1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bà rịa năm 2019

95 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Bạo lực Bệnh viện Đối với Điều dưỡng Và Một Số Yếu tố Ảnh hưởng Tại Bệnh viện Bà Rịa Năm 2019
Người hướng dẫn PGS.TS. Lã Ngọc Quang, TS.BS. Nguyễn Thành Chung
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 3,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả nghiên cứu về bạo lực bệnh viện đối với ĐD và các yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Nhi trung ương đã chỉ ra rằng các nhân viên y tế đang phải chịu nhiều sức ép từ môi trường làm vi

Trang 1

DƯƠNG TẤN QUÂN

THỰC TRẠNG BẠO LỰC BỆNH VIỆN VỚI ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN BÀ RỊA NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: QLBV: 8720802

HÀ NỘI, 2020 HUPH

Trang 2

DƯƠNG TẤN QUÂN

THỰC TRẠNG BẠO LỰC BỆNH VIỆN VỚI ĐIỀU DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN BÀ RỊA NĂM 2019

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: QLBV: 8720802

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS LÃ NGỌC QUANG TS.BS NGUYỄN THÀNH CHUNG

HÀ NỘI, 2020 HUPH

Trang 3

sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Nghiên cứu khoa học cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị…Đặc biệt hơn nữa là sự hợp tác, giúp đỡ của các đồng nghiệp khi tham gia nghiên cứu,

và sự chia sẻ, động viên, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía gia đình, bạn

bè và các đồng nghiệp

Tôi xin trân trọng cám ơn Ban giám hiệu trường Đại học Y Tế Công Cộng, cùng toàn thể các thầy cô giáo công tác trong trường đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Chân thành cám ơn Ban Giám đốc Bệnh viện Bà Rịa đã tạo điều kiện cho

tôi được đi học và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong Quý thầy cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý

kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn

Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!

HUPH

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 4

MỤC LỤC i

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Khái niệm, phân loại bạo lực và bạo lực bệnh viện 4

1.2 Khái niệm và chức năng nhiệm vụ của ĐD 7

1.3 Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế 9

1.4 Giới thiệu về Bệnh viện Bà Rịa 13

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu 15

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu: 16

2.2 Phương pháp nghiên cứu: 16

2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: 16

2.4 Biến số nghiên cứu 18

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 19

2.6 Phân tích số liệu 21

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 21

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu 22

3.2 Thực trạng bạo lực đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa 24

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa 31

3.4 Phân tích các mối liên quan đến bạo lực bệnh viện 32

HUPH

Trang 6

Chương 4: BÀN LUẬN 37

4.1 Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa 37

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới bạo lực bệnh viện đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa, năm 2019 39

4.3 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 42

KẾT LUẬN 44

KHUYẾN NGHỊ 45

TÀI LIỆU THAM KHẢO 46

PHỤ LỤC 50

Phụ lục 1: Bộ công cụ điều tra phát vấn 50

Phụ lục 2: Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ quản lý 58

Phụ lục 3: Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu điều dưỡng trưởng 60

Phụ lục 4: Hướng dẫn thảo luận nhóm 62

Phụ lục 5: Biến số nghiên cứu 64

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu 22

Bảng 3.2: Đặc điểm công việc đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 3.2.1: Trực đêm của đối tượng nghiên cứu 23

Bảng 3.2.2: Đặc điểm đối tượng tiếp xúc thường xuyên của điều dưỡng 24

Bảng 3.3: Thực trạng bạo lực đối với điều dưỡng tại Bệnh viện Bà Rịa 24

Bảng 3.4: Thực trạng bạo lực thể chất đối với điều dưỡng tại Bệnh viện Bà Rịa 25

Bảng 3.5: Hậu quả đối với điều dưỡng khi bị bạo lực thể chất 28

Bảng 3.6: Xử lý đối với bạo lực thể chất khi xảy ra 28

Bảng 3.7: Thực trạng bạo lực tinh thần đối với điều dưỡng tại Bệnh viện Bà Rịa 29

Bảng 3.8: Các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với điều dưỡng tại Bệnh viện 31

Bảng 3.9: Liên quan giữa bạo lực bệnh viện và các đặc điểm chung 32

Bảng 3.10: Liên quan giữa bạo lực bệnh viện và các tính chất công việc 33

Bảng 3.11: Mối liên quan giữa bạo lực bệnh viện và các đặc điểm chung và tính chất công việc khi phân tích hồi qui logistic 34

HUPH

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Vấn đề bạo lực tại nơi làm việc ngày nay là một vấn đề nghiêm trọng và đang được xã hội đặc biệt quan tâm Đặc biệt, bạo lực bệnh viện đã và đang có xu hướng ngày càng gia tăng cả về số lượng cũng như mức độ nghiêm trọng của sự việc Để đánh giá thực trạng, tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng nhằm đưa ra giải pháp can thiệp giảm thiểu bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng tại bệnh viện Bà Rịa Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng bạo lực bệnh viện với điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Bà Rịa, năm 2019”

Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 04/2019 đến tháng 07/2019 với 220 điều dưỡng tham gia Áp dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính Bộ công cụ đã được thiết kế dựa vào Bộ công cụ của các tổ chức ILO (International Labour Office), WHO (World Health Organization, ICN (International Council of Nurses) và PSI (Public Services International) đã được chuẩn hóa và sử dụng ở nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm Statistical Package for the Social Science (SPSS) 22.0 với các thuật toán thống kê mô tả và suy luận

Kết quả nghiên cứu cho biết: thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng: 61,4% người tham gia nghiên cứu bị bạo lực trong 12 tháng qua Có 60,5% đối tượng

bị bạo lực tinh thần Số đối tượng tham gia nghiên cứu đã từng bị bạo lực thể chất là

15 người, chiếm 6,8%

Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng: phân tích

mô hình hồi quy logistic giữa bạo lực bệnh viện với các yếu tố đặc điểm chung và tính chất công việc Kết quả cho thấy đối tượng tham gia nghiên cứu có độ tuổi dưới 30 có nguy cơ bị bạo lực cao gấp đôi so với nhóm tuổi từ 30 trở lên (OR=2,56; 95% CI: 1,06-6,53; p = 0,02) Đối tượng làm việc tại khoa cấp cứu và khoa khám bệnh có nguy cơ

bị bạo lực cao gấp 2,5 lần so với các khoa nội trú khác (OR=2,58; 95% CI: 1,05-6,37;

p = 0,03)

Từ kết quả trên, khuyến nghị cơ bản của nghiên cứu đó là: Sắp xếp, bố trí lại vị trí việc làm cho phù hợp hơn, chú trọng các khu vực tiếp nhận bệnh nhân ban đầu như khoa cấp cứu, khoa khám bệnh; Tập huấn nâng cao kỹ năng giao tiếp ứng xử của nhân viên y tế, tập trung nhiều hơn cho những đối tượng dưới 30 tuổi

HUPH

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization – ILO) cho định nghĩa bạo lực nơi làm việc là những rủi ro, nơi mà người lao động làm việc bị lạm dụng, đe dọa hay bị tấn công trong những hoàn cảnh liên quan đến công việc của họ, bao gồm các tác động đến công việc, những thách thức và nguy cơ tới sự an toàn của họ, sự hạnh phúc hoặc sức khỏe [39]

Tổ chức Y tế Thế giới (World Health Organization - WHO) cảnh báo người lao động trong lĩnh vực y tế có nguy cơ bạo lực cao hơn người lao động ở các lĩnh vực khác trên toàn thế giới, các thống kê chỉ ra rằng có 8% - 38% người lao động y tế bị bạo hành

ở nơi làm việc [20] Theo Hội Điều dưỡng tại Mỹ cho thấy, trung bình mỗi năm có 21% điều dưỡng (ĐD) ở nước này đã từng bị xâm hại thân thể, hơn 50% bị hành hung bằng lời nói bởi bệnh nhân (BN) và người nhà bệnh nhân (NNBN) [11] Theo một nghiên cứu gần đây tại Anh cho kết quả có 5% ĐD là nạn nhân của các vụ việc bạo lực thể chất tại nơi làm việc, cao gấp 4 lần số liệu trung bình toàn Vương Quốc Anh Mặc dù, đặc điểm những tai nạn do bạo lực là thường không nghiêm trọng và khá thường xuyên những tai nạn này không được ghi nhận bởi cảnh sát hoặc những nhà điều tra [10]

