Đồng bào người Thái ở Thanh Quân chiếm hơn 98% dân số, lập Mường, dựng Bản và đóng vai tr chính yếu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đặc biệt, đã sáng tạo, bảo lưu nhiều giá trị vă
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND TỈNH THANH HÓA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC - -
LƯƠNG THỊ HƯƠNG
LỊCH SỬ VĂN HÓA VÙNG ĐẤT THANH QUÂN
(NHƯ XUÂN, THANH HÓA)
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này không trùng lặp với các khóa luận, luận văn, luận án và các công trình nghiên cứu đã công bố
Người cam đoan
Lương Thị Hương
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận văn Thạc sĩ của mình, em đã nhận được rất nhiều
sự giúp đỡ và góp ý chân thành của các cá nhân và đồng nghiệp
Đầu tiên, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Cô giáo TS.Nguyễn Thị Định và thầy giáo TS Lê Sỹ Hưng, người đã tận tình giúp đỡ, trực tiếp hướng dẫn em trong suốt quá trình làm luận văn
Em cũng xin bày tỏ sự biết ơn đến tập thể Ban giám hiệu, các thầy, cô giáo Bộ môn Lịch sử - Khoa Khoa học xã hội, cán bộ phòng Quản lý đào tạo Sau đại học, trường Đại học Hồng Đức đã truyền đạt và trang bị cho em những kiến thức bổ ích trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu tại trường
Em xin cảm ơn UBND huyện Như Xuân, UBND xã Thanh Quân, Ban Quản lý di tích đền Chín gian đã tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt đề tài luận văn
Mặc dù đã cố gắng nhưng chắc chắn s c n nhiều thiếu sót, hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến chân thành từ phía các thầy cô, các nhà khoa học, đồng nghiệp và các bạn học viên để luận văn được hoàn thiện tốt hơn
Cuối cùng em xin kính chúc quý thầy, cô dồi dào sức khỏe và thành công trong sự nghiệp cao quý
Em xin chân thành cảm ơn!
Thanh Hóa, tháng 10 năm 2020
Tác giả luận văn
Lương Thị Hương
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN 1
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của luận văn 6
7 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT THANH QUÂN 7
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 7
1.1.1 Vị trí địa lý 7
1.1.2.Điều kiện tự nhiên 7
1.2.Quá trình tộc người và sự hình thành vùng đất Thanh Quân 13
1.2.1 Quá trình tộc người 13
1.2.2 Lịch sử hành chính 16
1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội và truyền thống lịch sử - văn hóa 17
1.3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 17
1.3.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa 19
Tiểu kết chương 1 22
CHƯƠNG 2: DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 24
2.1 Đền Chín gian 24
2.1.1 Vị trí,quá trình hình thành 24
2.1.2 Cấu trúc 26
Trang 52.2 Nhà sàn của người Thái 30
2.2.1 Vài nét về nhà sàn Thái, nhà sàn Thái ở Thanh Quân 30
2.2.2 Nguyên liệu và cách dựng nhà 34
2.3 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản 37
Tiểu kết chương 2 41
CHƯƠNG 3: DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ 43
3.1 Phong tục - tập quán 43
3.1.1 Sinh đẻ 43
3.1.2.Tục cầm vía 46
3.1.3.Cưới hỏi 49
3.1.4 Tang ma 50
3.2 Lễ hội 59
3.2.1 Lễ dâng trâu tế trời đền Chín Gian 59
3.2.2 Lễ hội Xăng khan 67
3.3 Nghệ thuật dân gian 69
3.3.1 Nhạc cụ 69
3.3.2 Dân ca Thái 72
3.4 Nghề thủ công truyền thống 75
3.4.1 Nghề dệt thổ cẩm 75
3.4.2 Nghề đan lát 78
3.4.3 Nghề làm rượu cần 79
3.4.4 Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản 81
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89 PHỤ LỤC P1
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa đóng vai tr quan trọng trong lịch sử phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc; là “nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu động lực phát triển bền vững của đất nước” Điều đó đã được minh chứng hùng hồn trong lịch sử hàng nghìn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
Dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa, hiện đại hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa truyền thống đang có nguy cơ mai một Bởi vậy, việc nghiên cứu
về lịch sử văn hóa không chỉ hàm chứa giá trị nhân văn, nhân bản, mà còn mang hơi thở thời đại, có đóng góp quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Văn hóa là sức mạnh nội sinh hun đúc nên phẩm chất cốt cách con người Việt Nam trong suốt chiều dài giữ nước và dựng nước”; đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay Rõ ràng, hướng nghiên cứu về lịch sử văn hóa dân tộc không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc
Thanh Quân là xã cuối cùng về phía Tây huyện Như Xuân, phía Tây và phía Nam giáp huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An; phía bắc giáp huyện Thường Xuân; phía Đông giáp xã Thanh Sơn, Thanh Phong (huyện Như Xuân), tỉnh Thanh Hóa Nằm án ngữ con đường thiên di của người Thái từ Tây Bắc xuống, với điều kiện tự nhiên thích hợp tập quán, vùng đất Thanh Quân đã trở thành địa bàn tụ cư của người Thái từ lâu đời
Đồng bào người Thái ở Thanh Quân chiếm hơn 98% dân số, lập Mường, dựng Bản và đóng vai tr chính yếu trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đặc biệt, đã sáng tạo, bảo lưu nhiều giá trị văn hóa tộc người vô cùng đặc sắc Nghiên cứu lịch sử văn hóa vùng đất Thanh Quân, khảo sát văn hóa người
Trang 8Thái, là góp phần làm rõ “bức tranh chung đa sắc của văn hóa dân tộc”, góp sức vào sự phát triển chung củ đất nước
Là người con sinh dưỡng trên mảnh đất Như Xuân, đồng thời là giáo viên lịch sử, tôi mong muốn tìm hiểu sâu sắc về lịch sử văn hóa quê hương; qua đó trang bị vững chắc kiến thức về lịch sử địa phương phục vụ giảng dạy; đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc
Với những lý do trên, tôi mạnh dạn chọn vấn đề “Lịch sử văn hóa vùng đất Thanh Quân (Như Xuân, Thanh Hóa)” làm đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở hình thành và phát triển văn hóa vùng đất Thanh Quân
- Khảo tả các di sản văn hóa (vật thể, phi vật thể)
- Đánh giá giá trị lịch sử - văn hóa, thực trạng di sản, đề xuất giải pháp bảo tồn, phát huy
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là lịch sử văn hóa vùng đất Thanh Quân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian nghiên cứu: Không gian nghiên cứu của đề tài giới hạn trong phạm vi xã Thanh Quân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
Trang 9Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu lịch sử văn hóa từ quá khứ đến hiện tại
Về mặt nội dung: Vùng đất Thanh Quân có nhiều dân tộc cùng sinh sống Người Thái chiếm số lượng lớn nhất (5271 người, chiếm 98,8% ); đóng vai tr chính trong đời sống mọi mặt Do vậy, đề tài tập trung nghiên cứu về văn hóa người Thái
Di sản văn hóa người Thái vùng đất Thanh Quân vô cùng phong phú
Đề tài chỉ tập trung làm rõ những một số di sản tiêu biểu, hiện đang được duy trì, bảo lưu Các di sản văn hóa vật thể bao gồm: Đền chín gian và nhà sàn Thái Các di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: Phong tục tập quán (sinh
đẻ, tục cầm vía, cưới hỏi, tang ma), lễ hội (lễ dâng trâu tế trời, lễ hội Xăng khan), nghề thuật dân gian (nhạc cụ, dân ca Thái), nghề thủ công truyền thống (nghề dệt thổ cẩm, nghề đan lát, nghề làm rượu cần)
4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lịch sử vùng đất Thanh Quân đã được nhiều công trình đề cập đến
Cuốn Tiếp cận văn hóa bản Thái xứ Thanh (Vương Anh, NXB Sở Văn
hóa Thông tin Thanh Hóa, 2001): trình bày về cội nguồn tộc người Thái; kho tàng văn hóa phi vật thể; sự phát triển đời sống văn hóa, xây dựng môi trường
