1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng vệ sinh môi trường và kiến thức, thực hành của bà mẹ, cô giáo về chăm sóc trẻ em tại một số trường mầm non thành phố nam định năm 2013

95 8 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 5,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để có những đề xuất nhằm góp phần cải thiện điều kiện cơ sở vật chất, khắc phục các yếu tổ tác hại bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các trường mầm non, chúng tôi tiến hành thực

Trang 1

BO GIAO DUC & DAO TAO BO Y TE

TRUONG DAI HOC Y THAI BINH

Seen ERT \ ne aE

TRUONG DAI HOC DIEU DƯƠNG

NAM ĐỊNH THU VIEN

S61 VeRO,

DINH THI THU HANG

THUC TRANG VE SINH MOI TRUONG

VÀ KIẾN THỨC, THỰC HÀNH CUA BA ME, CO GIAO

VE CHAM SOC TRE EM TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM N0N

THANH PHO NAM ĐỊNH NĂM 2013

LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG

Trang 2

LOI CAM ON

Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới Đảng ủy, Ban giám

hiệu, Phòng Quản ly đào tạo Sau đại học, khoa Y tế công cộng Trưởng Đại học Y Thái Bình đã tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập và hoàn thành luận văn cao học của mình

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS Ngô Thị Nhu -

Phó trưởng khoa Y té công cộng, Trường Đại học Y Thái Bình đã trực

tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành

Trang 3

Số lượng

Trung học, Cao đẳng, Đại học

Trung học cơ sở Trung học phổ thông Trang thiết bị cơ sở vật chất United Nations Childrens Fun (Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc) World Health Organization (Tổ chức Y tế thế giới)

Trang 4

1.1.4 Yêu cầu về vệ sinh phòng nuôi day trẻ -2c52-cc5c 4

1.1.5 Yêu cầu về các trang thiết bị cho chăm SỐC ẦFẺ - cà S+2e 5 1.1.6 Yêu cầu đối với các phòng khác -2-.-2c.e+cczerkerrserrree 6

1.1.7 Yêu cầu các công trình vệ sinh trong trường -.- ‹- 7

1.2 Thực trạng các trường mầm non và sức khỏe lứa tuổi mẫu giáo 7

1.3 Một sô nghiên cứu về điêu kiện vệ sinh, kiên thức, thực hành chăm sóc

trẻ của bà mẹ và CÔ gláO << sọ HH HH Họ Họ HH nh mờ H1 Chương 2: ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21 2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu -s s-s 21 2.1.1 Địa điểm nghiên cứu -2- 2< s2 7z ccsecssrkerreerrserszrrereecre 21 2.1.2 Đối tượng nghiên cứu -2-s-©csxzerzsvrrxertxsrrrerrerrrecre 23 2.1.3 Thời gian nghiÊn CỨU ngưng 24 2.2 Phương pháp nghiên CỨU HH Hưng nên 24 2.2.1 Thiết kế nghiên cứu cssccxecrxeerkeetrtetrerrrsrrerrrsrrrrree 24 2.2.2 Chọn mẫu và cỡ mẫu - + ++cs++xsersvrxertsrrrrrrrrrrrrsee 24 2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, các kỹ thuật áp dụng trong nghiÊn CỨU sát TH HH Ti nh ni c rươ 26

2.2.4 Biến số và chỉ số trong nghiên cứu -cccceeeccrrre 29

2.2.5 Tiêu chuẩn đánh giá -s+-cse+crtetrrktrrrirrrrrrrrrrrerree 30

2.2.6 Phương pháp xử lý số liệu -cscrxvcvertrrrrrrrrreeerkeree 31

Trang 5

2.2.7 Bién phap khéng ChE sai $6 vcecceessccssssceccseecseccecsecceeseesseecessecsseseessees 31

2.2.8 Đạo đức nghiên CỨU 0 Ác ung H157 31

CHƯƠNG 3: KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU 2- 5° ss=sseS2£ 32

3.1 Thực trạng vệ sinh các trường mầm non được điều tra - 32

3.2 Kiên thức, thực hành của các bà mẹ về chăm sóc trẻ em lứa tuôi nhà trẻ

¡182120000777 38

3.3 Kiến thức, thực hành của cô giáo về chăm sóc trẻ -. ¿5 cc- 48

(010/90 10770000790 07575 ~ 55

4.1 Thực trạng vệ sinh tại các trường mầm non trên địa bàn nghiên cứu 55

4.2 Kiến thức, thực hành của các bà mẹ về chăm sóc trẻ em - 63

4.3 Kiến thức, thực hành của cô giáo về chăm sóc trẻ . -se- 70

.ez00/ 0057 Ô,ÔỎ 74

i8 (: 078 a H.,HH , 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

ae

Bang 3.1

Bang 3.2

Bang 3.3

Bang 3.4

Bang 3.5

Bang 3.6

Bang 3.7

Bang 3.8

Bang 3.9

Bang 3.10

Bang 3.11

Bang 3.12

Bang 3.13

Bang 3.14

Bang 3.15

Bang 3.16

Bang 3.17

Bang 3.18

Bang 3.19

Bang 3.20

Bang 3.21

Bang 3.22

Bang 3.23

Bang 3.24

Bang 3.25

Bang 3.26

DANH MUC BANG

Thực trạng về địa điểm xây dựng các trường - 32

Diện tích xây dựng và trồng cây xanh trong nhà trường 32

Cung cấp nước tại các trường .- s-. ccscceccxscrsersereeee 33 Các công trình vệ sinh nhà trường «<< csssksessesee 33 Các dụng cụ vệ sinh phục vụ công tác chăm sóc trẻ 34

Thực trạng các phòng phục vụ chăm sóc trẻ .- - 34

Thực trạng vệ sinh phòng g1 tFẺ - 5 5 5< + sezeree 35 Bảo mẫu và cô nuôi dạy trẻ 5-5 2z.cxseverxersersersrrk 35 Kết quả xét nghiệm nước sinh hoạt trong các trường 36