Bạo lực nơi làm việc có thể gây ra nguy cơ bị stress nghề nghiệp Ngoài ra còn bị các tổn thất về kinh phí cho việc điều trị những hậu quả do bạo lực gây ra là rất lớn, chi phí do ĐD bị tấn công, theo một nghiên cứu của Gates vào đưa ra là chi phí lên đến 31.643 USD [38]

ĐD là một trong những nghề có nguy cơ bị bạo lực nơi làm việc cao nhất Do họ phải thường xuyên giao tiếp, tiếp xúc với những người bệnh, người rối loạn, bị stress, hay bị đau đớn [10] Thêm vào đó, người bệnh và người nhà thường xuyên bị động, phụ thuộc vào người chăm sóc, đây có thể là nguyên nhân dẫn tới bạo lực [22]

Tại Việt Nam, theo báo cáo đánh giá của Bộ Y tế cho thấy tình trạng côn đồ, người nhà bệnh nhân (NNBN) hành hung, lăng mạ cán bộ, nhân viên y tế khi đang làm nhiệm vụ tại nhiều bệnh viện có chiều hướng gia tăng, khiến môi trường y tế trở nên bất

an [1] Kết quả nghiên cứu về bạo lực bệnh viện đối với ĐD và các yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Nhi trung ương đã chỉ ra rằng các nhân viên y tế đang phải chịu nhiều sức ép

từ môi trường làm việc [4]

Bệnh viện Bà Rịa là bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, luôn được sự quan tâm và

HUPH

Trang 10

không ngừng đầu tư cơ sở vật chất, nhân lực và cơ chế chính sách Tuy nhiên, do nhu cầu khám, chữa bệnh của người dân ngày càng tăng cao, do đó các nhân viên y tế của bệnh viện phải làm việc với áp lực cao và thường xuyên trong tình trạng quá tải Qua báo cáo cho thấy, mỗi ĐD phải thường xuyên chăm sóc cho khoảng 20 đến 40 BN trên mỗi ca trực Năm 2018 đã nghi nhận 3 trường hợp điều dưỡng khoa cấp cứu bị hành hung và nhiều trường hợp nhân viên y tế ở các khoa lâm sàng bị đe dọa, xúc phạm gây

ra bởi bệnh nhân và thân nhân bệnh nhân Dẫn đến, gia tăng thêm áp lực công việc và tâm lý căng thẳng trong giờ làm việc của nhân viên y tế

Mặt khác, công tác quản lý bệnh viện vẫn còn một số bất cập và tồn tại Việc sắp xếp, bố trí vị trí việc làm đối nhân viên bệnh viện chưa thật sự phù hợp theo chuyên môn gây ảnh hưởng chất lượng phục vụ người bệnh Chính sách ưu đãi trong công việc đối với nhân viên y tế chưa đảm bảo tốt cuộc sống dẫn đến thiếu động lực làm việc Biện pháp an ninh trong bệnh viện chưa thật sự được quan tâm và đầu tư đúng mức Vẫn còn một số nhân viên y tế có thái độ giao tiếp thiếu chuẩn mực gây bức xúc cho người bệnh

và thân nhân dẫn đến bạo lực

Để tìm hiểu thực trạng và đưa ra giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng bạo lực

bệnh viện đối với ĐD tại bệnh viện Bà Rịa Chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Thực trạng bạo lực bệnh viện với điều dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện

Bà Rịa, năm 2019”

HUPH

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng tại Bệnh viện Bà Rịa, năm 2019

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng tại Bệnh viện Bà Rịa, năm 2019

HUPH

Trang 12

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm, phân loại bạo lực và bạo lực bệnh viện

1.1.1 Khái niệm và phân loại bạo lực

1.1.1.1 Khái niệm bạo lực

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO): "Bạo lực là hành vi cố ý sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực hoặc quyền lực để tự hủy hoại mình, chống lại người khác hoặc một nhóm người, một tập thể cộng đồng làm họ bị tổn thương hoặc có nguy

cơ bị tổn thương hoặc tử vong hoặc bị sang chấn tâm thần, ảnh hưởng đến sự phát triển của họ hoặc gây ra các ảnh hưởng khác" [39]

1.1.1.2 Phân loại bạo lực

Theo World Health Organization (WHO) phân loại bạo lực theo phạm vi bạo lực hoặc loại hình hành vi bạo lực bao gồm [21]:

Bạo lực tự thân: là các hành động nghĩ đến tự sát, cố gắng tự sát nhưng chưa

thành , tự sát thành công và các hành động tự hành hạ bản thân

Bạo lực giữa các cá nhân:

Bạo lực gia đình và bạo lực tình dục: Loại hình bạo lực này thường gặp trong

gia đình và đối tác quan hệ tình dục, thông thường xảy ra trong nhà

Bạo lực cộng đồng: Bạo lực thường gặp giữa các cá nhân không có mối quan hệ

ruột thịt, có thể quen biết hoặc không quen biết nhau trước đây, thường xảy ra ở ngoài

Bạo lực giữa các nhóm, tập thể: Hành động bạo lực này gây ra bởi nhiều cá nhân

nên hình thức và diễn biến vô cùng phức tạp Hành vi bạo lực bao gồm: Bạo lực thể chất; Bạo lực tình dục; Bạo lực tinh thần; Kỳ thị/phân biệt đối xử/hắt hủi/xa lánh/thờ ơ [21]

1.1.2 Khái niệm bạo lực nơi làm việc

1.1.2.1 Khái niệm bạo lực nơi làm việc [39]:

- Bạo lực nơi làm việc: Là những rủi ro mà nhân viên làm việc bị lạm dụng, đe dọa hoặc bị tấn công trong những hoàn cảnh liên quan đến nghề nghiệp của họ, nó xuất

HUPH

Trang 13

phát hoặc tác động đến công việc, bao gồm một nguy cơ rõ ràng hay tiềm tàng tới sự an toàn của họ, sự hạnh phúc hoặc sức khỏe

- Tấn công/hành hung: Là hành vi có chủ đích gây hại cho người khác về mặt thể chất

- Bắt nạt: Hành vi tấn công lặp lại, qua thời gian bằng thù oán, hung ác, hoặc có

ác tâm cố gắng làm nhục hoặc hủy hoại một người hoặc một nhóm người

- Lạm dụng: Hành vi làm nhục, hạ thấp hoặc các biểu lộ khác một sự thiếu tôn trọng với phẩm giá và giá trị một cá nhân

- Bạo lực tinh thần: Còn được gọi là bạo lực tình cảm/tâm lý Đây là loại bạo lực khá phổ biến nhưng nó khó nhận dạng được so với bạo lực thể chất Nạn nhân phải chịu các kiểu hành hạ như chửi mắng, hạ nhục với những lời lẽ thô thiển, nặng nề xâm phạm đến nhân phẩm và danh dự Không những thế, bạo lực tinh thần nhiều khi còn tồn tại dưới nhiều dạng như đe dọa tinh thần, khủng bố tâm lý…

- Quấy rối: Mọi hành xử dựa trên tuổi tác, khuyết tật, nhiễm HIV, hoàn cảnh gia đình, giới tính, tình trạng tình dục, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo, chính trị, công đoàn hoặc quan điểm khác, lựa chọn, niềm tin, quốc tịch hoặc nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, thuộc nhóm thiểu số, nghèo đói, sinh đẻ hoặc các tình trạng khác không mong muốn hoặc không hợp tác, ảnh hưởng đến nhân phẩm của người đàn ông và phụ

nữ tại nơi làm việc

- Xúc phạm chủng tộc: Mọi cư xử dựa trên chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, dân tộc thiểu số, hoặc tình trạng khác không mong muốn hoặc không đáp ứng và nó ảnh hưởng đến nhân phẩm của người đàn ông và phụ nữ tại nơi làm việc

