1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017

101 18 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại Bệnh viện Nhi trung ương năm 2017
Tác giả Phạm Thu Hiền
Người hướng dẫn Ts. Nguyễn Quỳnh Anh, Ts. Trần Thị Chi Mai
Trường học Trường đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Một số khái niệm (13)
    • 1.2. Các giai đoạn của quá trình xét nghiệm (14)
      • 1.2.1. Trước xét nghiệm (14)
      • 1.2.2. Giai đoạn xét nghiệm (14)
      • 1.2.3. Sau xét nghiệm (15)
    • 1.3. Mối quan hệ giữa phòng xét nghiệm với các khoa lâm sàng (15)
    • 1.4. Lấy máu tĩnh mạch (16)
      • 1.4.1. Quy trình thực hành chuẩn lấy máu tĩnh mạch (16)
      • 1.4.2. Nguyên nhân chính của các sai sót trong lấy máu tĩnh mạch (17)
      • 1.4.3. Lấy máu tĩnh mạch ở trẻ em (18)
      • 1.4.4 Lấy máu tĩnh mạch và quản lý chất lượng phòng xét nghiệm (18)
    • 1.5. Các nghiên cứu liên quan đến đề tài trên thế giới và tại Việt Nam (19)
      • 1.5.1. Các nghiên cứu trên thế giới (19)
      • 1.5.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam (20)
    • 1.6. Thông tin chung về Bệnh viện Nhi trung ương (21)
    • 1.7. Khung lý thuyết (22)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (24)
      • 2.1.1. Đối tượng nghiên cứu định lượng (24)
      • 2.1.2. Đối tượng nghiên cứu định tính (24)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (24)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (24)
    • 2.4. Cỡ mẫu (25)
      • 2.4.1. Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng (25)
      • 2.4.2. Cỡ mẫu nghiên cứu định tính (25)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (26)
      • 2.5.1. Xây dựng bộ công cụ (26)
      • 2.5.2. Mô tả phương pháp quan sát (26)
      • 2.5.3. Thu thập số liệu (27)
    • 2.6. Điều tra viên (28)
      • 2.6.1. Số lượng và tiêu chuẩn lựa chọn (28)
      • 2.6.2. Tập huấn cho điều tra viên về nội dung quan sát việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch (28)
    • 2.7. Các biến số và chủ đề nghiên cứu (29)
      • 2.7.1. Các biến số nghiên cứu (29)
      • 2.7.2. Chủ đề nghiên cứu định tính (29)
    • 2.8. Tiêu chuẩn đánh giá về thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch (30)
    • 2.9. Phương pháp phân tích số liệu (31)
      • 2.9.1. Số liệu định lượng (31)
      • 2.9.2. Nghiên cứu định tính (31)
    • 2.10. Đạo đức nghiên cứu (31)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (33)
    • 3.2. Mô tả bước chuẩn bị (34)
    • 3.3. Mô tả việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch (36)
    • 3.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành quy trình lấy máu tĩnh mạch (44)
      • 3.4.1. Sự ảnh hưởng của công tác đào tạo điều dưỡng viên (44)
      • 3.4.2. Sự ảnh hưởng của khối lượng công việc (45)
      • 3.4.3. Sự ảnh hưởng của đặc điểm người bệnh (46)
      • 3.4.4. Sự ảnh hưởng của qui chế khen thưởng xử phạt (46)
      • 3.4.5. Chế độ đãi ngộ và sự quan tâm của ban lãnh đạo đối với ĐDV (47)
      • 3.4.6. Sự ảnh hưởng của công tác kiểm tra, giám sát (48)
      • 3.4.7. Sự ảnh hưởng việc phối hợp với các đồng nghiệp và các cơ quan (48)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (51)
    • 4.1. Thực trạng việc thực hiện các bước trong quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi trung ương (51)
      • 4.1.1. Thông tin chung (51)
      • 4.1.2. Công tác chuẩn bị trước khi lấy máu (52)
      • 4.1.3. Việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch (53)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng (54)
    • 4.3 Hạn chế của nghiên cứu (57)
  • KẾT LUẬN (58)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (60)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng

- Tiêu chuẩn: các ĐDV đã được ký hợp đồng lao động, trực tiếp thực hiện quy trình LMTM tại bệnh viện Nhi trung ương vào thời điểm nghiên cứu

Các tiêu chuẩn loại trừ bao gồm những đối tượng không trực tiếp tham gia vào quy trình LMTM, từ chối tham gia nghiên cứu, đang trong thời gian thử việc hoặc không có mặt tại địa điểm nghiên cứu trong suốt thời gian nghiên cứu (do đi học, đi công tác, nghỉ ốm, nghỉ thai sản, v.v.) Ngoài ra, những đối tượng đang thực hiện thao tác trong thời điểm bệnh nhân quá tải (cấp cứu hàng loạt) cũng sẽ bị loại trừ.

 Quy trình lấy máu tĩnh mạch

- Tiêu chuẩn: quy trình LMTM được thực hiện trực tiếp bởi ĐDV tham gia nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ: các quy trình LMTM được thực hiện tại thời điểm bệnh nhân quá tải (cấp cứu hàng loạt)

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính

- ĐDV, điều dưỡng trưởng, trưởng phòng điều dưỡng bệnh viện, phó giám đốc phụ trách điều dưỡng

Các tiêu chuẩn cho các đối tượng tham gia vào quy trình LMTM bao gồm các lãnh đạo như điều dưỡng trưởng, trưởng phòng điều dưỡng và phó giám đốc phụ trách điều dưỡng tại Bệnh viện Nhi Trung ương, những người đang làm việc tại bệnh viện trong thời điểm nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Thời gian: từ tháng 02/2017 đến tháng 06/2017 Địa điểm: bệnh viện Nhi Trung ương

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính

Cỡ mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu cắt ngang – 1 tỷ lệ:

Trong nghiên cứu này, n đại diện cho số lần thực hiện quy trình LMTM cần quan sát, trong khi p là tỷ lệ dự đoán số quy trình thực hiện đúng, được chọn là 50% do chưa có nghiên cứu nào đánh giá thực trạng Hệ số tin cậy z tương ứng với độ tin cậy 95% là 1,96 với mức ý nghĩa α = 0,05 Sai số ước lượng d của kết quả nghiên cứu so với quần thể được ước tính là 0,05 Thay vào công thức, ta có thể tính toán các giá trị cần thiết cho nghiên cứu.

Theo công thức tính cỡ mẫu, cần quan sát 384 lượt LMTM Nghiên cứu của tác giả Hà Thị Kim Phượng về kiến thức và thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng viên được thực hiện tại 3 bệnh viện thuộc Sở Y tế Hà Nội.

Năm 2014, tác giả đã chọn 221 điều dưỡng thực hành tiêm tại 3 bệnh viện và quan sát 442 mũi tiêm, với mỗi điều dưỡng thực hiện 2 mũi tiêm Tuy nhiên, trong thời gian nghiên cứu, chỉ có 185 điều dưỡng được phân công thực hiện LMTM, do đó nghiên cứu đã chọn toàn bộ 185 điều dưỡng này Số quan sát thực tế là 370 lần với 185 điều dưỡng, và các lần LMTM được chọn bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn.

2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính

Theo kết quả tham khảo một số nghiên cứu, nhóm nghiên cứu dự kiến cỡ mẫu định tính là 10 Trong đó, các đối tượng phỏng vấn sâu bao gồm:

- Phỏng vấn sâu 1 – lãnh đạo Viện: Chọn chủ đích 1 lãnh đạo viện (phó Giám đốc phụ trách điều dưỡng)

- Phỏng vấn 2 – lãnh đạo phòng điều dưỡng: Chọn chủ đích 1 lãnh đạo phòng điều dưỡng BV (Trưởng phòng điều dưỡng bệnh viện)

- Phỏng vấn 3 – lãnh đạo khoa: 4 điều dưỡng trưởng các khoa lâm sàng

- Phỏng vấn 4 – điều dưỡng viên: 4 điều dưỡng viên có tham gia thực hiện QTLM tĩnh mạch.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Xây dựng bộ công cụ

Dựa trên quy trình lấy máu tĩnh mạch tại BV Nhi trung ương, học viên đã xây dựng phiếu quan sát quy trình LMTM chuẩn với thông tin hành chính và các bước chuẩn bị theo dạng có/không thực hiện Sau khi thử nghiệm bộ công cụ tại 03 khoa với 09 ĐDV, học viên đã điều chỉnh nội dung để phù hợp với nghiên cứu Học viên cũng đã xây dựng hướng dẫn PVS và phỏng vấn thử 01 ĐDV, 01 ĐDT để kiểm tra tính phù hợp trước khi tiến hành PVS Chi tiết bộ công cụ và hướng dẫn có thể xem trong các phụ lục 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9.

