CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ HỌC SINH SINH VIÊN
M ỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
1.1.1 Các khái ni ệm liên quan đế n BHYT Để thống nhất cách hiểu, trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng các khái niệm BHYT được trích theo Luật BHYT, đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 14 tháng 11 năm 2008 Luật số: 25/2008/QH12 a BHYT:
BHYT là hình thức bảo hiểm chăm sóc sức khỏe không vì mục đích lợi nhuận, được tổ chức và thực hiện bởi Nhà nước, với sự tham gia của các đối tượng theo quy định của Luật.
Thẻ bảo hiểm y tế là tài liệu quan trọng dành cho người tham gia, giúp họ được hưởng các quyền lợi theo quy định của Luật bảo hiểm y tế Cơ sở khám bệnh và chữa bệnh bảo hiểm y tế đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp dịch vụ y tế cho người dân.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế là cơ sở y tế có ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức BHYT
Cơ sở khám bệnh và chữa bệnh bảo hiểm y tế bao gồm các loại hình như trạm y tế xã, nhà hộ sinh, phòng khám đa khoa và chuyên khoa, cũng như bệnh viện đa khoa và chuyên khoa.
Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đầu tiên
Điều 2, chương I của Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua vào ngày 14 tháng 11 năm 2008, theo Luật số: 25/2008/QH12.
2 Trích điều 3, chương I, Luật BHYT
Theo Điều 24, Chương V của Luật Bảo hiểm y tế, người tham gia bảo hiểm y tế sẽ được ghi thông tin trong thẻ bảo hiểm Đối với sinh viên ở trọ tại làng Đại học Quốc gia Thủ Đức, cơ sở khám chữa bệnh ban đầu là trạm y tế của trường hoặc trạm y tế tại KTX ĐHQG TP HCM.
Người tham gia bảo hiểm y tế có quyền đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu tại cơ sở y tế tuyến xã, huyện hoặc tương đương, trừ trường hợp được phép đăng ký tại cơ sở tuyến tỉnh hoặc trung ương theo quy định của Bộ Y tế Đây là yêu cầu của luật BHYT nhằm đảm bảo lộ trình toàn dân tham gia BHYT vào năm 2014 Học sinh - sinh viên có thể chọn cơ sở y tế tư nhân để đăng ký khám chữa bệnh ban đầu, nhưng sẽ phải trả khoản chênh lệch nếu có Nếu đăng ký tại hệ thống y tế công lập, họ có quyền khám chữa bệnh tại cơ sở y tế ở quận/huyện khác và có thể khám chữa bệnh vượt tuyến Khi vượt tuyến từ bệnh viện quận/huyện lên tuyến trên, người bệnh sẽ phải đóng chênh lệch 70% tổng chi phí khám chữa bệnh; nếu chuyển từ bệnh viện quận/huyện này sang bệnh viện quận/huyện khác, BHYT sẽ chi trả 70%.
Khi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế không đủ khả năng chuyên môn kỹ thuật, họ có trách nhiệm chuyển người bệnh kịp thời đến cơ sở khác theo quy định về chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật.
BHYT trước hết là một bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội, là một
1Trích điều 2, chương I, Luật BHYT
2 Trích điều 26, Chương V, LuậT BHYT
3 Xem http://www.anninhthudo.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID218&ChannelID=5
2 Trích điều 27, Chương V, LuậT BHYT chính sách xã hội, BHYT vừa mang tính chất xã hội, vừa mang bản chất kinh tế
V ề b ả n ch ấ t xã h ộ i BHYT là loại hình bảo hiểm vì mục tiêu an sinh xã hội Bản chất xã hội của BHYT được thể hiện trên các khía cạnh sau:
Sự bảo trợ của Nhà nước về chăm sóc y tế cho các thành viên tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) là một phần quan trọng trong chính sách xã hội của mỗi quốc gia, nhằm đảm bảo quyền được chăm sóc y tế của con người Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe không chỉ là trách nhiệm của cá nhân mà còn là trách nhiệm chung của cộng đồng Mặc dù mỗi cá nhân cần tự bảo vệ sức khỏe của mình, nhưng sự hỗ trợ từ Nhà nước là cần thiết Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý và bảo trợ cho hệ thống chăm sóc sức khỏe.
Sự liên kết và chia sẻ trong cộng đồng là yếu tố quan trọng của bảo hiểm y tế (BHYT) Ngoài sự hỗ trợ từ Nhà nước, BHYT thể hiện tính chất xã hội qua việc các thành viên đóng góp một phần thu nhập vào quỹ chung Quỹ này không chỉ chăm sóc sức khỏe cho bản thân mà còn cho những người khác trong xã hội Nhờ vào quỹ chung, những người khỏe mạnh có thể hỗ trợ cho những người ốm đau, từ đó tạo ra một hệ thống chăm sóc sức khỏe công bằng và hiệu quả.
Bảo hiểm y tế (BHYT) thể hiện tính xã hội và sự đoàn kết trong chăm sóc y tế, không phân biệt mức đóng góp hay thành phần xã hội Những người nghèo và có thu nhập thấp thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y tế do bệnh tật và mất thu nhập BHYT là giải pháp thiết thực giúp họ tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giảm bớt gánh nặng tài chính khi ốm đau.
Bản chất xã hội của Bảo hiểm y tế (BHYT) thể hiện sự hỗ trợ từ Nhà nước và sự tương trợ trong cộng đồng, đồng thời phản ánh tính nhân đạo và trình độ văn minh của một xã hội phát triển.