- Đe dọa: Sử dụng sức mạnh thể chất hoặc thể lực (thậm chí cả sức mạnh tâm lý) dẫn đến nỗi sợ hãi về thể chất, nguy hại đến tình dục, tâm lý hoặc những hậu quả khác đến những cá nhân hoặc nhóm người

- Nạn nhân: Bất cứ người nào là mục đích của hành động bạo lực hoặc hành vi bạo lực đã được mô tả như trên

HUPH

Trang 14

- Thủ phạm/người gây ra: Bất cứ người nào vi phạm các hành vi bạo lực hoặc dàn xếp hành vi bạo lực được mô tả như trên

1.1.2.2 Bạo lực bệnh viện [39]:

Bạo lực bệnh viện được các tổ chức, các nhà nghiên cứu khác nhau định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo Viện Sức khỏe và An toàn Lao động Quốc gia định nghĩa bạo lực bệnh viện là hành vi bạo lực hướng vào người đang làm việc hoặc đang làm nhiệm vụ Các hành vi thường tập trung vào các hành vi bạo lực thể chất, tinh thần hoặc các mối đe dọa khác có thể dẫn đến tổn hại nghiêm trọng

Nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề bạo lực bệnh viện, nhấn mạnh ở đây bao gồm các mối đe dọa bạo lực bằng lời nói, lạm dụng bằng lời nói, thù địch, quấy rối và có thể gây ra chấn thương và căng thẳng tâm lý đáng kể, ngay cả khi không có thương tích nào

Trong giới hạn của nghiên cứu này, bạo lực bệnh viện là bạo lực nơi làm việc xảy

ra tại bệnh viện giữa bệnh nhân/thân nhân bệnh nhân với nhân viên điều dưỡng

Bạo lực thể chất: Việc sử dụng vũ lực chống lại một người hoặc nhóm người,

gây ra các tổn hại về thể chất, tình dục hoặc tâm thần Nó bao gồm đánh, đá, tát, đạp, xô đẩy, cắn và véo

Bạo lực lời nói: Việc cố tình sử dụng có chủ đích về quyền lực, bao gồm cả đe

dọa sức lực, chống lại một người hoặc một nhóm, có thể gây lên tác hại về thể chất, tâm thần, tâm hồn, luôn thường đạo lý, đạo đức hoặc sự phát triển xã hội Nó bao gồm lạm dụng ngôn từ, bắt nạt, lạm dụng, quấy rối và đe dọa

Bạo lực tình dục: Có mặt khắp nơi trên thế giới mặc dù hầu hết các quốc gia đều

có sự khảo sát rằng vấn đề này rất ít xảy ra Bạo lực tình dục được xem là hành vi ai đó chạm đến bộ phận cơ thể nhạy cảm của người khác khi không được phép hoặc ai đó bị

ép phải chạm đến những bộ phận nhạy cảm của người khác

HUPH

Trang 15

1.2 Khái niệm và chức năng nhiệm vụ của ĐD

1.2.1 Khái niệm về ĐD:

Điều đưỡng là một nghề nghiệp trong hệ thống y tế với nhiệm vụ chăm sóc người bệnh, dự phòng bệnh, bảo vệ nâng cao sức khỏe cho cá nhân ở mọi lứa tuổi, gia đình, nhóm và công đồng Tham gia nghiên cứu, hoạch định chính sách y tế và quản lý hệ thống y tế cũng là những vai trò quan trọng của ĐD [13]

1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của ĐD:

- Chủ động thực hành các kỹ thuật ĐD, trong tiếp đón BN đến khám bệnh và thực hiện sơ cứu, cấp cứu ban đầu các trường hợp bệnh nặng, tai nạn, tai biến

* Chức năng phối hợp:

- Chức năng phối hợp của người ĐD thể hiện trong việc thực hiện y lệnh và báo cáo tình trạng BN cho bác sỹ Phối hợp với bác sỹ trong việc tổ chức thực hiện kế hoạch chăm sóc

- Người ĐD cần phải phối hợp với các đồng nghiệp khác (ĐD, kỹ thuật viên, hộ sinh…) để hoàn thành nhiệm vụ của mình

- Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo 5 nhiệm vụ cơ bản của ĐD:

HUPH

Trang 16

+ Chăm sóc những người bị ốm đau, bệnh tật hoặc những ai cần được chăm sóc sức khoẻ, đáp ứng nhu cầu cần thiết của từng cá nhân về thể chất, tình cảm, về xã hội tại bệnh viện và trong cộng đồng

+ Hướng dẫn, khuyên nhủ BN và NNBN về chăm sóc sức khoẻ

+ Theo dõi, thăm khám, đánh giá tình trạng BN Phát hiện các triệu chứng lâm sàng, tác dụng phụ của thuốc, báo cáo tình trạng BN cho bác sỹ điều trị

+ Huấn luyện cho nhân viên y tế khác trong chăm sóc BN và trong chăm sóc sức khoẻ ban đầu

+ Cộng tác với các nhân viên y tế khác trong việc nâng cao chất lượng ĐD hoặc quản lý tốt sức khoẻ cộng đồng

Trên cơ sở trình độ được đào tạo và vị trí công tác mà mỗi ĐD có các nhiệm vụ cụ thể khác nhau, cần thực hiện nghiêm túc và đầy đủ các chức năng ĐD [19]

- Chăm sóc vệ sinh cá nhân;

- Chăm sóc dinh dưỡng;

- Chăm sóc phục hồi chức năng;

- Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật;

- Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh;

- Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối và người bệnh tử vong;

- Thực hiện các kỹ thuật ĐD;

- Theo dõi, đánh giá người bệnh;

HUPH

Trang 17

- Bảo đảm an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh;

- Ghi chép hồ sơ bệnh án

1.3 Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế

1.3.1 Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với nhân viên y tế trên thế giới

Vấn đề bạo lực ngày nay là một vấn đề nghiêm trọng và đang được xã hội đặt biệt quan tâm Các hình thức bạo lực có thể xảy ra đối với con người như bạo lực gia đình, bạo lực học đường, bạo lực xảy ra tại nơi làm việc Trong đó, hình thức bạo lực đã và đang xảy ra tại các bệnh viện, cơ sở chăm sóc sức khỏe là một trong những loại khá phổ biến hiện nay ở các nước trên thế giới và cả ở nước ta Bạo lực bệnh viện được Viện quốc gia về an toàn và sức khỏe nghề nghiệp (NIOSH) thuộc Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa kỳ (CDC) định nghĩa là: các hành vi bạo lực, bao gồm cả tấn công vật lý, hướng vào một người đang làm việc hoặc đang làm nhiệm vụ [41] Bạo lực tinh thần thông qua lời nói, cách thức hoặc giọng điệu, khiến người nhận cảm thấy bị sỉ nhục, bị tấn công hoặc mất giá trị danh dự Bạo lực tinh thần không để lại sẹo, nhưng tổn thương nghiêm trọng [34] Bạo lực thể chất được báo cáo xảy ra trong các cơ sở chăm sóc sức khỏe thường xuyên hơn gấp bốn lần so với tất cả lĩnh vực khác [23]

Theo nghiên cứu tình trạng bạo lực bệnh viện đối với ĐD tại Gambia, Châu Phi Kết quả cho thấy rằng phần lớn (62,1%) ĐD trả lời có tiếp xúc với bạo lực trong 12 tháng trước cuộc điều tra; tiếp xúc với lạm dụng lời nói (59,8%), bạo lực thể xác (17,2%) và quấy rối tình dục (10%) Thủ phạm chủ yếu là NNBN, tiếp theo là BN [18] Nghiên cứu khác về thực trạng và các yếu tố nguy cơ của bạo lực tại nơi làm việc đối với nhân viên chăm sóc sức khoẻ tại khoa cấp cứu ở Ismailia, Ai Cập cho kết quả hơn nữa (59,7%) nhân viên y tế trả lời có bạo lực bệnh viện Bạo lực bằng miệng được chiếm tỷ lệ nhiều nhất (58,2%), bạo lực thể chất là 15,7% Các yếu tố gây nên tình trạng bạo lực là thời gian chờ đợi và sự mong đợi của BN và gia đình không được đáp ứng Chỉ có 29,5% nhân viên y tế bị bạo lực bằng lời và 23,8% những người