2.5.2 Mô tả phương pháp quan sát

Học viên lấy danh sách ĐDV từ phòng tổ chức cán bộ để lựa chọn đối tượng phù hợp tham gia nghiên cứu Sau khi lập danh sách, học viên thông báo với trưởng khoa về mục đích nghiên cứu và tiến hành thu thập số liệu Điều tra viên quan sát quy trình LMTM cho người bệnh tại buồng bệnh của ĐDV theo danh sách đã lập, với mỗi ĐDV được quan sát 2 lần khi thực hiện lấy máu ở hai bệnh nhân Các lần quan sát được chọn ngẫu nhiên bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn, trong đó hệ thống máy tính sẽ lựa chọn ngẫu nhiên các ĐDV và hai con số tương ứng cho các buổi quan sát khác nhau.

Nhóm nghiên cứu HUPH sẽ quan sát số lần lấy mẫu xét nghiệm của 185 ĐDV tại 16 khoa, với 4 ĐTV phụ trách từng khoa Mỗi ĐTV sẽ sử dụng bảng kiểm quan sát (Phụ lục 3) để đánh dấu việc thực hiện quy trình LMTM của ĐDV, đồng thời điền đầy đủ thông tin theo các tiêu chí đánh giá quy trình LMTM và ghi chú khi cần thiết.

Nghiên cứu viên giám sát và hỗ trợ các ĐTV trong quá trình quan sát, đồng thời kiểm tra tính chính xác của thông tin trong các bảng kiểm từ ĐTV sau mỗi buổi điều tra Khi phát hiện thông tin không phù hợp, nghiên cứu viên sẽ ngay lập tức gửi phản hồi cho ĐTV để thực hiện quan sát bổ sung.

Nghiên cứu này thu thập dữ liệu định lượng thông qua việc quan sát các lần LMTM của các ĐDV và phát phiếu khảo sát tại bệnh viện Mục tiêu là tìm hiểu thực trạng thực hiện các bước LMTM của ĐDV thông qua quan sát và tự trả lời Quan sát sẽ được thực hiện trước khi phát phiếu khảo sát để tránh sai số do việc điền phiếu có thể làm thay đổi quy trình bình thường của ĐDV.

Học viên đã thực hiện quan sát 370 lần LMTM và phát phiếu khảo sát cho 185 ĐDV tại bệnh viện Phương pháp quan sát được thực hiện theo mô tả đã nêu, và hoạt động phát phiếu khảo sát diễn ra sau khi hoàn tất 370 lần quan sát, theo thứ tự ngẫu nhiên của các khoa Việc phát và điền phiếu khảo sát được thực hiện trong phòng họp bệnh viện dưới sự giám sát của GSV để ngăn chặn việc trao đổi, thảo luận giữa các ĐDV Chi tiết có thể tham khảo trong phụ lục 4.

Nghiên cứu áp dụng phương pháp PVS và TLN để phân tích quy trình LMTM, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy trình này, và tiếp thu các đề xuất nhằm cải thiện quy trình LMTM.

HUPH tập trung vào việc cải thiện chất lượng mẫu xét nghiệm và nâng cao hiệu quả của giai đoạn trước xét nghiệm, từ đó giảm thiểu chi phí phát sinh do sai sót và sự cố y khoa liên quan đến kết quả xét nghiệm không chính xác.

Sau khi hoàn thành việc thu thập số liệu định lượng, các số liệu định tính sẽ được thu thập để phân tích Nhóm nghiên cứu sẽ xác định những hoạt động mà ĐDV chưa thực hiện hoặc thực hiện không đúng cách Cấu phần định tính sẽ giúp làm rõ kiến thức về LMTM của ĐDV và các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành của họ, từ đó tìm ra lý do cho việc thực hành theo quy trình LMTM.

Học viên thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) với sự tham gia của 01 Phó giám đốc bệnh viện phụ trách điều dưỡng, 01 Trưởng phòng phụ trách điều dưỡng, 04 điều dưỡng viên trực tiếp LMTM và 04 điều dưỡng trưởng khoa Mỗi cuộc PVS kéo dài từ 15 đến 30 phút.

2 cuộc TLN bao gồm 1 cuộc 4 ĐDV và 1 cuộc 4 điều dưỡng trưởng khoa Mỗi cuộc TLN từ 20 – 45 phút

Các buổi PVS và TLN được thực hiện tại phòng họp của bệnh viện và theo bộ hướng dẫn PVS, TLN Chi tiết xin xem phụ lục 5,6,7,8,9,10

Các cuộc PVS và TLN được ghi âm để gỡ băng và mã hóa, sau đó được mô tả theo nhóm chủ đề.

Điều tra viên

2.6.1 Số lượng và tiêu chuẩn lựa chọn

Nhóm điều tra viên gồm 4 thành viên, không nằm trong đối tượng nghiên cứu và có nhiều kinh nghiệm trong công tác lâm sàng

2.6.2 Tập huấn cho điều tra viên về nội dung quan sát việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch

Người tập huấn là nghiên cứu viên; Đối tượng tập huấn là các điều tra viên;

Nội dung: tập huấn cho ĐTV về mục đích của cuộc điều tra, thống nhất các tiêu chí đánh giá trong bảng kiểm

Các điều tra viên cần nắm vững kỹ năng quan sát và xem xét nội dung bảng kiểm quan sát Nếu có bất kỳ điểm nào chưa rõ, họ nên thảo luận để được nghiên cứu viên giải thích thêm.

Thời gian 01 buổi tại hội trường bệnh viện.

Các biến số và chủ đề nghiên cứu

2.7.1 Các biến số nghiên cứu

Các biến số nghiên cứu về việc thực hiện quy trình LMTM được thiết lập dựa trên quy trình lấy máu tĩnh mạch tại Bệnh viện Nhi Trung ương (QTKT.CLS.001.V1.0).

Bảng các biến số nghiên cứu có 47 biến số, bao gồm:

- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: 7 biến số

- Mô tả bước chuẩn bị: 14 biến số

- Mô tả việc thực hiện quy trình LMTM: 26 biến số Xem chi tiết ở phụ lục

2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính Để tìm hiểu sâu hơn vì sao ĐDV không thực hiện theo quy trình LMTM, dựa trên kết quả phân tích đinh lượng, nhóm nghiên cứu sẽ đưa ra những câu hỏi về kiến thức, thái độ và suy nghĩ của ĐDV Từ đó, đưa ra những nhận định ban đầu về lý do dẫn đến việc không thực hiện theo quy trình đã có

Năm 2017, học viên tiến hành nghiên cứu 7 nhóm chủ đề theo khung lý thuyết để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình lấy máu tĩnh mạch của ĐDV tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

1 Công tác đào tạo điều dưỡng: sự tham dự các khóa đào tạo về chuyên môn của điều dưỡng tại BV

2 Khối lượng công việc: lượng công việc mà điều dưỡng phải hoàn thành trong một ngày

3 Đặc điểm người bệnh: những đặc điểm của bệnh nhi có ảnh hưởng tới quy trình LMTM

4 Qui chế khen thưởng, xử phạt: qui chế về khen thưởng và xử lý vi phạm đối với công tác chuyên môn của ĐDV

5 Chế độ đãi ngộ và sự quan tâm của ban lãnh đạo đối ĐDV: những chế độ và sự quan tâm của ban lãnh đạo bệnh viện với ĐDV

6 Công tác kiểm tra, giám sát: sự kiểm tra, giám sát, đánh giá chất lượng công việc của ĐDV

7 Việc phối hợp với các đồng nghiệp và các cơ quan: sự phối hợp giữa các đồng nghiệp trong cùng khoa phòng, bệnh viện và giữa bệnh viện này với bệnh viện khác.

Tiêu chuẩn đánh giá về thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch

Mỗi thao tác trong quy trình được quan sát với 3 mức: thực hiện đúng, thực hiện chưa đúng và không thực hiện

Những thao tác ĐDV thực hiện đúng được tính là đạt

Để đạt yêu cầu, ĐDV phải thực hiện đúng tất cả các thao tác theo quy trình quy định Những thao tác không đúng hoặc không thực hiện được sẽ được coi là không đạt.

