều dưỡng gặp bạo lực chủ yếu tại khu vực cấp cứu và phòng khám, trong khi khu nội trú ít gặp hơn Khu vực phòng khám và cấp cứu tiếp nhận nhiều bệnh nhân, dẫn đến áp lực từ người nhà bệnh nhân muốn được khám nhanh chóng Sự đông đúc và chậm trễ trong việc khám chữa bệnh dễ gây bức xúc, dẫn đến hành vi bạo lực đối với nhân viên y tế, bao gồm cả điều dưỡng viên.

HUPH dưỡng chỉ ra khám rồi để đấy không sử dụng thuốc gì ngay thì có thể bức xúc và hành hung nhân viên y tế

Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi Trung ương

Nghiên cứu cho thấy không có yếu tố nhân khẩu học nào liên quan đến tình trạng bạo lực tại bệnh viện nhi trung ương đối với điều dưỡng viên Tuy nhiên, điều dưỡng có thâm niên công tác dưới 10 năm có tỷ lệ bị bạo lực cao hơn, mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Nguyên nhân có thể do các điều dưỡng trẻ, mới ra trường thiếu kinh nghiệm và kỹ năng đối phó với tình huống căng thẳng, dẫn đến nguy cơ bị lăng mạ và chửi bới cao hơn Ngoài ra, điều dưỡng có trình độ đại học và sau đại học thường làm việc ở những vị trí khó hơn, nơi có bệnh nhi nặng, khiến người nhà bệnh nhi dễ bị kích động và dẫn đến bạo lực lời nói.

Nghiên cứu của chúng tôi khác biệt so với một số nghiên cứu toàn cầu, chẳng hạn như nghiên cứu về tình trạng bạo lực đối với điều dưỡng tại Ai Cập vào năm 2006.

Nghiên cứu của HUPH chỉ ra rằng có sự liên quan giữa giới tính và tình trạng bạo lực, với nam giới chịu ảnh hưởng nhiều hơn nữ giới Sự khác biệt này có thể xuất phát từ việc nghiên cứu tại Ai Cập chỉ tập trung vào khoa cấp cứu, trong khi nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện trên tất cả các khoa lâm sàng Bên cạnh đó, văn hóa và môi trường làm việc tại Việt Nam cũng có thể ảnh hưởng đến kết quả này.

Ai cập cũng có sự khác biệt

Nghiên cứu của Mohamad Kitaneh và Motasem Hamdan chỉ ra rằng điều dưỡng viên ít kinh nghiệm và có trình độ học vấn thấp có nguy cơ cao hơn trở thành nạn nhân của bạo lực trong bệnh viện so với các nhóm khác.

Một nghiên cứu tại Thái Lan vào năm 2008 cho thấy rằng những điều dưỡng trẻ tuổi có nguy cơ bị bạo lực cao hơn khoảng 80% so với những điều dưỡng lớn tuổi.

Sự khác biệt trong các nghiên cứu có thể xuất phát từ thời điểm và đối tượng nghiên cứu khác nhau Nghiên cứu này tập trung vào toàn bộ điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng, trong khi nghiên cứu tại Thái Lan chỉ xem xét các điều dưỡng trưởng, và nghiên cứu của Mohamad bao gồm cả bác sĩ lẫn điều dưỡng.

Những người trực trên 4 buổi/tháng có khả năng bị bạo lực cao hơn nhóm còn lại 1,54 lần, tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê Điều này có thể giải thích bởi đặc thù công việc của điều dưỡng viên tại khu vực lâm sàng, nơi họ thường phải trực đêm Tại bệnh viện nhi, tỷ lệ bệnh nhân nặng cao và sự lo lắng của người nhà cũng lớn, dẫn đến khả năng phản ứng mạnh khi thấy tình trạng của con em họ không được xử lý kịp thời Điều dưỡng viên thường chỉ có 1-2 người chăm sóc hàng chục bệnh nhân, làm tăng nguy cơ bị hành hung Khu vực làm việc ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực đối với nhân viên y tế, trong đó nhân viên tại khu vực cấp cứu và phòng khám có nguy cơ bị bạo lực cao gấp 2 lần so với nhân viên nội trú (p

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:45

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. 1: Đặc điểm nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu  Đặc điểm  Số lượng (n=300)  Tỷ lệ (%) - Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 1: Đặc điểm nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Số lượng (n=300) Tỷ lệ (%) (Trang 37)
Bảng 3. 2: Đặc điểm công việc đối tượng nghiên cứu  Nội dung  Số lượng (n=300)  Tỷ lệ (%) - Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 2: Đặc điểm công việc đối tượng nghiên cứu Nội dung Số lượng (n=300) Tỷ lệ (%) (Trang 38)
Bảng 3.2 cho thấy đa số ĐDV đều làm công việc chăm sóc bệnh nhân (82,7%);  trong đó có tới 79,0% điều dưỡng làm việc  tại khối điều trị nội trú - Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3.2 cho thấy đa số ĐDV đều làm công việc chăm sóc bệnh nhân (82,7%); trong đó có tới 79,0% điều dưỡng làm việc tại khối điều trị nội trú (Trang 38)
Bảng 3. 4: Phân loại bạo lực  Loại bạo lực  Số lượng  Tỷ lệ %  Bạo lực lời nói - Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 4: Phân loại bạo lực Loại bạo lực Số lượng Tỷ lệ % Bạo lực lời nói (Trang 39)
Bảng 3.4 cho thấy về các loại bạo lực bệnh viện của điều dưỡng viên có 57,67% - Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3.4 cho thấy về các loại bạo lực bệnh viện của điều dưỡng viên có 57,67% (Trang 40)
Bảng 3. 5: Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố khách quan có thể ảnh - Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 5: Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố khách quan có thể ảnh (Trang 42)
Bảng 3. 6: Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố chủ quan có thể ảnh hưởng - Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 6: Đánh giá của điều dưỡng về các yếu tố chủ quan có thể ảnh hưởng (Trang 43)
Bảng 3. 7: Liên quan giữa yếu tố công việc và BLBV của điều dưỡng viên - Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng viên và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 7: Liên quan giữa yếu tố công việc và BLBV của điều dưỡng viên (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w