đã từng bị bạo lực thể xác báo cáo cho cơ quan của bệnh viện Khoảng 75% nhân viên

HUPH

Trang 18

y tế nghĩ rằng bạo lực bệnh viện có thể được ngăn ngừa, và khoảng 60% nói rằng không

có hành động nào được thực hiện đối với kẻ tấn công bởi cơ quan bệnh viện [8] Nghiên cứu về bạo lực lời nói và thể chất đối với ĐD tại các khoa cấp cứu ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ cho kết quả rằng tỷ lệ bị bạo lực bằng lời nói là 91,4%; có 74,9%

ĐD trải qua bạo lực thể chất ít nhất một vài đợt trong một năm trước đó Sau bị bạo lực, hầu hết các ĐD cảm thấy sợ hãi, 3% trong số người bị bạo lực phải nghỉ ốm, 80% không báo cáo về tình trạng bạo lực họ gặp phải Các ĐD cho biết, sau khi bị bạo lực tại nơi làm việc, họ tìm thấy sự hỗ trợ chủ yếu từ các đồng nghiệp của họ Hơn một nửa trong số các ĐD (65%) cảm thấy không an toàn trong các khoa cấp cứu, 89,8% trong số

họ cho biết BN và người nhà có thể có những hành vi bạo lực đối với nhân viên khi BN vào khoa cấp cứu [42]

Nghiên cứu tại Trường đại học ở Seoul, Hàn Quốc đã thực hiện tại các khoa tổng quát, ung thư, hồi sức cấp cứu, phòng phẫu thuật và các khoa ngoại trú bệnh viện của trường với 970 ĐD Kết quả chỉ ra rằng tỷ lệ ĐD từng trãi qua bạo hành về lời nói là 63,8%, tiếp theo là đe dọa bạo lực (41,6%), bị bạo lực thể xác (22,3%), quấy rối tình dục (19,7%) và bắt nạt có tỷ lệ thấp nhất (9,7%) Bạo lực thể xác, đe dọa bạo lực và lạm dụng bằng lời nói thường xuyên xảy ra ở khoa hồi sức cấp cứu Tuy nhiên, quấy rối và bắt nạt tình dục là cao nhất trong các khoa phẫu thuật Thủ phạm chính là BN, tiếp đó là gia đình BN Các ĐD cho biết áp lực công việc lớn và pháp luật còn yếu nên có nhiều khả năng dẫn đến nguy cơ bạo lực [17]

Một nghiên cứu về bạo lực tại nơi làm việc trên 107 bác sĩ và 613 ĐD ở các bệnh viện tại Ma Cao, Trung Quốc chỉ ra có 57,2% đã bị bạo lực bệnh viện, phổ biến là bạo lực lời nói (53,4%), các hình thức khác bạo lực thể chất, bắt nạt/ quấy rối, quấy rối tình dục và quấy rối chủng tộc, lần lượt là (16,1%; 14,2%; 4,6% và 2,6%) Hầu hết các vụ bạo lực bệnh viện bị gây ra bởi BN và người thân của họ[9]

Nghiên cứu khác cũng tại tỉnh Hắc Long Giang, Trung quốc với 588 ĐDcho kết quả rằng có 7,8% ĐD trả lời có bị bạo lực thể chất 71,9% cho biết bị bạo lực tinh thần trong năm trước đó Người gây bạo lực là BN hoặc họ hàng của họ là 93,5% và 82% [15]

HUPH

Trang 19

Tác giả Nouf Al-Turkiat và cộng sự cũng đã nghiên cứu về tình trạng bạo lực bệnh

viện đối với 270 ĐD tại Riyadh, Ả rập Saudi Gần như (94,3%) có bạo lực lời nói, hăm

dọa (22,0%), và bạo lực thể chất (6,5%) Thủ phạm chủ yếu là BN (71,5%) trong phần

lớn các trường hợp, NNBN (20,3%) và cả người nhà và BN chiếm tỷ lệ thất (3,3%) [16] Một nghiên cứu tại các bệnh viện vùng Belgrade, Serbia, Châu Âu để xác định

thực trạng và các yếu tố liên quan đến bạo lực bệnh viện Kết quả chỉ ra rằng có

47,8% đối tượng tham gia nghiên cứu bị bạo lực bằng lời nói Thủ phạm gây ra chủ yếu

là BN (52,1%) và NNBN (14,3%) [12]

Nghiên cứu khác tại Hông Kông với 850 ĐD tham gia nghiên cứu cho thấy tỷ lệ

ĐD bị bạo lực bệnh viện là 44,6% trong 12 tháng trước đó Hình thức bạo lực phổ biến

nhất là bạo lực tinh thần (39,2%), tiếp đến bạo lực thể chất (22,7%) và quấy rối tình dục

(1,1%) Thủ phạm gây ra chủ yếu là BN (36,6%) và NNBN (17,5%) [37]

Một nghiên cứu cắt ngang tại Đài Loan về tình trạng bạo lực bệnh viện với 521 ĐD

tham gia Kết quả cho thấy có 19,6% đã từng bị bạo lực thể chất, 51,4% bị bạo lực tinh

thần, 12,9% đã từng bị quấy rối tình dục [41]

Từ kết quả của các nghiên cứu trên cho thấy bạo lực bệnh viện đối với ĐD có

nhiều hình thức khác nhau như bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực bằng lời nói,

các hình thức đe dọa, bạo lực tình dục… trong đó có hai hình thức bạo lực phổ biến là

bạo lực tinh thần và bạo lực thể chất Tùy thuộc vào từng nghiên cứu sẽ có các mức độ

và tỷ lệ các ĐD gặp phải bạo lực khác nhau

1.3.2 Thực trạng bạo lực với nhân viên Y tế tại Việt Nam

Tình trạng nhân viên y tế bị bạo hành ngay trong cơ sở khám chữa bệnh đang là

vấn đề nóng trong toàn ngành y tế Theo số liệu từ Cục Quản lý khám chữa bệnh, những

vụ điển hình về mất an ninh, trật tự tại các cơ sở khám chữa bệnh gần đây, đối tượng bị

tấn công chủ yếu là bác sĩ (70%) và ĐD (15%) 90% số vụ việc xảy ra trong khuôn viên

bệnh viện, trong khi thầy thuốc đang cấp cứu, chăm sóc cho người bệnh (chiếm tới 60%)

và 30% số vụ việc xảy ra khi thầy thuốc đang giải thích cho người bệnh, người nhà người

bệnh Đối tượng gây mất an ninh, bạo hành nhân viên tương đối phức tạp [3]

HUPH

Trang 20

Một nghiên cứu tại 79 cơ sở y tế trên 3 miền Bắc, miền Trung và miền Nam về

mô tả thực trạng đều kiện lao động và một số yế tố nguy cơ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe nhân viên y tế cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế bị BN/NNBN bạo lực tinh thần chiếm 18,4% và bạo lực thể chất là 2,4%, trong đó số nhân viên y tế là nam cao hơn nữ Tỷ lệ nhân viên y tế bị bạo lực tinh thần tại tuyến huyện là 19,9%, tuyến tỉnh 19,0%, tuyến trung ương 15,4% Tương tự tỷ lệ bị bạo lực thể chất tại tuyến huyện là 3,1%, tuyến tỉnh 2,1%, tuyến trung ương 2,9% Tỷ lệ ĐD bị bạo lực tinh thần là 14,0%, thể chất

là 2,7%, tuyến trung ương bị bạo lực tại nơi làm việc cao hơn tuyến tỉnh lần lượt là (15,6%, 3,7% so với 12,9%, 2,7%) [5]

Nghiên cứu tại 132 bệnh viện và các cơ sở y tế dự phòng từ trung ương đến tuyến

xã trên đối tượng là nhân viên y tế chỉ ra tỷ lệ nhân viên y tế bị chửi mắng chiếm 17,2%,

đe dọa 11,2% và đã từng bị hành hung là 2,7% Sau khi bị BN/NNBN chửi mắng, đe dọa và hành hung thì có gần 20% nhân viên y tế không có phản ứng gì [6]