Quy trình LMTM có 26 tiêu chí đánh giá và được chia làm 8 nhóm:

1 Chuẩn bị bệnh nhân: 4 tiêu chí (C1 - C4)

2 Chuẩn bị trước lấy máu: 4 tiêu chí (C5 - C8)

3 Chuẩn bị vị trí lấy máu: 3 tiêu chí (C9 - C11)

4 Đâm kim đúng kỹ thuật: 3 tiêu chí (C12 - C14)

6 Kỹ thuật chuyển máu vào ống nghiệm: 4 tiêu chí (C17 – C20)

8 Thu dọn dụng cụ: 3 tiêu chí (C24 - C26)

Phương pháp phân tích số liệu

Làm sạch số liệu là bước quan trọng, yêu cầu kiểm tra từng phiếu nghiên cứu trước khi nhập liệu Nếu phát hiện sự bất thường, chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra lại và thực hiện nghiên cứu bổ sung để đảm bảo tính chính xác của dữ liệu.

Nhập liệu: sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập liệu

Phân tích: sử dụng phần mềm SPSS 19.0 để phân tích số liệu

Thống kê mô tả bao gồm các biến phân loại như giới tính, nhóm tuổi, thời gian công tác, trình độ và thời điểm quan sát, với mục tiêu tính toán tỷ lệ phần trăm Bên cạnh đó, cần mô tả các tỷ lệ thực hiện quy trình LMTM để có cái nhìn tổng quan về hiệu quả và sự tuân thủ trong quá trình này.

Thống kê phân tích: so sách sự khác biệt các nhóm tỷ lệ chúng tôi dùng kiểm định Chi bình phương

Các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) được ghi âm và gỡ băng Sau khi gỡ băng, dữ liệu sẽ được phân loại thành 7 nhóm chủ đề, từ đó học viên có thể lựa chọn những câu trích dẫn phù hợp để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình LMTM.

Đạo đức nghiên cứu

Chúng tôi cam đoan thực hiện đề tài này đảm bảo không vi phạm đạo đức trong nghiên cứu khoa học vì:

- Chỉ thực hiện trên các ĐDV đồng ý tham gia nghiên cứu

- Điều dưỡng thực hiện các thao tác chuyên môn trên bệnh nhân, nhưng theo chỉ định của BS điều trị

- Các thông tin thu thập khách quan và xử lý số liệu đúng quy trình như mô tả

- Các thông tin thu thập được đảm bảo giữ bí mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu được Hồi đồng Đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng thông qua

Báo cáo kết quả nghiên cứu sẽ được gửi đến Ban Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương sau khi hoàn thành Những kết quả này có thể làm nền tảng cho các hoạt động cải thiện chất lượng dịch vụ khám bệnh tại bệnh viện.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3 1 Thông tin chung Nội dung Số ĐDV( n5) Tỷ lệ (%) Khoa làm việc

Miễn dịch – Dị ứng 6 3,2 Điều trị tự nguyện A 11 5,9

Nghiên cứu được thực hiện trên 185 ĐDV từ 16 khoa lâm sàng của bệnh viện, trong đó khoa sơ sinh có số lượng ĐDV cao nhất (18,9%) và khoa khám bệnh thấp nhất (1,6%) Đặc biệt, 54,1% ĐDV dưới 30 tuổi, với 90,8% là nữ Trình độ chuyên môn chủ yếu là điều dưỡng trung cấp (83,8%), và khoảng 80% điều dưỡng có thời gian công tác từ 5 năm trở lên Trong 370 mũi LMTM quan sát, 227 mũi (61,4%) được thực hiện trong giờ hành chính, chủ yếu bằng đốc kim (91,6%), phù hợp với đặc thù của bệnh viện Nhi do đối tượng bệnh nhân là trẻ nhỏ.

Mô tả bước chuẩn bị

Bảng 3 2 Công tác chuẩn bị điều dưỡng viên trước khi lấy máu (n= 370)

Nội dung công việc Có Không

Số lượt (n) Tỷ lệ (%) Số lượt (n) Tỷ lệ (%) Trang phục: quần áo blouse; mũ, khẩu trang (nếu cần) 358 96,8 12 3,2 ĐDV giới thiệu tên và chức danh 94 25,4 276 74,6

Theo quan sát, bước điều dưỡng giới thiệu tên và chức danh là bước bị bỏ qua nhiều nhất trong quá trình lấy máu, với 74,6% lượt lấy máu không thực hiện Cụ thể, có 276 lượt lấy máu không có sự giới thiệu từ điều dưỡng Nhiều điều dưỡng cho rằng việc giới thiệu không cần thiết vì thông tin đã có trên thẻ đeo và thời gian nằm viện của bệnh nhân đã lâu Họ cho rằng nên tập trung vào chuyên môn để tiết kiệm thời gian cho cả điều dưỡng và gia đình bệnh nhân, vì việc giới thiệu nhiều lần trong bối cảnh đông bệnh nhân có thể gây mất thời gian và căng thẳng.

HUPH không yêu cầu nên tôi không giới thiệu”(PVS_ ĐDV 04)

Thao tác chuẩn bị trang phục của ĐDV được thực hiện đúng và đầy đủ với 358 lượt lấy máu (96,8%) Tuy nhiên, 3,2% ĐDV không mặc trang phục đúng quy định do thiếu biển tên và quần blouse Một số ĐDV cho biết lý do là do đến muộn và vội vàng, dẫn đến việc không kịp cài biển tên hoặc chỉ khoác áo blouse Họ khẳng định rằng việc tuân thủ quy định về trang phục là rất quan trọng, nhưng đôi khi gặp sự cố như quần áo bị bẩn trong quá trình làm việc, buộc họ phải sử dụng trang phục thường ngày.

Bảng 3 3 Công tác chuẩn bị dụng cụ trước khi lấy máu (n70)

Nội dung công việc Có Không

Số lượt (n) Tỷ lệ (%) Số lượt (n) Tỷ lệ (%)

Khay lấy máu vô khuẩn 354 95,7 16 4,3

Hộp đựng vật sắc nhọn 353 95,4 17 4,6

Xô đựng rác theo quy định của

Phương tiện lấy máu (bơm tiêm hoặc đốc kim) 370 100 0 0

Công tác chuẩn bị dụng cụ lấy máu bao gồm 12 loại, trong đó nhiều dụng cụ được chuẩn bị đầy đủ 100% như kim lấy máu, ống nghiệm, cồn, bông gạc và túi đựng rác Tuy nhiên, dây garo là dụng cụ thiếu hụt nhiều nhất với 30 lượt (8,1%) Các ĐDV cho biết do số lượng bệnh nhân đông, dây garo nhanh hỏng và việc cung cấp vật tư gặp nhiều thủ tục rườm rà Họ cũng cho biết có thể sử dụng găng tay y tế làm garo tạm thời, nên không cảm thấy cấp bách Mặc dù phần lớn các ĐDV đã chuẩn bị dụng cụ, vẫn còn thiếu sót Họ mong muốn lãnh đạo khoa cung cấp đủ dụng cụ và đầu tư thêm cho công tác lấy máu.

Mô tả việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch

Bảng 3 4 Mô tả bước 1: Chuẩn bị bệnh nhân (n70)

Không làm Đúng Chưa đúng

Xác định bệnh nhân, dán code, ghi thông tin bệnh nhân trên ống xét nghiệm

Giải thích cho bệnh nhân và người nhà 227 61,4 143 38,6 0 0

Hướng dẫn tư thế BN 279 75,4 0 0 91 24,6

Bước chuẩn bị bệnh nhân bao gồm 4 thao tác, trong đó việc xác định bệnh nhân, dán code và ghi thông tin trên ống xét nghiệm được thực hiện tốt nhất với tỷ lệ 93,5% Tuy nhiên, tỷ lệ ghi phiếu sai (24,1%) và không ghi phiếu (19,7%) vẫn còn cao Một ĐDV cho biết: “Lúc đó tôi vội nên quên chỉ ghi mỗi tên nhân viên lấy mẫu mà không ghi lại giờ lấy mẫu.” Một ĐDV khác nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ghi đủ thông tin: “Chúng tôi phải tuân thủ, vì ống bệnh phẩm thiếu thông tin chúng tôi cũng đã từng phải lấy lại mẫu cho người bệnh, rất mất thời gian.” Tỷ lệ giải thích cho người bệnh và người nhà trước khi lấy máu chưa đúng cao (38,6%), với một ĐDV cho biết: “Người bệnh cần lấy máu thì đông, chúng tôi chỉ thông báo một lần trong một phòng.” Một ĐDV khác chia sẻ: “Một buổi sáng tôi lấy máu xét nghiệm cho 15-20 cháu, tôi chỉ yêu cầu bố mẹ giữ chặt cháu để lấy máu là tốt lắm rồi.”