Kết quả xét nghiệm nước ăn uống trong các trường 36

Kết quả xét nghiệm vi khuẩn hiếu khí không khí 37

Kết quả xét nghiệm vi khuẩn trên đồ chơi của trẻ em 37

Nghề nghiệp của bà mẹ s2cc2z+vrxerervrerxerkeereeeeee 38 Trình độ học vấn của bà mẹ 5 - s s se tseezksrksrsrszrsree 38 Lứa tuổi của trẻ tại các trường -s-c-scssecsecxsersecrsrrx 39 Thời gian trẻ học tại trường mm non - 5 s+secsczscess 39 Sự hài lòng của các bà mẹ về chăm sóc trẻ ở trường 40

Lý do hài lòng của các bà mẹ về chăm sóc trẻ ở trường 4I Nhu cầu của các bà mẹ về chăm sóc trẻ tại trường 4]

Kiến thức của bà mẹ về chế độ ăn uống cho trẻ 42

Kiến thức của bà mẹ về phiếu cần thiết khi cho trẻ vào trường 43 Kiến thức của bà mẹ về các bệnh dễ mắc ở trẻ 44

Kiến thức của bà mẹ về phòng bệnh cho trẻ - 45

Thực hành của bà mẹ khi chăm sóc con bị tiêu chảy, hô hấp 46

Thực hành của bà mẹ khi chăm sóc con bị SỐT CaO - 46

Theo dõi cân nặng trẻ của các bà mẹ . c s9 47

Trang 7

Nhận định của bà mẹ về sự phát triền của con mình 48

Vị trí công VIỆC CỦa CÔ BIÁO ng ng nen nh 48 Nơi đào tạo nghề của các cô giáo -s-cscz.ccezcrerrsrree 49 Thâm niên công tác của cô g1áo -«-cc«ccse sen tư 50

Ý kiến của cô giáo về chăm sóc trẻ tại trường 50 Kiến thức cuả cô giáo về yêu cầu khi nhận trẻ vào trường 51 Kiên thức của cô giáo về các nội dung chăm soc tré 6 truong 51

Thực hành của cô giáo về theo dõi sức khỏe của trẻ 52 Thực hành của cô giáo khi trẻ bị sốt, tiêu chảy ở lớp học 52

Tình cảm của cô giáo VỚI ẨTẺ - s01 315 r4 33 Những đề nghị của cô giáo với nhà trường về cơ sở vật chất, giảng dạy trẺ sàn HH1 710111 1101111 54

Trang 8

DANH MUC BIEU DO Biểu đồ 3.1 Sự hài lòng của bà mẹ về chăm sóc trẻ ở trường mầm non 40

Biểu đồ 3.2 Sự quan tâm của các bà mẹ về chế độ ăn uống cho trẻ 43

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ các bà mẹ có con bị bệnh tiêu chảy, hô hấp 45

Biểu đồ 3.4 Tý lệ bà mẹ cho trẻ ăn thêm ở nhà -s-©css+cs<¿ 47

Biểu đồ 3.5 Trình độ học vấn của cô giáo -csccsccxersrksxreirreeriiee 49

Biểu đề 3.6 Tỷ lệ cô giáo được khám sức khỏe định kỳ 53

Trang 9

sự tồn tại được bảo vệ và phát triển của các em là điều kiện tiên quyết cho

sự phát triển của nhân loại"

Ở Việt Nam, quan tâm đến trẻ em không chỉ là bản chất của chế độ mà còn là nhiệm vụ hết sức quan trọng tạo ra một thế hệ với đầy đủ sức khỏe, tri thức khoa học là nguồn vốn quý nhất cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Vì sự nghiệp mười năm trồng cây, vì sự nghiệp trăm năm trông người”

Theo Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg ngày 23/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt để án "Phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015” trong đó mục tiêu về nâng chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ trong các cơ sở Giáo đục mầm non (GDMN), phấn đấu đến năm 2010

có 80% trẻ em đạt chuẩn phát triển và đạt 95% vào năm 2015, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng (SDD) ở các cơ sở GDMN xuống dưới 12% năm 2010 và

dưới 10% năm 2015, nâng tỷ lệ lên 70% năm 2010 và 90% năm 2015 số

lượng cha, mẹ trẻ em được phô biến, cung cấp kiến thức cơ bản về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ

Trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo (tiền học đường) có cấu tạo cơ thể và chức

năng của các cơ quan chưa hoàn chỉnh và ổn định, vì vậy rất dễ bị các yếu tố

bất lợi của môi trường tác động tới quá trình phát triển thể chất và tình trạng

sức khoẻ của trẻ [27]

Trang 10

Nhu cầu gửi trẻ tới các trường mầm non ngày càng gia tăng Đáp ứng

nhu cầu phát triển giáo đục mầm non, các cấp các ngành đã quan tâm đầu tư

xây dựng trường học, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất cho các trường mầm

non Về mặt Y tế, việc tập trung các cháu vào những nhóm trẻ do các bảo

mẫu chăm sóc là điều kiện rất thuận lợi để thực hiện những phương pháp nuôi

dạy trẻ hợp vệ sinh Nhưng đồng thời do việc tập trung đó nên vấn đề vệ sinh

và phương pháp nuôi dạy trẻ yêu cầu rất cao Nhiều ngôi trường mới đã được

xây dựng, cải tạo, nâng cấp và trang bị nhiều đồ dùng đúng tiêu chuẩn Tuy

nhiên ở một số cơ sở mầm non đang còn thiếu thốn, không hợp vệ sinh và

xuống cấp, cần có sự quan tâm đặc biệt của các cấp chính quyền, các bậc phụ

huynh, thầy cô giáo và xã hội

Từ trước đến nay đã có nhiều các nghiên cứu về sức khỏe trường

học, những nghiên cứu trong lĩnh vực trường mầm non chưa có nhiều và

đặc biệt trong những năm qua chưa có nghiên cứu nào tại thành phố Nam

Định về vấn đề này

Để có những đề xuất nhằm góp phần cải thiện điều kiện cơ sở vật chất,

khắc phục các yếu tổ tác hại bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong các

trường mầm non, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: ''Thực trạng vệ sinh môi

trường và kiến thức, thực hành của bà mẹ, cô giáo về chăm sóc trẻ em tại

một số trường mầm non thành phố Nam Định năm 2013"' với mục tiêu:

1 Mô tả một số chỉ tiêu về vệ sinh môi trường của một số trường mắm

nơn tại thành pho Nam Định năm 2013

2 Đánh giá kiến thức, thực hành về chăm sóc trẻ em lứa tuổi mẫu giáo

của cô giáo và bà mẹ

Trang 11

Chuong 1

TONG QUAN TAI LIEU

1.1 Một số khái niệm và yêu cầu vệ sinh trường mầm non

1.1.1 Một số khái niệm về trường mam non

Định nghĩa "mầm non" rất khác nhau tùy từng Quốc gia và khu vực trên

thé giới, có thé coi tất cả trẻ từ khi sinh ra, trải qua suốt giai đoạn mẫu giáo và

chuyên tiếp lên tiểu học đều thuộc nhóm này [37]

Hiện nay một danh từ để chỉ chung cho một cơ sở nuôi dạy trẻ được gọi

là trường mầm non Trong trường mầm non bao gồm các nhóm trẻ của nhà trẻ

và các lớp mẫu giáo như sau:

Từ 3 đến 36 tháng tuổi là tuổi nhà trẻ

Từ 37 đến 72 tháng tuổi là tuổi mẫu giáo

Mỗi lứa tuổi có những yêu cầu vệ sinh về chế độ ăn uống, sinh hoạt và

dụng cụ phục vụ cho trẻ khác nhau [4], [35]

1.1.2 Vai trò của trường mẫm non

Trường mầm non là cơ sở rất quan trọng đối với mỗi gia đình trẻ cũng

như toàn xã hội Trường là nơi hàng ngày cha mẹ gửi con em đến sinh hoạt và

học tập Trong suốt thời gian này trẻ được các cô giáo chăm sóc về sức khỏe

và tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi, rèn luyện về nề nếp một cách nhịp

nhàng, phù hợp, đảm bảo đúng theo chương trình GDMN của Bộ giáo dục và

đào tạo (GD&ĐT) đã quy định Trẻ đến trường mam non được lĩnh hội các kỹ

năng sống, phát triển tình cảm, những kinh nghiệm xã hội, nuôi dưỡng sự

phát triển trí tuệ và lĩnh hội các kiến thức Nhìn vào chế độ sinh hoạt của trẻ

hàng ngày với những công việc tưởng như đơn giản nhưng thực tế để làm tốt

được những công việc đó các cô giáo mầm non phải có đủ cả 4 vai trò đó là

“ Người mẹ hiển - Cô giáo giỏi - Thầy thuốc tốt - Người nghệ sỹ tài năng” bởi

Trang 12

ở trường mầm non là chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục để trẻ phát triển một

cách toàn diện về Đức - Trí - Thể - Mỹ và lao động Chất lượng chăm sóc,

giáo dục trẻ là tiền đề quan trọng để nhà trường mầm non phát huy tầm ảnh

hưởng của mình đến với cộng đồng Chất lượng nuôi dưỡng, giáo dục của nhà trường có đảm bảo, trẻ em có khoẻ mạnh và phát triển tốt thì vai trò của nhà

trường mới được phụ huynh và cộng đồng thừa nhận Vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ phải là vẫn đề được quan tâm hàng đầu ở các cơ

sở GDMN Bởi vì nếu không giáo dục và chăm sóc tốt trẻ rất dé bị ảnh hưởng đến phát triển thể chất và tỉnh thần

1.1.3 Yêu cầu về vệ sinh trường mâm non

Theo Điều lệ trường mầm non, nhà trường, nhà trẻ được đặt tại khu dân

cư phù hợp quy hoạch chung, thuận lợi cho trẻ em đến nhà trường, nhà trẻ; Đảm bảo các quy định về an toàn và vệ sinh môi trường Độ dài đường đi của

trẻ em đến nhà trường, nhà trẻ: đối với khu vực thành phố, thị xã, thị trấn, khu

công nghiệp, khu tái định cư, khu vực ngoại thành, nông thôn không quá lkm;

đối với vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn không quá 2km

Diện tích khu đất xây đựng nhà trường, nhà trẻ gồm: diện tích xây dựng;

diện tích sân chơi; diện tích cây xanh, đường đi Diện tích sử dụng đất bình

quân tối thiểu 12m” cho một trẻ đối với khu vực nông thôn và miền núi; 8m”

cho một trẻ đối với khu vực thành phố và thị xã

Khuôn viên của nhà trường, nhà trẻ có tường bao ngăn cách với bên ngoài bằng gạch, gỗ, tre, kim loại hoặc cây xanh cắt tỉa làm hàng rào Công chính của nhà trường, nhà trẻ có biển tên nhà trường, nhà trẻ [3], [4], [35]

1.1.4 Yêu cầu về vệ sinh phòng nuôi day tré

Các công trình phải đảm bảo đúng quy cách về tiêu chuẩn thiết kế và các

quy định về vệ sinh trường mầm non hiện hành

Trang 13

Bồ trí công trình cần đảm bảo độc lập giữa khối nhóm trẻ, lớp mẫu giáo

với khối phục vụ; Đảm bảo an toàn và yêu cầu giáo dục với từng độ tuổi;

Đảm bảo lối thoát hiểm khi có sự cố và hệ thống phòng cháy chữa cháy; Đảm

bảo điều kiện cho trẻ em khuyết tật tiếp cận sử dụng

Phòng sinh hoạt chung: Dam bảo trung bình 1,5 - 1,8 m cho một trẻ; đủ

ánh sáng tự nhiên và thoáng, nền nhà láng xi măng, lát gạch màu sáng hoặc gỗ

Có thể được dùng làm nơi ăn, ngủ cho trẻ mẫu giáo; nơi để đồ dùng phục vụ trẻ

ngủ liền kề phòng sinh hoạt chung Phòng sinh hoạt chung được trang bị đủ

bàn ghế cho giáo viên và trẻ, đủ đồ dùng, đồ chơi sắp xếp theo chủ đề giáo dục,

có tranh ảnh, hoa, cây cảnh trang trí đẹp, phù hợp Tất cả đồ đùng, thiết bị phải

đảm bảo theo đúng quy cách do Bộ GD&ĐT quy định [3], [4], [35]

1.1.5 Yêu cầu về các trang thiết bị cho chăm sóc trẻ

1.1.5.1 Quy định về kích thước bàn- ghế của lớp mẫu giáo

Bàn ghế lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo phải phù hợp tuổi trẻ Sau đây là qui

định kích thước bàn ghế cho trẻ theo chiều cao và lứa tuổi trẻ [35]:

Chiều cao trẻ Kích thước bàn (cm)

Cao | Trướcsau| Dai/1 chd ngdi

Trang 14

1.1.5.2 Trang thiết bị đối với một lớp mẫu giáo và lớp mầm non

- Có bàn, ghế đúng quy cách cho trẻ ngồi (đặc biệt đối với trẻ 5 tuổi): 1

bàn và 2ghế/2trẻ; Ibàn, 1ghế và 1bảng cho giáo viên Nếu lớp bán trú, có ván

hoặc giường nằm, chăn đệm cho trẻ đảm bảo đủ ấm hoặc giữ thoáng mát

- Có một bộ thiết bị tối thiểu bao gồm: thùng đựng nước uống, nước

sinh hoạt; đồ chơi, tài liệu, đồ dùng cho hoạt động học có chủ đích

- Có đồ chơi và đồ dùng tự tạo bằng nguyên vật liệu địa phương; có kệ

dé dé ding, đồ chơi

Mỗi trẻ có đủ đồ dùng riêng: cốc, khăn mặt, bát, thìa các dé choi, đồ

dùng học tập

- Co dé ding, tài liệu cho giáo viên mẫu giáo gồm: bộ tài liệu hướng

dẫn thực hiện hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; số theo dõi trẻ; số ghi chép tổ

chức các hoạt động giáo dục của trẻ trong ngày; tài liệu dùng dé phô biến kiến

thức nuôi dạy con cho cha mẹ

Căn cứ vào số lượng trẻ ở mỗi lứa tuổi (mẫu giáo, nhà trẻ) trong lớp để

có trang bị phù hợp cho lớp mầm non [3], [4], [35]

1.1.6 Yêu cầu đối với các phòng khác

- Phòng ngủ: Đảm bảo trung bình 1,2 -1,5m” cho một trẻ, yên tĩnh,

thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông với đầy đủ các đồ dùng phục vụ

trẻ ngủ

- Hiên chơi (vừa có thể là nơi trẻ ăn trưa) đảm bảo trung bình 0,5- 0,7m”

cho mỗi trẻ, chiều rộng không dưới 2,lm; có lan can bao quanh cao 0,8-1m;

khoảng cách giữa các thanh gióng đứng không lớn hơn 0,1m; thuận tiện cho các

sinh hoạt của trẻ khi mưa, nắng

- Phòng giáo dục thé chất, nghệ thuật: có diện tích tối thiểu là 60mỶ, có

gương áp tường và gióng múa, có trang bị các thiết bị điện tử và nhạc cụ, có

tủ đồ dùng, đồ chơi âm nhạc, quần áo, trang phục, đạo cụ múa [4], [35].

Trang 15

Bồ trí công trình cần đảm bảo độc lập giữa khối nhóm trẻ, lớp mẫu giáo

với khối phục vụ; Đảm bảo an toàn và yêu cầu giáo dục với từng độ tuổi;

Đảm bảo lối thoát hiểm khi có sự cố và hệ thống phòng cháy chữa cháy; Đảm

bảo điều kiện cho trẻ em khuyết tật tiếp cận sử dụng

Phòng sinh hoạt chung: Đảm bảo trung bình 1,5 - 1,8 mỶ cho một trẻ; đủ

ánh sáng tự nhiên và thoáng, nền nhà láng xi măng, lát gạch màu sáng hoặc gỗ

Có thể được dùng làm nơi ăn, ngủ cho trẻ mẫu giáo; nơi để đồ dùng phục vụ trẻ

ngủ liền kề phòng sinh hoạt chung Phòng sinh hoạt chung được trang bị đủ

bàn ghế cho giáo viên và trẻ, đủ đồ dùng, đồ chơi sắp xếp theo chủ đề giáo dục,

có tranh ảnh, hoa, cây cảnh trang trí đẹp, phù hợp Tắt cả đồ dùng, thiết bị phải

dam bao theo đúng quy cách do Bộ GD&ĐT quy định [3], [4], [35]

1.1.5 Yêu cầu về các trang thiết bị cho chăm sóc trẻ

1.1.5.1 Quy định về kích thước bàn- ghế của lớp mẫu giáo

Bàn ghế lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo phải phù hợp tuổi trẻ Sau đây là qui

định kích thước bàn ghế cho trẻ theo chiều cao và lứa tuôi trẻ [35]:

Chiều cao trẻ Kích thước bàn (cm)

Cao | Trướcsau| Dài/1 chỗ ngồi

Trang 16

1.1.5.2 Trang thiết bị đối với một lớp mẫu giáo và lớp mầm non

- Có bàn, ghế đúng quy cách cho trẻ ngồi (đặc biệt đối với trẻ 5 tuổi): l ban va 2ghé/2tré; 1ban, 1ghé va 1bang cho giáo viên Nếu lớp bán trú, có ván

hoặc giường nằm, chăn đệm cho trẻ đảm bảo đủ ấm hoặc giữ thoáng mát

- Có một bộ thiết bị tối thiểu bao gồm: thùng đựng nước uống, nước

sinh hoạt; đồ chơi, tài liệu, đồ đùng cho hoạt động học có chủ đích

- Có đồ chơi và đồ dùng tự tạo bằng nguyên vật liệu địa phương; có kệ

để đồ dùng, đồ chơi

Mỗi trẻ có đủ đồ dùng riêng: cốc, khăn mặt, bát, thìa các đồ chơi, đồ

dùng học tập

- Có đồ dùng, tài liệu cho giáo viên mẫu giáo gồm: bộ tài liệu hướng

dẫn thực hiện hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ; số theo dõi trẻ; số chi chép tổ

chức các hoạt động giáo dục của trẻ trong ngày; tài liệu dùng để phố biến kiến thức nuôi dạy con cho cha mẹ

Căn cứ vào số lượng trẻ ở mỗi lứa tuổi (mẫu giáo, nhà trẻ) trong lớp để

có trang bị phù hợp cho lớp mầm non [3], [4], [35]

1.1.6 Yêu cầu đối với các phòng khác

- Phòng ngủ: Đảm bảo trung bình 1,2 -1,5m” cho một trẻ, yên tĩnh, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông với đầy đủ các đồ dùng phục vụ

trẻ ngủ

- Hiên chơi (vừa có thể là nơi trẻ ăn trưa) đảm bảo trung bình 0,5- 0,7m?

cho mỗi trẻ, chiều rộng không dưới 2,lm; có lan can bao quanh cao 0,8-1m;

khoảng cách giữa các thanh gióng đứng không lớn hơn 0,1m; thuận tiện cho các

sinh hoạt của trẻ khi mưa, nang

- Phòng giáo dục thể chat, nghé thuat: cé dién tich t6i thiéu 1a 60m’, có

gương áp tường và gióng múa, có trang bị các thiết bị điện tử và nhạc cụ, có

tủ đồ dùng, đồ chơi âm nhạc, quần áo, trang phục, đạo cụ múa [4], [35].

Trang 17

1.1.7 Yêu cầu các công trình vệ sinh trong trường

Phòng vệ sinh: Đảm bảo 0,4 - 0,6m? cho một trẻ; đối với trẻ mẫu giáo có

chỗ riêng cho trẻ em trai, trẻ em gái Phòng vệ sinh có các thiết bị sau:

+ Có thé có bê hoặc bồn chứa nước

- Đối với mẫu giáo:

+ Vòi nước rửa tay;

+ Chỗ đi tiểu và bồn cầu vệ sinh cho trẻ em trai và trẻ em gái;

+ Vòi tắm;

+ Bề hoặc bồn chứa nước [6], [35]

1.2 Thực trạng các trường mầm non và sức khỏe lứa tuổi mẫu giáo

Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã có sự quan tâm

đúng mức tới GDMN chính vì vậy mà mức độ đầu tư cho GDMN cũng tăng

hơn so với giai đoạn trước Tuy nhiên, so với yêu cầu của một nền giáo dục

hiện đại và những yêu cầu thực tế của GDMN thì mức đầu tư như vậy được

coi là chưa thỏa đáng

Tại Hội nghị trực tuyến tong kết năm học 2012-2013 và triển khai

nhiệm vụ GDMN năm học 2013-2014 do Bộ GD&ĐÐT phối hợp cùng Công ty

Friesland Campina tổ chức vào sáng 22/8/2013, theo ông Nguyễn Bá Minh,

Vụ trưởng Vụ GDMN Bộ GD&ĐÐT cho biết sau hơn ba năm triển khai Đề án

Phổ cập GDMN cho trẻ 5 tuổi, đến nay vẫn còn nhiều địa phương có tỷ lệ

xã/phường đạt chuẩn phổ cập dưới 10% như Kiên Giang (4,8%), Sóc Trăng

(6,4%), An Giang (9%), Cả nước còn 35% tỉnh/ thành phố chưa có huyện

Trang 18

¬

đạt chuẩn phổ cập Ngoài ra, cả nước hiện vẫn còn 365/11.124 xã/phường/thị

trấn chưa có trường mầm non, 26.710 lớp ghép và 26,11% trẻ chưa được ăn

bán trú tại trường khiến công tác quản lý và đảm bảo chất lượng gặp nhiều

khó khăn Do đó, một trong những nhiệm vụ trọng tâm để ra cho năm học

mới là cố gắng phấn đấu có thêm 18 tỉnh, thành phố trên cả nước đạt chuẩn

Phổ cập GDMN, đồng thời nâng cao tỷ lệ trẻ học 2 buổi/ngày Bộ GD&ĐÐT

đặt yêu cầu: “Việc thực hiện đề án phổ cập phải gắn liền với xây dựng kế

hoạch đầu tư cơ sở vật chất và quy hoạch đào tạo giáo viên Các địa phương

không thể chạy đua tiền độ mà thiếu sự chuẩn bị lâu dài”

Đội ngũ giáo viên thiếu về số lượng và yếu về chất lượng Số liệu thống

kê từ Bộ GD&ĐÐT cho thấy, năm học 2013 - 2014, cả nước thiếu 20.523 giáo

viên, trong đó số giáo viên đang công tác chưa đạt chuẩn trình độ đào tạo đến

9.670 người Mặc dù theo quy định của Bộ GD&ĐT, các trường phải đảm bảo

tỷ lệ 2 giáo viên/lớp nhưng thực tế ở các địa phương cho thấy mục tiêu thực

hiện chưa đáp ứng Chất lượng của giáo viên mầm non hầu như chưa đạt yêu

cầu, chỉ có gần 25% giáo viên được đào tạo chuẩn trung cấp, 10% giáo viên

có trình độ cao đẳng và đại học, còn lại là giáo viên chưa được đào tạo qua

bất cứ 1 trường lớp nào Điều này cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới chất

lượng GDMN

Đời sống của giáo viên mầm non hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn

do chưa có sự quan tâm sâu sát của các cấp chính quyền và ngành giáo dục

Cả nước còn tới gần 75% giáo viên mầm non chưa được vào biên chế chính

thức dẫn đến đời sống giáo viên mầm non gặp nhiều khó khăn làm giảm lòng

yêu nghề đối với đội ngũ giáo viên mầm non hiện nay Cả nước còn gần

10.000 giáo viên mầm non có nhiều năm gắn bó với nghề mà không được

hưởng chế độ bảo hiểm hay chế độ ưu đãi nào Thực trạng tồn tại là họ đến

tuôi nghỉ hưu mà vần không được xét vào biên chê Nhà nước

Trang 19

Sự quản lý của Nhà nước với giáo đục mầm non còn lỏng lẻo thiếu sự phối hợp của các cấp các ngành Việc nhà nước giao trách nhiệm quản lý GDMN cho cấp xã, phường điều đó cho thấy vai trò của GDMN chưa được nhìn nhận đúng đắn Hệ thống các trường mầm non bán công các trường mầm

non tư thục phát triển tràn lan tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố

Hồ Chí Minh nhưng không đảm bảo được chất lượng dạy và học cũng như các

cơ sở vật chất khác dẫn đến tình trạng nhiều bậc phụ huynh không có sự tin tưởng khi đưa con mình đến lớp Ở những vùng nông thôn và miền núi khó

khăn nhiều xã còn nghèo không có đủ kinh phí để chi trả cho giáo viên mầm

non, dẫn đến lòng yêu nghề yêu trẻ của giáo viên bị giảm bởi chỉ dựa vào số lương ít ỏi mà họ nhận được thì họ không thể đảm bảo được cộng sống

Các phương thức chăm sóc giáo dục trẻ ở các cơ sở mầm non chưa được đa dạng hóa đồng bộ đám bảo tính khoa học cho phù hợp với lứa tuôi của các em để các em có thê phát triển một cách toàn diện các khả năng của các em, tỷ lệ trẻ em SDD của Việt nam vẫn còn ở mức cao so với khu vực và

trên thế giới [37]

Có một khoảng cách khá xa giữa GDMN thành thị và nông thôn, giữa

đồng bằng và miễn núi Đó là do những nguyên nhân khách quan về điều kiện

phát triển kinh tế xã hội cũng như trình độ nhận thức và mức sống ở các vùng

miền là khác nhau Theo thống kê trẻ em thành thị có khả năng thích ứng

nhanh hơn gấp 2 lần so với trẻ em nông thôn và gấp 5 lần so với trẻ em ở những vùng sâu vùng xa [37]

Qui mô của GDMN chưa được mở rộng hợp lý, các loại hình GDMN

chưa phát triển hợp lý cho phù hợp với yêu cầu của nền giáo dục hiện đại, do

vậy phần gốc của cây giáo dục vẫn còn khá yếu và chưa đạt mức chuẩn so với thế giới Không chú trọng đến việc nâng cao chất lượng GDMN có nghĩa là không chú trọng đên việc tạo ra một cái gôc chắc chăn cho nên giáo dục

Trang 20

10

Để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng và giáo dục trẻ, mỗi nhà trường

mam non cần chú ý đến việc đảm bảo môi trường, cảnh quan sư phạm Các

phòng học, phòng ăn, phòng ngủ, khu vệ sinh phải thoáng mát, sạch sẽ

Khuôn viên của trường phải đủ rộng để tạo dựng được một khu vườn tự nhiên

sinh động và khu vui chơi rộng rãi, an toàn Trong việc nuôi dưỡng, nhà

trường phải thực hiện nghiêm túc các chế độ sinh hoạt của trẻ theo qui định

của Bộ GD&ĐT, phải nuôi dưỡng trẻ theo khoa học như: cung cấp cho trẻ đủ

năng lượng phù hợp với từng độ tuổi; cân đối các chất protit, lipit, gluxit, các

vitamin và khoáng chất, cân đối năng lượng cần cung cấp cho trẻ trong các

bữa ăn trong ngày; phần đấu giảm tỉ lệ trẻ SDD và tỉ lệ trẻ béo phì [10], [24]

Trong việc dạy dỗ, nhà trường mam non phải thực hiện đúng nội dung,

chương trình các môn học để cung cấp cho trẻ những tri thức ban đầu vẻ thế

giới xung quanh, giúp trẻ phát triển được các phẩm chất nhân cách phù hợp

với yêu cầu của xã hội Trên cơ sở đó, chuẩn bị cho trẻ những tiền đề cần thiết

để bước vào học lớp một và các lớp tiếp theo một cách thuận lợi

Trong quá trình nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dạy trẻ, đội ngũ

giáo viên là nhân tố đóng vai trò quyết định Nhà trường mầm non cần có kế

hoạch và biện pháp để giúp đội ngũ giáo viên không ngừng nâng cao trình độ

chuyên môn, nghiệp vụ và trau đồi các phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của

bản thân Nhà trường là nơi trẻ tham gia, hoạt động nhiều và cũng là nơi có

nhiều tác động đến cơ thê trẻ Do vậy, việc xây dựng trường học và các thiết

bị cho nhà trường, chế độ làm việc của giáo viên, vệ sinh phòng bệnh trong

nhà trường phải được tiến hành ngay từ đầu

Cơ sở vật chất của các trường mầm non thiếu Hiện nay, ước tính trên

toàn quốc mới chỉ có 25% lớp học đạt yêu cầu về nhà cửa và các trang thiết

bị, đồ dùng học tập cho các cháu Một báo cáo trên trang báo Vietnamnet cho

biết tại xã Nghi Lộc, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An theo điều tra năm 2011

Trang 21

1

với hơn 16.000 đân mà không có một trường mầm non nào trong khi số học

sinh lên tới 14 lớp với gần 1000 trẻ Gần 10 năm cô trò phải đi học nhờ Ủy

ban nhân dân xã cho mượn một khu nhà thì gộp chung được 3 lớp còn 11 lớp

phải phân tán học nhờ nhà văn hóa của các xóm Các lớp học gần như không

có thiết bị đồ chơi ngoài trời, nhà vệ sinh, phòng ăn Tất cả các lớp không tổ

chức ăn cho trẻ được vì vậy các bậc phụ huynh phải đưa đón con ngày hai

buổi rất vất vả Ảnh hưởng lớn nhất mà thiếu trường mang lại là chất lượng

trẻ phát triển không đồng đều do không được học đúng bài bản Tất cả các

điểm lẻ của trường đều phải gộp lớp do vậy chương trình dạy cho trẻ phải bị

cắt bớt và không hoàn toàn phù hợp với lứa tuôi trẻ

Khi phân tích tình hình phát triển giáo dục trẻ em tỉnh Điện Biên cho

thấy trong năm học 2008-2009, tỷ lệ trẻ em 5 tuổi đi học mẫu giáo là 94,2%;

tỷ lệ trẻ em đi nhà trẻ chỉ chiếm 10,3% [38]

1.3 Một số nghiên cứu về điều kiện vệ sinh, kiến thức, thực hành chăm

sóc trẻ của bà mẹ và cô giáo

Việc triển khai các nghiên cứu về thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết

bị, nguồn nhân lực phục vụ công tác chăm sóc trẻ tại trường và kiến thức trình

độ của cô giáo và các bà mẹ về chăm sóc trẻ có vai trò rất quan trọng đối với sự

phát triển của trẻ về thể chất cũng như tỉnh thần trẻ Đối với ngành học mầm

non, phối hợp giữa gia đình và nhà trường là một nhiệm vụ thiết thực tạo sự

liên kết thống nhất giữa nhà trường và cha mẹ trẻ về nội dung, phương pháp,

cách thức tổ chức nuôi dưỡng chăm sóc trẻ ở lớp cũng như ở gia đình [16]

Khi nghiên cứu về điều kiện học tập của học sinh 6 trường tiểu học tại

thành phố Thái Bình, tác giả Đặng Thị Vân Quý cho biết 4/6 trường có hồ

tiểu, 3/6 trường có đủ nước máy [28] Chưa có nhiều nghiên cứu về thực trạng

điều kiện vệ sinh trong các trường mam non, các nghiên cứu mới chỉ có đánh

giá chung trong khảo sát các trường học Một số nhà khoa học khi tìm hiểu về

Trang 22

+

12

dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm trong các cơ sở mầm non, Huỳnh

Thị Thu Diệu và nhóm nghiên cứu năm 2012 cho thấy tỷ lệ thừa cân béo phì

đang gia tăng nhanh ở trẻ mầm non 4-5 tuổi thuộc vùng nội thành thành phố

Hồ Chí Minh và đã trở nên vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng cần quan

tâm hiện nay [12]

Theo tác giả Nguyễn Quang Dõng và nhóm nghiên cứu năm 2011 cho

thấy hoạt động thể lực của trẻ em 5 tuổi ở trường mầm non A Hà Nội ít hơn

so với trẻ cùng lứa tuôi ở Nhật Bản và Bi Có một vài lý do giúp giải thích sự

khác biệt này Đặc điểm giao thông tại Hà nội khác so với các nước khác:

Không có hệ thống tàu điện ngầm, xe buýt chưa đáp ứng được như cầu đi lại

chủ yếu của người dân, phương tiện đi lại chủ yếu của người dân Hà Nội là xe

gắn máy Các lớp học chỉ rộng khoảng 35-40 mỶ, có lớp chỉ rộng khoảng 25

mỶ, sân trường cũng chỉ có khoảng 40 mỶ để đặt một số dụng cụ như cầu trượt,

đu quay, nhà bóng Các động tác tập thê dục buổi sáng của trẻ chủ yếu là vận

động thân mình như nghiêng mình, vặn hay quay thân mình, lắc, ngửa, cúi

đầu, giang tay, chân Động tác đi chuyển người bằng chân như chạy bộ không

được thực hiện nhiều, đo đó số bước chân của trẻ bị hạn chế [14] Theo

Huỳnh Văn Dũng và nhóm nghiên cứu năm 2012 cho thấy truyền thông giáo

dục dinh dưỡng cho các bậc cha mẹ; Một số kinh nghiệm đầu tư cơ sở vật

chất trong trường mầm non Trẻ khoẻ mạnh hay không phụ thuộc rất nhiều

vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường - nơi một nửa thời gian hàng ngày

của các em ở đó Việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ trẻ là nhiệm vụ

quan trọng góp phần đảm bảo cho sự phát triển toàn điện về thể chất, tinh

thần cho thế hệ tương lai của đất nước Song trên thực tế, hoạt động y tế dự

phòng tại các trường mầm non hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, nhiều bệnh

đang có xu hướng gia tăng [13]

Trang 23

13

Vẫn còn một số lượng lớn trẻ em Việt Nam tử vong hàng năm Với tỉ

lệ dân số trong độ tuổi sinh đẻ cao, một nước đông dân nên mặc dù tỉ lệ tử

vong trẻ em nước ta tuy đã giảm một cách đáng kê nhưng số tử vong hàng

năm vẫn rất cao Theo đánh giá của UNICEE, hàng năm có tới 28.000 trẻ

dưới 5 tuổi tử vong trong đó có khoảng 16.000 là trẻ sơ sinh Tỉ lệ trẻ em

dưới 5 tuổi chiếm 6,5%, ước tính khoảng 6.000.000 trẻ và số trẻ sơ sinh ra

đời hàng năm từ 1.200.000 - 1.500.000 là nhóm đối tượng luôn cần được

quan tâm một cách đáng kể [37]

Trẻ có quyền được vui chơi, được chăm sóc và phải có luật bảo vệ trẻ

em đối với những kẻ vi phạm quyền trẻ em Đối với các tổ chức xã hội, đặc

biệt là ngành giáo dục là nơi dạy dỗ phải có phương pháp phủ hợp với từng

lứa tuổi, là sân chơi bố ích tạo sự phát triển về tỉnh thần Sự phát triển về

tỉnh thần, thể chất phụ thuộc rất nhiều vào môi trường Một môi trường

trong sạch về mọi mặt có tác động lớn tới sự phát triển của trẻ [7], [9]