Nghiên cứu thực trạng bạo lực BV đối với ĐD và một số yếu tố ảnh hưởng tại

BV Nhi trung ương đã cho thấy các y bác sĩ, nhân viên y tế đang phải chịu nhiều sức

ép từ môi trường làm việc Kết quả nghiên cứu đã cho kết quả có tới 72,7% ĐD bị bạo lực trong 12 tháng qua Thậm chí, có hơn 65% ĐD bị bạo lực lời nói và 23,7% ĐD bị bạo lực thể chất Nghiên cứu cũng đưa ra kết luận, ĐD làm việc tại khu vực cấp cứu, khám bệnh có nguy cơ bị bạo lực cao hơn 2 lần so với ĐD các khu vực khác [4]

1.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện với nhân viên Y tế

Bạo lực bệnh viện đã và đang trở thành một hiện tượng đáng được đặc biệt quan tâm [31] Một số nghiên cứu đã cho thấy các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân, chẳng hạn như dưới 30 tuổi [41;34;40] Các nghiên cứu khác cho rằng các yếu tố liên quan đến công việc, bao gồm: thiếu giao tiếp, thời gian chờ đợi, thiếu nguồn lực, cá vấn đề liên quan đến thuốc và thiếu chính sách, dịch vụ hỗ trợ tốt của bệnh viện dễ dàng đẫn đến bạo lực [25;26]

Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại thành phố Ismailia, Ai Cập cho kết quả với 59,7% nhân viên chăm sóc sức khỏe có trãi qua bạo lực bệnh viện Bạo lực tinh thần chiếm tỷ lệ cao (58,2%) so với bạo lực thể chất (15,7%) Những lý do được

HUPH

Trang 21

ghi nhận nhiều nhất về bạo lực là thời gian chờ đợi và những mong đợi của BN và NNBN không được đáp ứng Bạo lực chống lại HCW trong khoa cấp cứu là một vấn

đề quan trọng không thể bỏ qua Nhóm tác giả của nghiên cứu này cũng cho rằng có nhiều yếu tổ ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực, tuy nhiên điểm quan trọng là việc xử

lý các nguyên nhân cụ thể của nó [8]

Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Mansoura, Ai Cập đã chỉ ra bạo lực bệnh viện là phổ biến ở đối tượng ĐD Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực này được xác định là những người làm việc ở khoa cấp cứu, người thường xuyên làm theo ca và trẻ tuổi Nghiên cứu cho rằng để giải quyết bạo lực bệnh viện cần cấp thiết phải xây dựng và thực hiện chính sách xử lý triệt để các hình thức bạo lực theo từng nguyên nhân cụ thể [23]

Bạo lực bệnh viện khi xảy ra thường để lại hậu quả nghiêm trọng là vô cùng quan trọng Tuy nhiên, qua các khảo sát cho thấy có rất nhiều vụ viêc không được báo cáo, ngay cả tại các cơ sở y tế có hệ thống báo cáo sự cố được trang bị hiện đại Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện tại các bệnh viện vùng phía tây nước Mỹ xác định các đặc điểm cá nhân và vấn đề liên quan đến báo cáo bạo lực tại nơi làm việc ảnh hưởng không nhỏ đến tình trạng bạo lực này Cụ thể là, trong số những người trải qua cả bạo lực thể chất và tinh thần tại nơi làm việc (lần lượt 57% và 40%) đã báo cáo các vụ việc cho lãnh đạo của họ Hầu hết các báo cáo là bằng miệng (86%) [27] Tương tự, một cuộc khảo sát với 4,738 y tá ở bang Minnesota, Hoa Kỳ cho thấy chỉ 69% các vụ bạo lực thể chất và 71% các vụ bạo lực tinh thần được báo cáo cho lãnh đạo Nghiêm trọng hơn, nghiên cứu này còn phát hiện ra rằng một nửa các loại hình bạo lực xảy ra đối với các ĐD là không bao giờ báo cáo bằng văn bản Những nguyên nhân cho việc báo cáo không đầy đủ có thể là do thiếu chính sách báo cáo, thiếu niềm tin vào hệ thống báo cáo và sợ bị trả thù [28]

1.4 Giới thiệu về Bệnh viện Bà Rịa

Bệnh viện Bà Rịa là bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh hạng II, tọa lạc tại địa chỉ số

686, đường Võ Văn Kiệt, phường Long Tâm, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Từ khi đưa vào hoạt động bệnh viện không ngừng phát triển và lớn mạnh Trình

HUPH

Trang 22

độ chuyên môn, quản lý ngày được nâng cao Bệnh viện được thiết kế ban đầu với công suất 700 gường bệnh, định hướng tương lai sẽ phát triển thành Bệnh viện hạng I với công suất 1000 gường

Hiện nay Bệnh viện có 31 khoa, phòng, đủ để đáp ứng nhu cầu chuyên môn của Bệnh viện Về số lượng điều dưỡng, hiện nay bệnh viện có 457 ĐD đang làm việc tại Bệnh viện, phục vụ cho số gường bệnh thực kê 950 giường Dẫn đến số lượng ĐD trực tiếp chăm sóc cho BN mỏng và không đáp ứng nhu cầu Thêm vào đó, số lượng BN ngày một tăng cao, áp lực công việc ngày một nhiều hơn Qua khảo sát ban đầu, mỗi ĐD thường phải chăm sóc từ 20 đến 40 BN trong mỗi ca trực, do đó, công việc của họ rất vất vả và áp lực cao Mặt khác, họ còn phải chăm sóc trực tiếp cho các BN, thực hiện các y lệnh của bác sỹ,

lo cho BN từng chế độ ăn, chế độ nghỉ ngơi Với khối lượng công việc rất lớn như vậy, ĐD thường phải làm việc với áp lực cao và trong trạng thái căng thẳng nên không thể tránh khỏi sai sót trong quá trình chăm sóc người bệnh Do đó, họ thường xuyên đối đầu với các hình thức bạo lực có thể xảy ra đối với mình trong bất cứ thời điểm nào Chưa có một báo cáo tổng hợp cụ thể về tình hình bạo lực đối với điều dưỡng viên bệnh viện, tuy nhiên qua các báo cáo từ khoa, phòng thì nhiều điều dưỡng đã đối mặt với bạo lực về lời nói, bạo lực về tinh thần và cả bạo lực về thể chất từ người bệnh và người nhà bệnh nhân trong thời gian qua

HUPH

Trang 23

1.5 Khung lý thuyết nghiên cứu

Bạo lực bệnh viện đối với điều dưỡng:

-Tinh thần: chửi bới, bắt nạt,

la hét, quấy rối, đe dọa …

- Thể chất: Đánh đập, xô đẩy, cắn, véo, tát…

Yếu tố cá nhân của

Yếu tố cá nhân của ĐD:

+ Tuổi, giới

+ Trình độ chuyên môn

+ Kinh nghiệm, thâm niên

+ Kỹ năng giao tiếp ứng

xử, kỹ năng xử lý tình

huống bạo lực…

Đặc điểm công việc:

+ Khu vực làm việc + Đăc điểm công việc + Trực đêm

+ Quá tải

HUPH

Trang 24

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu:

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

Điều dưỡng:

+ Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Điều dưỡng làm việc tại các khoa lâm sàng của bệnh viện

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

+ Tiêu chuẩn loại trừ:

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Những ĐD không trực tiếp trả lời bộ câu hỏi mà nhờ người khác đánh dùm

- Những người nghĩ hoặc đi học dài hạn, nghỉ sinh, hậu sản

Cán bộ quản lý: Đại diện BGĐ, trưởng phòng tổ chức cán bộ, trưởng phòng Điều

dưỡng, trưởng phòng Hành chính quản trị, chủ tịch công đoàn, điều dưỡng trưởng 18 khoa lâm sàng

2.1.2 Thời gian, địa điểm nghiên cứu:

- Thời gian thu thập số liệu: từ tháng 04/2019 đến tháng 06/2019

- Thời gian nghiên cứu: trong 12 tháng gần đây

- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Bà Rịa

2.2 Phương pháp nghiên cứu:

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu:

Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính

2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

a) Cỡ mẫu

Nghiên cứu định lượng

Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:

HUPH

Trang 25

Chọn mẫu theo công thức một tỷ lệ:

𝑛 =𝑍

2 (1−𝛼/2)𝑝(1 − 𝑝)

𝑑2

Trong đó:

n: Cỡ mẫu nghiên cứu

p = 0,5 là tỷ lệ ĐD ước lượng

Z = 1,96 (α = 0,05, độ tin cậy 95%, thu từ bảng Z)

d = 0,05 là sai số tuyệt đối

Thay các giá trị trên vào công thức ta được n = 209 ĐD, thêm 5% mẫu dự phòng

Định tính:

Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu lãnh đạo Phòng chức năng liên quan đến quản lý nhân sự: Tổ chức cán bộ, phòng Hành chính quản trị, phòng Điều dưỡng: 03 người Phỏng vấn sâu ĐD trưởng của 18 khoa lâm sàng

HUPH

Trang 26

Phỏng vấn sâu cán bộ quản lý: 04 người (Ban Giám đốc bệnh viện, Công đoàn, Đoàn thanh niên và Thầy thuốc trẻ)

Thảo luận nhóm: 2 cuộc Cụ thể: Nhóm 1 (5 ĐD đã từng bị bạo lực) và nhóm 2 (5 ĐD chưa bị bạo lực)

2.4 Biến số nghiên cứu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu như: Tuổi, giới tính, trình độ, thâm niên công tác, khoa phòng công tác, loại hình công việc

- Tình trạng bị bạo lực bệnh viện: đã từng bị bạo lực bệnh viện, bạo lực lời nói, bạo lực thể chất, quy trình báo cáo, các phản hồi của lãnh đạo sau khi bị bạo lực, mức độ an ninh của bệnh viện

- Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực bệnh viện đối với ĐD : Nguyên nhân gây nên tình trạng bạo lực bệnh viện; việc sử dụng chất kích thích của BN/NNBN; sự quá tải; sự minh bạch trong cung cấp dịch vụ; thiếu hướng dẫn/chỉ dẫn trong bệnh viện; sự khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ; hành vi không phù hợp của ĐD; thiếu thông tin của BN/người nhà bênh nhân; thời gian chờ đợi

- Ảnh hưởng của bạo lực bệnh viện đối với ĐD: căng thẳng; lo lắng; trầm cảm; không hài lòng công việc; muốn thay đổi nơi làm việc; hiệu suất làm việc kém…

- Biến số nghiên cứu chi tiết được cụ thể hóa trong phụ lục 5

2.4.2 Chủ đề nghiên cứu định tính

- Thực trạng bạo lực bệnh viện đối với ĐD do BN/NNBN gây ra tại bệnh viện Bà Rịa

- Một số yếu tố ảnh hưởng tới bạo lực bệnh viện đối với ĐD do BN/NNBN gây

ra tại bệnh viện Bà Rịa: yếu tố quá tải, yếu tố giao tiếp/ứng xử - tính chuyên nghiệp trong giao tiếp của ĐD, yếu tố tình trạng bệnh tật của người bệnh, yếu tố về biện pháp an ninh của bệnh viện

HUPH

Trang 27

- Các yếu tố làm giảm tình trạng bạo lực bệnh viện đối với ĐD do BN/NNBN gây

ra tại bệnh viện Bà Rịa

- Những khó khăn, thách thức trong việc phòng chống bạo lực bệnh viện cho

ĐD

2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu

Phiếu điều tra được xây dựng dựa trên mục tiêu nghiên cứu, các tiêu chuẩn biến

số nghiên cứu và một số tài liệu tham khảo

Bộ công cụ đã được thiết kế dựa vào Bộ công cụ của các tổ chức ILO (International Labour Office), WHO (World Health Organization, ICN (International Council of Nurses) và PSI (Public Services International) đã được chuẩn hóa và sử dụng ở nhiều nghiên cứu trong nước và trên thế giới Sau đó, Bộ câu hỏi đã được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình thực tiễn khám, chữa bệnh tại bệnh viện Bà Rịa

Bộ câu hỏi gồm các phần: Thông tin chung đối tượng nghiên cứu; bộ câu hỏi thu thập số liệu tình trạng bạo lực thể chất và tinh thần; Đánh giá bạo lực gây ra tại các khoa/phòng của bệnh viện; Đánh giá sự từng trải bạo lực, thủ phạm, các tình huống gây ra bạo lực và mức độ ảnh hưởng của bạo lực lên sức khỏe, công việc của người ĐD; Xác định các giải pháp phòng ngừa

Bộ câu hỏi sau khi được xây dựng đã tiến hành thử nghiệm 15 phiếu chia làm 3 khu vực (cấp cứu, phòng khám, nội trú nhi), mỗi khu vực phỏng vấn khoảng 5 ĐD nhằm kiểm tra các sai sót, các từ ngữ hoặc cách đặt câu hỏi chưa phù hợp, chưa đúng với phương pháp điều tra

Hướng dẫn phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm bao gồm các chủ đề trọng tâm vào việc thu thập thông tin các yếu tố ảnh hưởng tới bạo lực bệnh viện đối với ĐD như: yếu tố quá tải, yếu tố giao tiếp/ứng xử - tính chuyên nghiệp trong giao tiếp của ĐD, yếu tố tình trạng bệnh tật của người bệnh, yếu tố về biện pháp an ninh của bệnh viện,

HUPH

Trang 28

2.5.2 Thu thập số liệu định lượng

Được sự đồng ý của lãnh đạo Bệnh viện Bà Rịa, nghiên cứu viên đã làm việc với các khoa/phòng về kế hoạch thu thập số liệu

Sau giao ban của các khoa/phòng, các ĐD tham gia nghiên cứu được mời ở lại tại phòng giao ban của khoa để tiến hành khảo sát bằng phương pháp phát vấn Trước khi trả lời các câu hỏi, nghiên cứu viên đã giải thích cho các ĐD về mục đích nghiên cứu và cách điền câu trả lời vào phiếu phát vấn Những ĐD đồng ý tham gia nghiên cứu ký vào phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu và được phát phiếu điều tra

Trong quá trình thu thập thông tin, nghiên cứu viên giám sát để đối tượng nghiên cứu không trao đổi câu trả lời với nhau làm ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Khi đối tượng nghiên cứu đã trả lời xong nghiên cứu viên kiểm tra thông tin xem đã đúng và đầy đủ chưa rồi mới thu phiếu

- Người phỏng vấn: Nghiên cứu viên

• Thảo luận nhóm (2 cuộc): Nhóm 1 (5 ĐD đã từng bị bạo lực) và nhóm 2 (5 ĐD chưa bị bạo lực) thực hiện tại hội trường của Bệnh viện

- Thời gian thảo luận nhóm: 2 – 3 giờ

- Công cụ hỗ trợ: Máy ghi âm, biên bản ghi chép nội dung thảo luận

- Nội dung thảo luận: Phụ lục 4

- Người hướng dẫn thảo luận: Nghiên cứu viên

HUPH

Trang 29

2.6 Phân tích số liệu

• Định lượng:

Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1, phân tích bằng phần mềm Statistical Package for the Social Science (SPSS) 22.0 với các thuật toán thống kê mô tả, phân tích các mối liên quan, phân tích hồi qui Logistic

• Định tính:

- Trích dẫn nội dung phỏng vấn sâu thông qua bản ghi âm và thông tin ghi chép theo chủ đề phân tích

2.7 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu đã được trình Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua theo đúng quy định trong nghiên cứu (Quyết định số 187/2019/YTCC-HD3 ngày 19/4/2019) Nghiên cứu đã được thực hiện với sự chấp thuận của Bệnh viện Bà Rịa

Các đối tượng tham gia nghiên cứu đã được nêu rõ mục đích nghiên cứu và khi họ đồng ý tham gia nghiên cứu, khảo sát mới được tiến hành Nghiên cứu đã không gây ảnh hưởng tiêu cực tới đối tượng tham gia nghiên cứu

Các thông tin cá nhân về đối tượng đã được giữ bí mật bằng cách mã hóa Thông tin thu thập được đã chỉ phục vụ cho nghiên cứu và không sử dụng vào mục đích