xã hội - nhân văn ở bản Thái xứ Thanh
Cuốn Địa chí Thanh Hóa tập II (Tỉnh ủy - HĐND - UBND tỉnh Thanh
Hóa, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004) là công trình quan trọng phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài Trên cơ sở nghiên cứu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, các nhà nghiên cứu đã trình bày một cách hệ thống diện mạo văn hóa xứ Thanh, trong đó, giới thiệu cụ thể một số thành tựu văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu tại các địa phương Thanh Hóa, bao gồm di sản ở Như Xuân
Cuốn Góp phần tìm hiểu sắc thái văn hóa dân tộc Thái, Mường Thanh
Trang 10Hóa (Đinh Xuân, Hội văn học Nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam -
Ban đại diện tại Thanh Hóa, 2009) đã dẫn dắt người đọc khám phá những khía cạnh khác nhau của giá trị văn hóa phi vật thể trong mối quan hệ tình nghĩa keo sơn gắn bó giữa người Thái và người Mường xứ Thanh Kết quả nghiên cứu của công trình giúp chúng tôi có những lý giải hợp lý về những nét đặc sắc trong giá trị văn hóa phi vật thể của người Thái, đồng thời có thể đặt trong mối quan hệ gắn bó với người Mường
Cuốn Tri thức dân gian của người Thái ở Thanh Hóa (Vũ Trường
Giang, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội) giới thiệu khái quát về người Thái ở
miền núi Thanh Hóa và “đi sâu phân tích và hệ thống hóa những giá trị văn
hóa thể hiện tri thức dân gian của người Thái, xác định những nội dung cần
kế thừa, phát huy nhằm góp phần hoàn thành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững vùng dân tộc thiêu số và miền núi"
Cuốn Văn hóa Thái ở Việt Nam (Cầm Trọng, Phan Hữu Dật, 2007) là
công trình khảo cứu một cách công phu về quá trình tộc người Thái, văn hóa dân gian Thái ở Việt Nam Mặc dù không trực tiếp nghiên cứu về văn hóa Thái Thanh Hóa, công trình này đã cung cấp cho người đọc những hiểu biết chung về người Thái và văn hóa Thái ở Việt Nam
Các dân tộc thiểu số Thanh Hóa - nguồn gốc và đặc trưng văn hóa tộc người (Phạm Hoàng Mạnh Hà, Trần Thị Liên, NXB Sân khấu, 2018) đã
nghiên cứu và tìm hiểu sự hình thành cộng đồng các dân tộc ở Thanh Hóa và văn hóa các dân tộc anh em vùng đất xứ Thanh, trong đó có dân tộc Thái Những nét văn hóa người Thái được ghi lại một cách rõ nét giúp người đọc hiểu rõ hơn về dân tộc này và có thể so sánh với các dân tộc anh em khác
Cuốn Địa chí huyện Như Xuân (Huyện ủy - HĐND - UBND huyện Như
Xuân, NXB Thanh Hóa, 2019): Cuốn sách này trình bày toàn diện điều kiện
tự nhiên, cư dân, tiến trình lịch sử, tình hình văn hóa xã hội của huyện Như Xuân Phần văn hóa xã hội đã giới thiệu về văn hóa vật thể và phi vật thể của
Trang 11huyện Như Xuân nói chung trong đó có Đền Chín Gian, lễ hội dâng trâu tế trời và một số di sản khác của người Thái ở đây
Cuốn Di sản văn hóa Tỉnh Thanh Hóa (Ban tuyên giáo Tỉnh ủy Thanh
Hóa, NXB Thanh Hóa, 2019) đi sâu giới thiệu các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể trên địa bàn Thanh Hóa Công trình góp phần nâng cao trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, giáo dục truyền thống lịch sử văn hóa cho các thế hệ sau Đây cũng là tài liệu tham khảo quan trọng trong quá trình nghiên cứu của đề tài
Có thể nói Lịch sử văn hóa vùng đất Thanh Quân đã được tìm hiểu ở những khía cạnh và mức độ khác nhau Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện vấn đề, còn nhiều nội dung cần được làm sáng
tỏ Mặc dù vậy kết quả nghiên cứu của những công trình trên là cứ liệu quan trọng, là cơ sở để chúng tôi triển khai thực hiện đề tài
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết những vấn đề đặt ra, chúng tôi đã vận dụng phương pháp luận sử học kết hợp với các phương pháp bộ môn, chủ yếu là phương pháp lịch sử, phương pháp lôgic và một số phương pháp cần thiết khác liên quan đến đề tài như:
Phương pháp nghiên cứu liên ngành Khu vực học để phân tích từ nhiều góc độ khác nhau, xử lý số liệu cần minh chứng, góp phần làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Phương pháp điền dã dân tộc học: Sử dụng các kỹ năng quan sát, phỏng vấn sâu, ghi chép, chụp ảnh để thu thập và lưu giữ thông tin về đời sống văn hóa của người dân tại địa bàn nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu định tính thông qua nghiên cứu hồi cố: vận dụng trong nghiên cứu hồi cố về quá trình hình thành làng bản; nội dung nghiên cứu là các khía cạnh của đời sống văn hóa như: phong tục tập quán, lễ hội, quan hệ ứng xử… của người dân
Trang 12Ngoài ra, các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, định lượng…cũng được sử dụng để thực hiện nghiên cứu đề tài
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn làm rõ điều kiện và quá trình hình thành, phát triển văn hóa vùng đất Thanh Quân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa
- Xác định rõ quá trình Lịch sử văn hóa, đánh giá thực trạng và đề xuất được những giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị di sản
- Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụ công tác quản lý văn hóa, phục vụ hoạt động nghiên cứu, giảng dạy, học tập trên các lĩnh vực lịch sử, quản lý văn hóa, văn hóa học, Việt Nam học…
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ
lục, nội dung luận văn được cấu trúc làm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về vùng đất Thanh Quân
Chương 2: Di sản văn hóa vật thể
Chương 3: Di sản văn hóa phi vật thể
Trang 13CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VÙNG ĐẤT THANH QUÂN
1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý
Như Xuân là một trong 11 huyện miền núi tỉnh Thanh Hóa, nằm ở phía Tây Nam của tỉnh, cách trung tâm Thành phố Thanh Hóa 60km Phía Bắc giáp huyện Thường Xuân, phía Nam và phía Tây giáp tỉnh Nghệ An, phía Đông giáp huyện Như Thanh Tổng diện tích đất tự nhiên 72.171,84 ha; đất đai phì nhiêu, màu mỡ, thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp Toàn huyện
có 18 xã, thị trấn
Thanh Quân là xã cuối cùng về phía Tây huyện Như Xuân, cách trung tâm huyện hơn 30km theo đường Yên Cát - Thanh Quân Phía Tây và phía Nam giáp huyện Quỳ Châu tỉnh Nghệ An; Phía bắc giáp huyện Thường Xuân
- Thanh Hoá; Phía Đông giáp xã Thanh Sơn, Thanh Phong Đây là vùng tam giác án ngữ con đường thiên di của người Thái từ Tây Bắc xuống Nhờ vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thích hợp với tập quán, vùng đất Thanh Quân từ sớm đã trở thành điểm dừng chân để người Thái sinh cơ, lập nghiệp
1.1.2.Điều kiện tự nhiên
* Địa hình
Địa hình Như Xuân thuộc loại đồi, núi thấp và nghiêng theo các hướng khá phức tạp Độ cao trung bình 150 – trên 1.000m, nhiều dãy núi có chiều cao lên tới 1.119m Do nhiều yếu tố tác động nên bề mặt địa hình huyện Như Xuân vẫn tiếp tục thay đổi
Thuộc huyện Như Xuân, đặc điểm địa hình Thanh Quân có nhiều nét tương đồng Thanh Quân nằm gọn trong một thung lũng, bốn bề là đồi núi bao bọc Hệ thống đồi núi trên địa bàn Thanh Quân chủ yếu có cấu tạo đá vôi, núi đất được phân bổ như sau:
Núi Phả Puc có độ cao 120m chạy dài từ thôn Làng Trung xuống thôn Thanh Tiến và thôn Thống Nhất
Trang 14Núi Sẳn Sư trải dài từ thôn Thanh Tân, qua Chiềng Cà 1 và 2 cho đến thôn Ná Cà 1 Đây là dãy núi cao nhất tiếp giáp với địa phận của các xã thuộc huyện Quỳ Châu của tỉnh Nghệ An
Núi Bù Tốn là một dãy núi cao tiếp giáp với Nghệ An, nằm trên địa phận của thôn Làng Trung
Đồi Pú Pỏm thuộc thôn Làng Trung với ba mỏm núi, là nơi dựng Đền Chín Gian để dâng trâu, tế trời
Núi Đốn Xa có độ cao100m; xưa có giặc Xá đến đóng quân và dựng đồn tại nơi này
Núi Phả Lẻm (núi đá cao, nhọn hoắt) cao 130m, dài 100m, nằm ở khu
Ná Hiếng của thôn Thống Nhất Đối với người Thanh Quân, đây là một ngọn núi thiêng
Núi Pú Cù (núi có nhiều lau lách) có độ cao trên 1000m, nằm trên địa phận của thôn Thanh Tân
Núi Phả Pen (núi đá phẳng) có độ cao 250m, nằm ở thôn Thanh Tiến Đồi Tèn Tây thuộc thôn Chiềng Cà Tương truyền trong kháng chống Pháp, giặc nhiều lần đi qua và dừng chân tại đây, bởi vậy đồi được đặt tên này
Núi Pú Cọc là dãy núi thấp bao quanh thôn Ná Cà 1
Núi Phả Đẻn Mướng là ranh giới tự nhiên giữa hai xã Thanh Quân và xã Thanh Sơn
Núi Sủng là dãy đồi núi tiếp nối với núi Sẳn Sư thuộc địa phận thôn Thanh Nhân
Núi Tèn Quan nằm tại thôn Lâu Quán có độ cao trên 1000m tiếp giáp với xã Châu Nga, Quỳ Châu, Nghệ An
Hệ thống hang động trong phạm vi địa bàn của xã bao gồm:
Thăm Phả Binh thuộc thôn Làng Trung
Thăm Phả Lẻm nằm trong Phả Lẻm, thôn Thống Nhất
Trang 15Thăm B Cung thuộc dãy núi đá Phả Puc của thôn Thống Nhất và Thanh Tiến
Thăm Phả Phẻn và Thăm Phả Luống thuộc thôn Thanh Hương
Hệ thống thung lũng trong phạm vi địa bàn của xã gồm có:
Khu Tủng Cỏ Măn (nghĩa là thung lũng mận) là khu đất rộng khoảng 20
ha, nằm tại thôn Làng Trung
Thung lũng Ná Hiếng (khu ruộng có nhiều cây kè) nằm tại thôn Thống Nhất [37; tr 5]
* Khí hậu
Như Xuân nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều Mùa hè nóng, có gió tây khô nóng Mùa đông lạnh, khô hanh, có sương
giá, sương muối Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.600 đến 1.700mm
Cũng như xã khác của Như Xuân, Thanh Quân có khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa hè nắng nóng, bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, nhiệt độ trung bình từ 24 đến 36 độ C Nhiệt độ cao nhất khoảng 39 đến 40 độ C Do ảnh hưởng của gió phơn Tây Nam, mùa hè thường xuyên xảy ra hạn hán,
Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến hết tháng 3 năm sau Tiết trời lạnh giá, nhiệt độ có phần thấp hơn so với mặt bằng chung trong huyện Nhiệt độ trung bình khoảng 15 đến 20 độ C
Lượng mưa: Tổng lượng mưa trung bình trên năm khoảng từ 1500mm
đến gần 2000mm, nhưng phân bố không đồng đều giữa các tháng trong năm Mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 đến đầu tháng 10 Từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, thời tiết hanh, khôvà mưa ít Từ tháng 2 đến tháng 3, thời tiết mưa phùn, gió bấc
Chế độ gió: Các hệ thống gió mùa tác động quanh năm tới vùng đất
Thanh Quân Vào mùa đông hướng gió có thành phần thiên bắc và thiên đông chiếm ưu thế, các thành phần gió có hướng tây và nam có tần suất rất nhỏ
Trang 16Các trường hợp lặng gió có tần suất là khoảng 29% Vào mùa hè, gió có từ phương nam chiếm ưu thế Tốc độ gió trung bình năm từ 1,5 đến 1,8 m/s, tốc độc gió mạnh nhất trung bão 35 đến 40 m/s, tốc độ gió mạnh nhất trong gió mùa đông bắc rơi vào khoảng 25m/s
Độ ẩm: Độ ẩm không khí khá cao, đặc biệt là vào các tháng 2, tháng 3,
tháng 7, tháng 8 Độ ẩm trung bình có thể lên đến 65 - 85 %
Thời tiết đặc biệt và thiên tai: Bão đổ bộ trực tiếp vào Thanh Hóa nói
chung và xã Thanh Quân nói riêng trong khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 10, cao điểm là tháng 9 Trung bình hàng năm có khoảng 3 cơn bão và
áp thấp nhiệt đới ảnh hưởng tới Thanh Quân
Gió tây khô nóng chi phối khá mạnh các đặc điểm tự nhiên và hoạt động sản xuất, sinh hoạt trong vùng Số ngày có gió tây khô nóng trung bình năm là
27 – 29 ngày với 11 – 12 đợt
Gió mùa đông bắc mang tính chất lạnh khô vào đầu mùa đông và lạnh
ấm vào cuối mùa đông Trung bình hàng năm, số đợt gió mùa đông bắc ở Thanh Quân là khoảng 10 – 13 đợt
Giông: Trung bình hàng năm Thanh Quân có khoảng 55 – 57 ngày giông Các tháng mùa hè có thể có tới 10 - 15 ngày giông/ tháng
Mưa phùn có trung bình 25 – 40 ngày, nhiều nhất vào các tháng 2 và 3 Sương muối cũng có thể xảy ra với tần suất cứ 3 – 4 năm có 1 ngày và thường xuyên xảy ra vào tháng 12 và tháng 1
Trung bình cũng có 12 – 15 ngày có sương mù và thường tập trung nhiều vào các tháng 1, 2 và 3
Thiên tai chủ yếu là mưa lớn, gió tây khô nóng, rét đậm kéo dài, lũ đột ngột, kể cả lũ bùn đá, lũ ống và lũ quét Lũ ống, lũ quét thường xuyên xảy ra vào tháng 7 - tháng 8, làm cho đời sống sinh hoạt và sản xuất kinh tế bị ảnh hưởng nghiêm trọng
Trang 17* Hệ thống sông, suối
Như Xuân có mạng lưới sông suối khá dày, nguồn nước dồi dào Nguồn nước trên mặt của huyện Như Xuân thuộc về ba khu vực sông: sông Chu, sông Mực và sông Chàng; nguồn nước ngầm tập trung chủ yếu ở hai triền các sông Chàng, sông Quyền và trong các khe nứt đá vôi
Hệ thống sông suối chính bao gồm:
Huôi Cháng bắt nguồn từ đồi núi cao thôn Làng Trung chảy qua hầu hết các thôn trong xã như: Thống Nhất, Thanh Tân, Thanh Tiến, Thanh Hương,
Kẻ Lạn, Ná Cà 2, Thanh Nhân, Lâu Quán
Huôi Tôn bắt nguồn từ đồi núi cao chảy xuống qua khu Ná Hiếng của thôn Thống Nhất, sau đó chảy vào cùng với sông Chàng tại bai Bò Cung ở thôn Thống Nhất
Huôi Tà Chon bắt nguồn từ xã Thanh Sơn, chảy qua thôn Kẻ Lạn Sau
đó chảy vào sông Chàng tại thôn Ná Cà 2
Huôi Bó bắt nguồn từ đồi núi cao của thôn Thanh Nhân, sau đó chảy qua thôn Thanh Nhân rồi đi, đổ về sông Chàng tại thôn Ná Cà 2
Huôi Quan bắt nguồn từ Tèn Quan của thôn Lâu Quán, chảy qua địa phận của thôn rồi chảy vào sông Chàng
Hệ thống sông, suối có vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và đời sống [37; tr 4]
* Đất trồng
Tổng diện tích đất tự nhiên của Như Xuân 72.171,84 ha Trong đó diện tích đất nông - lâm nghiệp là 63.515,17 ha (chiếm 88,01%), diện tích đất phi nông nghiệp 8.274,71 ha (chiếm 11,46%); đất chưa sử dụng 381,96 ha (chiếm 5,3%) [37; tr 36]
Thanh Quân có tổng diện tích đất tự nhiên 4.105,81 ha, chủ yếu là đất feralit ở vùng núi thấp và đất mùn núi cao
Trang 18Diện tích đất đất lâm nghiệp chiếm số lượng lớn nhất: 3.410,46 ha (chiếm 83,06%) Tiếp theo là đất sản xuất nông nghiệp: 347,69 ha (chiếm 8,46%) Đất nuôi trồng thuỷ sản: 52,62 ha (chiếm 2,26%) [37; tr 1]
* Khoáng sản
Khoáng sản ở Thanh Quân chủ yếu là quặng sắt với trữ lượng 140.000 tấn, phân bố ở các sườn núi Quặng có dạng mạch, thấu kính nằm dọc đới cà nát của phiến đá phiến thuộc hệ tầng Đồng Trầu, thân quặng kéo dài theo phương 110° - 290° Chiều dài mạch quặng 100m - 120m, chiều dày 15m - 20m, chiều sâu dự tính 10m Quặng có màu xám đen, đặc xít, rắn chắc, tỷ trọng cao Hàm lượng Fe cao nhất: 57,03%, thấp nhất: 45,03%, trung bình: 50,93%
*Tài nguyên rừng và hệ động thực vật
Như Xuân được đánh giá là có nguồn tài nguyên rừng giàu có vào loại bậc nhất trong tất cả các huyện ở Thanh Hóa Chính vì thế, với các loại gỗ quý đã được khai thác phục vụ nhiều vùng trong cả nước Hệ thống rừng với tổng diện tích năm 2017 là 9.250 ha cùng hệ động thực vật phong phú và đa dạng
Tổng diện tích đất lâm nghiệp của Thanh Quân hiện nay là 3.410,46 ha, trong đó: đất rừng sản xuất: 1.476,45 ha (chiếm 43,29%); đất rừng phòng hộ:
1.933,67 ha (chiếm 56,69%)
Rừng có hệ thực vật phong phú, đa dạng về họ và loài Nhiều loại gỗ quý hiếm (như lim, táu, sến, ch , pơ mu, sưa ), các loại tre, nứa và dược liệu (như sàn lượt, chá hẩu băng, líu phí đẻng, sên phến mạ, cỏ chạ pàn, ngón tàu, ) Rừng cũng là nơi sinh sống của nhiều loại động vật như voi, hổ, báo, gấu, lợn rừng, hươu, nai, khỉ, vượn, gà rừng, các loại chim,…
Tuy nhiên, hiện nay diện tích rừng tự nhiên đã bị thu hẹp đáng kể, kéo theo sự khan hiếm và nguy cơ tuyệt chủng của nhiều loài động vật quý Rừng còn lại chủ yếu là rừng nghèo và rừng phục hồi Để khắc phục tình trạng này,
Trang 19đối với diện tích rừng nghèo kiệt, xã đã có phương án chuyển đổi sang trồng một số cây lâm nghiệp có giá trị kinh tế cao như keo, lát, xoan và một số cây
gỗ lớn Chính sách giao đất, giao rừng cho hộ nông dân và các công trình, dự
án bảo vệ rừng phòng hộ và khoanh nuôi, trồng mới đã góp phần đáng kể vào việc phục hồi rừng ở Như Xuân
1.2.Quá trình tộc người và sự hình thành vùng đất Thanh Quân
1.2.1 Quá trình tộc người
* Quá trình tộc người Thái
Nghiên cứu về người Thái ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng các ngành Thái ở Tây Bắc nói riêng và Việt Nam nói chung đều chung một gốc với các nhóm Thái ở Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Mianma Tổ tiên người Thái xa xưa bắt nguồn từ các nhóm Bách Việt sinh sống ở vùng Quảng Tây, Quảng Đông, Quý Châu và Đông Bắc Việt Nam Nhờ sáng tạo ra hệ thống thủy lợi khá phát triển và nhờ những điều kiện khí hậu và đất đai thuận lợi, người Thái cổ cùng một số tộc người khác đã đưa cây lúa thành cây lương thực chính và sáng tạo nên một nền văn minh lúa nước độc đáo
Đến thiên niên kỷ thứ nhất TCN, do bị sức ép của người Hán cổ, một bộ phận người Thái cổ thiên di nhiều đợt theo nhiều hướng dọc theo các con sông lớn xuống vùng Đông Nam Á lục địa Đến những thế kỷ đầu SCN , tổ tiên người Thái cũng đã lập được một loạt các tiểu vương quốc ở thượng lưu sông Mê Kông, ở vùng thượng Đông Dương tới vùng giáp ranh tỉnh Vân Nam, vùng Thượng Lào và Tây Bắc Việt Nam
Cuộc thiên di lớn thứ 2 của tổ tiên người Thái diễn ra bắt đầu vào cuối thiên niên kỷ I SCN cùng với sự lớn mạnh của nhà nước Nam Chiếu, Đại Lý
và phát triển kéo dài suốt những thế kỷ XII - XIII - XIV, kết thúc vào thế kỷ
XV, nhờ sự suy yếu của nhà nước Môn - Khơ me tại Đông Dương và sự suy yếu hay thất bại trước quân Mông - Nguyên của những nhà nước Tạng - Miến Kết quả là một loạt quốc gia Thái được thiết lập ở Tây Đông Dương, thay thế các quốc gia Môn - Khơ me ở vùng Lào, Thái Lan
Trang 20Chiếm lĩnh Tây Bắc, các lãnh chúa Thái triều đình phong kiến Việt Nam (Lý, Trần, Lê sơ…) và được phép cai quản lãnh địa cát cứ của mình Mỗi vùng thường do một vùng trung tâm và các mường phụ thuộc do một lãnh chúa lớn, là bồi thần của triều đình đứng đầu Đến đời Lý Thánh Tông, ảnh hưởng của nhà Lý đối với vùng này là rất lớn “Năm 1067, vào tháng 2 mùa xuân, Ngưu Hống (có thể phiên âm từ Ngu Háu - Rắn hổ mang - biểu tượng của người Thái đen) và Ai Lao đều vào triều cống Lễ vật gồm có vàng, bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi…”
Lịch sử người Thái ở Thanh Hóa có quan hệ gần gũi và chặt ch với người Thái ở Tây Bắc và có nguồn gốc từ dòng họ L Khăm (tiếng Thái Đen) Các d ng họ chủ yếu của người Thái là: Hà, Phạm, Lang, Lò, Vi, Đinh Người Thái ở Thanh Hóa có 2 nhánh là: Thái Trắng (Táy Dọ) và Thái Đen (Táy Đăm) Người Thái Trắng sống tập trung ở hai huyện Thường Xuân, Như Xuân và một số bản giáp huyện Triệu Sơn Người Thái Đen chiếm đa số, sống tập trung ở các huyện Quan Hóa, Quan Sơn, Bá Thước, Lang Chánh
Xã Thanh Quân hiện nay thuộc Mường Chang (Mướng Cháng, Mường Chỏng) một trong 9 Mường người Thái ở Tây Thanh - Nghệ: Mường Chang (các xã Thanh Quân, Thanh Sơn), Mường Pán (các xã Thanh Hòa và Thanh Phong), Mường Lự (các xã Thanh Lâm và Thanh Xuân) huyện Như Xuân, Mường Luộc, Mường Chiềng Ván, Mường Phụ (Thường Xuân), Mường Mun, Mường Hính, Mường Chai (huyện Quỳ Châu, Nghệ An) NgườiThái ở Thanh Quân hiện nay có chung nguồn gốc với người Thái ở các mường này
Họ là những cư dân đầu tiên đến đây khai phá, đời nối đời sinh cơ, lập nghiệp Theo số liệu của Cục Thống kê huyện Như Xuân tháng 12 năm 2016, người Thái ở Thanh Quân chiếm hơn 98% dân số (5.271/5.335 người), phân
bổ ở tất cả các thôn bản Ngôn ngữ giao dịch chủ yếu trong địa bàn xã hiện nay cũng là tiếng Thái
Trang 21* Quá trình tộc người của các dân tộc khác
Ngoài dân tộc Thái, trên địa bàn Thanh Quân còn có nhiều dân tộc khác cùng sinh sống như Kinh, Mường, Thổ
Người Mường cư trú trên một địa bàn rộng lớn từ Sơn La, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nội đến H a Bình và Thanh Hóa Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, người Mường cư trú ở các huyện vùng núi như: Bá Thước, Lang Chánh, Ngọc Lặc…Tại Như Xuân, người Mường cư trú ở Thượng Ninh, Thanh Lâm… Riêng
ở Thanh Quân, người Mường chỉ chiếm tỉ lệ rất nhỏ (11 người, chiếm 0,21%), phân bố chủ yếu ở các thôn Ná Cà 2, Thanh Tân, Ná Cà 1 và Lâu Quán
Người Thổ:
Người Thổ cư trú trên địa bàn 60 tỉnh thành trên cả nước.Trong quá trình
di cư, khu vực trung tâm của người Thổ là vùng đất phía Tây tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, người Thổ cư trú ở các huyện Ngọc Lặc, Như Thanh, Nông Cống, Như Xuân…
Tại Như Xuân, người Thổ cư trú ở xã Yên Lễ, Thượng Ninh, thị trấn Yên Cát… Riêng ở Thanh Quân, người Thổ chỉ có 8 người, tương đương với 0,15%, phân bố chủ yếu ở các thôn: Thanh Nhân, Chiềng Cà 2, Ná Cà 1, Ná
Cà 2, Lâu Quán, Kẻ Lạn
Nếu người Thái đến Thanh Quân từ buổi đầu lập Mường, dựng bản thì người Kinh, người Mường, người Thổ hiện diện ở đây khá muộn Đồng bào
Trang 22các dân tộc đã cùng chung tay xây dựng vùng đất Thanh Quân ngày càng tươi đẹp, phát triển
Cuối thế kỷ XIX khu vực tổng Quân Nhân, Như Lăng là địa bàn hoạt động quan trọng của nghĩa quân Cầm Bá Thước
Sau cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, châu Thường Xuân đổi thành huyện Thường Xuân Lúc bấy giờ Tổng Quân Nhân đổi thành Thanh Quân, là một xã thuộc huyện Thường Xuân Đến ngày 10/10/1950 Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số: 55/QĐ - TTg sáp nhập xã Thanh Quân huyện Thường Xuân vào huyện Như Xuân
Ngày 04/9/1964 Bộ trưởng bộ Nội vụ ra Quyết định số: 232/QĐ – BNV, chuyển 2 xóm Thành Trung và Đoàn Trung thuộc xã Bình Lương sang xã Thanh Quân và chia xã Thanh Quân thành 3 xã, lấy tên là: Thanh Quân, Thanh Phong và Thanh Lâm (lúc đó xóm Thành Trung và Đoàn Trung thuộc
xã Thanh Lâm ngày nay)
Năm 1989 Thanh Quân chia tách thành 2 xã Thanh Quân và Thanh Sơn
Xã Thanh Quân có tổng số 12 thôn bản sắp xếp theo thứ tự từ thượng nguồn sông Chàng xuôi xuống là: Thôn Làng Trung, Thống Nhất, Thanh Tân, Thanh Tiến, Thanh Hương, Kẻ Lạn, Chiềng Cà 2, Chiềng Cà 1, Ná Cà 1, Ná
Cà 2, Thanh Nhân, Lâu Quán
Trang 23Thực hiện theo quyết định số 3110/QĐ-UBND, ngày 17 tháng 8 năm
2018 của UBND tỉnh Thanh Hóa, sáp nhập thôn Làng Trung và thôn Thống Nhất để thành lập thôn Thống Nhất; sáp nhập thôn Chiềng Cà 1 và Chiềng Cà
2 để thành lập thôn Chiềng Cà; sáp nhập thôn Thanh Hương và một phần thôn
Kẻ Lạn để thành lập thôn Kẻ Lạn; sáp nhập thôn Ná Cà 2 và một phần thôn
Kẻ Lạn để thành lập thôn Ná Cà
Sau khi sáp nhập, xã Thanh Quân còn 9 thôn: Thôn Thống Nhất, Thanh Tân, Thanh Tiến, Kẻ Lạn, Chiềng Cà , Ná Cà 1, Ná Cà 2, Thanh Nhân, Lâu Quán [37; tr 2]
1.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội và truyền thốnglịch sử - văn hóa
1.3.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội
*Kinh tế
Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ đạo ở Thanh Quân Cây trồng chủ yếu
là lúa nước, ngô, khoai, sắn Ngoài ra còn có các loại cây công nghiệp, lâm nghiệp giá trị kinh tế như: keo, mía, lát, xoan… Hoạt động chăn nuôi gần đây khá phát triển Vật nuôi chủ yếu là gà ri, lợn cỏ, vịt bầu, trâu, bò, dê Bên cạnh hình thức nhỏ lẻ, đã xuất hiện hệ thống trang trại, gia trại Hiện nay, toàn
xã có 1 trang trại trâu (tổng số 22 con) và trang trại bò với tổng đàn trên 60 con Một số hộ đã áp dụng khoa học kỹ thuật bước đầu được áp dụng vào sản xuất trong các mô hình nuôi dế mèn, tắc kè,
Bên cạnh nông nghiệp, các nghề truyền thống (thêu, dệt thổ cẩm, mây tre đan) được hình thành và duy trì ở tất cả các thôn bản trong toàn xã Tuy nhiên, nghề chưa được định hướng phát triển thành làng nghề mà chủ yếu là nhân dân tự làm theo truyền thống lâu nay, phục vụ đời sống, sinh hoạt hàng ngày Số lượng lao động công nghiệp (công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng) 63 người, chiếm tỷ 2,5% Thời gian tới, Đảng và chính quyền địa phương đang có những chính sách phát triển mặt hàng thổ cẩm và trở thành khu du lịch quảng bá rộng rãi
Trang 24Ngoài nông nghiệp và lâm nghiệp là thế mạnh, Thanh Quân còn có tiềm năng lớn về phát triển du lịch Đền Chín gian được dựng tại thôn Làng Trung
là một điểm đến tâm linh cho vùng miền Tây của Thanh Hóa, Nghệ An và có thể mở rộng ảnh hưởng hơn nữa Địa phương có nhiều hệ thống thác nước là điểm đến trong những ngày hè Nhiều loại vật nuôi đặc sản như vịt bầu, lợn cỏ thu hút thực khách đến thăm quan và thưởng thức Đặc biệt từ Thanh Quân có thể kết nối với các vùng khác của Như Xuân, danh lam thắng cảnh,
di tích lịch sử danh tiếng: Di tích lịch sử - văn hóa Đình Thi (xã Yên Lễ); di tích danh lam thắng cảnh Thác Đồng Quan (Hóa Quỳ); di tích lịch sử danh lam thắng cảnh Thác Cổng Trời (xã Xuân Quỳ); di tích danh lam thắng cảnh Bến En của hai huyện Như Thanh và Như Xuân…
Đời sống kinh tế Thanh Quân đã và đang từng bước phát triển, các dịch
vụ thương mại như buôn bán lẻ hàng hóa cũng ngày càng đa dạng, đáp ứng cơ bản những nhu cầu thiết yếu của nhân dân trong xã Số lượng lao động dịch
vụ là 123 người, chiếm tỷ lệ 4,8%
*Xã hội
Do đặc điểm về kinh tế và tộc người, ở Thanh Quân, lao động nông
nghiệp là chủ yếu Năm 2016, lao động nông nghiệp (bao gồm: nông nghiệp,
lâm nghiệp, thủy sản) 2.360 người; chiếm tỷ lệ 92,7% dân số Lao động công nghiệp (công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng) 63 người; chiếm tỷ lệ 2,5 Lao động dịch vụ 123 người; chiếm tỷ lệ 4,8% Thành phần dân tộc đa dạng nhưng đồng bào các dân tộc chung sống h a đồng, đoàn kết giúp đỡ, tương thân tương ái
Được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp, đời sống mọi mặt của nhân dân Thanh Quân trong những năm gần đây đã thực sự thay da đổi thịt
Hệ thống cơ sở hạ tầng được cải tạo, nâng cấp Toàn xã đã được phủ điện lưới quốc gia, 100% các hộ, thôn bản đều được sử dụng Xã đã được đầu
Trang 25tư xây dựng 4 công trình nước sạch tập trung tại các thôn bản: Thanh Hương,
Ná Cà 1, Chiềng Cà 1, Chiềng Cà 2 Tỷ lệ người dân được hưởng lợi hệ thống nước sạch là 36% Mạng lưới viễn thông đã được bao phủ trên địa bàn xã Có
2 trạm thu phát được xây lắp của hai nhà mạng là Vinaphone và Viettel Hệ thống truyền thanh không dây cũng đã được lắp đặt trên địa bàn toàn xã Hoạt động giáo dục có chuyển biến quan trọng Cơ sở vật chất giáo dục được đầu tư xây dựng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu dạy và học Hệ thống giáo dục phổ thông trên địa bàn xã từngbước được kiện toàn, chất lượng giáo dục nâng lên rõ rệt, Hiện nay trên địa bàn xã có 01 trường Mầm non, 01 trường Tiểu học, và 01 trường THCS & THPT Hàng năm tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học đạt 100%, tỷ lệ học sinh hoàn thành THCS đạt 100% Trong 2 năm 2015 - 2016 trường Tiểu học và THCS xã đã có học sinh thi đạt danh hiệu học sinh cấp huyện, tỉnh Năm 2015 xã đã hoàn thành phổ cập THCS
Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe được quan tâm đúng mức Trạm y tế
xã xây dựng khang trang, đảm bảo cho công tác khám chữa bệnh ban đầu trong nhân dân Hiện xã đã đạt Trạm chuẩn Bộ tiêu chí quốc gia về y tế giai đoạn 2011 - 2020 Trong các nhà trường, đều có nhân viên y tế chăm sóc sức khỏe cho học sinh Trạm y tế cấp phát thuốc bảo hiểm, đồng thời có phòng bán thuốc ngoài danh mục bảo hiểm y tế để phục vụ nhu cầu của nhân dân Trên địa bàn xã còn có 1 quầy thuốc tư nhân Tại 12 thôn bản đều có y tá thôn
và cô đỡ [37; tr 10-11]
1.3.2 Truyền thống lịch sử - văn hóa
Thanh Quân – Như Xuân là vùng đất có truyền thống lịch sử lâu đời Cho đến nay, trên địa bàn Như Xuân nói chung và Thanh Quân nói riêng chưa xác định được làng, bản nào con người đã từng tồn tại Tuy nhiên, từ những bằng chứng, dấu vết về người nguyên thủy thời đồ đá, về người Việt cổ thời
kỳ Đông Sơn tại nhiều vùng lân cận hoặc đồng dạng về địa lý cho thấy, rất có
Trang 26thể từ thời xa xưa con người đã có mặt trên vùng đất này Một số phát hiện khảo cổ học ở các địa phương xác nhận khả năng người Việt cổ cư trú trên vùng đất Như Xuân là có thể xảy ra [25; tr 316-317]
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, đồng bào các dân tộc Thanh Quân luôn đoàn kết, hưởng ứng cuộc đấu tranh chung chống ngoại xâm, bảo vệ độc lập chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam thống nhất
Thời Triệu, Thanh Quân - Như Xuân thuộc huyện Cư Phong, quận Cửu Chân Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 43) có sự tham gia tích cực của vợ chồng Đào Kỳ và người dân Cư Phong ngay từ buổi đầu bùng nổ
Giữa thế kỷ II, núi Nưa - dãy núi cuối cùng về phía đông của mạch núi từ Tây Hiều (Nghệ An) qua Như Xuân đổ về Triệu Sơn - là căn cứ chống giặc Ngô của nghĩa quân Bà Triệu Từ đây, cuộc khởi nghĩa đã phát triển rộng khắp đát Cửu Chân, lan rộng ra Giao Chỉ làm cho kẻ địch nhiều phen khốn đốn
Vào thế kỷ XV, nhân dân Thanh Quân tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do anh hùng dân tộc Lê Lợi lãnh đạo Miền núi Thường Xuân, Như Xuân hiểm trở là khu vực liên tỉnh Thanh Hóa - Nghệ An Qua đây là con đường ngắn nhất được chứng kiến cuộc tiến công chiến lược vào phía tây nam của nghĩa quân Lam Sơn năm 1424 Vừa là hậu phương tại chỗ trực tiếp che giấu nghĩa quân trong những năm chiến đấu gay go ác liệt, một mặt góp phần trực tiếp cùng nghĩa quân tiến công đánh đuổi giặc Minh
Trong phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đồng bào dân tộc Thái, Mường, Thổ ở Thanh Quân đã tham gia nghĩa quân của nhà yêu nước Cầm Bá Thước Khu vực Tổng Quân Nhân, Như Lăng là địa bàn hoạt động quan trọng của nghĩa quân Được sự ủng hộ hết lòng của nhân dân, nghĩa quân đã vượt qua thời kỳ khó khăn, ác liệt, luôn đứng vững trong suốt
10 năm (1885 - 1896); chiến đấu rất dũng cảm, sáng tạo nhiều cách đánh làm cho quân đội viễn chinh Pháp hao binh tổn tướng
Trang 27Trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân xã Thanh Quân đã có nhiều đóng góp sức người, sức của Trong hai cuộc kháng chiến có 225 người tham gia bộ đội, 42 người tham gia thanh niên xung phong; 41 liệt sĩ, 3 bà mẹ Việt Nam anh hùng [37; tr 7]
Sau kháng chiến chống Mỹ, nhiều người con của Thanh Quân tiếp tục lên đường làm nghĩa vụ bảo vệ biên cương của Tổ quốc Trong đó có một số con em đã tham gia làm nhiệm vụ quốc tế tại Lào và Campuchia
Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương đất nước, xã Thanh Quân đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Nhân dân Thanh Quân anh dũng trong chiến đấu, cần cù sáng tạo trong lao động sản xuất, góp sức xây quê hương, với nghề nông là chính Công việc nặng nhọc, vất vả quanh năm Trước đây sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, manh mún, lạc hậu, hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên Bằng sức lao động cần cù, bền bỉ và sáng tạo, người dân Thanh Quân đã đoàn kết đấu tranh, vật lộn với thiên nhiên, biến đất hoang thành các thửa ruộng màu mỡ, phì nhiêu, tạo điều kiện cho nghề nông phát triển Đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao
Ngoài truyền thống yêu nước, cần cù lao động, đồng bào nơi đây còn sáng tạo được những giá trị văn hóa truyền thống đậm đà bản sắc dân tộc
Đó là Đền Chín Gian - di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh năm 2015, đền thờ ông tổ của người Thái (Tạo Ló Ỳ), Ngọc Hoàng (Phò Phạ), Công chúa (Nàng Sỉ Đả) và 9 Mường Tại đây diễn ra các hoạt động văn hóa, nghệ thuật của địa phương, trong đó tiêu biểu là Lễ hội dâng trâu tế trời Bên cạnh đócòn
có lễ hội Cát xa, lễ hội Xăng khan được tổ chức vào các dịp lễ tết, nhằm cầu cho mưa thuận gió h a, nhân dân làm ăn phát đạt, cuộc sống bình an
Đó là những tri thức dân gian quý báu được trao truyền cho con cháu như kiến thức về làm ruộng, nghề thủ công, thuốc chữa bệnh
Trang 28Đó là những phong tục tập quán đặc sắc như tục cầm vía, tục lệ trong sinh đẻ, tục cưới hỏi, tang ma,… Hiện nay, một số phong tục vẫn c n được duy trì và phát huy theo hướng phù hợp với xu thế phát triển của địa phương
và đất nước
Đó là các hình thức sinh hoạt văn hóa truyền thống tiêu biểu như diễn xướng, khua luống, ném còn, nhảy sạp, đánh cồng chiêng, hát đối đáp vẫn còn tồn tại và được biểu diễn tại các lễ hội, ngày tết, các ngày đại lễ của đất nước, dân tộc hoặc gia đình,
Đó là kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú của các dân tộc (Thái, Thổ, Mường, Kinh, ) với truyện thơ, truyền thuyết, truyện kể dân gian, truyện cổ tích, ca dao, dân ca, đồng dao, tục ngữ, câu đố, phương ngôn…
Đó là văn hóa ẩm thực tinh túy với món ăn thức uống đặc trưng của người Thái; cơm lam, món măng chua nấu thịt gà, canh bồi, canh bon với phèo hoặc da trâu, canh đắng, canh ngọn dây mây với trứng kiến, canh rêu, rượu cần
Tiểu kết chương 1
Thanh Quân nằm ở phía Tây huyện Như Xuân, trong vùng chuyển cư của người Thái từ Tây Bắc xuống Lịch sử hình thành lâu đời của vùng đất Thanh Quân gắn liền quá trình thiên di và vai trò mở đất, lập mường của người Thái; cùng sự góp sức của người Kinh, người Mường, người Thổ Thanh Quân nằm ở cuối cùng huyện Như Xuân, địa hình nhiều đồi núi, sông suối ngang dọc, việc giao thông đi lại không mấy thuận tiện; khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, bão lũ thường xuyên Bù lại, vùng đất bãi ven sông, suối
và hệ đất feralit núi thấp, đất mùn núi cao khá thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, nhất việc trồng lúa, trồng cây công nghiệp, lâm nghiệp Bên cạnh đó, cách trở về địa lý không ảnh hưởng nhiều đến đời sống văn hóa và tinh thần của đồng bào Thái trắng nơi đây Ngược lại, điều này còn được xem là yếu tố
Trang 29góp phần bảo lưu những giá trị văn hóa người Thái Thanh Quân nói riêng và người Thái vùng đất Như Xuân nói chung
Nông nghiệp, lâm nghiệp là thế mạnh, du lịch là tiềm năng của Thanh Quân Phát huy thế mạnh và tiềm năng vốn có, tình hình kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục Thanh Quân đã và đang từng bước cải thiện, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao
Trong quá trình phát triển, người dân Thanh Quân đã không ngừng vun đắp truyền thống cần cù lao động, anh dũng chống ngoại xâm; đồng thời sáng tạo những giá trị văn hóa vật chất, tinh thần đặc sắc Đó là nguồn lực mạnh
m để đồng bào các dân tộc Thanh Quân, mà trung tâm là người Thái, tiếp bước trên con đường đổi mới, hiện đại hóa quê hương, đất nước và xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc
Trang 30CHƯƠNG 2: DI SẢN VĂN HÓA VẬT THỂ 2.1 Đền Chín gian
2.1.1 Vị trí,quá trình hình thành
*Vị trí
Đền Chín gian tọa lạc trên đồi Pú Pòm, thôn Thống Nhất, xã Thanh Quân, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa Phía Đông giáp khu dân cư Thống Nhất, phía Tây giáp Suối Tốn; phía Nam giáp khu Ná Hiếng, phía Bắc giáp khu dân cư Làng Trung
*Nguồn gốc
Sự ra đời của Đền Chín Gian gắn liền với sự tích về Ló Ỳ dựng mường Tương truyền, Tạo mường Luông Phả Bàng sinh ra được hai người con trai, người anh là Ló Ỳ, người em là Ló Ai, cả hai đều khôi ngô tuấn tú và có sức khỏe hơn người Ló Ỳ vừa thông minh vừa đức độ, được Tạo cha chọn để sau cầm quyền chính Ló Ai cũng thông minh không kém anh, song lại hay đố kỵ, thấy cha có ý định nhường ngôi cho anh, Ló Ai vô cùng căm tức, tìm cách giết chết Ló Ỳ và vứt xác xuống dòng sông Mã Xác Ló Ỳ cứ theo d ng nước xuôi xuống hạ nguồn kẹt lại ở một khúc sông hẹp Một đàn quạ bay qua trông thấy cho Ló Ỳ liền mớm cho thuốc tiên khiến Tạo tỉnh lại Bởi thế, người Thái có câu “Cá đắm chuống ký tôn, cá đ n chuống già” (Quạ đen rủ để mổ ruột, quạ trắng rủ cứu chữa) Ló Ỳ sống lại tìm tới một nơi gần đó xin ăn Vùng này lâu nay không có người cai quản, dân luôn loạn lạc, phải nặn hình người bằng đất sét để làm Tạo, nay thấy Ló Ỳ khỏe mạnh, thông minh, dòng dõi cao quý nên tôn chàng lên làm Tạo Mường Từ đó cuộc sống của bản mường ngày một no đủ Nhớ ơn con quạ đã cứu sống Tạo mường, dân đặt tên mường của mình là mường Ca Da (tức mường Quạ Cứu), nay thuộc xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa
Trang 31Tạo Ló Ỳ ở được ít năm, vì thương cha mẹ già, Ló Ỳ trao quyền lại cho người khác và từ biệt bản mường trở về quê cũ Những vì không biết đường,
Ló Ỳ lạc sang đất khác, nơi này cũng đã có dân Thái sống nhưng chưa thành Mường, thành bản vì chưa có Tạo Dân ở đây lại mời Ló Ỳ làm Tạo, chàng đã
ở lại giúp dân xây bản dựng mường Sau một thời gian, mảnh đất do Ló Ỳ cai quản trở nên chật hẹp, dân cư ngày càng đông đúc Tạo Ló Ỳ đã đưa dân đi khai phá, lập thêm nhiều mường mới Từ đó, mường đầu tiên được Ló Ỳ trực tiếp cai quản được gọi là Mường Tôn (Mường Gốc) Tám mường về sau được lập thêm là mường Quáng, mường Chừn, mường Pắn, mường Puộc, mường
Ha Quèn, mường Miếng, mường Chón và mường Chỏng
`Nhờ tài đức của Ló Ỳ mà cuộc sống của bản mường ngày một khấm khá, tuy thế hằng năm trời đất vẫn gây ra mưa lũ làm dân mường khốn đốn Dân liền xin Tạo cho dựng một ngôi đền ở Mường Tôn để lấy chỗ cúng trâu cho trời, xin cho mưa thuận gió h a, mùa màng tươi tốt Đền này được người Thái gọi là Xến Tớ Quái (tức Đền Hiến Trâu), nhưng vì ngôi đền có chín gian nên c n được gọi là Tến Cau Hoong (tức Đền Chín Gian)
Một năm nọ, sau khi làm lễ hiến trâu, dân bản ăn uống và vui chơi như thường lệ Bỗng từ đâu một con quạ bay đến, quắp một khúc xương trâu rồi thả xuống đồi Pú Pỏm (nay thuộc xã Thanh Quân, huyện Như Xuân) Cho rằng quạ lĩnh ý của Then chỉ cho người Thái chỗ làm đền, người Thái nơi đây lại dựng một Tến Cau Hoong trên đỉnh Pú Pỏm bên con suối Tốn Hằng năm, nhân dân tiến hành lễ tế trâu để nhớ ơn công lao của tạo Ló Ỳ đã lập nên chín Mường Khi tiến hành lễ, trước tiên người ta phải đem trâu xuống tắm nơi bến nước Bến ấy nay còn có tên Tà Phạ (bến tắm trâu của trời) c n đoạn suối chảy qua dưới chân Pú Pỏm thì được gọi là Tà Tạo (tức bến Tạo) [25; tr 642-643]
* Quá trình hình thành
Đền Chín Gian hình thành vào thời điểm cụ thể nào, cho đến nay chưa có tài liệu xác thực Dựa vào truyền thuyết có thể thấy, đền có lịch sử lâu đời Dù
Trang 32trải bao thăng trầm thời gian, Đền Chín Gian với lễ hội dâng trâu tế trời vẫn trung tâm văn hóa - tín ngưỡng của người Thái ở vùng Tây Thanh - Nghệ
Từ khi ra đời đến nay, Đền Chín Gian đã trải qua nhiều lần trùng tu Cuối thế kỷ XIX, đền được họ Cầm đặc biệt là ông Cầm Bá Tiến (bố đẻ của Cầm Bá Thước) bang biện quân vụ 2 châu Thường Xuân, Lang Chánh đã nhiều lần huy động các Mường hàng năm sửa chữa đền và dâng trâu tế trời
Từ sau năm 1944, trong bối cảnh sục sôi cách mạng, việc lễ tế không còn được tổ chức, cho đến hết năm 2018 Vì vậy ngôi đền cũng không được quan tâm và dần xuống cấp Thể theo nguyện vọng của nhân dân các dân tộc trong huyện và đồng bào trong vùng, ngày 30 tháng 1 năm 2015 chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành quyết định số 345/QĐ-UBND công nhận đền Chín Gian là Di tích lịch sử văn hóa Từ tháng 4 năm 2016, đền được khởi công tôn tạo và hoàn thành vào tháng 9 năm 2017 Lễ hội đền Chín Gian cũng được khôi phục và tổ chức lại vào đầu năm 2019, sau 75 năm gián đoạn
2.1.2 Cấu trúc
Đền Chín Gian cổ có cấu trúc kiểu nhà sàn chín gian, cột và sàn gỗ, lợp tranh, tre nứa Một gian để trâu, một gian để các thầy mo làm lễ, các gian còn lại là nơi mọi người tụ tập, giao lưu trong dịp lễ hội
Dấu tích vật chất còn lại của ngôi đền cũ là mặt nền trên đồi Pú Pỏm, một số cột gỗ lim đã bị mối mọt, bàn đá trắng để tế trâu với chất liệu đá trắng Thạch Anh và bến Tà Phạ của con suối Tốn dưới chân đồi Pú Pỏm
Quần thể kiến trúc đền Chín Gian hiện nay có diện tích 57000 m2, gồm 5 hạng mục chính: Đền Chín Gian; Nhà thờ Phật; Đền Bà Chúa Thượng Ngàn; Miếu thờ Thần Thổ Địa; Nhà văn hóa cộng đồng Đi từ ngoài vào, các hạng mục được bố trí tuần tự:
*Cổng đền
Cổng đền là 4 cột trụ bê tông, bố trí đăng đối hai bên lối vào đền Hai cột lớn có chiều cao 3,50m, hai cột nhỏ cao 3,40m
Trang 33* Lối vào đền
Lối vào đền là một con đường nhỏ dẫn từ chân dốc Con đường này có chiều rộng 6m, dài khoảng 200m, được đổ bê tông, hai bên trồng nhiều hoa và cây xanh
* Sân đền
Đi hết đoạn đường dốc hơn 200m là đến sân đền, diện tích 2500m2
, được lát đá trắng nguyên khối (kích thước 40x40cm) Đây là nơi tổ chức lễ hội và các hoạt động vui chơi, nghệ thuật dân gian Khu vực sân tế ngay phía trước đền đặt 4 rồng đá và 9 trâu đá (6 trâu đen và 3 trâu trắng) cùng 9 vạc nước lớn bằng bê tông, sơn vàng
*Nhà văn hóa cộng đồng
Nhà văn hóa cộng đồng có diện tích trên 70 m2
, chiều dài 9,5m, chiều rộng 6,3m, được thiết kế theo kiểu nhà sàn 4 gian, 2 tầng Nét đặc sắc của công trình nằm ở chất liệu hoàn toàn toàn bằng gỗ, kết hợp hài hòa với mái lợp ngói đỏ, nền lát gạch đỏ Hệ thống cột gồm 16 cây (đường vanh trung bình 90cm, cây lớn nhất 110cm) làm tăng thêm vẻ bề thế cho công trình Tầng một đặt 2 con trâu (1 trâu mẹ và 1 trâu con) thể hiện cho mùa màng tươi tốt, cuộc sống sinh sôi Tầng 2 để đồ cúng tế (như cờ, chiêng, trống, bát đũa, các sản phẩm đan lát, khung dệt…) phục vụ sinh hoạt cộng đồng
* Nhà Thờ Phật
Nhà thờ Phật diện tích 85m2, dài 10,10m, rộng hơn 7m20, xây theo kiểu nhà ngói 3 gian Trong công trình làm bằng chất lệu gạch, bê tông này, điểm nhấn chính là hàng cột 16 cây hoàn toàn bằng gỗ, bao gồm cả cột hiên và cột cái; mỗi cây cột có chiều dài từ 3,08m đến 4,04m, đường vanh trung bình 95cm, có cây lên đến 110cm Ba ban thờ gồm: Tam Bảo Phật ở gian giữa, Đức Thánh Hiền bên trái, Đức Chúa Ông bên phải
* Nhà Thờ Mẫu
Nhà thờ Mẫu có diện tích gần 60 m2, chiều dài khoảng 9,15m, rộng hơn
Trang 346m, thiết kế 3 gian Điểm nhấn của công trình cũng là hàng cột 16 cây, bằng
gỗ, cao trung bình từ 2,4 đến 3,40m, đường vanh trung bình 75cm, có cây lên tới 90cm Gian giữa đặt ban thờ Tứ phủ Thánh Mẫu.Bên trái đặt ban thờ Bà Chúa Bản Đền, bên phải đặt ban thờ Đức Trần Triều Hai câu đối treo trang trọng hai bên ban thờ Tứ phủ Thánh Mẫu:
“Đức Đại Càn Khôn Thiên Hạ Mẫu”
“Anh Linh Thần Nữ Thế Gian Tiên”
Phía ngoài là khoảng sân hình chữ nhật, rộng 8m, lát đá, nối liền tam 8 bậc thềm
*Miếu thờ Thần Thổ Địa
Miếu thờ Thổ địa rộng khoảng 2,4 m2, xây gạch – xi măng đơn giản, nền lát gạch đỏ, mái lợp ngói đỏ, đỉnh mái đặt hình tượng đôi rồng chầu biểu tượng âm dương
* Đền chính
Đền Chín Gian hiện tại có diện tích gần 800m2
, chiều dài trên 30m, chiều rộng trên 10m, được dựng từ chất liệu bê tông là chủ yếu
Nhìn tổng thể, đền vẫn mang dáng dấp ngôi nhà sàn 4 mái, nhưng cấu trúc 2 tầng; hệ thống lối đi, ban công và cầu thang rộng rãi Mái ngói cong đầu đao, đỉnh mái đặt hình tượng “lưỡng long chầu nguyệt” Có thể thấy, đó
là thiết kế pha trộn giữa kiến trúc nhà sàn Thái, nhà truyền thống và đình chùa của người Kinh, vừa mang nét cổ kính, thâm trầm, vừa có nét khỏe khoắn, hiện đại
Nâng đỡ và tạo khung cho ngôi đền là 60 cây cột bê tông phun sơn giả
gỗ, đường vanh trung bình 130cm; cột lớn nhất lên đến 150cm Sàn lát gạch hoa giả gỗ, kích thước 70x70cm Toàn bộ hệ thống cửa được làm từ gỗ thịt Tầng một đặt ban thờ Công đồng và ban thờ các anh hùng liệt sỹ của 12
xã, thị trấn bao gồm: Xuân Qùy, Hóa Qùy, Yên Cát, Cát Vân, Cát Tân, Bình
Trang 35Lương, Yên Lễ, Bãi Trành, Xuân Hòa, Thượng Ninh, Tân Bình
Trên hàng cột cái phía trước ban thờ được gắn những câu đối lớn bằng
gỗ thếp vàng Từ trái qua phải có nội dung như sau:
“Phúc Ầm Nhi Tôn Bách Thế Vinh”
“Đức Thừa Tiên Tổ Thiên Niên Thịnh”
“Công Cao Hộ Quốc Vạn Niên Trường”
“Thủy Lưu Vạn Phái Tố Tòng Nguyên”
“Mộc Xuất Thiên Chi Do Hữu Bản”
“Đức Đại Yên Dân Thiên Cổ Thịnh”
“Tổ Đức Vĩnh Thùy Thiên Tài Thịnh”
“Gia Phong Hàm Lạc Tứ Thời Xuân”
Tầng 2 là nơi thờ Then Phạ (Trời), Nàng Sỷ Đả (con gái trời), Tạo Ló Ỳ (ông tổ người Thái), 9 Bản Mường Thái cổ Trong đó, gian giữa đặt Bàn Thờ Chóng Sớ Mướng Cháng, đằng sau là bàn thờ Chóng Sớ Sớ Pò Pha, bên trái
là bàn thờ Nàng Sỷ Đả, bàn thờ Chóng Sớ Mướng Lự Tiếp đó lần lượt là bàn thờ Chóng Sớ Chiếng Bán, Chóng Sớ Mướng Phu, Chóng Sớ Mướng Luộc Trên hàng cột cái phía trước các ban thờ cũng được gắn những câu đối lớn bằng gỗ thếp vàng Các câu đối lần lượt từ trái qua phải là:
“Nghĩa Nhân Tích Tụ Thiên Niên Thịnh”
“Phúc Đức Tài Bồi Vạn Đại Hanh”
“Mộc Bản Thủy Nguyên Thiên Cổ Niên”
“Thiên Kinh Địa Nghĩa Bách Niên Tâm”
“Vạn Cổ Công Thanh Danh Hiển Đạt”
“Thiên Thu Đức Thịnh Tinh Phồn Vinh”
“Nhớ Nguồn Trăm Họ Tỏa Hương Thơm”
“Ơn Cội Nghĩa Cành Dâng Lộc Biếc”
Trang 36Các cột gian trong đền treo các câu đối tiếng Việt xen kẻ câu đối tiếng Thái Từ trái qua phải lần lượt:
“Hiếu Nghĩa Nhiều Đời Cháu Con Hưởng Phúc”
“Day Ki Bo Lứm Thu”
“Day Dú Bo Lứm Cổng”
“Khói Hương Muôn Thưở Làng Nước Ghi Công”
2.2 Nhà sàn của người Thái
2.2.1 Vài nét về nhà sàn Thái, nhà sàn Thái ở Thanh Quân
Dân tộc Thái ở Việt Nam nói chung có truyền thống ở nhà sàn Nhìn tổng quát, nhà sàn của người Thái ở khắp các vùng đều giống nhau về những nét cơ bản Song do hoàn cảnh địa lý khác nhau và do sự tiếp thu ảnh hưởng qua lại lẫn nhau về kiến trúc nhà ở giữa các dân tộc anh em sống xen k , nên nhà sàn của người Thái ở từng vùng cũng có sự khác nhau ở một số chi tiết kiến trúc Từ các vùng Tây Bắc vào đến miền Tây Thanh Hóa, Nghệ An, nhà sàn của người Thái trở thành một nét văn hóa tiêu biểu, góp phần làm nên đặc trưng không gian văn hóa Thái
Người Thái ở Thanh Quân từ xưa đến nay vẫn ở nhà sàn Ngôi nhà sàn của họ cũng có một quá trình phát triển và biến đổi theo thời gian Tùy theo tiêu chí, có thể phân làm nhiều loại nhà sàn khác nhau; nhà sàn truyền thống, nhà sàn cải tiến, nhà sàn cột chôn, nhà sàn kê tảng…
Nhà sàn truyền thống của người Thái Thanh Quân có 4 dạng:
Dạng đầu tiên, cổ xưa nhất là nhà sàn cột tròn, có cựa để đặt đà dầm dọc,
xà dọc vắt trên đầu cột, xà ngang vắt trên đầu xà dọc Ngôi nhà được làm từ các bộ phận rời nhau, khi dựng nhà việc đầu tiên là chôn cột và các cột được chôn lần lượt, mái nhà lợp bằng tranh, được làm rời, sau đó úp lên bộ hàng khung cột đã chôn dựng sẵn rồi buộc chặt vào mái Loại này người Thái gọi là
“hươn sâu phẳng xơ ka lưa”
Trang 37Dạng thứ hai, bắt đầu đánh dấu sự tiến bộ của kỹ thuật dựng nhà là nhà sàn cột tròn chôn, có lỗ đục, đà dầm dọc luồn cột, xà dọc trên vắt đầu cột, xà ngang vắt trên xà dọc Ngôi nhà cũng được làm từ bộ phận rời nhau, nhưng đã được lắp nối với nhau các cột chôn bằng gỗ tốt, chịu được ẩm, chống được mối Người Thái gọi là “hươn sâu phẳng khư pát”
Cùng với thời gian, ngôi nhà cổ truyền của người Thái cũng có sự biến đổi với dạng thứ ba là nhà sàn cột tròn kê tảng, đục mộc đà dầm dọc luồn cột,
xà dọc trên vắt qua đầu cột, xà ngang vắt trên xà dọc Dạng này đã xuất hiện những yếu tố kỹ thuật để chuẩn bị cho sự ra đời kiểu nhà có vì kèo Dạng nhà này người Thái gọi là “hươn kê khư pát”
Dạng thứ tư là nhà sàn cột tròn hoặc vuông kê đá tảng, đá dầm dọc luồn cột, dầm ngang có một cái luồn cột, xà ngang tầng trên thắt vào đầu cột, tạo thành từng vì khi dựng Người Thái gọi là “hươn kê khư hặt” Đây là kiểu nhà sàn có vì kèo với ưu điểm là vững chãi hơn kiểu nhà xà dọc vắt qua đầu cột Hiện nay, kiểu nhà này đang phổ biến nhất, còn kiểu nhà sàn cổ xưa gần như vắng bóng Dạng thứ ba có thưa vắng xuất hiện, hoặc là với những nhà cất tạm hoặc là với những gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn Đại đa số ngôi nhà sàn của người Thái hiện nay có kết cấu mái của ngôi nhà truyền thống của người Kinh vùng đồng bằng được đặt trên bộ khung cột của ngôi nhà sàn người Thái, với một số điều chỉnh không đáng kể
Như vậy, có thể nhìn vào kết cấu mái để nhóm ngôi nhà của người Thái làm 2 dạng: dạng truyền thống hệ thống kèo không gắn với đầu cột, khiến mái trở thành một bộ phận tách rời được đặt lên khung nhà; dạng cải tiến có hệ thống vì kèo gắn với cột, khiến mái kết dính với khung cột nhà, tạo thành một tổng thể vững chắc Dù ngày nay với việc rất nhiều gia đình người Thái chuyển sang ở dạng nhà trệt, hoặc xây nhà theo lối hiện đại, thì nhà sàn theo lối cải tiến cũng đáng được xem là nhà truyền thống của người Thái ở nơi đây
Trang 38Nhà sàn của người Thái ở Thanh Quân hiện nay có hai loại chính:
-Nhà cổ truyền:
Ngôi nhà cổ truyền của người Thái Thanh Quân là nhà sàn, cột chôn hay
kê tảng, có 4 mái (2 mái chính và 2 mái phụ ngắn hẹp ở hai đầu hồi), hoàn toàn được làm bằng các nguyên liệu tự nhiên (gỗ và tranh tre nứa lá), được những người thợ thủ công dựng hoàn toàn bằng các công cụ thô sơ (rìu, đao) nhưng chắc chắn và bền đẹp
Loại nhà này thường có 3 đến 4 hàng cột dọc theo nhà, ban đầu chưa có hai hàng cột hiên, các cột ngang chia ngôi nhà thành 3 đến 5 gian Hai hàng cột ngoài cao lên tận mái, 1 hoặc 2 hàng cột giữa chỉ cao đến đáy sàn, dùng để
đỡ hệ thống khung dầm sàn Gầm sàn thường không cao, chỉ khoảng vưa 5 đến 7, nhiều là 9 bậc cầu thang, là có thể đi từ mặt nền lên tới sàn nhà
Sàn được đỡ bằng các dầm dọc và dầm ngang, dầm dọc ở dưới, dầm ngang ở trên Ban đầu dầm dọc được đặt trên cột bằng hệ thống các chốt được cắm vào cột, về sau khi công cụ và kỹ thuật tốt hơn, dầm dọc được luồn qua các mộng được đục xuyên cột nhà; dầm ngang vẫn vắt trên dầm dọc Trên hệ thống dầm ngang dọc này là các xà gồ để đỡ sàn, mặt sàn thường được làm bằng cây luồng đập dập đã qua xử lý mối một bằng cách ngâm hoặc úp xuống đất ẩm Đinh cột được khoét ngoàm để đặt quá giang, nối từ cột trước sang cột sau nhà; thanh xà đỡ dọc mái được đặt trên quá giang Khi chưa đặt mái, khung nhà lúc này được cố định như một khối hộp,
ở phía dưới sàn gắn với nhau bằng hệ thống dầm ngang dọc, ở phía trên là các quá giang, xà dọc đỡ mái
Khung mái được dựng bằng các thanh kèo Ở mái chính dài, mỗi một đôi cột có một đôi kèo, dù kèo không bắt vào đầu cột, mà chỉ gác lên thanh xà đỡ mái bằng các cựa, được cắm chắc vào kèo như các chốt cắm vào cột để đỡ sàn Mỗi mái phụ thường có từ 3 đến 5 kèo, phía dưới gác lên quá giang bằng các cựa, phía trên buộc vào một thanh xà nối hai vì kèo của hàng cột thứ 2
Trang 39tính từ hai đầu hồi, ở vị trí gần đỉnh mái Thượng lương gồm hai thanh đ n, thanh phía trên và thanh phía dưới điểm chốt của các đôi kèo Mái nhà được kết nối bằng hệ thống các đ n tay, rui, mè, thường làm bằng tre luồng; riêng cây đ n tay ở vị trí cuối cùng của mái được đục thủng để xuyên các cây rui qua, cố định mái Sau khi làm xong bộ khung, mái lợp bằng kè, cọ hoặc bằng
cỏ gianh
-Nhà cải tiến:
Ngôi nhà cải tiến của người Thái là nhà sàn, thường là kê tảng, vẫn giữ kết cấu 4 mái (2 mái chính dài và 2 mái phụ ngắn hẹp ở hai đầu hồi), nguyên liệu vẫn lấy trong tự nhiên (gỗ và tranh tre nứa lá), nhưng đã được dựng bởi những người thợ thủ công có tay nghề cao thường có gốc gác miền xuôi với
bộ công cụ đã phát triển hơn rất nhiều (rìu, dao, cưa, đục), như kết quả của sự lai ghép duyên dáng giữa ngôi nhà miền núi và miền xuôi
Loại nhà này thường có 4 đến 5 hàng cột dọc theo nhà và thường có thêm hai hàng cột hiên, các cột ngang thường chia nhà từ 3 đến 5 gian, nhà to
có thể lên tới 7 gian Hai hàng cột ngoài là cột phụ, cao đến quá giang; hai hàng cột trong là cột chính, cao vượt con cung, hàng cột giữa cao đến đáy sàn, dùng để đỡ hệ thống khung dầm sàn, nới rộng sân nhà Trong trường hợp nhà được xây cất nhỏ hơn, người ta có thể bỏ đi 2 cột chính, thay vào đó là hai con trụ ngồi lên trên quá giang để cố định vì kèo Gầm sàn không thay đổi, vẫn chỉ cao khoảng 5 đến 7, nhiều là đến 9 bậc cầu thang
Sàn nhà vẫn được đỡ bằng các dầm dọc và dầm ngang, dầm dọc ở dưới, dầm ngang ở trên Nhưng không c n hệ thống các chốt Dầm dọc và dầm ngang đều được xuyên qua các cột bằng các lỗ mộng Xà gồ vẫn được dùng
để đỡ sàn Mặt sàn ngoài việc được làm bằng cây luồng đập dập đã qua xử lý mối mọt bằng cách ngâm hoặc úp xuống nền đất ẩm, c n được làm bằng ván
gỗ Đinh cột không khoét ngoàm mà đục mộng thắt để đặt quá giang, xà dọc mái và vì kèo Mặt mái vẫn làm như trước, bằng việc kết nối hệ thống đ n
Trang 40tay, rui, mè, lợp lá cò kẹ hoặc cỏ tranh, một số gia đình có điều kiện có thể lợp ngói Cả nhà và mái được kết nối thành một khối liền, chắc chắn
2.2.2 Nguyên liệu và cách dựng nhà
*Nguyên liệu
Trong ngôi nhà sàn bản Thái, gỗ được coi là nguyên liệu quan trọng nhất Gỗ được sử dụng trong hầu hết cấu kiện quan trọng của ngôi nhà như cột, kèo, xà, quá giang Bởi vậy, việc chuẩn bị gỗ thường mất vài ba năm
Gỗ cột được ưu tiên tìm chọn trước Nhà sàn Thái truyền thống thường sử dụng cột chôn, nguy cơ bị mối mọt cao Vì thế, việc chọn gỗ rất kỹ lưỡng, nhiều kinh nghiệm dân gian được áp dụng Gỗ làm cột là loại gỗ tốt hoặc gỗ cứng (như đinh, lim, sến, chò, lái ), thường được chặt cào mùa đông; xử lý chống mối mọt bằng cách ngâm bùn Sau khi có đủ số gỗ cột cần thiết, mới tiếp tục chọn gỗ cho các hạng mục khác Tre, luồng, nứa không chặt vào mùa măng, chỉ chặt vào đầu tháng và vào dịp trời lạnh; cũng phải qua khâu ngâm nước bùn một năm…[25; tr 561-563]
Khi có đủ số lượng gỗ cần thiết, người dân s tiến hành dựng nhà
*Cách dựng nhà
- Nhà cột chôn (hươn khứ, sáu phắng)
Loại nhà này được làm gấp để có nơi sinh hoạt và chuẩn bị vật liệu cho làm nhà kê, thường lấy loại gỗ tốt, cứng nhưng không to lắm, cột được đ o ngàm hình bán nguyệt trên ngọn nhằm để đặt cây xà dọc (có pé) Sau khi đã đầy đủ nguyên vật liệu, lấy chuẩn kích thước số gian nhà, đo chiều cao giữa mặt đất và sàn nhà và lấy thăng bằng sàn nhà, sau đó lấy chuẩn và đục hốc cho dầm (có pính) xuyên qua cột, đo khoảng cách cột của từng gian Người Thái dựng nhà chọn ngày tháng tốt và đặc biệt là chọn giờ tốt để dựng cây cột đầu tiên, thứ hai phía sau nhà thuộc gian chủ nhà (cột sáu táu), sau đó mới dựng các cột tiếp theo Khi cột đã chôn, mọi người lấy dầm xuyên qua các