Bảng 3 5 Mô tả bước 2: Chuẩn bị trước lấy máu (n70)

Không làm Đúng Chưa đúng

Kiểm tra laị bô ̣ dụng cụ lấy máu tinh mach theo đúng quy đinh

Sát khuẩn tay 295 80 20 5,4 54 14,6 Đi găng tay sạch 296 80 38 10,3 36 9,7

Bóc bơm kim tiêm đặt vào khay vô khuẩn 319 86,2 13 3,5 38 10,3

Trong nhóm chuẩn bị lấy máu, có 54 lượt ĐDV không thực hiện sát khuẩn tay, chiếm tỷ lệ 14,6% Các điều dưỡng cho rằng việc đã đeo găng tay thì không cần sát khuẩn tay lần nữa PVS – ĐDV 2 cho rằng việc sát khuẩn tay trước khi đeo găng tay là thừa và tốn thời gian, trong khi PVS – ĐDV 1 nêu lý do không đeo găng tay khi lấy máu từ bệnh nhân hôn mê Các ĐDV thảo luận về kỹ thuật sát khuẩn hình xoáy ốc và nhận thấy rằng thực tế thao tác sát khuẩn chưa đúng như đã học, do thói quen và mong muốn làm nhanh Một ĐDV thừa nhận đây là điểm cần rút kinh nghiệm.

Bảng 3 6 Mô tả bước 3: Chuẩn bị vị trí lấy máu (n70)

Không làm Đúng Chưa đúng

Xác định vị trí lấy máu 357 96,5 13 3,5 0 0

Sát khuẩn vị trí lấy máu 317 85,7 53 14,3 0 0

Việc chuẩn bị vị trí lấy máu bao gồm ba bước quan trọng, trong đó xác định vị trí lấy máu là nhiệm vụ mà đội ngũ điều dưỡng viên (ĐDV) thực hiện tốt nhất Theo ý kiến của điều dưỡng trưởng bệnh viện, tỷ lệ xác định đúng vị trí lấy máu cao nhờ vào kinh nghiệm lâu năm của các ĐDV tại bệnh viện tuyến trung ương Tuy nhiên, một số ĐDV cho rằng việc buộc dây garo không đúng quy định là do họ chỉ chú trọng vào việc làm nổi tĩnh mạch để lấy máu, mà không để ý đến khoảng cách quy định Trong những tình huống gấp gáp, họ thậm chí phải sử dụng găng tay để làm garo, cho thấy áp lực thời gian trong quá trình thực hiện.

Bảng 3 7 Mô tả bước 4: Đâm kim đúng kỹ thuật (n70)

Không làm Đúng Chưa đúng

Tỷ lệ (%) Đâm kim góc 15-30 độ 370 100 0 0 0 0

Hạ thấp kim luồn vào tĩnh mạch 370 100 0 0 0 0

Mũi vát hướng lên trên 370 100 0 0 0 0

Bước đâm kim đúng kỹ thuật bao gồm ba thao tác liên tiếp mà các ĐDV thực hiện với độ chính xác 100% Qua quá trình quan sát và phỏng vấn các ĐDV, chúng tôi đã ghi nhận điều này.

Bệnh viện Nhi là cơ sở y tế hàng đầu chuyên về chăm sóc sức khỏe trẻ em Trước khi chính thức làm việc, nhân viên phải trải qua quá trình đào tạo chuyên môn kéo dài, bao gồm việc thành thạo kỹ thuật lấy máu Đây là một trong những thế mạnh quan trọng cần được phát huy trong công tác chuyên môn của bệnh viện.

Bảng 3 8 Mô tả bước 5: Tháo dây garo (n70)

Không làm Đúng Chưa đúng

Tháo dây garo đúng thời điểm 328 88,6 42 11,4 0 0 Thời gian garo đúng quy định 314 84,9 56 15,1 0 0

Bước tháo dây garo bao gồm hai thao tác, và kết quả cho thấy tỷ lệ lấy máu của ĐDV tháo dây garo đúng thời gian quy định (không quá 1 phút) thấp hơn so với việc tháo dây garo đúng thời điểm ĐTV ghi nhận rằng nguyên nhân là do sau khi garo, trẻ giãy khiến việc xác định ven mất thời gian, dẫn đến thời gian garo vượt quá 1 phút Tuy nhiên, ĐDV vẫn đảm bảo tiêu chí tháo dây garo ngay sau khi luồn kim vào tĩnh mạch.

Bảng 3 9 Mô tả bước 6: Kỹ thuật chuyển máu vào ống xét nghiệm

Không làm Đúng Chưa đúng

Chuyển máu vào ống xét nghiệm theo đúng thứ tự 351 94,9 19 5,1 0 0

Lắc nhẹ ống máu (nếu cần theo quy định) 370 100 0 0 0 0

Không dây máu ra ngoài 314 84,9 0 0 56 15,1

Kết quả quan sát quy trình chuyển máu vào ống xét nghiệm tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho thấy thao tác lắc nhẹ ống máu đạt hiệu quả cao nhất (100%), điều này rất quan trọng cho chất lượng mẫu và cần được phát huy Tuy nhiên, thao tác lấy đủ lượng máu chỉ đạt 11,6%, đặc biệt khó khăn với trẻ sơ sinh, dẫn đến nhiều ống không đủ thể tích tối thiểu Nghiêm trọng hơn, 5,1% trường hợp chuyển máu không đúng thứ tự ống, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả xét nghiệm Các điều dưỡng cho biết họ chưa kịp nắm rõ quy trình mới và thường gặp khó khăn trong việc nhớ thứ tự ống, đặc biệt khi có nhiều ống cần lấy Ngoài ra, 15,1% lượt lấy máu không đảm bảo tiêu chuẩn, do trẻ nhỏ thường giãy dụa, ảnh hưởng đến việc giữ ống máu không bị dây.

Bảng 3 10 Mô tả bước 7: Kết thúc lấy máu

Không làm Đúng Chưa đúng

Căng da, rút kim 364 98,4 6 1,6 0 0 Đặt bông vô khuẩn để cầm máu 370 100 0 0 0 0

Hướng dẫn BN những điều cần thiết 328 88,6 0 0 42 11,4

Bước kết thúc LMTM bao gồm ba thao tác quan trọng, trong đó việc hướng dẫn bệnh nhân về cách giữ chặt bông cầm máu và nghỉ ngơi sau khi lấy máu thường không được thực hiện đầy đủ PVS-ĐDV3 khoa X cho biết rằng do đặc thù bệnh nhi nằm hôn mê, việc nhắc nhở trở nên khó khăn Trong khi đó, PVS-ĐDV2 cũng thừa nhận rằng mặc dù có hướng dẫn về cách giữ bông cầm máu, nhưng không thể cung cấp hướng dẫn chi tiết cho các vấn đề khác do phải phục vụ nhiều bệnh nhân chờ lấy máu.

Bảng 3 11 Mô tả bước 8: Thu dọn dụng cụ

Không làm Đúng Chưa đúng

Tỷ lệ (%) Đầu kim bỏ vào hộp nhựa đựng vật sắc nhọn 349 94,3 21 5,7 0 0

Vỏ bơm tiêm bỏ vào thùng rác y tế 370 100 0 0 0 0 Bông dính máu bệnh nhân bỏ vào thùng rác y tế 370 100 0 0 0 0

Trong quá trình thu dọn dụng cụ, 2/3 tiêu chí được thực hiện đúng 100% bởi các ĐDV, bao gồm việc bỏ vỏ bơm tiêm và bông dính máu vào thùng rác y tế Đặc biệt, với tiêu chí bỏ đầu kim vào hộp nhựa đựng vật sắc nhọn, có 349 lượt lấy máu (94,3%) được thực hiện đúng Tuy nhiên, qua quan sát, đầu kim không được bỏ vào hộp nhựa theo quy định mà thường được đặt vào cốc thủy tinh hoặc cốc sắt tại vị trí lấy máu trước khi được chuyển vào hộp theo quy định.