Trang 30

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm Số lượng (n=220) Tỷ lệ (%) Tuổi

HUPH

Trang 31

Bảng 3.2: Đặc điểm công việc đối tượng nghiên cứu

Nội dung Số lượng (n=220) Tỷ lệ (%)

Bảng 3.2.1: Trực đêm của đối tượng nghiên cứu

Nội dung Số lượng (n=174) Tỷ lệ (%)

HUPH

Trang 32

Bảng 3.2.2: Đặc điểm đối tượng tiếp xúc thường xuyên của ĐD

Đối tượng tiếp xúc

Đối tượng tiếp xúc của của ĐD phần lớn là cả BN và NNBN (chiếm 67,7%) Mục đích tiếp xúc này là thực hiện chăm sóc chuyên môn là chủ yếu (chiếm 85,9%) Trong

đó, ĐD thực hiện cả chăm sóc chuyên môn và tư vấn, hướng dẫn chiếm 62,1%

3.2 Thực trạng bạo lực đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa

Bảng 3.3: Thực trạng bạo lực đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa

Nội dung Số lượng (n = 220) Tỷ lệ (%)

HUPH

Trang 33

3.2.1 Thực trạng bạo lực thể chất đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa

Bảng 3.4: Thực trạng bạo lực thể chất đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa

Nội dung Số lượng (n = 15) Tỷ lệ (%)

Cả người nhà và bệnh nhân 1 6,7

Thời điểm xảy ra bạo lực

7:00 – trước 13 giờ 5 33,3

13 giờ - trước 18 giờ 0 0

18 giờ - trước 24 giờ 10 66,7

24 giờ - trước 7 giờ hôm sau 0 0

Ngày xảy ra bạo lực

Ngày làm việc trong tuần 4 26,7

Cuối tuần (thứ 7, Chủ nhật) 11 73,3

Công việc đang thực hiện khi xảy ra bạo lực

Đang tư vấn/hướng dẫn 9 60,0

Đang chăm sóc bệnh nhân 5 33,3

Đang thực hiện công việc

HUPH

Trang 34

ra 4 trường hợp (chiếm 26,7%), cả người nhà và BN cùng bạo lực là 1 trường hợp (chiếm 6,7%) Thời điểm xảy ra bạo lực thường là vào buổi sáng và chiều tối: 7 giờ sáng đến trước 13 giờ có 5 trường hợp (chiếm 33,3%), 18 giờ đến 24 giờ xảy ra 10 trường hợp (chiếm 66,7%) Trong tuần thì bạo lực thường xảy ra vào 2 ngày cuối tuần ( thứ 7 và chủ nhật xảy ra 11 trường hợp bị bạo lực chiếm 73,3%; ngày thường trong tuần xảy ra 4 trường hợp chiếm 26,7%)

Tìm hiểu sâu về vấn đề này qua thảo luận nhóm, tác giả nhận thấy đa phần các vụ tấn công không dùng vũ khí và tấn công một cách đột ngột không kịp phản ứng Một

ĐD ở khoa Cấp cứu (người đã từng bị bạo lực) cho rằng: “… trong lúc tôi đang di chuyển

BN từ khoa cấp cứu đến khoa chẩn đoán hình ảnh thì bị một thanh niên (NNBN) chửi bới và tát vào đầu tôi (như trời gián) không kịp né tránh… hậu quả là tôi bị ngã xuống

và phải về nhà nghỉ ngơi vài hôm…” (ĐD 003_Khoa cấp cứu)

Một ĐD khác (cũng tại khoa cấp cứu, người từng chứng kiến bạo lực thể chất) cho

rằng: “…người gây ra bạo lực chủ yếu là do người nhà, bạn bè người bệnh ….họ thường say sỉn hoặc là do họ mới vào không rõ tình trạng bệnh như thế nào và phải chờ đợi cấp cứu lâu Những người này rất hung hăng, đôi lúc sử dụng vũ khí để đe dọa, hành hung nhân viên y tế ”; “… có trường hợp một BN bị tai nạng giao thông chỉ bị xây xát ngoài

da, chảy ít máu ở chân đang chờ được khám băng rửa vết thương trong khi bác sĩ đang cấp cứu một BN khác nguy kịch nhưng người bạn của BN này (trong tình trạng say sỉn)

đã chửi bới và chụp lấy cây kéo xông vào hành hung một ĐD đứng gầy đó, rất may là cô

ấy kịp bỏ chạy, chỉ bị xây sát nhẹ” (ĐD 018_Khoa cấp cứu)

Tìm hiều về thời gian thường xảy ra bạo lực thì đa số các ĐD nói rằng bạo lực

thường xảy ra vào ban đêm và các ngày cuối tuần: “ buổi chiều tối hay ngày thứ 7 và chủ nhật BN các khoa thường quá tải, đặt biệt là cấp cứu nhiều BN bị tai nạng giao thông, đánh nhau, say sỉn nên chỉ cần chậm 1 tí là họ chửi bới, hành hung nhân viên y tế ngay” (ĐD 007_Khoa cấp cứu)

Những trường hợp bị bạo lực này thường diễn ra lúc ĐD đang tư vấn/hướng dẫn

có 9 trường hợp (chiếm 60,0%), đang chăm sóc BN 5 trường hợp (chiếm 33,3%), bị bạo lực khi đang thực hiện công việc chuyên môn khác có 1 trường hợp (chiếm 6,7%) Phản

HUPH

Trang 35

ứng của ĐD tại thời điểm bị bạo lực thể chất: có 9 trường hợp cố gắng tự vệ, 6 trường hợp nhờ sự trợ giúp

Qua kết quả thảo luận nhóm cho thấy đa số các ĐD phải có gắng tự vệ khi bị hành

hung, sau đó mới báo động hay gọi trợ giúp từ bảo vệ “….Bảo vệ thường trực ở ngoài cửa khi nhân viên y tế bị hành hung mới chạy vào thì sự việc cũng đã xong rồi chẳng giải quyết được gì…nên phải cố gắng tự bảo vệ mình… ” (ĐD 009_Khoa cấp cứu)

Tất cả các trường hợp bị bạo lực thể chất đều được báo cáo cho cấp trên xử lý sau khi xảy ra vụ việc Có 13 đối tượng bị bạo lực thể chất này cho rằng không thể phòng vệ được, chiếm 86,7% Kết quả từ thảo luận nhóm cho biết về việc phòng vệ bạo lực thể

chất thì đa số các ĐD cho rằng rất khó phòng vệ Một ĐD khoa nhi cho biết : “ Lúc BN quá tải không kịp phục vụ, có bị người nhà chửi mắng cũng phải chăm sóc BN, không được quyền từ chối thì rất khó phòng vệ được…” (ĐD 079_Khoa Nhi)

Tìm hiểu về các yếu tố nguy cơ dễ dẫn bạo lực thì đa số các ĐD cho rằng vấn đề đầu tiên là thiếu nhân lực cả Bác sĩ và ĐD chăm sóc ở những vị trí quan trọng như là khoa cấp cứu, khoa khám bệnh đi kèm với vấn đề quá tải bệnh viện tạo nên những áp

lực nhất định “ …ĐD của khoa cấp cứu cho biết một tua trực cấp cứu có 10 ĐD mà phải tiếp nhận chăm sóc >100 BN/ca (8 tiếng), còn làm đủ các thủ tục hành chính, hồ

sơ, giấy tờ… không đủ người chăm sóc chuyên môn cho BN…” (ĐD 012_Khoa cấp cứu)

Qua phỏng vấn sâu các cán bộ quản lý, họ cho rằng do tình trạng quá tải BN những giờ cao điểm và một số các em ĐD trẻ còn thiếu kỹ năng giao tiếp ứng xử với BN/NNBN

là một trong những yếu tố chính dễ dẫn đến tình trạng bạo lực bệnh viện HUPH

Trang 36

Bảng 3.5: Hậu quả đối với ĐD khi bị bạo lực thể chất

Nội dung Số lượng (n = 15) Tỷ lệ (%)