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội không vì lợi nhuận, nhằm mục tiêu trợ giúp xã hội và mang yếu tố kinh tế trong lĩnh vực y tế Việc thực hiện BHYT hiệu quả là một bài toán kinh tế y tế, với chức năng phân phối lại thu nhập Điều này thể hiện rõ trong bản chất xã hội của BHYT thông qua sự tương trợ cộng đồng Có hai hình thức phân phối chính: phân phối trực tiếp và phân phối gián tiếp Phân phối trực tiếp diễn ra khi thu nhập của người khỏe mạnh được chuyển sang người ốm, người bệnh nhẹ hỗ trợ người bệnh nặng, và người trẻ giúp đỡ người già yếu, thông qua quỹ BHYT.
Bảo hiểm y tế (BHYT) ra đời vào cuối thế kỷ XIX, là một trong những giải pháp hiệu quả nhất hỗ trợ người dân khi gặp rủi ro về sức khỏe BHYT giúp chi trả một phần chi phí khám chữa bệnh, từ đó ổn định đời sống và góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Ngày nay, bảo hiểm y tế (BHYT) ngày càng trở nên quan trọng do chi phí y tế và nhu cầu khám chữa bệnh (KCB) tăng cao Ngành y học đã đạt được nhiều thành tựu, mang lại hy vọng mới cho con người với các loại thuốc phòng và chữa bệnh cho nhiều bệnh hiểm nghèo Sự phát triển của trang thiết bị y tế hiện đại cũng giúp cải thiện khả năng chẩn đoán và điều trị Mặc dù có nhiều nghiên cứu thành công về thuốc đặc trị, nhưng không phải ai cũng có thể tiếp cận những thành tựu này, đặc biệt là những người nghèo Phần lớn người dân không đủ khả năng tài chính để KCB, và ngay cả những người khá giả cũng có thể rơi vào tình trạng khó khăn bất cứ lúc nào Do đó, BHYT khẳng định vai trò thiết yếu của mình trong đời sống con người.
L Ý THUYẾT ÁP DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Lý thuyết hành vi lựa chọn
Trong nghiên cứu này, chúng tôi áp dụng lý thuyết hành vi lựa chọn của George Homans, xuất phát từ lý thuyết lựa chọn duy lý Lý thuyết này cho rằng con người hành động có chủ đích và suy nghĩ để lựa chọn, sử dụng nguồn lực một cách hợp lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu Thuật ngữ “lựa chọn” nhấn mạnh việc cân nhắc và tính toán để quyết định phương tiện hay cách thức tối ưu trong bối cảnh khan hiếm nguồn lực.
Homans cho rằng con người sẽ chọn hành động có giá trị thấp nếu tính khả thi của nó cao Ông cũng nhấn mạnh rằng sự lựa chọn hợp lý phụ thuộc vào việc đánh giá các yếu tố điều kiện khách quan từ góc độ chủ quan của người ra quyết định, thay vì dựa vào những tính toán chính xác.
Homans chỉ ra rằng con người rất chú trọng đến việc phần thưởng nhận được có tương xứng với sự đầu tư và đóng góp của họ hay không.
Việc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) là một trong những lựa chọn quan trọng của sinh viên ở trọ hiện nay Sinh viên có quyền quyết định tham gia hoặc không tham gia BHYT, và sự lựa chọn này thường dựa trên sự cân nhắc kỹ lưỡng về lợi ích và chi phí Quyết định này không chỉ phụ thuộc vào nhu cầu cá nhân mà còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài.
1 Còn có tên gọi là thuyết lựa chọn hợp lý
2 Lịch sử và lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB Khoa học xã hội, tr.354
3 Lịch sử và Lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB khoa học xã hội, tr.366
4 Lịch sử và Lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB khoa học xã hội, tr.366
5 Lịch sử và Lý thuyết xã hội học, Lê Ngọc Hùng, NXB khoa học xã hội, tr.367 vẫn là từ phía bản thân của sinh viên
Sinh viên rất chú trọng đến việc phần thưởng từ việc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) có tương xứng với chi phí mà họ đã đầu tư và đóng góp.
Những yếu tố này đã xác định tính hợp lý trong việc quyết định tham gia hay không tham gia, cũng như việc sử dụng thẻ BHYT trong khám chữa bệnh của sinh viên đang ở trọ hiện nay.
1.2.2 Lý thuy ế t c ấ u trúc-ch ức năng
Lý thuyết chức năng-cấu trúc, được phát triển bởi các nhà xã hội học như Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim và Talcott Parson, nhấn mạnh sự liên kết chặt chẽ giữa các bộ phận trong một chỉnh thể Mỗi bộ phận đều có chức năng riêng, góp phần bảo đảm sự tồn tại và ổn định của chỉnh thể đó như một cấu trúc bền vững.
Comte là người tiên phong trong nghiên cứu tĩnh học xã hội, tập trung vào các quy luật duy trì sự ổn định và trật tự trong cấu trúc xã hội Ông chỉ ra rằng sự thiếu phối hợp giữa các bộ phận dẫn đến rối loạn và bất thường xã hội Trong khi đó, Spencer áp dụng các khái niệm sinh vật học như tiến hóa và phân hóa chức năng để giải thích hiện tượng trong cơ thể xã hội, nhấn mạnh rằng sự biến đổi chức năng của các bộ phận sẽ kéo theo sự thay đổi trong cấu trúc của các chính thể xã hội.
Phương pháp luận chức năng tập trung vào việc giải quyết các vấn đề cốt lõi của cấu trúc xã hội và những hệ quả của nó Những người theo hướng chức năng phân tích các thành phần cấu thành sự kiện và hiện tượng xã hội, đồng thời xem xét mối liên hệ giữa các thành phần này Đặc biệt, họ chú trọng đến quan hệ của chúng đối với nhu cầu chung trong việc tồn tại và phát triển của sự kiện, hiện tượng đó.
Thuyết cấu trúc – chức năng nhấn mạnh sự cân bằng, ổn định và khả năng thích nghi của các bộ phận trong xã hội Theo thuyết này, sự tồn tại và phát triển của xã hội phụ thuộc vào sự hoạt động nhịp nhàng của các thành phần, đảm bảo sự cân bằng chung Mọi thay đổi ở một thành phần sẽ dẫn đến sự thay đổi ở các thành phần khác, và sự biến đổi của cấu trúc diễn ra theo quy luật tiến hóa, thích nghi với sự thay đổi của môi trường sống.
Trong đề tài nghiên cứu của mình chúng tôi tiếp cận vấn đề theo 2 hướng:
Bảo hiểm y tế (BHYT) đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, góp phần duy trì và phát triển cộng đồng, đồng thời đảm bảo an sinh xã hội BHYT có ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc sống của mỗi cá nhân, trở thành yếu tố thiết yếu trong việc hình thành và duy trì sự ổn định của xã hội.
Bảo hiểm y tế (BHYT) trong học đường đóng vai trò quan trọng đối với sinh viên, những người có thu nhập chưa ổn định và phụ thuộc vào gia đình Nhiều sinh viên không có khả năng tự bảo vệ sức khỏe, dễ gặp rủi ro trong cuộc sống BHYT giúp sinh viên vượt qua bệnh tật và rủi ro, mang lại lợi ích bảo vệ sức khỏe và đảm bảo kinh tế Điều này không chỉ giúp sinh viên có sức khỏe tốt mà còn tạo điều kiện cho họ học tập và làm việc hiệu quả Nghiên cứu này tiếp cận lý thuyết chức năng-cấu trúc ở cấp độ vi mô để nhấn mạnh tầm quan trọng của BHYT trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe sinh viên hiện nay.
K HUNG PHÂN TÍCH
Chế tài xử lý khi SV không tham gia BHYT
Thủ tục hành chính trong KCB bằng BHYT
Thực trạng tham gia BHYT của SV ở trọ
Thực trạng sử dụng thẻ BHYT trong KCB của SV ở trọ
Sinh viên ở trọ Các yếu tố tác động đến việc tham gia BHYT
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Đ ẶC ĐIỂM MẪU NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu này tập trung vào thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên, với mẫu nghiên cứu được lấy từ sinh viên của bốn trường đại học tại làng ĐH Thủ Đức.
Tp HCM Đó là trường ĐHKHXH&NV, trường ĐHCNTT, trường KHTN, trường ĐH Kinh tế- Luật Mẫu nghiên cứu có những đặc điểm cơ bản như sau:
Theo kết quả khảo sát, tỷ lệ giới tính giữa nam và nữ không có sự chênh lệch đáng kể, với 52% nam (104 trường hợp) và 48% nữ (96 trường hợp) trong tổng số mẫu được nghiên cứu.
Bảng 2.1: Giới tính của bạn
Kết quả khảo sát cho thấy số lượng sinh viên giữa các trường trong khu vực làng đại học quốc gia Tp Hồ Chí Minh có sự phân bố khác nhau Mẫu khảo sát được thực hiện trên các sinh viên đang theo học tại các trường trong khu vực này.
Bảng 2.2: Tỉ lệ sinh viên của các trường
Sinh viên trườ ng N T ỉ l ệ % ĐHKHXH&NV 50 25% ĐHKHTN 50 25% ĐH CNTT 50 25% ĐH Kinh tế- Luật 50 25%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Theo khảo sát, mẫu nghiên cứu được phân bổ đồng đều cho tất cả các trường, với mỗi trường chiếm 25% tổng số sinh viên trong mẫu Điều này giúp làm rõ mục đích nghiên cứu và thuận tiện cho việc so sánh giữa các sinh viên của các trường Mỗi trường có những đặc điểm và nội quy riêng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích sự khác biệt giữa các trường.
Tỉ lệ sinh viên giữa các năm học không có sự chênh lệch lớn Trong mẫu nghiên cứu, sinh viên năm ba chiếm tỉ lệ cao nhất với 29.5%, tiếp theo là sinh viên năm tư với 26% Sinh viên năm nhất và năm hai có tỉ lệ tương đương nhau, lần lượt là 22% và 22.5% trong tổng số mẫu nghiên cứu.
Bảng2.3: Sinh viên các năm học
N HẬN THỨC VỀ BHYT CỦA SINH VIÊN HIỆN NAY
Kết quả từ các câu trả lời cho thấy quan điểm, thái độ và ý thức của người tham gia đối với vấn đề được khảo sát Chúng tôi đã thu thập được những kết quả cụ thể như sau:
Nghiên cứu về "hiểu biết quyền lợi khi tham gia BHYT" cho thấy 200 sinh viên có nhận thức cao nhất về quyền được thanh toán chi phí y tế theo chế độ BHYT, với 69.5% (139 sinh viên) đồng ý Tiếp theo, 63% (126 sinh viên) nhận thức được quyền cấp thẻ BHYT, và 47.5% (95 sinh viên) biết về quyền lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh Tuy nhiên, chỉ 20% (40 sinh viên) cho rằng họ có quyền KCB vượt tuyến, và 20.5% (41 sinh viên) biết về quyền yêu cầu thông tin về chế độ BHYT Đáng chú ý, chỉ 18.5% sinh viên có nhận thức đầy đủ về quyền lợi khi tham gia BHYT, cho thấy mức độ hiểu biết của sinh viên về quyền lợi này vẫn còn thấp.
Bảng:2.4 Hiểu biết về quyền lợi khi tham gia BHYT
Khi tham gia bảo hiểm y tế (BHYT), người tham gia có quyền lợi quan trọng như được cấp phiếu BHYT (63.0%), chọn nơi khám chữa bệnh (47.5%), và được BHYT thanh toán chi phí khám chữa bệnh (69.5%) Ngoài ra, họ còn có quyền được khám chữa bệnh vượt tuyến (20.0%) và yêu cầu giải thích, cung cấp thông tin về BHYT.
Theo kết quả khảo sát, trong số 200 sinh viên được nghiên cứu, chỉ có 130 sinh viên (65%) cho biết họ được thanh toán chi phí khi khám chữa bệnh (KCB) vượt tuyến Trong khi đó, 70 sinh viên (35%) vẫn cho rằng họ không được thanh toán chi phí này, cho thấy tỷ lệ sinh viên chưa được hỗ trợ tài chính khi KCB vượt tuyến vẫn còn cao.
Bảng 2.5: Khả năng được thanh toán chi phí KCB khi SV vượt tuyến
Thanh toán chi phí KCB khi SV vượt tuyến N T ỉ l ệ %
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Ba là, về tỉ lệ phần trăm mức phí KCB mà sinh viên nhận lại được khi tham gia
Trong số 130 sinh viên, có nhiều người tin rằng họ sẽ được hoàn trả chi phí KCB vượt tuyến Các mức tỷ lệ thanh toán khác nhau đã được đưa ra, và chúng tôi đã thu thập được kết quả từ khảo sát này.
Bảng 2.6: Tỉ lệ phần trăm mức phí được thanh toán lại khi KCB vượt tuyến
Các m ức đượ c thanh toán N T ỉ l ệ %
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Theo bảng trên, tỉ lệ lựa chọn cao nhất của sinh viên là “khoảng 20-30%”, với 50 sinh viên tham gia, chiếm 38,5%.
Khoảng 50% sinh viên lựa chọn mức chi trả "khoảng 50%", trong khi chỉ 26,2% chọn "khoảng 70-80%" Đây chỉ là một phép thử để đánh giá nhận thức của sinh viên về KCB vượt tuyến, vì mức chi trả phụ thuộc vào xếp hạng bệnh viện Cụ thể, sinh viên KCB tại bệnh viện loại 3, 4 hoặc chưa xếp hạng được thanh toán 70%, loại 2 là 50%, và loại 1 là 30% Chỉ có 5.4% sinh viên nhận thức đúng về mức chi trả khi chọn đáp án "còn tùy bệnh viện vượt tuyến loại nào" Số liệu cho thấy sinh viên có hiểu biết rất hạn chế về BHYT, với chỉ 18.5% chọn tất cả các ý kiến trong bảng hỏi Khả năng thanh toán và mức phí khi KCB vượt tuyến cũng cho thấy nhận thức thấp Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy hầu hết sinh viên không biết gì về BHYT, và thông tin họ nhận được chủ yếu từ cán bộ lớp hoặc thông báo của phòng y tế, trong khi quy định về quyền lợi vẫn còn mập mờ và không rõ ràng.
Nghiên cứu cho thấy, mặc dù Việt Nam có chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) tốt, nhưng chương trình BHYT vẫn thiếu sự đảm bảo thành công, đặc biệt là trong việc tuyên truyền về luật và quyền lợi cho người dân Kể từ năm 2010, việc tham gia BHYT đã trở thành bắt buộc đối với sinh viên tại các trường đại học, và sau hai năm, luật đã được áp dụng hiệu quả trong hệ thống Đại học quốc gia Tuy nhiên, mặc dù số lượng sinh viên tham gia bảo hiểm tăng lên, nhận thức của họ về BHYT vẫn còn mơ hồ Công tác tuyên truyền về luật bảo hiểm và quyền lợi của sinh viên chưa được thực hiện hiệu quả, dẫn đến việc sinh viên có hiểu biết hạn chế về BHYT, từ đó ảnh hưởng đến việc sử dụng bảo hiểm Thực tế, sự thiếu hiểu biết về luật và quyền lợi khi tham gia BHYT gây khó khăn trong quá trình sử dụng, làm cho BHYT khó tiếp cận với sinh viên và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của họ.
T HỰC TRẠNG SV THAM GIA BHYT
Nhiều trường học cho biết công tác tuyên truyền về bảo hiểm y tế (BHYT) còn hạn chế, dẫn đến sinh viên không chủ động tìm hiểu về quyền lợi của mình Mặc dù tham gia BHYT là bắt buộc từ ngày 1-1-2010, sinh viên vẫn gặp khó khăn trong việc sử dụng dịch vụ này, gây cảm giác bất tiện Mục tiêu của việc bắt buộc tham gia BHYT là bảo vệ sức khỏe cho học sinh, sinh viên và gia đình trong bối cảnh dịch bệnh ngày càng phức tạp, đồng thời nâng cao tỷ lệ bao phủ BHYT trong nhóm đối tượng này Cần xem xét thực trạng tham gia BHYT của sinh viên, đặc biệt là sinh viên ở trọ, để hiểu rõ sự khác biệt so với trước khi BHYT trở thành bắt buộc.
2.3.1 Th ự c tr ạ ng tham gia BHYT trong sinh viên ở tr ọ hi ệ n nay
Bắt đầu từ ngày 1-1-2010, bảo hiểm y tế (BHYT) tự nguyện đã chuyển thành BHYT bắt buộc, yêu cầu tất cả học sinh, sinh viên (HS-SV) tham gia Tuy nhiên, sau gần hai năm thực hiện, chỉ có 67% sinh viên biết đến thông tin này, trong khi tỷ lệ cần đạt là 100% Con số này cho thấy một bộ phận sinh viên vẫn chưa tiếp cận được thông tin về BHYT hoặc không quan tâm đến vấn đề này Họ có thể đã nghe qua nhưng không cho rằng nó liên quan đến bản thân, dẫn đến việc không chủ động tìm hiểu và không tiếp cận được thông tin cần thiết.
Theo nghiên cứu, việc tiếp cận thông tin về bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên hiện nay chủ yếu dựa vào loại hình thông tin nào Chúng tôi nhận thấy rằng sinh viên có những cách tiếp cận khác nhau để tìm hiểu về BHYT.
Bảng2.7: Nguồn tiếp cận thông tin về BHYT của SV ở trọ hiện nay
Bảng tin khoa, đoàn, trường 66 33%
Cán bộ lớp thông báo 116 58%
Trực tiếp từ cơ quan
BHYT, cán bộ y tế trường 15 7.5%
Các phương tiện truyền thông 47 23.5%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Sinh viên ở trọ thường tiếp cận thông tin về bảo hiểm y tế (BHYT) chủ yếu qua hai nguồn: cán bộ lớp và bản tin khoa, đoàn trường, với tỷ lệ lần lượt là 58% và 33% Các nguồn thông tin khác, như từ cơ quan BHYT và nhân viên y tế nhà trường, chỉ chiếm 7.5% Điều này cho thấy rằng vai trò của nhân viên y tế trong việc phổ biến thông tin về BHYT cho sinh viên tại các trường đại học hiện nay vẫn chưa được thực hiện hiệu quả.
Một bộ phận sinh viên, chiếm 6%, cho rằng họ không được tiếp cận thông tin về bảo hiểm y tế (BHYT) Điều này ảnh hưởng đến tỷ lệ tham gia BHYT của sinh viên hiện nay.
Trong hai năm qua, thực trạng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên ở trọ cho thấy tỉ lệ tham gia đạt 86%, trong khi tỉ lệ không tham gia là 14% đối với tất cả sinh viên các năm.
Biểu đồ 2.1: Thực trạng tham gia BHYT trong 2 năm học 2010-2012
Trong hai năm học, có 56% sinh viên tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) đầy đủ Bên cạnh đó, có hai nhóm sinh viên: nhóm tham gia BHYT chỉ trong năm 2010-2011 và nhóm tham gia BHYT chỉ trong năm 2011-2012.
Năm 2012, chúng tôi nhận thấy một điều bất ngờ khi so sánh tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên, đó là tỉ lệ tham gia trong năm học sau lại thấp hơn năm học trước Cụ thể, trong năm học 2010-2011, chỉ có 44 sinh viên tham gia BHYT, chiếm 22% trong tổng mẫu nghiên cứu.
Trong năm học 2011-2012, chỉ có 16 sinh viên tham gia, chiếm 8% mẫu nghiên cứu, giảm 14% so với năm trước Điều này trái ngược với kỳ vọng ban đầu Hơn nữa, tỷ lệ sinh viên không tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) trong hai năm qua vẫn đáng chú ý, với 14% mẫu nghiên cứu.
Bảng 2.8: Tỉ lệ sinh viên tham gia BHYT
Tham gia BHYT vào năm họ c N T ỉ l ệ %
Cả hai năm học trên 112 56%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Trong năm học 2010-2011, tổng số sinh viên tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) là 156 trên tổng số 200 sinh viên, chiếm 78% Tuy nhiên, trong năm học 2011-2012, số sinh viên tham gia BHYT giảm xuống còn 128, tương đương 64%, thấp hơn 12% so với năm học trước Tỷ lệ sinh viên không tham gia BHYT trong cả hai năm học này là 14%.
Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ sinh viên tham gia BHYT qua các năm học
Khi phân tích các thông tin cá nhân đối với việc tham gia BHYT trong sinh viên ở trọ hiện nay, kết quả cho thấy:
Trong hai năm, sinh viên nữ có tỉ lệ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) cao hơn sinh viên nam, với tỉ lệ lần lượt là 60.4% và 51.9% Tỉ lệ sinh viên nam tham gia BHYT chỉ trong một năm và không tham gia trong cả hai năm đều cao hơn so với sinh viên nữ Cụ thể, trong năm 2010-2011, tỉ lệ nam tham gia BHYT chỉ là 22.1%, trong khi nữ là 21.9% Đến năm 2011-2012, tỉ lệ này giảm xuống còn 9.6% cho nam và 6.3% cho nữ Ngoài ra, tỉ lệ nam không tham gia BHYT trong cả hai năm là 16.3%, cao hơn 2.3% so với tỉ lệ nữ không tham gia là 14%.
Bảng 2.9: Tham gia BHYT và giới tính của sinh viên
Năm họ c Gi ớ i tính T ổ ng
Cả hai năm học trên 54 51,5% 58 60,4% 112 56%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Giới tính ảnh hưởng đến quyết định tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên, với tỷ lệ tham gia của sinh viên nữ cao hơn so với sinh viên nam Điều này được xác nhận qua kiểm định Chi-Square giữa việc tham gia BHYT qua các năm học và giới tính.
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa việc tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) và thứ tự năm học của sinh viên Tỉ lệ tham gia BHYT cao nhất ở sinh viên năm nhất, đạt 95.5%, và giảm dần ở các năm học tiếp theo, với tỉ lệ 86.7% ở năm hai, 86.4% ở năm ba và chỉ còn 76.9% ở năm tư.
Biểu đồ 2.3: Thực trạng tham gia BHYT của sinh viên các năm
Đối với sinh viên năm nhất, tất cả đều phải đóng các khoản phí vào đầu năm học, bao gồm bảo hiểm y tế (BHYT) Năm học này, BHYT trở thành bắt buộc, khiến cho sinh viên năm nhất không có nhiều cơ hội để không tham gia Tuy nhiên, vẫn có một tỷ lệ nhỏ sinh viên năm nhất không tham gia BHYT, chiếm 4.5% trong mẫu nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy sự khác biệt so với nghiên cứu một năm trước về tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) của sinh viên Cụ thể, vào tháng 5 năm 2010, tỷ lệ tham gia BHYT của sinh viên năm tư cao hơn so với năm hai và ba Nguyên nhân được cho là sinh viên năm tư, do lo ngại việc không tham gia BHYT có thể ảnh hưởng đến việc tốt nghiệp, đã chủ động tham gia Tuy nhiên, sau gần hai năm thực hiện BHYT bắt buộc, không có trường hợp nào bị cấm tốt nghiệp vì không tham gia BHYT, điều này giải thích sự khác biệt trong kết quả nghiên cứu giữa hai thời điểm.
SV VỚI VIỆC SỬ DỤNG THẺ BHYT TRONG KCB
Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) cho thấy một phần lý do sinh viên không tham gia là do chất lượng khám chữa bệnh (KCB) bằng thẻ BHYT còn thấp Thủ tục hành chính liên quan đến thanh toán chi phí BHYT vẫn còn nhiều hạn chế, phức tạp và rườm rà Đối với nhóm sinh viên tham gia BHYT, cần xem xét cơ sở lựa chọn KCB bằng BHYT, đánh giá chất lượng KCB và thực trạng sử dụng thẻ BHYT trong KCB của sinh viên ở trọ hiện nay Những vấn đề này sẽ được giải đáp trong phần tiếp theo.
2.4.1 Cơ sở c ủ a vi ệ c l ự a ch ọ n KCB b ằ ng BHYT c ủ a sinh viên ở tr ọ hi ệ n nay
Trong hai năm qua, nghiên cứu về tình trạng sức khỏe của sinh viên cho thấy 81% sinh viên đã từng bị ốm, trong khi chỉ 19% chưa từng bị ốm Tỷ lệ sinh viên bị ốm từ 3 lần trở lên chiếm 38.5%, với 16.5% bị ốm hai lần và 14.5% bị ốm ba lần Tỷ lệ sinh viên chỉ bị ốm một lần là 7.2%, nhưng đáng chú ý là 42.5% sinh viên đã bị ốm nhiều hơn 3 lần Kết quả này cho thấy một bộ phận sinh viên đang cần được chăm sóc sức khỏe thường xuyên hơn.
Bảng 2.15: Số lần ốm trong 2 năm trở lại đây
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Nghiên cứu về tình trạng sức khỏe của 162 sinh viên cho thấy phần lớn mắc bệnh nhẹ, không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe (97.5%) Bệnh nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng chiếm 25.2%, trong khi tỷ lệ sinh viên gặp phải bệnh rất nặng và nguy hiểm đến tính mạng chỉ là 6.7%.
Bảng 2.16: Tính chất bệnh của sinh viên
Bệnh nhẹ, không ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe 159 97.5%
Bệnh nặng nhưng không nguy hiểm tới tính mạng 41 25.2%
Bệnh rất nặng, nguy hiểm tới tính mạng 11 6.7%
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Kết quả này một phần phụ thuộc vào đặc điểm thể trạng của sinh viên, những người đang trong độ tuổi trưởng thành với sức khỏe tốt Mặc dù số lần ốm của sinh viên có thể cao, nhưng mức độ không đáng lo ngại Hiểu rõ điều này giúp giải thích sự lựa chọn dịch vụ y tế của sinh viên ở trọ hiện nay.
Biểu đồ 2.6: Lựa chọn loại hình dịch vụ y tế của sinh viên ở trọ hiện nay
Theo dữ liệu từ nghiên cứu, sinh viên chủ yếu lựa chọn tự mua thuốc tại các quầy thuốc tư nhân, chiếm 50%, trong khi chỉ 36.6% sử dụng thẻ BHYT để khám chữa bệnh Đáng lưu ý, có 13.8% sinh viên vẫn chủ quan với sức khỏe, chọn cách để bệnh tự khỏi, điều này có thể dẫn đến nguy cơ chuyển bệnh thành mãn tính nếu không được điều trị kịp thời Hậu quả sức khỏe có thể rất nghiêm trọng nếu tình trạng này tiếp diễn.
2.4.2 Th ự c tr ạ ng s ử d ụ ng th ẻ BHYT trong KCB c ủ a sinh viên ở tr ọ hi ệ n nay
Thực trạng sử dụng thẻ BHYT trong khám chữa bệnh (KCB) của sinh viên được phân tích dựa trên các thông tin cá nhân như giới tính, hiểu biết về chính sách BHYT, và loại bệnh mắc phải Kết quả cho thấy có sự khác biệt rõ rệt trong tỷ lệ sinh viên sử dụng BHYT giữa các trường.
Thứ nhất, có mối liên hệ giữa việc sử dụng BHYT trong KCB của sinh viên ở trọ với các đặc điểm cá nhân của sinh viên
Nghiên cứu cho thấy, sinh viên nam thường có xu hướng để bệnh tự khỏi trước khi tìm đến thuốc hoặc khám tại cơ sở tư nhân, và chỉ sử dụng thẻ BHYT khi bệnh trở nặng Ngược lại, sinh viên nữ lại ưu tiên sử dụng thẻ BHYT để khám bệnh trước, sau đó mới mua thuốc hoặc khám tại cơ sở tư nhân, và cuối cùng mới để bệnh tự khỏi.
Bảng 2.17: Giới tính của sinh viên với việc lựa chọnviệc chăm sóc sức khỏe khi mắc bệnh
N % N % N % Để mặc bệnh tự hết 12 52,2 11 47,8 23 13,4
Mua thuốc hoặc KCB tư nhân 44 51,2 42 48,8 86 50
Kết quả khảo sát cho thấy sinh viên nữ sử dụng thẻ BHYT trong khám chữa bệnh cao hơn sinh viên nam, với tỷ lệ lần lượt là 50.8% và 49.2% Mặc dù sự chênh lệch không lớn, nhưng điều này cho thấy sinh viên nữ có sự quan tâm hơn đến sức khỏe bản thân Tâm lý của nam giới thường cho rằng họ khỏe mạnh hơn, dẫn đến sự chủ quan trong việc chăm sóc sức khỏe, trong khi sinh viên nữ có mức độ chủ quan thấp hơn.
Hiểu biết về bảo hiểm y tế (BHYT) là yếu tố quan trọng trong việc sử dụng thẻ trong khám chữa bệnh (KCB) Trong số 63 sinh viên đã sử dụng thẻ BHYT, có 47 sinh viên (74.6%) tin rằng họ sẽ được thanh toán chi phí nếu chuyển tuyến lên cơ sở y tế cao hơn Ngược lại, 16 sinh viên (25.4%) không nắm rõ thông tin này.
Bảng 2.18: Nhận thức về khả năng được thanh toán khi KCB vượt tuyến với
Kh ả năng đượ c thanh toán chí phí khi
Nguồn: Kết quả cuộc khảo sát
Dựa trên những thông tin và kết quả ban đầu, chúng ta có thể hình dung rõ hơn về thực trạng sử dụng thẻ trong khám chữa bệnh (KCB) của sinh viên hiện nay.
Nghiên cứu về sự lựa chọn dịch vụ y tế của sinh viên cho thấy có mối liên hệ giữa tình trạng sức khỏe chung khi ốm và hình thức dịch vụ y tế mà họ chọn.
Biểu đồ 2.7: Tính chất bệnh mắc phải với sự lựa chọn của sinh viên
Theo từng mức độ sức khỏe khi ốm, tỉ lệ sinh viên sử dụng dịch vụ y tế KCB bằng thẻ BHYT xuất hiện ở cả ba trường hợp Đặc biệt, tỉ lệ KCB bằng thẻ cao nhất là 55.6% ở nhóm sinh viên cho rằng tình trạng sức khỏe của họ rất nặng và nguy hiểm đến tính mạng.
Tỉ lệ sinh viên cho rằng mình mắc bệnh nhẹ không khác biệt nhiều so với tỉ lệ sinh viên mắc bệnh nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng khi chọn KCB bằng thẻ, lần lượt là 34.1% và 33.3% Tuy nhiên, việc tỉ lệ sinh viên sử dụng thẻ BHYT trong KCB của nhóm mắc bệnh nhẹ cao hơn so với nhóm mắc bệnh nặng nhưng không ảnh hưởng gì là điều đáng chú ý Điều này có thể cho thấy rằng sinh viên ở trọ hiện nay đang ngày càng chú ý hơn đến việc chăm sóc sức khỏe của bản thân.
Khác với việc lựa chọn khám chữa bệnh (KCB) bằng thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) chủ yếu của sinh viên mắc bệnh nặng, nguy hiểm đến tính mạng, nhiều sinh viên chọn tự mua thuốc hoặc khám tại các cơ sở tư nhân cho các bệnh nặng nhưng không nguy hiểm đến tính mạng (61.1%) và bệnh nhẹ (54.3%) Mặc dù tỷ lệ sinh viên chọn khám tại cơ sở tư nhân (44.4%) thấp hơn so với KCB bằng thẻ BHYT, nhưng vẫn cho thấy sự lựa chọn này không phải là thấp Điều này chứng tỏ rằng, mặc dù chi phí KCB tại các cơ sở tư nhân có thể cao hơn, nhưng vẫn có nhiều sinh viên ưu tiên lựa chọn, cho thấy các cơ sở tư nhân có những lợi thế riêng đối với khách hàng sinh viên.
Cuối cùng, một tỷ lệ sinh viên không chọn dịch vụ y tế nào, tức là để bệnh tự khỏi Điều này chủ yếu do nhiều sinh viên cho rằng họ chỉ mắc các bệnh nhẹ và không cảm thấy ảnh hưởng nghiêm trọng, cộng với tâm lý sức khỏe tốt, nên kết quả này là dễ hiểu.
C ÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN VIỆC THAM GIA BHYT
Sinh viên, thế hệ trẻ năng động, thường sống xa gia đình và chủ yếu đến từ các tỉnh thành, được hưởng nhiều lợi ích từ bảo hiểm y tế (BHYT) Tuy nhiên, có 5 yếu tố chính ảnh hưởng đến sự tham gia BHYT của sinh viên.
Sinh viên thường không có thu nhập ổn định và phụ thuộc vào gia đình, trong khi một số phải làm thêm để tự trang trải chi phí do hoàn cảnh kinh tế khó khăn Ngay từ đầu năm học, họ phải chi trả nhiều khoản như học phí, tiền thuê nhà, dụng cụ học tập và các đồ dùng cá nhân, khiến mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) ngay đầu năm trở thành gánh nặng cho một bộ phận sinh viên.
Với mức đóng là 185.000 đối với năm học 2010-2011, nhưng đến năm học 2011-
Mức phí bảo hiểm y tế (BHYT) đã tăng lên 210.000 đồng vào năm 2012, điều này có thể ảnh hưởng đến tâm lý và sự tham gia của sinh viên Đối với một số sinh viên, khoản tiền này không hề nhỏ.
Theo khảo sát, có 21 sinh viên không tham gia đóng BHYT trong hai năm học liên tiếp, với 32,1% cho rằng mức phí cao là nguyên nhân chính, đứng thứ ba sau thủ tục hành chính phức tạp và chất lượng khám chữa bệnh chưa cao Dữ liệu cho thấy mức đóng BHYT ảnh hưởng đáng kể đến sự tham gia của sinh viên, phản ánh một phần nguyên nhân tỉ lệ sinh viên chưa tích cực tham gia BHYT hiện nay.
Nhiều sinh viên cho rằng mức đóng BHYT bắt buộc hiện nay là hợp lý, với 200.000 đồng không phải là con số quá cao Tuy nhiên, khi được hỏi về lý do chưa tham gia đầy đủ, họ cho biết khó khăn về kinh tế, đặc biệt vào đầu năm học khi phải chi trả nhiều khoản cùng lúc Đối với những gia đình có nhiều con em đi học, mức đóng 210.000 đồng cũng là một gánh nặng không nhỏ.
Một sinh viên cho biết rằng mức đóng hiện tại là hợp lý, không quá cao so với năm ngoái Trong bối cảnh lạm phát tại Việt Nam, giá cả vẫn ở mức thấp, với mức tăng từ 180,000đ lên hơn 200,000đ là chấp nhận được Sinh viên này cũng nhấn mạnh rằng nếu chất lượng phục vụ được cải thiện, thì việc nâng cao mức đóng là hoàn toàn hợp lý.
Kết quả phỏng vấn cho thấy mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) hiện tại được đánh giá là phù hợp và không quá cao, đặc biệt trong bối cảnh viện phí và giá cả hàng hóa đang tăng Đa số người tham gia chấp nhận mức đóng này vì lợi ích mà nó mang lại Tuy nhiên, một số sinh viên cho rằng những gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn, như gia đình đông con, gặp khó khăn trong việc tham gia BHYT, khiến họ không thể hưởng lợi đầy đủ từ chính sách này.
Mức đóng BHYT là một trong những nguyên nhân khiến một số sinh viên không tham gia, đặc biệt là những sinh viên gặp khó khăn Tuy nhiên, phần lớn sinh viên coi việc đóng BHYT là bình thường và phù hợp với điều kiện kinh tế cũng như lợi ích thực tiễn mà nó mang lại Mặc dù đây là một yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT, nhưng nó không phải là yếu tố quyết định đối với sinh viên hiện nay.
2.5.2 Nh ậ n th ứ c v ề quy ề n l ợ i khi tham gia BHYT Đối với người sử dụng BHYT, họ phải được biết về các thông tin về sản phẩm cũng như lợi ích mà họ được hưởng hay những quy định, phạm vi, quyền hạn…sử dụng thì mới có thể chủ động tham gia một cách tích cực Sinh viên là nhóm đối tượng rất năng động, tiếp xúc thường xuyên với truyền thông đại chúng, cũng như các câu lạc bộ tuyên truyền…Tuy nhiên, đối với lĩnh vực về BHYT thì có ít sinh viên được biết đến BHYT từ các thông tin đại chúng hay cơ sở y tế…nào
Đa phần sinh viên tiếp cận thông tin về bảo hiểm y tế (BHYT) từ ban cán bộ và các bảng tin của trường, trong khi chỉ một số ít biết qua phương tiện truyền thông đại chúng, chủ yếu là Internet Thực tế cho thấy thông tin từ cơ quan BHYT và nhân viên y tế chiếm tỉ lệ rất thấp, mặc dù đây là nguồn cung cấp và tuyên truyền quyền lợi cho sinh viên Điều này cho thấy sinh viên hiếm khi được biết đến BHYT qua các cơ quan và nhân viên y tế.
BHYT đã trở thành bắt buộc từ năm 2010, nhưng nhiều sinh viên vẫn chưa nắm rõ thông tin này một cách chính xác Họ chỉ nghe qua hoặc biết thông tin một cách mơ hồ, dẫn đến sự thiếu hiểu biết về quyền lợi của mình Một sinh viên chia sẻ: “Em chỉ biết thông tin BHYT trở thành bắt buộc này thông qua bạn lớp trưởng nói là phải mua BHYT.” Họ cũng cho biết rằng mặc dù đã tham gia BHYT một thời gian, nhưng do không sử dụng dịch vụ nên không rõ về quyền lợi cụ thể: “Quyền lợi là sẽ được khám và cấp thuốc bao nhiêu phần trăm đó tùy vào từng bệnh, nhưng em không rõ lắm.” Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức và thông tin về BHYT cho sinh viên.
Mình không rõ lắm về quyền lợi khi tham gia KCB, vì khi ở nhà, ba mẹ chỉ bảo nộp hồ sơ mà mình không tham gia trực tiếp Theo mình biết, có thể được tham gia KCB vượt tuyến và được cấp thẻ bảo hiểm Mình cũng được tư vấn về thẻ bảo hiểm, nhưng không rõ liệu KCB có hoàn toàn miễn phí hay chỉ miễn phí một phần nào đó.
Nhiều sinh viên không nhận được thông tin chính thức về việc nộp học phí đầu năm, chỉ biết qua thông báo mà không thấy trên bảng tin Họ cũng không biết liệu cán bộ y tế hay phòng công tác sinh viên có tuyên truyền thông tin này hay không.
Nhiều sinh viên bày tỏ sự bức xúc về việc đóng bảo hiểm y tế (BHYT) mà không hiểu rõ mục đích của nó Một sinh viên cho biết: “Em không biết đóng để làm gì, nhiều bạn đóng xong không lấy luôn, không sử dụng gì cả.” Điều này cho thấy sự thiếu thông tin và minh bạch trong việc thông báo về BHYT tại trường.
KCB vượt tuyến là một yếu tố quan trọng liên quan đến quyền lợi của người tham gia, nhưng không phải sinh viên nào cũng nắm rõ thông tin này cũng như mức thanh toán chi phí Một sinh viên đã chia sẻ: “Em biết về quy định KCB vượt tuyến, hình như là không được trả tiền.”