Bảng 3 12 Mô tả thực trạng quy trình lấy máu tĩnh mạch (n70)

Nội dung Đạt Không đạt

Bước 1: Chuẩn bị bệnh nhân 163 44,1 207 55,9

Bước 2: Chuẩn bị trước lấy máu 198 53,7 171 46,3

Bước 3: Chuẩn bị vị trí lấy máu 294 79,5 76 20,5

Bước 4: Đâm kim đúng kỹ thuật 370 100 0 0

Bước 6: Kỹ thuật chuyển máu vào ống nghiệm 273 73,8 97 26,2

Bước 7: Kết thúc lấy máu 323 87,3 47 12,7

Bước 8: Thu dọn dụng cụ 349 94,3 21 5,7

Toàn bộ Quy trình lấy máu tĩnh mạch 68 18,4 301 81,6

Dựa trên quy trình lấy máu tĩnh mạch tại BV Nhi trung ương, quy trình được chia thành 8 bước, bao gồm nhóm tiêu chí chuẩn bị, kỹ thuật và thu dọn dụng cụ Các tiêu chí này được coi là đạt khi thực hiện đúng và đủ các thao tác quy định Trong tổng số 369 lượt lấy máu, chỉ có 68 lượt đạt đủ 26 tiêu chí (18,4%), trong khi 301 lượt không đạt (81,6%) Các lỗi như bơm máu qua kim tiêm, sát khuẩn không đúng cách, thứ tự ống lấy máu không đúng và thiếu thông tin trên ống đã ảnh hưởng đến chất lượng mẫu xét nghiệm Phòng xét nghiệm cảnh báo rằng nhiều trường hợp lấy máu cho xét nghiệm hóa sinh gặp phải tình trạng vỡ hồng cầu, không có thông tin trên ống, hoặc lượng máu lấy quá ít.

HUPH lại khoa phòng để lấy lại máu vì nếu làm thì kết quả xét nghiệm sẽ bị ảnh hưởng”.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành quy trình lấy máu tĩnh mạch

3.4.1 Sự ảnh hưởng của công tác đào tạo điều dưỡng viên

Tỷ lệ ĐDV tại Bệnh viện Nhi trung ương có trình độ trung cấp cao, nhưng công tác đào tạo chuyên môn còn hạn chế, chủ yếu qua chỉ thị và khóa tập huấn trực tiếp Theo PVS - ĐDV3, quy trình LMTM được thông báo qua email mà không có buổi tập huấn nào Nhiều ĐDV mong muốn tham gia tập huấn trực tiếp để có cơ hội học hỏi, thực hành, đặt câu hỏi và nhận phản hồi, đồng thời chia sẻ quan điểm về các thay đổi ảnh hưởng đến chất lượng công việc.

Quy trình đào tạo LMTM cho ĐDV tại viện cần được cải thiện để tránh những bước không cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả tổng thể Lãnh đạo khoa nhận định rằng công tác đào tạo chưa được tổ chức do thiếu thời điểm thích hợp, nhưng đã thực hiện đào tạo liên tục thông qua chỉ thị toàn viện, với việc cập nhật nội dung cho ĐDV để đảm bảo mọi người tuân thủ.

Việc thiếu các buổi tập huấn trực tiếp và liên tục đã dẫn đến sự thiếu tự tin và bối rối của nhiều điều dưỡng viên (ĐDV) trong việc thực hành liệu pháp điều trị mới (LMTM) khi nhận chỉ thị từ ĐDV Đặc thù của bệnh nhi yêu cầu nhân viên y tế phải có tâm lý tiếp xúc và thái độ phù hợp, do đó, việc thiếu tập huấn thực tế có thể khiến họ gặp khó khăn trong việc áp dụng chỉ thị mới Mặc dù quy trình thực hiện là đơn giản, nhưng không phải nhân viên nào cũng có kinh nghiệm lâu năm và khả năng thích ứng nhanh với những thay đổi.

Lãnh đạo Viện nhận thấy sự thiếu hụt trong các buổi đào tạo cho Điều dưỡng viên (ĐDV) và hiện nay, công tác đào tạo điều dưỡng đang được Bệnh viện triển khai đồng bộ, bao gồm đào tạo tại khoa, đào tạo cấp viện, cùng với việc gửi điều dưỡng đi đào tạo tại các cơ sở bên ngoài Một lãnh đạo khoa đã chia sẻ quan điểm về vấn đề này.

Cần tổ chức các buổi đào tạo mới và cập nhật kiến thức về QT LMTM cho cả ĐDV mới và những ĐDV có kinh nghiệm lâu năm Qui trình này được cập nhật hàng năm để phù hợp với thực tế của bệnh viện, nhằm nâng cao kỹ năng và trình độ, giảm sai sót và cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân Tuy nhiên, do tính chất của Bệnh viện Nhi với số lượng bệnh nhân đông và công tác chuyên môn thường xuyên quá tải, việc tổ chức đào tạo gặp nhiều khó khăn, cần chia lớp thành nhiều buổi và sắp xếp ca kíp để ĐDV mới có thể tham gia.

3.4.2 Sự ảnh hưởng của khối lượng công việc

Bệnh viện Nhi hiện đang hoạt động theo hai chế độ: làm ca (sáng, chiều, đêm) và làm việc giờ hành chính, cùng với một ca trực ngoài giờ Trong giai đoạn này, công tác chuyên môn của đội ngũ y bác sĩ rất vất vả do lịch trực dày đặc, nhiều nhân viên sau ca trực vẫn phải ở lại làm tăng cường vì thiếu nhân lực.

Với lịch làm việc dày đặc và áp lực cao, đặc biệt trong các ca trực ngoài giờ hành chính, ngày nghỉ và ngày lễ, số lượng Đội ngũ Dịch vụ (ĐDV) trực tại Bệnh viện Nhi đang gặp nhiều thách thức.

Trong ca trực, mỗi điều dưỡng viên (ĐDV) phải chăm sóc từ 10-20 bệnh nhân, dẫn đến khối lượng công việc lớn Điều này khiến ĐDV khó có thể thực hiện đầy đủ tất cả các bước trong quy trình theo quy định của viện Chẳng hạn, một khoa có 42 bệnh nhân nhưng chỉ có 2 điều dưỡng trực trong một đêm, bên cạnh việc theo dõi bệnh nhân, họ còn phải chuẩn bị tiếp nhận và đưa đón bệnh nhân cấp cứu Do đó, việc thực hiện toàn diện các bước của quy trình LMTM không thể tránh khỏi thiếu sót ở một số khâu không quan trọng Nếu có thể, bệnh viện nên rút ngắn quy trình để giúp ĐDV thực hiện công việc hiệu quả hơn.

Để phục vụ và chăm sóc tốt nhất cho tất cả bệnh nhân, các đơn vị dịch vụ (ĐDV) cần giảm bớt các bước thực hiện, mặc dù họ đã nắm rõ quy trình cần thiết Lãnh đạo viện cũng có những nhận định tương tự về vấn đề này.

Trong ca trực đêm, hai nhân viên y tế không chỉ phải theo dõi bệnh nhân mà còn thực hiện các y lệnh của bác sĩ, bao gồm cả việc lấy máu tĩnh mạch để xét nghiệm, dẫn đến áp lực cao Tình trạng này làm giảm tỷ lệ tuân thủ quy trình y tế, khi các nhân viên tự đánh giá và có thể bỏ qua những bước mà họ cho là không quan trọng Mặc dù không có ý định xấu, nhưng điều này có thể ảnh hưởng đến công tác lâm sàng và kết quả chăm sóc bệnh nhân.

NB, mà ở đây là các em bệnh nhi ” (PVS – lãnh đạo khoa)

3.4.3 Sự ảnh hưởng của đặc điểm người bệnh

Nhiều ĐDV cho biết việc lấy máu cho bệnh nhân nhi gặp nhiều khó khăn do tâm lý sợ đau của trẻ nhỏ, dẫn đến việc khó khăn trong việc lấy máu đủ lượng quy định Sự phối hợp không tốt từ người nhà cũng làm tăng áp lực cho ĐDV, đặc biệt là khi phải lấy máu nhiều lần cho những bệnh nhân mắc bệnh mãn tính Điều này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả lấy máu mà còn có thể dẫn đến việc bỏ sót các hướng dẫn cần thiết cho bệnh nhân sau khi lấy máu.

3.4.4 Sự ảnh hưởng của qui chế khen thưởng xử phạt

Sau một thời gian nghiên cứu và lấy ý kiến từ cán bộ, nhân viên, từ tháng 9/2015, BV Nhi trung ương đã ban hành Qui chế khen thưởng và xử lý vi phạm Qui chế này quy định về việc khen thưởng cho các tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong khám chữa bệnh, đồng thời cũng nêu rõ các hình thức xử phạt đối với công nhân viên chức khi có sai phạm chuyên môn.

Việc áp dụng qui chế khen thưởng xử phạt đã nâng cao tinh thần trách nhiệm

HUPH của cán bộ nhân viên, đặc biệt là của ĐDV, trong công tác chuyên môn giúp hạn chế sai sót trong các hoạt động kỹ thuật y tế, bao gồm cả thực hành LMTM, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân Nghiên cứu định tính cho thấy sự đồng thuận về ảnh hưởng tích cực của qui chế khen thưởng xử phạt đến công tác chăm sóc Một lãnh đạo khoa nhận định rằng việc khen thưởng cho những cá nhân thực hiện đúng chuyên môn và phê bình những người không tuân thủ quy trình khuyến khích sự tuân thủ quy trình làm việc, bao gồm cả thực hiện LMTM Đội ngũ ĐDV cũng chia sẻ quan điểm này, cho rằng qui chế khen thưởng xử phạt nâng cao trách nhiệm trong công việc và khuyến khích mọi người tuân thủ quy trình hơn, đặc biệt trong các đợt thi đua khen thưởng.

3.4.5 Chế độ đãi ngộ và sự quan tâm của ban lãnh đạo đối với ĐDV

Bệnh viện đang tập trung vào việc xây dựng chính sách chất lượng và đãi ngộ cho đội ngũ y tế, bao gồm thu nhập tăng thêm cho các ca trực Đội ngũ y tế cũng nhận thức rõ về việc tuân thủ các quy định của Bộ Y tế Ý kiến từ phỏng vấn cho thấy rằng các quy định về văn hóa ứng xử với bệnh nhân đã được đưa vào các cuộc họp giao ban tại các khoa lâm sàng, nhằm nâng cao văn hóa ứng xử của nhân viên y tế Ngoài ra, quy định về trang phục của nhân viên y tế cũng được thực hiện nghiêm túc, góp phần vào việc nâng cao chất lượng phục vụ và chăm sóc bệnh nhân tại Bệnh viện Nhi Trung ương.

Ban Giám đốc đặc biệt chú trọng đến công tác điều dưỡng, nhấn mạnh rằng bên cạnh việc chăm sóc người bệnh, cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho việc lấy máu tĩnh mạch để làm xét nghiệm cũng được đầu tư và cải thiện.

HUPH cũng được trang bị đầy đủ, các phương tiện này được điều dưỡng trưởng lĩnh đầy đủ về khoa theo cơ số hàng tuần, hàng tháng”

BÀN LUẬN

Thực trạng việc thực hiện các bước trong quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi trung ương

của điều dưỡng viên tại bệnh viện Nhi trung ương

Về tuổi của ĐDV, trong nghiên cứu nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm từ

Nhóm tuổi dưới 30 chiếm 54,1%, thể hiện đây là một lực lượng lao động trẻ, năng động Họ vừa được trang bị kiến thức mới mẻ và đang trong giai đoạn khởi đầu sự nghiệp, mặc dù chưa có nhiều kinh nghiệm nhưng lại tràn đầy sức khỏe và nhiệt huyết.

Tỷ lệ thấp hơn là nhóm trên 30 tuổi, chiểm 45,9% Đây là nhóm tuổi bắt đầu có kinh nghiệm trong các hoạt động chuyên môn

Trong lĩnh vực điều dưỡng, nữ giới chiếm tỷ lệ cao, lên tới 90,8%, gấp gần 10 lần so với nam giới Nghiên cứu của Lê Thị Bình cũng cho thấy tỷ lệ nữ giới là 88,5%, với số lượng nữ gấp 7 lần nam Điều này phản ánh đặc trưng của nghề điều dưỡng, yêu cầu tính chịu khó, kiên nhẫn và đặc biệt là sự bao dung, yêu thương khi tiếp xúc với bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em, dẫn đến sự hiện diện vượt trội của nữ giới trong ngành này.

Trình độ chuyên môn của ngành điều dưỡng đang gặp vấn đề nghiêm trọng khi tỷ lệ điều dưỡng viên tốt nghiệp từ Đại học và Cao đẳng chỉ đạt 16,3% Điều này cho thấy mối liên hệ giữa trình độ chuyên môn và chất lượng công tác chuyên môn, nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện hệ thống đào tạo tại các cơ sở giáo dục.

Mỗi 4 năm, chỉ có một nhóm nhân viên ra trường, dẫn đến tình trạng thiếu hụt nhân lực có trình độ Đại học và Cao đẳng để đáp ứng nhu cầu của các bệnh viện Tại Bệnh viện Nhi, tỷ lệ điều dưỡng có trình độ trung cấp lên tới 65,6% theo nghiên cứu tại Viện Chấn thương Chỉnh hình vào tháng 04/2014 và 84,5% tại Bệnh viện Hữu Nghị năm 2015 Tuy nhiên, do Bệnh viện Nhi là bệnh viện tuyến Trung ương, yêu cầu về trình độ chuyên môn ở đây cao hơn Áp lực công việc lớn khiến những điều dưỡng viên không đủ năng lực dần bị đào thải.

Tỷ lệ điều dưỡng viên (ĐDV) có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên đạt 80,5%, cho thấy bệnh viện sở hữu đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm chuyên môn dồi dào Điều này tạo lợi thế lớn trong việc hướng dẫn và truyền đạt kiến thức cho các ĐDV trẻ còn thiếu kinh nghiệm Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu về kỹ năng thực hành của ĐDV, trong đó tỷ lệ ĐDV có thời gian công tác từ 5 năm trở lên là 65,2%.

Nghiên cứu quan sát 185 ĐDV thực hiện 370 lượt LMTM, trong đó 83,8% ĐDV có trình độ trung cấp Tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu tại Viện Chấn thương Chỉnh hình (65,6%) và BV Hữu Nghị (84,5%) Nghiên cứu được thực hiện trên toàn bộ ĐDV của bệnh viện Nhi trung ương, tương tự như nghiên cứu của Hà Thị Kim Phượng tại 3 bệnh viện Hà Nội năm 2014 với 221 điều dưỡng Việc nghiên cứu toàn bộ ĐDV giúp kết quả có tính khái quát cho toàn bệnh viện, từ đó đưa ra nguyên nhân và khuyến nghị phù hợp cho nhiều ĐDV hơn.

4.1.2 Công tác chuẩn bị trước khi lấy máu

Kết quả nghiên cứu cho thấy trong bước chuẩn bị, tỷ lệ ĐDV không giới thiệu tên và chức danh là 74,6%, thấp hơn so với nghiên cứu tại bệnh viện Sản - Nhi Bắc Giang năm 2014 (91,84% không thực hiện) và nghiên cứu tại bệnh viện châm cứu Trung ương năm 2011 (90,7% không thực hiện) Nguyên nhân có thể do Bệnh viện Nhi trung ương mới ban hành quy trình lấy máu tĩnh mạch với các bước thực hiện cụ thể Cả ba nghiên cứu đều chỉ ra rằng điều dưỡng thường quên không giới thiệu tên, chức danh vì cho rằng thông tin đã được ghi đầy đủ trên biển tên, cùng với đó là sự thiếu chú ý từ phía bệnh nhân.

HUPH khoa nội trú nằm điều trị dài ngày, đã biết tên điều dưỡng hoặc do bố mẹ bệnh nhân không hỏi nên ĐDV không giới thiệu tên

Việc chuẩn bị dụng cụ lấy máu tại các ĐDV đạt tỷ lệ 100% cho nhiều dụng cụ như kim lấy máu, ống nghiệm, cồn, bông gạc và túi đựng rác Tuy nhiên, một số dụng cụ như dây garo (8,1%) và hộp đựng vật sắc nhọn (4,6%) vẫn chưa được chuẩn bị đầy đủ Nguyên nhân là do dây garo nhanh dãn do lượng bệnh nhân đông và quy trình cung cấp vật tư còn nhiều thủ tục phức tạp, dẫn đến việc ĐDV thường tận dụng găng tay y tế Các nghiên cứu trước đây cũng cho thấy tình trạng tương tự, như nghiên cứu của Nguyễn Thảo về hoạt động xét nghiệm tại bệnh viện đa khoa huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008.