Qua thảo luận nhóm để tìm hiểu sâu thêm về hậu quả bạo lực, trong nhóm 5 ĐD từng bị bạo lực thể chất thì có 2 ĐD bị chấn thương khá nghiêm trọng, đều làm ở khoa cấp cứu (1 ĐD nam bị vết thương ở đầu phải khâu 5 mủi; 1 ĐD nữ bị xây xát vai, tinh thần hoang mang) 2 ĐD này phải xin nghỉ phép 1 tuần

Bảng 3.6: Xử lý đối với bạo lực thể chất khi xảy ra

Nội dung Số lượng (n = 15) Tỷ lệ (%)

Điều tra nguyên nhân

không hay cho Bệnh viện: “….Lãnh đạo thường nói do yếu tố khách quan… nên bệnh nhân/người nhà bức xúc không kiểm soát được hành vi… Cũng không nên làm lớn chuyện ” (ĐD 115_Khoa Khám bệnh)

HUPH

Trang 37

Về vấn đề này, qua cuộc phỏng vấn sâu một viên chức quản lý cho biết: “… tất cả các vụ việc bạo lực xảy ra Lãnh đạo bệnh viện đều ghi nhận, tìm hiểu nguyên nhân để có cách giải quyết cũng như là hỗ trợ cho người bị hành hung…”

3.2.2 Thực trạng bạo lực tinh thần đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa

Bảng 3.7: Thực trạng bạo lực tinh thần đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa

Hình thức bạo lực tinh thần

To tiếng (la hét) 124 56,4 Dùng những lời lẽ thiếu tôn trọng 78 35,5 Dùng lời lẽ nhằm hạ nhục (lăng mạ) phẩm chất/uy

tín/giá trị

65 29,5

Dùng quyền lực để ép làm những việc theo ý của họ 47 21,4

Hình thức khác 23 10,5

Bạo lực tinh thần chung 133 60,5

Bảng 3.7 mô tả các hình thức bạo lực tinh thần đã xảy ra đối với đối tượng nghiên cứu trong 12 tháng qua Hình thức to tiếng, la hét là phổ biến (chiếm tỷ lệ 56,4%) Hình thức dùng những lời lẽ thiếu tôn trọng; dùng lời lẽ nhằm hạ nhục (lăng mạ) phẩm chất,

uy tín, giá trị; và dùng quyền lực để ép làm những việc theo ý của họ chiếm tỷ lệ lần lượt

là 35,5%; 29,5%; và 21,4% Các hình thức bạo lực khác như có hành vi làm tổn thương vật chất, đe dọa sẽ làm tổn hại về tinh thần, thể chất chiếm tỷ lệ thấp 10,5%

Biểu đồ 3.1 Đối tượng gây ra bạo lực tinh thần

Trang 38

Biểu đồ trên cho thấy đối tượng gây ra bạo lực tinh thần chủ yếu là NNBN (chiếm 54,1%) Cả người nhà và BN chiếm 30,1% Bạo lực này do BN gây ra chỉ chiếm 15,8%

Biểu đồ 3.2 Hậu quả của bạo lực tinh thần đối với ĐD

Số liệu từ biểu đồ 3.2 thể hiện số đối tượng tham gia nghiên cứu bị bạo lực tinh thần đến mức sợ hãi chiếm tỷ lệ cao (gần 60%) Trong đó, có 12 trường hợp (chiếm 9%) phải nghỉ việc tạm thời

Biểu đồ 3.3 Xử lý bạo lực tinh thần đối với ĐD

40.6%

50.4%

9.0%

0.0% 10.0% 20.0% 30.0% 40.0% 50.0% 60.0%Không có hậu quả gì

Sợ hãi, không đến mức nghỉ việc

Sợ hãi, đến mức nghỉ việc tạm thời

Hậu quả về mặt tâm lý

HUPH

Trang 39

Biểu đồ 3.3 cho thấy có 62,4% ĐD bị bạo lực tinh thần phản ứng khi xảy ra vụ việc Hơn nữa (53,4%) số đối tượng bị bạo lực không báo cáo vụ việc xảy ra cho lãnh đạo Bệnh viện Chỉ 42,1% số vụ việc bạo lực tinh thần xảy ra là được tìm hiểu nguyên nhân Đa số đối tượng cho rằng bạo lực tinh thần có thể phòng tránh được (90,2%)

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa

Bảng 3.8: Một số yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực đối với ĐD tại Bệnh viện Bà Rịa

Các yếu tố ảnh hưởng đến bạo lực Điểm

trung bình

Độ lệch chuẩn

Yếu tố về đặc điểm cá nhân của người bệnh/ người nhà 4,09 0,753

Kỳ vọng cao của người bệnh/ người nhà khi đến điều trị 3,68 0,975 Thời gian chờ đợi lâu hoặc khả năng đáp ứng không kịp thời 4,18 0,755

Sự minh bạch trong cung cấp dịch vụ 3,40 0,856

Cơ chế kiểm tra giám sát và hoạt động của đội ngũ bảo vệ 4,28 0,876

Nhân viên y tế thiếu kỹ năng ứng phó 3,18 0,871

Sự quá tải bệnh viện 4,40 0,664 Hành vi không phù hợp của nhân viên y tế 4,37 0,667

Có những giải pháp phù hợp 4,06 0,825 Qua khảo sát 09 yếu tố có thể ảnh hưởng đến tình trạng bạo lực chung trong bệnh viện, trong đó có 06 yếu tố trọng yếu với điểm trung bình trên 4 điểm Yếu tố đó là đặc điểm cá nhân của người bệnh/ người nhà; Thời gian chờ đợi lâu hoặc khả năng đáp ứng không kịp thời của cơ sở y tế; Cơ chế kiểm tra giám sát và hoạt động của đội ngũ bảo vệ; Sự quá tải bệnh viện; Hành vi không phù hợp của nhân viên y tế; và có những giải pháp phù hợp

Qua phỏng vấn sâu điều dưỡng khoa cấp cứu và khoa khám bệnh: “Một số bệnh nhân nam trẻ tuổi, hay thân nhân là nam giới thường rất nóng tính, trong những lúc cao điểm đông bệnh nhân không kịp thăm khám, chăm sóc may vá vết thương thì họ hay chởi bới, xúc phạm nhân viên y tế” (DD 023_khoa cấp cứu, DD 033_khoa khám bệnh)

HUPH

Trang 40

Khi phỏng vấn lãnh đạo điều dưỡng khoa cấp cứu về hoạt động của đội ngủ bảo vệ thì cho rằng, hiện tại bảo vệ trực tại khoa cũng là những nhân viên bình thường chưa được đào tạo nghiệp vụ, không có chức năng trấn áp người vi phạm nên không thể ngăn cảng được người nhà bệnh nhân có ý đồ hành hung nhân viên y tế, nhất là những người nhà say rượu, có mang vũ khí, họ thường la hét, chởi bới xong vào khoa khi họ muốn Lãnh đạo khác của điều dưỡng cũng nhận định rằng, việc quá tải bệnh viện, những hành vi không phù hợp, giao tiếp ứng xử chưa tốt của của nhân viên y tế cũng là một

trong những yếu tố cốt lõi dẫn đến bạo lực bệnh viện

Một số ý kiến của điều dưỡng của khoa cấp cứu và khoa khám bệnh của Bệnh viện

Bà Rịa cho biết:“ Lực lượng bảo vệ bệnh viện hiện tại còn thiếu và yếu nên chưa thật

sự chưa phát huy hết được đúng chức năng, nhiệm vụ của mình ” (DD 027_khoa cấp cứu) “ Hiện nay với số lượng bệnh nhân nhiều, các điều dưỡng phải làm việc liên tục, căng thẳng nên đôi khi có những ứng xử chưa tốt với người bệnh, người nhà người bệnh nên đó cũng là yếu tố làm xảy ra bạo lực với điều dưỡng ” (DD 017_ khoa khám bệnh)

3.4 Phân tích các mối liên quan đến bạo lực bệnh viện

3.4.1 Mối liên quan giữa bạo lực bệnh viện và các đặc điểm chung

Bảng 3.9: Liên quan giữa bạo lực bệnh viện và các đặc điểm chung

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:31

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm