Được sự giới thiệu của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp giả
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ VĂN KIỆT
Tên đề tài:
GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG THEO HƯỚNG TIẾP CẬN
ĐA CHIỀU TẠI XÃ QUANG HIẾN, HUYỆN LANG CHÁNH,
TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Ngành : Khuyến Nông Khoa : KT & PTNT
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LÊ VĂN KIỆT
Tên đề tài:
GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG THEO HƯỚNG TIẾP CẬN
ĐA CHIỀU TẠI XÃ QUANG HIẾN, HUYỆN LANG CHÁNH,
TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp được xem là khâu quan trọng giúp sinh viên củng
cố kiến thức tiếp thu được trên giảng đường và hoàn thiện chương trình đào tạo Đại học Đây cũng là cơ hội để sinh viên tiếp cận với thực tế nghề nghiệp, kết hợp với các kiến thức đã học trong nhà trường để hoàn thiện kỹ năng trong công việc, tích lũy kinh nghiệm làm hành trang phục vụ cho công việc hiện tại và sau này khi ra trường
Được sự giới thiệu của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Giải pháp giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận đa chiều tại xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa" Có được kết quả này em xin chân thành cảm ơn cô giáo đã
hướng dẫn em Th.S Trần Thị Ngọc đã tận tình giúp đỡ em trong suốt thời
gian thực tập và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp
Em cũng xin chân thành cảm ơn các bác, các cô, các chú, các anh chị công tác tại UBND xã Quang Hiến cùng các hộ nông dân xã Quang Hiến đã tạo điều kiện thuận lợi cho em hoàn thành công việc trong thời gian thực tập tại địa phương
Trong quá trình thực hiện khoá luận tốt nghiệp em đã cố gắng nghiên cứu nhưng do kinh nghiệm và kiến thức còn hạn chế nên không tránh khỏi những sai sót và khiếm khuyết Em rất mong được sự tham gia đóng góp ý kiến từ phía các thầy giáo, cô giáo và các bạn sinh viên để khoá luận của em được hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện
Lê Văn Kiệt
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Quy định chuẩn nghèo đói (theo tiêu chí quốc gia) 7
Bảng 2.2 Xác định nghèo đa chiều ở Việt Nam 12
Bảng 2.3: Các tiêu chí sử dụng đo lường trong MPI 15
Bảng 4.1: Thực trạng sử dụng đất của xã Quang Hiến năm 2017 32
Bảng 4.2: Tình hình thu nhập bình quân của xã Quang Hiến qua các năm 2015 - 2017 38
Bảng 4.3 Tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo phân bố trên toàn xã năm 2017 40
Bảng 4.4 Kết quả giảm nghèo của xã Quang Hiến trong 3 năm 42
Bảng 4.5: Mức độ thiếu hụt tiếp cận về giáo dục 43
Bảng 4.6: Mức độ thiếu hụt tiếp cận về y tế 44
Bảng 4.7: Mức độ thiếu hụt tiếp cận về nhà ở 46
Bảng 4.8: Mức độ thiếu hụt tiếp cận về điều kiện sống 47
Bảng 4.9: Mức độ thiếu hụt tiếp cận về thông tin 49
Bảng 4.10: Tổng hợp mức độ thiếu hụt các chỉ số đo lường tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản 50
Bảng 4.11: Tổng hợp ngưỡng thiếu hụt đa chiều của các hộ điều tra 52
Bảng 4.12: Tỷ lệ hộ nghèo qua cách tiếp cận đa chiều tại xã Quang Hiến năm 2017 54
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 3
1.4 Bố cục của đề tài 4
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Khái niệm nghèo 5
2.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói 6
2.1.3 Khái niệm nghèo đa chiều 10
2.1.4 Chuẩn nghèo đa chiều 11
2.1.5 Các quan niệm về giảm nghèo bền vững 18
2.1.6 Các khía cạnh của đói nghèo 20
2.2 Cơ sở thực tiễn 23
2.2.1 Đặc điểm nghèo đói ở nước ta 23
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 26
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 26
Trang 73.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.3 Câu hỏi nghiên cứu 26
3.4 Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu 27
3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 27
3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu 29
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 30
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 30
4.1.2 Điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội của xã Quang Hiến 33
4.1.3 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã Quang Hiến - huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa 39
4.2 Thực trạng nghèo của xã Quang Hiến 40
4.2.1 Tình hình nghèo đói của xã Quang Hiến 40
4.2.2 Tình hình nghèo đa chiều của các hộ điều tra 43
4.2.3 Đánh giá thực trạng nghèo theo cách tiếp cận đa chiều 52
4.2.4 Nguyên nhân nghèo đa chiều và những lỗ hổng khi đánh giá nghèo đa chiều 55
4.2.5 Phân tích SWOT đối với quá trình giảm nghèo bền vững 61
4.2.6 Giải pháp giảm nghèo bền vững tại xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa 63
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69
5.1 Kết luận 69
5.2 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71 PHỤ LỤC
Trang 8PHẦN 1
MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Nghèo là một trong những vấn đề gay gắt và mang tính toàn cầu, còn trầm trọng hơn khi nó vẫn còn tồn tại trên phạm vi vô cùng rộng lớn Nghèo
là nỗi bất hạnh của nhiều người, là nghịch lý trên con đường phát triển chung của xã hội Trong một thời gian khá dài chúng ta thường nói về nghèo như là một bộ phận dân chúng, những người có mức thu nhâp ̣ trung bình thấp hơn (quy đổi) 1USD/ngày/người vào những năm 90 của thế kỷ 20 và hiện giờ là nhỏ hơn 2USD/ngày/người theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới Như vậy,
rõ ràng chúng ta chỉ nhìn vào các con số để đánh giá nghèo mà đã vô tình quên đi các nguyên nhân gây ra nghèo, trong đó quan trọng nhất là “sự bất bình đẳng” và “chênh lệch quyền lực” giữa các cá nhân và giữa các nhóm người trong xã hội Nếu nghĩ nghèo dưới góc độ kinh tế, tài chính thì phải chăng để xoá nghèo, chúng ta chỉ việc tập trung nâng cao vốn kinh tế, tài chính làm cho người nghèo tăng trưởng về thu nhập? Dựa trên quan điểm này, khái niệm “nghèo đa chiều” đã ra đời trong đó xác định rõ nghèo không hẳn chỉ là đói ăn, thiếu uống hoặc thiếu các điều kiện sống, sinh hoaṭ khác mà nghèo đói còn được gây ra bởi các rào cản về xã hội và các tác nhân khác ngăn chặn những cá nhân hoặc cộng đồng tiếp cận đến sức khỏe, giáo dục và mức sống
Xã Quang Hiến là một xã nghèo thuộc huyện Lang Chánh là một huyện nghèo trong 64 huyện nghèo được hỗ trợ áp dụng các cơ chế, chính sách theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ Trong những năm gần đây xã Quang Hiến đã áp dụng nhiều các giải pháp giảm nghèo nhằm phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội và đạt được những thành tựu nhất định Tỷ lệ người dân được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản, cơ sở hạ tầng được cải thiện rõ
Trang 9rệt, đời sống người nghèo được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo giảm đáng kể Kết quả giảm nghèo tuy đạt được những mục tiêu đề ra nhưng chưa thực sự bền vững Tỷ lệ hộ cận nghèo, hộ nghèo phát sinh còn lớn, tư tưởng trông chờ, ỷ lại không muốn thoát nghèo còn diễn ra phổ biến ở một bộ phận người dân, chênh lệch người nghèo giữa các vùng và giữa các đối tượng còn lớn, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát với mức chuẩn nghèo, nguy cơ tái nghèo cao
Do vậy, cần có một chương trình thoát nghèo một cách nghiêm túc và khoa học Chúng ta không nên nhìn nghèo chỉ với một khía cạnh đó là theo thu nhập, không xem nghèo là một hiện tượng đơn lẻ mà là hiện tượng đa khía cạnh, phức tạp, chồng chéo bao gồm nhiều yếu tố khác nhau Phương pháp đo lường nghèo đổi từ đơn chiều (theo thu nhập) sang đa chiều để tăng
độ bao phủ chính sách tới các đối tượng Vấn đề cấp thiết cần được đề ra là nghiên cứu, phân tích, đánh giá nghèo một cách đúng đắn, từ đó đưa ra các phương pháp để phát huy các thế mạnh và hạn chế các thế yếu, nhằm đưa xã Quang Hiến thoát nghèo bền vững có hiệu quả Vì vậy, để hệ thống hóa cũng như đánh giá được thực trạng nghèo theo hướng đa chiều là rất cần thiết
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi thực hiện đề tài: “Giải pháp giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận đa chiều tại xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa" Làm đề tài nghiên cứu nhằm góp phần
giải quyết các vấn đề còn tồn tại để đưa xã Quang Hiến thoát nghèo bền
Trang 101.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Nghiên cứu đề tài là cơ sở cho sinh viên vận dụng sáng tạo những kiến thức đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để sinh viên thấy được những kiến thức cơ bản cần bổ sung để phù hợp với công việc thực tế sau này
- Nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao tính tự giác, chủ động học tập, nghiên cứu của sinh viên Nâng cao tinh thần tìm tòi, học hỏi, sáng tạo và khả năng vận dụng kiến thức vào tổng hợp, phân tích, đánh giá tình hình và định hướng những ý tưởng trong điều kiện thực tế
- Đây là khoảng thời gian để mỗi sinh viên có cơ hội được thực tế vận dụng kiến thức đã học vào lĩnh vực nghiên cứu khoa học và làm nền cho việc xuất phát những ý tưởng nghiên cứu khoa học sau này
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu đề tài sẽ góp một phần vào bản báo cáo giải pháp giảm nghèo bền vững theo hướng tiếp cận đa chiều tại xã Quang Hiến Ngoài ra, từ những phát hiện trong quá trình nghiên cứu có thể cho xã một cái
Trang 11Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Trang 12PHẦN 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm nghèo
Việt nam thừa nhận quan điểm về đói nghèo của Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Kok -Thái Lan vào tháng 9/1993 Khái niệm đói nghèo được thể hiện như sau:
“Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà các nhu cầu này đã được
xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng vùng, từng địa phương và phong tục ấy được xã hội thừa nhận”(Vũ Thị Bình và cs, 2006) [1]
Nói một cách cụ thể hơn, nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống ở mức tối thiểu, không thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người Nhu cầu cơ bản ở đây chính là cái thiết yếu, cái tối thiểu để duy trì sự tồn tại của con người Nhu cầu ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lại, giao tiếp, v.v…
“Đói là một bộ phận của những người nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu như: cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, thu nhập không duy trì cuộc sống” (Vũ Thị Bình và cs, 2006) [1]
“Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống Trên thực tế một bộ phận lớn dân cư nghèo tuyệt đối rơi vào tình trạng đói và thiếu ăn”
Trang 13Về thời gian: Phần lớn người nghèo có mức sống dưới mức được xác định
như một chuẩn nghèo thấp nhất có thể chấp nhận trong một thời gian dài (cũng cần phải bổ sung vào số người này những người nghèo tình thế do thất nghiệp,
do thiên tai, rủi do hay do con người gây ra) (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]
Về không gian: Nghèo diễn ra chủ yếu ở nông thôn, miền núi, vùng sâu,
vùng xa, v.v… Dù nền kinh tế có phát triển thế nào chăng nữa, thì dân cư ở các vùng kể trên vẫn rễ bị rơi vào nghèo (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]
Về giới: Phần lớn người nghèo ở các nước đều là phụ nữ Mặc dù trong
gia đình, nam giới là chủ nhưng phụ nữ vẫn phải gánh chịu nhiều hơn gánh nặng của nghèo (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]
Về môi trường: Hầu hết những người nghèo đều phải sống trong môi
trường khắc nghiệt và xuống cấp nghiêm trọng, bởi vì những người nghèo không đủ khả năng và điều kiện giữ gìn, đảm bảo và cải thiện môi trường sống (Nguyễn Vũ Phúc, 2012) [3]
Tóm lại: Những quan niệm về nghèo đói do các cánh tiếp cận khác
nhau nên có những ý kiến khác nhau, nghèo là một khái niệm tương đối và có tính biến đổi Các chỉ số xác định giới hạn nghèo không phải là cứng nhắc và bất biến Nó biến đổi tuỳ theo sự chênh lệch, sự khác biệt giữa các vùng miền quốc gia
2.1.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói
2.1.2.1 Xác định tiêu trí chuẩn nghèo của Việt Nam
- Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói theo tiêu chuẩn quốc gia
Bộ lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan thường trực của chương trình XĐGN đã tiến hành rà soát chuẩn nghèo qua các thời kì Lúc đầu, nghèo được xác định dựa trên các chỉ tiêu nhu cầu, sau đó chuyển sang chỉ tiêu thu nhập, kết quả là đã 5 lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau(bảng 2.1)
Trang 14Bảng 2.1 Quy định chuẩn nghèo đói (theo tiêu chí quốc gia)
Chuẩn nghèo đói
Mức thu nhập bình quân/người/tháng
Nghèo (KV nông thôn) Dưới 400.000 đồng
Cận nghèo ( KV nông thôn) Từ 401.000 - 520.000
Cận nghèo ( KV nông thôn) Từ 700.000 -
1.000.000 đồng
(Nguồn: Bộ LĐ - TB và XH, chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN và
Quyết định số 59/2015/QĐ - TTg)
Phương án chuẩn nghèo này đã được đánh giá phù hợp với mức sống
và thu nhập của dân cư nói chung, cũng như thu nhập của 20% nhóm nghèo nhất, đảm bảo được khả năng huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu dự kiến
và đáp ứng được yêu cầu từng bước tiếp cận và hội nhập quốc tế
* Tiêu chí xác định chuẩn xã nghèo:
Năm 2002, Bộ thương binh và xã hội có quyết định số: BLĐTBXH quy định xã nghèo là xã có đầy đủ tiêu chí sau:
Trang 15- Có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên
- Chưa có đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu, cụ thể như sau: + Dưới 30% số hộ được sử dụng nước sạch
+ Dưới 50% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt
+ Chưa có đường ô tô trung tâm xã, ô tô không đi lại được cả năm +Số phòng học mới đáp ứng được 70% nhu cầu của học sinh hoặc phòng tạm bằng tranh, tre, lứa, lá
+ Chưa có trạm y tế, hoặc có nhưng là nhà tạm
+ Chưa có chợ hoặc chợ tạm
2.1.2.2 Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới
Để đánh giá nghèo đói Liên hợp quốc (UNDP) dùng cách tính dựa trên
cơ sở phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình trong thời gian nhất định Nó không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập hay môi trường sống của dân cư mà chia đều cho mọi thành phần dân cư Phương pháp tính là: Đem chia dân số của 1 nước, một châu lục hoặc toàn cầu ra làm 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số bao gồm: rất giàu, giàu, trung bình, nghèo, rất nghèo Theo cách tính này vào những năm 1990 thì 20% dân số giàu nhất chiếm 82,7% thu nhập toàn thế giới, trong khi 20% người nghèo nhất chỉ chiếm 1,4% thu nhập toàn thế giới
Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức
độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD
Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại:
+ Trên 25.000USD/người/năm là nước giàu
+ Từ 20.000 đến dưới 25.000USD/người/năm là nước khá giàu
Trang 16+ Từ 10.000 đến dưới 20.000USD/người/năm là nước trung bình
+ Từ 2.500 đến dưới 10.000USD/người/năm là nước nghèo
+ Dưới 500USD/người/năm là nước cực nghèo
Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau:
+ Đối với các nước nghèo: Cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0.5 USD/ngày
+ Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày
+ Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày
+ Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày
+ Các nước công nghiệp phát triển là 14,4 USD/ngày
Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn riêng của mình thông thường
nó thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng đưa ra
VD: Mỹ đưa ra chuẩn nghèo là mức thu nhập dưới 16.000 Kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia đình 4 người) trong một năm tương đương với 11,1 USD/ngày/người
Theo quan điểm chung của nhiều nước, hộ nghèo là hộ có thu nhập dưới 1/3 mức trung bình của xã hội Do đặc điểm của nền KT - XH và sức mua của đồng tiền khác nhau, chuẩn nghèo theo thu nhập (tính theo USD) cũng khác nhau ở từng quốc gia Ở một số nước có thu nhập cao, chuẩn nghèo được khác định là 14USD/người/ngày Trong khi đó chuẩn nghèo của Malaixia là 28USD/người/tháng, Srilanca là 17USD/người/tháng v.v… Ở Việt Nam GDP bình quân khoảng 600USD/người/năm, nên so diện chung của thế giới nước ta là nước nghèo khó Do đó, không thể lấy mức nghèo của WB
để khác định nghèo của Việt Nam (Nguyễn Vũ Phúc,2012) [3]
Trang 172.1.3 Khái niệm nghèo đa chiều
Theo Tổ chức Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu
để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội Nghèo có nghĩa là không có
đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được khám chữa bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ, dễ bị bạo hành, phải sống trong các điều kiện rủi ro,
không tiếp cận được nước sạch và công trình vệ sinh” (Tuyên bố Liên hợp
quốc, 6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua)
Vấn đề nghèo đa chiều có thể đo bằng tiêu chí thu nhập và các tiêu chí phi thu nhập Sự thiếu hụt cơ hội, đi kèm với tình trạng suy dinh dưỡng, thất học, bệnh tật, bất hạnh và tuyệt vọng là những nội dung được quan tâm trong khái niệm nghèo đa chiều Thiếu đi sự tham gia và tiếng nói về kinh tế, xã hội hay chính trị sẽ đẩy các cá nhân đến tình trạng bị loại trừ, không được thụ hưởng các lợi ích phát triển kinh tế - xã hội và do vậy bị tước đi các quyền con người cơ bản (UN, 2012)
Các khái niệm trên cho thấy sự thống nhất cao của các quốc gia, các nhà chính trị và các học giả với quan điểm nghèo là một hiện tượng đa chiều, cần được chú ý nhìn nhận là sự thiếu hụt hoặc không được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người
Vì vậy, nghèo đa chiều là tình trạng con người không được đáp ứng ở mức tối thiểu các nhu cầu cơ bản trong cuộc sống
Khái niệm nghèo đa chiều được đề cập ở Việt Nam từ năm 2013 Đo lường nghèo đa chiều cần được áp dụng để dựng nên một bức tranh đầy đủ và toàn diện hơn về thực trạng nghèo ở nước ta Hiện nay Bộ LĐ -TB&XH đang
đề xuất xây dựng bộ tiêu chí nghèo đa chiều, đồng thời rà soát cơ chế, chính sách nhằm thực hiện giảm nghèo theo hướng đa chiều ở Việt Nam
Trang 182.1.4 Chuẩn nghèo đa chiều
Hiện nay, có 32 quốc gia trên thế giới đã nghiên cứu chuyển đổi và áp dụng phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đơn chiều dựa vào thu nhập sang
đo lường nghèo đa chiều nhằm mục đích xác định đối tượng nghèo, đánh giá
và xây dựng các chính sách giảm nghèo và phát triển xã hội (Bộ LĐTB&XH, 2015) Đa số các quốc gia này là các nước đang phát triển với tốc độ giảm nghèo nhanh song chưa bền vững
Chuẩn nghèo trong 5 năm tới (giai đoạn 2015 - 2020) bao gồm người có thu nhập 700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở thành thị Bên cạnh đó, chuẩn nghèo đa chiều còn được sử dụng để khắc phục những điểm yếu của phương pháp nghèo thu nhập đã bộc lộ những bất cập trong bối cảnh hiện nay
Ở Việt Nam, trên cơ sở 5 chiều cạnh nghèo là giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống, tiếp cận thông tin, Bộ LĐTB&XH đã xây dựng và đề xuất 10 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt trong nghèo đa chiều tương ứng là: giáo dục người lớn, giáo dục trẻ em, khám chữa bệnh, bảo hiểm y tế, nhà ở, nước sạch,
hố xí, dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin Các chỉ số đo lường này được trình bày trong Bảng 2.3 dưới đây:
Trang 19Hiến pháp 2013
NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách
xã hội giai đoạn 2020.Nghi quyết số 41/2000/QH(bổ sung bởi Nghị định số
Hiến pháp 2013
Luật Giáo dục 2005 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
là bị bệnh/chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ
và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc /học không tham gia được các hoạt động bình thường)
Hiến pháp 2013 Luật Khám chữa bệnh
2011
Trang 20tế
Hiến pháp 2013 Luật bảo hiểm y tế 2014
NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
cố, nhà thiếu kiên cố, nhà
đơn sơ)
Luật Nhà ở 2014
NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
nhỏ hơn 8m2
Luật Nhà ở 2014
Quyết định 2127/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020
Trang 21NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
Luật Viễn thông 2009
NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn
Luật Thông tin Truyền thông 2015
NQ 15/NQ-TW Một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020
(Nguồn: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2015)
Theo tiêu chí mới, một gia đình được coi là hộ nghèo nghiêm trọng nếu
hộ đó thiếu từ 1/2 tổng số nhu cầu cơ bản trở lên; thiếu từ 1/3 - 1/2 tổng số nhu cầu sống cơ bản; thiếu từ 1/5 - 1/3 tổng số nhu cầu cơ bản
Chuẩn nghèo đa chiều có thể là một chỉ số không liên quan đến mức thu nhập mà bao gồm các khía cạnh khác liên quan đến sự thiếu hụt các dịch
vụ xã hội cơ bản (Oxfam và ActionAid,2010: 11)
Chỉ số nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Index) của quốc tế, với ba chiều cạnh chính là: y tế, giáo dục và điều kiện sống, hiện là một thước
Trang 22về Điều kiện sống với 10 chỉ số về phúc lợi; Chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3 tổng số thiếu hụt Đã có một số quốc gia áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều để đo lường và giám sát nghèo ở cấp quốc gia dựa trên khung phân tích của Alkire và Foster
Bảng 2.3: Các tiêu chí sử dụng đo lường trong MPI
3.5 Nhiên liệu nấu ăn 3.6 Sở hữu tài sản
(Nguồn: Báo cáo phát triển con người, UNDP, 2010)
Trang 23đo lường nghèo có tính kỹ thuật
Phương pháp này đã được áp dụng trong phân tích nghèo đói ở nhiều quốc gia; Phương pháp này bắt đầu bằng việc xác định số lượng chiều trong phân tích nghèo đa chiều; Các chiều cơ bản có thể bao gồm y tế, giáo dục, mức sống, vv… Mỗi chiều nghèo này sẽ được đo lường dựa trên các chỉ số thành phần (kí hiệu Ik) Bước tiếp theo là xác định mức thiếu hụt của từng chỉ
số thành phần Khi đã có mức thiếu hụt của từng chỉ số thành phần, Với mỗi
hộ gia đình i, chúng ta sẽ ước lượng điểm thiếu hụt (deprivation score) theo
số thành phần k của hộ i, và K là tổng số chỉ số thành phần Các chỉ số thành
phần Iki được xác định là các chỉ số nhị phân, với giá trị bằng 1 tương ứng với thiếu hụt về thành phần đấy và bằng 0 tương ứng không thiếu hụt Giá trị
Trang 24quyền số của chỉ số thành phần phụ thuộc vào số lượng chiều và số lượng chỉ
số thành phần trong từng chiều Giá trị quyền số bằng 1,C i=
∑
Điểm thiếu hụt c biến động từ 0 đến 1, với giá trị càng cao thể hiện
mức độ thiếu hụt càng lớn của hộ Hộ không bị thiếu hụt ở bất cứ chiều nào sẽ
có giá trị điểm thiết hụt bằng 0, còn hộ bị thiếu hụt ở tất cả các chiều thì có điểm thiếu hụt bằng 1 Để xác định tỷ lệ nghèo đa chiều theo phương pháp của Alkire và Foster (2007, 2011), chúng ta cần phải xác định ngưỡng nghèo
đa chiều (the poverty cut-off), ký hiệu là L Một hộ gia đình sẽ được xác định
là nghèo nếu như có điểm thiếu hụt lớn hơn chuẩn nghèo, tức là c i ≥ L Chẳng
hạn Alkire và Foster (2007, 2011) sử dụng ngưỡng nghèo là 1/3, tức là nếu hộ nghèo có điểm thiếu hụt lớn hơn 1/3 thì sẽ coi là hộ nghèo
Sau khi tính được số hộ nghèo đa chiều, chúng ta ước lượng tỷ lệ hộ nghèo đa chiều (còn gọi là chỉ số đếm đầu, ký hiệu là H):
H =
n
q
(2) Trong đó q là số lượng hộ nghèo đa chiều và n là tổng số hộ gia đình
Chúng ta có thể tính tỷ lệ người nghèo bằng cách lấy tổng số người nghèo đa chiều chia cho tổng dân số
Tỷ lệ nghèo đa chiều không phản ánh được mức độ hay độ sâu thiếu hụt của các hộ nghèo Vì hộ thiếu hụt tất cả các chiều cũng như hộ chỉ thiếu
hụt 1/L chiều cũng đều được coi là hộ nghèo Tỷ lệ nghèo đa chiều giản đơn
không cho thấy được số chiều thiếu hụt của các hộ nghèo Chính vì vậy Alkire và Foster (2007, 2011) đề xuất ước tính mức độ tập trung của Nghèo
đa chiều A:
A =
q
L c n
i i
∑
= 1
) (
(3)
Trang 25Trong đó: c i (L) là điểm thiếu hút chỉ tính cho hộ nghèo (censoreddeprivationscore), được tính như sau:
c i (L) = c i nếu hộ là hộ nghèo đa chiều, c i ≥ L
c i (L) = 0 nếu hộ là hộ không nghèo đa chiều, c i < L
Cuối cùng chúng ta tính chỉ số Nghèo đa chiều (còn gọi là chỉ số đếm đầu điều chỉnh), bằng tích của Tỷ lệ nghèo đa chiều H và Mức độ tập trung của nghèo đa chiều A
MPI = H × A (4) Chỉ số MPI này càng cao phản ánh mức độ nghèo đa chiều càng lớn Chỉ số MPI khác với chỉ số đếm đầu H, vì nó không chỉ phản ánh tỷ lệ nghèo
đa chiều mà còn phản ánh mức độ thiếu hụt của người nghèo đa chiều
Nói cách khác, theo Alkire và Foster (2007, 2011), thì chỉ số MPI phản ánh tỷ lệ dân số nghèo đa chiều được điều chỉnh theo độ sâu của nghèo đa chiều [2]
2.1.5 Các quan niệm về giảm nghèo bền vững
Nghèo bền vững (sustainable poverty): Khi đã có thể xác định được
các vấn đề của nghèo khó hay của “Những người sống trong nghèo khó” thì các quốc gia, trong lỗ lực XĐGN của mình thường áp dụng các giải pháp cho các nhóm đối tượng cụ thể sau đây:
Nhóm thứ nhất: Những người có trong tay nhiều tài nguyên hơn, chấp
nhận các mạo hiểm, bóc lột tài nguyên và lờ đi các rủi do để đạt được lợi nhuận lớn trong một thời gian rất ngắn đưa các cá nhân hay cộng đồng thoát khỏi tình trạng nghèo khó - đây chính là phát triển không bền vững mà các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) đang mắc phải Nạn phá rừng bừa bãi, giúp cho người dân có lợi nhuận lớn ở mức độ hiện tại Họ không biết hoặc biết nhưng vẫn cố tình làm, tác hại của nó vô cùng lớn gây sạt nở đất, lũ lụt, hạn hán khắp nơi, ảnh hướng đến môi trường, mất mùa dẫn đến đói
Trang 26nghèo Tuy nhiên họ không chấp nhận đi theo hướng khác mà vẫn tiếp tục tìm kiếm cơ hội bằng cách thức này [8]
Nhóm thứ hai: Do một phần bị hạn chế về nguồn lực và tài nguyên nên
nhóm này thường chọn giải pháp an toàn cho mình thông qua các loại hình sinh kế ít rủi do và đầu tư cũng ít hơn Chăn nuôi quy mô nhỏ và sản xuất lúa gạo (với diện tích vừa và nhỏ) là một ví dụ điển hình của cách thức này Do không có đột biến lớn nên điều kiện sống có thể được cải thiện đôi chút nhưng vẫn luôn ngấp nghé cái ngưỡng “nghèo” nên nhóm này có thể gọi là
“nghèo bền vững” với rất ít các rủi do và vì vậy cái sự nghèo này có tính bền vững cao Để cân bằng cả hai cách tiếp cận này cho cà hai nhóm đối tượng, người ta đang đi tìm một cách tiếp cận phù hợp hơn cho các bên được gọi là
các chính sách giảm nghèo bền vững [8]
Theo nhận xét của nhiều chuyên gia và theo đánh giá trong nhiều báo cáo của phát triển Liên hợp quốc (UNDP), thì trong khoảng 20 năm mở cửa vừa qua, tuy Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào về phát triển kinh tế và XĐGN, nhưng phần lớn “hàm lượng tăng trưởng” đều có sự đóng góp rất đáng kể của các nguồn tài nguyên thiên nhiên vốn đang bị khai thác một cách ồ ạt và thiếu sự kiểm soát Đất nước chúng ta đang đi trên một con đường gập ghềnh và thiếu tính bền vững Nếu chúng ta thay đổi nhanh và
đi theo hướng dung hàm lượng trí tuệ để đầu tư cho các sản phẩm trong nước thì chỉ ít năm tới thì chúng ta sẽ nhìn thấy ngay sự đổ vỡ của nền kinh tế [8]
Đi theo hướng thứ hai nghĩa là không mạo hiểm, ít rủi ro và đầu tư thấp, chúng ta sẽ ít nhiều có khả năng đảm bảo an ninh lương thực và dần nâng lên phần nào đời sống của nhân dân theo hướng lâu dài và ổn định Tuy nhiên, nếu xét trong bối cảnh thế giới ngày nay khi mà KH - CN tiến nhanh như vũ bão thì mô hình này sẽ dần dần bị phá sản bởi một lý do rất đơn giản
Trang 27cứ hoàn cảnh nào, thoát nghèo 1 cách bền vững, khó có thể tái nghèo trở lại, các hộ thoát nghèo phải vươn lên ở mức khá, tỷ lệ hộ cận nghèo giảm, khoảng cách giàu nghèo được thu hẹp Có như vậy các lỗ lực thoát nghèo mới thực sự hữu ích và người dân sẽ không bị quay trở lại ranh giới nghèo một cách rễ ràng khi thiên tai, dịch bệnh xảy ra
2.1.6 Các khía cạnh của đói nghèo
* Về thu nhập: Đa số những người nghèo thường có cuộc sống khó
khăn cực khổ, mức thu nhập thấp, điều này do tính chất công việc đem lại Người nghèo thường làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cực nhọc nhưng thu nhập lại thấp Hơn thế nữa, công việc thường bấp bênh không ổn định, công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi ro cao, liên quan đến thời tiết (Như gió, bão, mưa nhiều, lũ lụt, hạn hán, v.v….) Các nghề về nông, lâm, ngư nghiệp là những ví dụ cho vấn đề này Do thu nhập thấp việc chi tiêu trong cuộc sống gia đình trở nên hạn chế Hầu hết, các nhu cầu cơ bản tối thiểu của con người như ăn, mặc, ở chỉ được đáp ứng với mức độ rất thấp, thập trí là không đủ Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn
đề khác như làm giảm sức khỏe, do đó làm giảm năng suất lao động, giảm thu nhập Cứ như thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo, mà người nghèo rất khó thoát ra được Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản
Trang 28Thiếu tài sản, người nghèo sẽ dần bị cô lập và khó có thể hòa nhập vào cộng đồng và khó có thể nhận được các khoản viện trợ, từ các nhóm xã hội, tổ chức khi gặp khó khăn (Nguyễn Vũ Phúc) [3]
* Về y tế - giáo dục: Người nghèo thường mắc phải các căn bệnh như
ốm đau, bệnh hiểm nghèo, tình trạng sức khỏe không tốt do ăn uống không đảm bảo và lao động cực nhọc Do điều kiện không tốt nên người nghèo thường sống trong những vùng có điều kiện vệ sinh, y tế hạn chế Dẫn đến tỷ
lệ chết của trẻ sơ sinh trong nhóm hộ nghèo, số trẻ bị suy dinh dưỡng và số bà
mẹ mang thai thiếu máu rất cao Những điều này là do hộ không có đủ khoản tiền chi cho những khoản có chi phí lớn cũng như các chi phí thuốc men khác Thêm vào đó, do đối xử bất bình đẳng trong xã hội, người nghèo không được quan tâm chữa trị nên tỉ lệ tiếp xúc với các dịch vụ y tế rất thấp Bên cạnh đó, họ thường không quan tâm tới sức khỏe của mình, khiến bệnh tật càng trở nên trầm trọng hơn
Tình trạng giáo dục đối với người nghèo cũng là vấn đề đáng quan tâm Hầu hết, những người nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn Tỷ lệ thất học ở hộ nghèo rất cao Tình trạng này cho thấy: Thứ nhất là do gia đình không thể trang trải được các khoản chi phí về học tập của con cái như tiền học phí, tiền sách vở; Thứ hai là do tâm lý của một số người nghèo vẫn còn cổ
hủ, lạc hậu không cho con cái của họ đến trường vì như vậy sẽ mất đi một lao động trong gia đình; Thứ ba là do hiện nay một số hộ nghèo đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đến trường, việc học thức ảnh hưởng tới đói nghèo, tuy nhiên, vấn đề học phí của con em họ quả là vấn đề khó khăn tình hình tài chính của gia đình (Nguyễn Vũ Phúc) [3]
Tóm lại, y tế - giáo dục là một vấn đề được nhiều người nghèo quan tâm, họ cũng đã hiểu được tầm quan trọng của các yếu tố này ảnh hưởng lớn tới bản thân cũng như gia đình của họ trong tương lai Nhưng do thu nhập qua
Trang 29dễ bị tổn thương đã tạo nên 1 tâm lý chung của người nghèo là sự đối mặt với rủi do Vì vậy, người nghèo luôn né tránh những vấn đề mang tính rủi do cao,
kể cả khi điều đó có đem lại nhiều lợi ích cho họ, nếu thành công (ví dụ: khi đầu tư vào giống lúa mới, áp dụng KH - CN vào sản xuất NN,v.v…), chính vì điều này đã làm cho người nghèo tách biệt với xã hội, bị cô lập với guồng quay của thị trường và làm cho cuộc sống của hộ càng trở nên bần cùng hơn (Nguyễn Vũ Phúc) [3]
* Không có tiếng nói và quyền lực: Người nghèo thường bị đối xử
không công bằng, bị gạt ra ngoài lề của xã hội, do vậy họ thường không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung của cộng đồng cũng như các công việc liên quan đến chính bản thân Thường có tâm lý sống phụ thuộc, nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ty không kiểm soát được cuộc sống của mình Đó chính là nguyên nhân không có tiếng nói và quyền lực đem lại Không có tiếng nói còn thể hiện ở những người phụ nữ bị đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình (Nguyễn Vũ Phúc) [3]
Trang 302.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Đặc điểm nghèo đói ở nước ta
* Giảm nghèo bấp bênh:
Bộ trưởng bộ LĐ - TB&XH thừa nhận: “Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn Đó là tốc độ giảm nghèo không đồng đều, chưa bền vững và thiếu tính tập trung cao” Trong thời gian qua, tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc; tỷ lệ
hộ nghèo cả nước dự kiến cuối năm 2015 dưới 5%, một số địa phương không còn hộ nghèo theo chuẩn giai đoạn 2011 - 2015, nhưng nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt còn trên 60 - 70%; Tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu
số chiếm gần 50% tổng số hộ nghèo trong cả nước Thu nhập bình quân của
hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên Nghèo đói tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao [8]
* Có nhiều huyện nghèo:
Hiện nay trên cả nước ta có tất cả 94 huyện nghèo, bao gồm 64 huyện nghèo đã được hỗ trợ áp dụng các cơ chế, chính sách theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ và 30 huyện nghèo được hỗ trợ áp dụng một
số cơ chế, chính sách đầu tư theo quy định tại Nghị quyết 30a Đến cuối năm
2014, tổng số hộ nghèo trên địa bàn 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a là 234.743 hộ (giảm 34.427 hộ so với năm 2013), tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 32,59% (giảm 5,63% so với năm 2013); tổng số hộ nghèo trên địa bàn 30 huyện nghèo được hỗ trợ áp dụng một số cơ chế, chính sách đầu tư theo Nghị
Trang 31số địa phương đang tiếp tục kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, bổ sung một số huyện khác trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhưng chưa được hỗ trợ theo Nghị quyết 30a vào danh sách các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a Theo tổng hợp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hiện cả nước còn khoảng 16 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao và có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội gần với các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a [4]
* Nghèo không chỉ nghèo về tiền bạc
Đánh giá công tác giảm nghèo, Bộ LĐ - TB&XH cho biết, trên thực tế Việt Nam đã thực hiện các giải pháp giảm nghèo với nhiều chính sách hỗ trợ đồng bộ như các hỗ trợ về y tế, giáo dục, nhà ở, vay vốn, v.v… Tuy nhiên, có điểm khác biệt là Việt Nam vẫn dung thu nhập làm thước đo để xác định đối tượng nghèo Từ chuẩn đó mới xem xét, tìm ra nguyên nhân nghèo là vì cái gì
và đưa ra chính sách hỗ trợ
Trang 32Lâu nay công tác giảm nghèo ở Việt Nam tiến hành theo kiểu “thiếu thứ gì thì hỗ trợ cái đó” là rất sai lầm Nó đã vô tình tạo ra tâm lý ỷ lại không muốn thoát nghèo Từ trước tới nay, nhiều địa phương áp dụng phương pháp
đo lường nghèo đơn chiều vì thế đã dẫn tới những hạn chế không làm rõ được từng đối tượng Chúng ta cứ nghĩ thay cho người nghèo Họ thiếu thứ gì thì
hỗ trợ thứ đó dẫn tới chính sách không minh bạch, tham vọng quá lớn nên hiệu quả không cao Việc chuyển đối phương hức tiếp cận sang nghèo đa chiều sẽ giúp nhà nước hoạch định đúng chính sách, trúng đối tượng để từ đó giảm nghèo hiệu quả hơn Cách chuyển đổi này có một ý nghĩa rất lớn vì trước hết, chúng ta xác định đối tượng và trên cơ sở đó xây dựng xây dựng chính sách cho từng nhóm đối tượng phù hợp
“Nghèo đa chiều” đang được xem là “chìa khóa” tháo gỡ cho thực trạng “nghèo - tái nghèo - nghèo” ở Việt Nam, việc chuyển đổi phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều để thực sự đem lại hiệu quả thì còn rất nhiều việc phải làm Nhất là khi sự bình đẳng tuyệt đối giữa giàu - nghèo là rất khó, đặc biệt việc kéo gần khoảng cách giữa người giàu và người nghèo không hề đơn giản
Chính vì vậy, cùng với việc thực hiện chính sách an ninh và xã hội và phúc lợi xã hội thì nhà nước cũng cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ khác nhau cải thiện chất lượng khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng giáo dục, nhất là giáo dục đại học và dậy nghề, chăm lo tốt cho đời sống người có công Tuy nhiên, khi chuyển sang phương pháp nghèo đa chiều, không thể phủ nhận tác động của việc đo lường nghèo bằng thu nhập Phương pháp tiếp cận đa chiều chỉ là bổ sung cùng với phương pháp đo lường nghèo theo thu nhập giúp cho việc xác định đối tượng nghèo và giám sát nghèo hiệu quả hơn [8]
Trang 33PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các hộ nghèo trên địa bàn xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu về thu nhập và nhu cầu cơ bản của các hộ dân như giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống và tiếp cận thông tin Các nguồn lực để thoát nghèo bền vững
3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: UBND xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa Thời gian: từ ngày 07/02/2018 đến ngày 10/05/2018
3.3 Câu hỏi nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa?
- Thực trạng nghèo của xã Quang Hiến như thế nào thông qua phương pháp tiếp cận đa chiều?
- Quá trình giảm nghèo bền vững ở xã Quang Hiến có những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức nào?
- Có những định hướng và giải pháp nào nhằm giảm nghèo bền vững cho xã Quang Hiến trong những năm tới?
Trang 343.4 Nội dung nghiên cứu
Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội của xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
Đánh giá được thực trạng nghèo của xã Quang Hiến thông qua phương pháp tiếp cận đa chiều
Những thuận lợi và khó khăn, cơ hội và thách thức trong quá trình giảm nghèo bền vững của xã Quang Hiến
Đề xuất được các giải pháp nhằm giảm nghèo bền vững cho xã Quang Hiến
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu trên 3 thôn là: Thôn Giáng, thôn Tỉu, thôn Trùng, tại xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa
3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
3.4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu được thu thập từ các nguồn có sẵn, đó chính là các số liệu đã qua xử lý, tổng hợp Thu thập các số liệu thứ cấp từ nguồn thông tin công bố chính thức của các cơ quan nhà nước, các số liệu và báo cáo đánh giá tổng kết của Sở NN & PTNT, Trung tâm khuyến nông tỉnh, của xã Quang Hiến và các nghiên cứu của cá nhân, tổ chức về tình hình SXNN, kinh tế nông thôn, kinh
tế hộ nông dân và các tổ chức KT - XH, tình hình nghèo đói của xã Quang Hiến trong những năm 2015-2017, mạng internet, v.v…
3.4.2.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp
Số liệu được thu thập trực tiếp từ đối tượng nghiên cứu Cụ thể, số liệu
sơ cấp được thu thập từ các hộ điều tra trên địa bàn xã Quang Hiến, huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa Để thu thập được số liệu phải tiến hành phỏng vấn trực tiếp hộ bằng bảng phiếu điều tra được lập sẵn
Trang 35Đến địa bàn nghiên cứu để quan sát thực tế, phỏng vấn chính thức các
hộ gia đình để biết được tình hình nghèo đói của xã Vai trò giảm nghèo bền vững đối với phát triển kinh tế của hộ Từ đó nắm được một cách tương đối thông tin về tình hình cơ bản như thu nhập, nhân khẩu, lao động, đất đai, chi phí sản xuất, tài sản, nguồn vốn của hộ, các nhu cầu cơ bản, những thuận lợi
và khó khăn để giúp hộ gia đình thoát nghèo bền vững
+ Dùng phương pháp điều tra hộ
Chọn mẫu điều tra: Toàn xã có 11 thôn, để phản ánh một cách trung thực, chính xác nhất thực trạng nghèo của các hộ tại xã Quang Hiến Em xin tiến hành điều tra 60 hộ trên 3 thôn, từ đó có thể suy rộng ra toàn xã, trong đó: + Chọn 1 thôn có tình hình kinh tế phát triển nhất xã (Thôn Giáng) + Chọn 1 thôn có tình hình kinh tế phát triển trung bình (Thôn Tỉu) + Chọn 1 thôn có tình hình kinh tế phát triển khó khăn, yếu kém
(Thôn Trùng)
Bảng 3.1 Bảng chỉ tiêu số lượng điều tra
Trang 36Trong đó nội dung chính của phiếu điều tra bao gồm:
Phiếu điều tra có các thông tin như: nhân khẩu, tuổi, lao động, thu nhập trình độ học vấn, v.v…
Điều tra về tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của hộ: Giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống, tiếp cận thông tin
Cơ cấu nghề nghiệp của hộ: NN và phi NN
Tính chỉ số đa chiều cho từng hộ gia đình, xác định các nguồn lực Điều tra về nguyên nhân nghèo đói của hộ
* Phương pháp điều tra:
- Sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp linh hoạt, phỏng vấn số hộ điều tra đã chọn, kiểm tra tính thực tiễn thông tin qua quan sát trực tiếp trên địa bàn nghiên cứu
- Sử dụng phương pháp kiểm tra thông tin chéo giữa các hộ để có chính xác thông tin điều tra
3.4.3 Phương pháp phân tích số liệu
3.4.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để tiến hành thu thập thông tin trong một khoảng thời gian đề tài nghiên cứu Từ các số liệu và các thông tin thu thập được tiến hành phân tích những yếu tố, nguyên nhân ảnh hưởng đến nghèo để thấy được xu hướng và đưa ra những giải pháp giảm nghèo bền vững
3.4.3.2 Phương pháp SWOT
Sử dụng phương pháp SWOT để tiến hành thu thập thông tin về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong giảm nghèo bền vững
Trang 37PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
Phía nam giáp với xã Giao An, huyện Lang Chánh
Phía tây giáp với xã Trí Nang, huyện Lang Chánh
Phía bắc giáp với xã Tân Phúc, huyện Lang Chánh
Diện tích đất tự nhiên: 2.461,05 ha; trong đó diện tích đất nông ngiệp là: 2.233,28 ha chiếm 90,75% tổng diện tích Diện tích đất nông nghiệp lớn, nên rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, đặc biệt là phát triển cây lâm nghiệp và cây trồng hàng hóa [6]
4.1.1.2 Khí hậu, thủy văn
* Theo số liệu của trạm khí tượng thuỷ văn Thanh Hóa, xã Quang Hiến thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa Thời tiết trong năm chia làm 4 mùa rõ rệt Trong đó, mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp, mùa hạ và mùa đông có khí hậu trái ngược nhau, mùa đông khô hanh và lạnh, mùa hè nóng
ẩm, đặc điểm cụ thể như sau:
Nhiệt độ
Mùa nóng: Bắt đầu từ cuối mùa xuân đến giữa mùa thu, mùa này nắng, mưa nhiều thường hay có lụt, bão, hạn hán, gặp những ngày có gió Lào nhiệt
độ lên tới 39-40 °C
Trang 38Mùa lạnh: Bắt đầu từ giữa mùa thu đến hết mùa xuân năm sau Mùa này thường hay xuất hiện gió mùa đông bắc, lại mưa ít; đầu mùa thường hanh khô, lượng mưa trung bình năm là 2.200 mm (có nơi 2.500 mm); mùa mưa kéo dài 6- 7 tháng, bắt đầu từ giữa tháng 4 và kết thúc vào cuối tháng 10, còn
từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ dưới 15%
Nhiệt độ không khí: Tổng tích ôn trung bình hàng năm khoảng 86000C, nhiệt độ trung bình từ 23,3 °C đến 23,6 °C, mùa hè nhiệt độ có ngày cao tuyệt
Độ ẩm không khí: trung bình 80-85%
Nắng: hàng năm có khoảng 1700 giờ nắng, tháng nắng nhất là tháng 7,
tháng có ít nắng là tháng 2 và tháng 3
Lan, Lào thổi vào, nên gọi là gió Lào hay gió Tây Nam, gió khô nóng gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân Gió Đông Bắc, (còn gọi là gió nồm): thổi từ biển vào đem theo khí mát mẻ về mùa hè, và khí hậu lạnh khô
4.1.1.3 Điều kiện về đất đai và tình hình sử dụng đất của xã Quang Hiến
Năm 2017, xã Quang Hiến có tổng diện tích đất tự nhiên là 2.461,05
ha Trong đó:
+ Diện tích đất nông nghiệp: 2.233.28 ha
+ Diện tích dất phi nông nghiệp: 209.64 ha
+ Diện tích đất chưa sử dụng: 18.13 ha
Trang 39Cụ thể được nghiên cứu ở bảng 4.1
Bảng 4.1: Thực trạng sử dụng đất của xã Quang Hiến năm 2017
Năm 2017 Diện tích
( ha )
Cơ cấu ( % )
2.5 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối SON 61,91 2,52
(Nguồn số liệu: UBND xã Quang Hiến)
Qua bảng 4.1:
* Đất nông nghiệp: Có tổng diện tích là 2.233,28ha, chiếm 90,75%
tổng diện tích tự nhiên Trong đó bao gồm các loại đất sau:
Trang 40* Đất phi lâm nghiệp: Có tổng diện tích là 209,64 ha, chiếm 8,52%
tổng diện tích đất tự nhiên Bao gồm các loại đất sau:
Đất ở có 77.2 ha, chiếm 3,14% diện tích đất tự nhiên
Đất chuyên dùng có 59,55 ha, chiếm 2,42% diện tích đất tự nhiên Đất cơ sở tôn giá là 2,09 ha, chiếm 0,08% diện tích đất tự nhiên
Đất nghĩa trang, nghĩa địa là 7,79 ha, chiếm 0,32% diện tích đất tự nhiên Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối là 61,91 ha, chiếm 2,52% diện tích đất tự nhiên
Đất có mặt nước chuyên dùng là 1,1 ha, chiếm 0,04% diện tích đất tự nhiên
Số nhân khẩu là: 4.825 khẩu
Số lao động trong độ tuổi là: 2.482 lao động
Nguồn lao động có cơ cấu trẻ, số người trong độ tuổi lao động cao chiếm 51,44% Đây là nguồn nhân lực dồi dào tạo thuận lợi cho các điều kiện phát triển kinh tế của xã