Minh cũng chỉ ra việc chuẩn bị kim lấy máu, cồn, bông gạc được các ĐDV thực hiện đầy đủ nhất (100%)

4.1.3 Việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình chuẩn bị người bệnh và xác định bệnh nhân đạt 93,5% với 346 lượt lấy máu So với các nghiên cứu tại Thụy Điển, tỷ lệ này cao hơn nhiều (80% và 81%) Tuy nhiên, 6,5% trường hợp ghi sai hoặc không dán mã code đã ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm Sự cải thiện trong việc ghi thông tin là nhờ vào sự nhắc nhở và giám sát từ phòng xét nghiệm Đáng chú ý, tỷ lệ hướng dẫn tư thế bệnh nhân chỉ đạt 24,6% với 91 lượt lấy máu, tương đương với nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Tiên Du (20,84%) Nguyên nhân là do lượng bệnh nhi đông và thời gian lấy máu gấp rút, khiến các ĐDV không thực hiện đúng bước này.

Nghiên cứu cho thấy các điều dưỡng viên (ĐDV) thực hiện đúng 100% các yêu cầu kỹ thuật, bao gồm việc đâm kim đúng cách, hạ thấp kim luồn vào tĩnh mạch, đảm bảo mũi vát hướng lên trên và lắc nhẹ ống.

Trong quá trình lấy máu, có 57 lượt (15,4%) thực hiện thao tác buộc dây garo chưa đúng, 56 lượt (15,1%) bị dây ra ngoài, và 54 lượt (14,6%) không sát khuẩn tay Việc bơm máu vào ống nghiệm cũng cho thấy 5,1% lượt đã chuyển vào ống xét nghiệm nhưng không đúng thứ tự, so với nghiên cứu tại Tiên Du đạt 100% Các ĐDV giải thích rằng lỗi xảy ra do khối lượng công việc lớn, đặc điểm bệnh nhi khó khăn, và quy trình LMTM mới ban hành tại bệnh viện.

Theo nghiên cứu, 2/3 tiêu chí của các ĐDV được thực hiện đúng 100%, bao gồm việc bỏ vỏ bơm tiêm và bông dính máu bệnh nhân vào thùng rác y tế So với nghiên cứu tại bệnh viện đa khoa huyện Tiên Du, Bắc Ninh năm 2008, có đến 98,3% y tá, điều dưỡng và kỹ thuật viên không hướng dẫn bệnh nhân cách bỏ bông cầm máu vào thùng rác y tế.

Do lượng bệnh nhân đông, nhiều người phải chờ lấy máu, nên các ĐDV không có thời gian nhắc nhở bệnh nhân đã LMTM bỏ bông vào thùng rác.

Trong tổng số 369 lượt lấy máu trong nghiên cứu, có 68 lượt lấy máu đạt đủ

Tại bệnh viện Nhi Trung ương, tỷ lệ không đạt quy trình trong việc lấy máu là 81,6%, thấp hơn so với nghiên cứu tại bệnh viện Sản – Nhi Bắc Giang năm 2014 (95,47%) và bệnh viện Châm cứu Trung ương năm 2011 (90,71%) Các lỗi phổ biến như bơm máu qua kim tiêm, sát khuẩn không đúng cách, thứ tự ống lấy máu không đúng, và thiếu thông tin trên ống đã ảnh hưởng đến chất lượng mẫu xét nghiệm, do đó cần có sự cảnh báo cho đội ngũ ĐDV.

Một số yếu tố ảnh hưởng

Công tác đào tạo điều dưỡng hiện còn nhiều hạn chế, khiến đội ngũ điều dưỡng không có cơ hội cập nhật thông tin và kiến thức mới Mặc dù quy trình đã được ban hành từ lâu, nhưng các cập nhật và thay đổi thường chỉ được thông báo qua các chỉ thị ngắn gọn, thiếu sự chi tiết và rõ ràng.

HUPH cho ĐDV gặp khó khăn trong việc theo dõi và thiếu thực hành trước khi làm việc với bệnh nhân Nghề y, đặc biệt tại bệnh viện Nhi, yêu cầu sự chính xác cao trong mọi thao tác để đảm bảo sức khỏe cho trẻ nhỏ Điều dưỡng mới ra trường cần được tập huấn về kiến thức và kỹ năng do thiếu kinh nghiệm Với đội ngũ điều dưỡng có trên 5 năm kinh nghiệm chiếm tỷ lệ lớn, các buổi tập huấn cho nhân viên mới sẽ kết hợp chia sẻ kinh nghiệm Lãnh đạo bệnh viện nhận thức được tầm quan trọng của việc đào tạo và đã có kế hoạch tổ chức tập huấn cho cán bộ trong thời gian tới.

Bệnh viện tuyến TW đang phải đối mặt với áp lực công việc rất lớn, và việc giảm tải áp lực này là một vấn đề phức tạp cần sự chỉ đạo từ các cơ quan quản lý Nhà nước Tình trạng quá tải không chỉ xảy ra tại bệnh viện Nhi TW mà còn là vấn đề chung của nhiều nhân viên y tế và cơ sở y tế khác Để giảm bớt cảm giác mệt mỏi cho đội ngũ y tế, lãnh đạo bệnh viện nên áp dụng các chính sách khen thưởng, động viên và cải thiện chế độ làm việc cũng như nghỉ ngơi hợp lý Hơn nữa, việc coi khối lượng công việc là nguyên nhân dẫn đến sai sót trong quy trình thực hiện là điều không nên.

Bệnh viện nhi chủ yếu phục vụ trẻ nhỏ có sức đề kháng yếu, trong khi gia đình bệnh nhân thường nhạy cảm, ảnh hưởng đến quy trình LMTM của ĐDV Đối với các ĐDV mới, việc tiếp xúc với trẻ em quấy khóc có thể làm họ quên bước trong quy trình hoặc thực hiện không đúng hướng dẫn Ngược lại, ĐDV có kinh nghiệm biết cách ứng phó với tình huống bất ngờ, nhưng họ cũng có xu hướng bỏ qua một số bước mà họ cho là không cần thiết, điều này có thể gây ra vấn đề trong quá trình chăm sóc bệnh nhân.

HUPH là tình trạng không hiếm gặp, đặc biệt ở trẻ em Nhiều ĐDV cho rằng trẻ nhỏ không cần giải thích, dẫn đến việc rút ngắn quy trình thực hiện do quấy khóc Điều này phản ánh rõ ràng kiến thức, kỹ năng và thái độ làm việc của ĐDV.

Việc áp dụng qui chế khen thưởng và xử phạt đã nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ nhân viên, đặc biệt là ĐDV, trong công tác chuyên môn và thực hiện quy trình LMTM, đồng thời hạn chế sai sót do thiếu ý thức tổ chức kỷ luật Hình thức xử phạt chỉ nên áp dụng cho những trường hợp tái phạm nhiều lần, và cần luân chuyển những ĐDV thường xuyên sai phạm sang lĩnh vực khác để hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân nhi Cơ chế và chính sách hợp lý sẽ giúp giải tỏa tâm lý căng thẳng, khích lệ tinh thần làm việc và hoàn thành nhiệm vụ của ĐDV Hiện tại, Bệnh viện đang nghiên cứu và xây dựng chính sách chất lượng cũng như đãi ngộ cho ca trực đêm, nhằm tăng thu nhập cho nhân viên.

Công tác kiểm tra là yếu tố quan trọng để đảm bảo chất lượng chăm sóc người bệnh theo tiêu chuẩn chuyên môn Mục đích của việc kiểm tra giám sát là đánh giá quy trình thực hiện và phát hiện những sai sót trong thực hành để hướng dẫn điều chỉnh Việc xây dựng bảng kiểm sẽ giúp công tác kiểm tra và giám sát trở nên toàn diện và hiệu quả hơn, cho phép đánh giá từ nhiều đối tượng và vị trí khác nhau Tuy nhiên, hiện nay, công tác kiểm tra giám sát chưa được thực hiện thường xuyên và liên tục, do điều dưỡng trưởng phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác, dẫn đến việc kiểm tra chỉ đạt mức độ nhất định.

Sự phối hợp giữa các đồng nghiệp và các khoa phòng trong bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong công tác lấy máu tĩnh mạch của ĐDV Đặc biệt, sự hỗ trợ giữa các ĐDV có kinh nghiệm và những ĐDV ít kinh nghiệm giúp xử trí các tình huống bất ngờ hiệu quả hơn Đồng thời, việc chia sẻ kiến thức mới từ các ĐDV mới với những ĐDV đã được đào tạo bằng kiến thức cũ cũng rất cần thiết Hơn nữa, sự phối hợp giữa các bộ phận khác nhau trong bệnh viện, đặc biệt là giữa bộ phận lưu trữ và xuất trang thiết bị, là yếu tố then chốt để đảm bảo quy trình làm việc diễn ra suôn sẻ.

HUPH cho rằng mọi trang thiết bị đều ảnh hưởng đến quy trình thực hiện LMTM của ĐDV Để đảm bảo thực hiện đúng quy định, cần có kiến thức chính xác, kỹ năng tốt, và trang thiết bị đầy đủ, đạt tiêu chuẩn Sự phối hợp hiệu quả không chỉ đòi hỏi sự thông cảm và liên kết giữa các bộ phận mà còn cần sự quan tâm cùng các chính sách, chỉ thị, quy định hợp lý từ ban lãnh đạo.

Hạn chế của nghiên cứu

Nghiên cứu chỉ được thực hiện tại một bệnh viện do hạn chế về nguồn lực và thời gian, dẫn đến kết quả chưa có tính khái quát cao cho các bệnh viện khác Thiết kế nghiên cứu cắt ngang chỉ mô tả thực trạng thực hiện quy trình LMTM và một số yếu tố ảnh hưởng, mà không chỉ ra nguyên nhân Sự có mặt của ĐTV trong quá trình quan sát có thể ảnh hưởng đến tâm lý của ĐDV, gây áp lực và dẫn đến sai sót hoặc thực hiện cẩn thận hơn Địa điểm tổ chức TLN tại bệnh viện cũng có thể tác động đến tâm lý và nội dung chia sẻ của đối tượng Để khắc phục những hạn chế này, nhóm nghiên cứu đề xuất các biện pháp như tập huấn kỹ cho ĐTV, cung cấp tài liệu hướng dẫn, sử dụng thuật ngữ rõ ràng, quan sát mà không báo trước cho ĐDV, và giám sát kịp thời để hạn chế sai số Đồng thời, cần làm sạch số liệu sau mỗi buổi điều tra và tổ chức TLN hiệu quả, khẳng định thông tin sẽ được giữ kín và khuyến khích thảo luận đúng trọng tâm.

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hoàng Khánh Toàn Đào Thị Thanh Bình (2008), "Một số nhận xét qua 302 phiếu thăm dò ý kiến bệnh nhân về công tác điều dưỡng tại khoa Đông y, bệnh viện Trung ương Quân đội 108 từ 6/2006 đến 5/2007", Kỷ yếu công trình Hội nghị khoa học chuyên ngành điều dưỡng toàn quân lần thứ 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu công trình Hội nghị khoa học chuyên ngành điều dưỡng toàn quân lần thứ 2
Tác giả: Hoàng Khánh Toàn, Đào Thị Thanh Bình
Năm: 2008
2. Đào Đức Hạnh (2015), Thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng người bệnh cần chăm sóc cấp I tại viện chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2015, Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện, Trường Đại học Y tế công cộng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng công tác chăm sóc điều dưỡng người bệnh cần chăm sóc cấp I tại viện chấn thương chỉnh hình, bệnh viện Trung ương Quân đội 108 năm 2015
Tác giả: Đào Đức Hạnh
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2015
3. Nguyễn Thị Minh Hạnh (2011), Mô tả thực trạng hoạt động xét nghiệm tại bệnh viện Châm cứu Trung ương Luận văn thạc sỹ Quản lý bệnh viện Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô tả thực trạng hoạt động xét nghiệm tại bệnh viện Châm cứu Trung ương
Tác giả: Nguyễn Thị Minh Hạnh
Năm: 2011
4. Hồ Thị Hòa và các cộng sự (2014), Khảo sát thực hành tiêm an toàn tại Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát thực hành tiêm an toàn tại Bệnh viện Cấp cứu Trưng Vương năm 2014
Tác giả: Hồ Thị Hòa
Năm: 2014
5. Hướng dẫn công tác dược lâm sàng trong bệnh viện (2011), Bộ Y tế, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn công tác dược lâm sàng trong bệnh viện
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2011
6. Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (2011), Bộ Y tế, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng ngừa chuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2011
7. Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng xét nghiệm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (2013), Bộ Y tế, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng xét nghiệm tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Nhà XB: Bộ Y tế
Năm: 2013
8. Nguyễn Thị Mỹ Linh và Tạ Văn Trầm (2008), Khảo sát về tiêm an toàn của điều dưỡng – hộ sinh tại bệnh viện phụ sản Tiền Giang năm 2008, truy cập ngày 22/2/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát về tiêm an toàn của điều dưỡng – hộ sinh tại bệnh viện phụ sản Tiền Giang năm 2008
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Linh, Tạ Văn Trầm
Năm: 2008
9. Nguyễn Thảo Minh (2008), Đánh giá thực trạng hoạt động xét nghiệm tại bệnh viện đa khoa huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008, Luận văn thạc sỹ y tế công cộng, Trường Đại học Y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá thực trạng hoạt động xét nghiệm tại bệnh viện đa khoa huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh năm 2008
Tác giả: Nguyễn Thảo Minh
Nhà XB: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2008
10. Hà Thị Kim Phượng (2014), Kiến thức, thực hành tiêm an toàn của điều dưỡng viên và các yếu tố liên quan tại 3 bệnh viện trực thuộc Sở Y tế Hà Nội năm 2014HUPH Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. 1. Thông tin chung  Nội dung  Số ĐDV( n=185)  Tỷ lệ (%)  Khoa làm việc - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 1. Thông tin chung Nội dung Số ĐDV( n=185) Tỷ lệ (%) Khoa làm việc (Trang 33)
Bảng 3. 3. Công tác chuẩn bị dụng cụ trước khi lấy máu (n=370) - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 3. Công tác chuẩn bị dụng cụ trước khi lấy máu (n=370) (Trang 35)
Bảng 3. 5. Mô tả bước 2: Chuẩn bị trước lấy máu (n=370) - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 5. Mô tả bước 2: Chuẩn bị trước lấy máu (n=370) (Trang 37)
Bảng 3. 6. Mô tả bước 3: Chuẩn bị vị trí lấy máu (n=370) - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 6. Mô tả bước 3: Chuẩn bị vị trí lấy máu (n=370) (Trang 38)
Bảng 3. 7. Mô tả bước 4: Đâm kim đúng kỹ thuật (n=370) - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 7. Mô tả bước 4: Đâm kim đúng kỹ thuật (n=370) (Trang 39)
Bảng 3. 8. Mô tả bước 5: Tháo dây garo (n=370) - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 8. Mô tả bước 5: Tháo dây garo (n=370) (Trang 40)
Bảng 3. 9. Mô tả bước 6: Kỹ thuật chuyển máu vào ống xét nghiệm - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 9. Mô tả bước 6: Kỹ thuật chuyển máu vào ống xét nghiệm (Trang 40)
Bảng 3. 10. Mô tả bước 7: Kết thúc lấy máu - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 10. Mô tả bước 7: Kết thúc lấy máu (Trang 41)
Bảng 3. 11. Mô tả bước 8: Thu dọn dụng cụ - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
Bảng 3. 11. Mô tả bước 8: Thu dọn dụng cụ (Trang 42)
BẢNG KIỂM THỰC HIỆN QUY TRÌNH LẤY MÁU TĨNH MẠCH   CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG - Thực trạng việc thực hiện quy trình lấy máu tĩnh mạch của điều dưỡng viên tại bệnh viện nhi trung ương năm 2017
BẢNG KIỂM THỰC HIỆN QUY TRÌNH LẤY MÁU TĨNH MẠCH CỦA ĐIỀU DƯỠNG BỆNH VIỆN NHI TRUNG ƯƠNG (Trang 70)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w