Vai trò của gia đình trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là

hết sức quan trọng Theo báo tạp chí cộng sản ra ngày 01/07/2013 cho thấy:

Kể từ khi Việt Nam phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ em của Liên hợp quốc

(năm 1990) và ban hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em (năm

1991) tới nay, công tác bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em ở nước ta đã đạt

được nhiều kết quả, góp phần tạo ra những chuyển biến tích cực trong nhận

thức và hành động của toàn xã hội đối với lĩnh vực này

Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em, bên cạnh rất nhiều thành

tựu đáng ghi nhận thì những hạn chế, yếu kém của công tác bảo vệ, chăm sóc,

giáo dục trẻ em cũng bộc lộ Những yếu kém này đã góp phần làm cho một số

mục tiêu, đặc biệt là mục tiêu bảo vệ trẻ em của các chương trình có nguy cơ

không đạt được so với mục tiêu kế hoạch dé ra Nhiều nguyên nhân đã được

các chuyên gia và các nhà quản lý nêu ra: nhận thức của từng gia đình và toàn

Trang 24

14

cong déng chua day đủ; năng lực của đội ngũ cán bộ còn yếu kém; dịch vụ

bảo vệ trẻ em còn nghèo nàn, chưa có mạng lưới; thiếu hệ thống pháp lý thân

thiện với trẻ em; vai trò của quản lý nhà nước còn mờ nhạt, chưa hiệu quả

Trong nhiều năm qua, kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất, đời sống

tinh thần của nhân dân nói chung và của từng gia đình nói riêng được nâng

lên Những yếu tố cơ bản này đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho việc

chăm sóc, bảo vệ trẻ em Có thể nói, mặc dù điều kiện, mức độ đầu tư chăm

sóc con cái của các gia đình còn chênh lệch nhau, song hầu hết các gia đình

đều ưu tiên đến mức cao nhất cho việc chăm lo cho trẻ em được ăn, mặc, học

hành, khám chữa bệnh

Nhận thức của cha mẹ về chăm sóc, nuôi dạy và bảo vệ trẻ em đã từng

bước được nâng lên Tuy vậy, qua sự phản ánh của báo chí và qua các kết quả

khảo sát, điều tra thì có thể nói hiện nay tình trạng trẻ em thiếu sự quan tâm,

bị xúc phạm, xâm hại, trừng phạt, bạo lực, bóc lột hiện vẫn đang ở mức cao

và càng ngày càng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp Điều đáng lo lắng là

những hiện tượng này diễn ra không chỉ trong môi trường xã hội mà còn ở

ngay trong chính gia đình của các em Nói cách khác, trẻ em chưa được bảo

vệ, chưa được an toàn ngay trong nhà mình, quyền của trẻ em chưa được

chính các bậc cha mẹ thực hiện nghiêm túc và đầy đủ Tất nhiên, khi trẻ em bị

mất an toàn (cả về thể xác, cả về tỉnh thần) ngay trong nhà mình thì lỗi trước

tiên phải thuộc về cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình Có thé ké ra

đây một số nguyên nhân chính dẫn đến sự hạn chế trong ý thức của gia đình

đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Một số nghiên cứu đã

cho thấy tình trạng dinh dưỡng của trẻ em đưới 5 tuổi còn nhiều tồn tại mà

nguyên nhân do các yếu tổ từ bà mẹ như trình độ văn hóa, tuổi mẹ khi sinh,

chăm sóc trong thời kỳ thai nghén [19], [26], [37], [40], [47]

Nhận thức của những người có liên quan đến chăm sóc cũng rất quan

trọng đối với sự phát triển của trẻ Thống kê mô tả và suy luận đã cho thấy

Trang 25

khoảng một nửa (46,8%) số người được hỏi có giáo dục trung học chỉ có

6,0% có kiến thức về quản lý dinh dưỡng của bệnh tiêu chảy trong khi 54,8 %

có kiến thức về liệu pháp bù nước đường uống 71% số người được hỏi báo cáo thực phẩm [51] Một nghiên cứu ở Uganda và một số nghiên cứu khác

trên thế giới cũng cho thấy bệnh tiêu chảy trẻ em có liên quan đến người

chăm sóc trẻ và tình trạng vệ sinh nước uống cho trẻ [2], [53], [54], [55]

Một vấn đề liên quan đến sự phát triển của trẻ là đo trình độ học vấn của

nhiều bậc cha mẹ còn thấp nên chưa có hiểu biết đầy đủ trong việc bảo vệ,

chăm sóc, giáo dục trẻ em Trong nhiều gia đình, trẻ em không bị thiếu ăn

nhưng vẫn SDD; khi đau ốm vẫn được cha mẹ đưa đi chữa trị nhưng lại không phải tại các cơ sở y tế; nhà cửa tương đối khang trang nhưng lại có rất nhiều nguy cơ gây tai nạn cho trẻ; kinh tế không quá thiếu thốn nhưng lại rất nghèo

về thông tin Chính vì sự thiếu hiểu biết của cha mẹ mà rất nhiều trẻ em, tuy được sống trong những gia đình tạm đầy đủ về điều kiện vật chất, nhưng vẫn chưa được bảo vệ và chăm sóc một cách phù hợp; rất nhiều trẻ em phải lao động nặng nhọc, mất an toàn, trong khi gia đình, mặc dù rất khó khăn, nhưng vẫn chưa đến mức lâm vào tình cảnh buộc các em phải làm những công việc

quá sức hay nguy hiểm đó Có không ít trẻ em đã trở thành tàn phế do sự thiếu hiểu biết của cha mẹ Nói cách khác là chính gia đình đã vô tình biến các em

thành trẻ có hoàn cảnh đặc biệt [37] Theo Phou Sophal (2010) tại Bắc Kạn cho

thấy 1/3 số bố mẹ của trẻ có trình độ văn hóa thấp dưới lớp 6; 2/3 số bố mẹ có văn hóa từ 6-12; tỷ lệ bố mẹ học xong lớp 12 trở lên rất thấp (5-6%) [26]

Nghiên cứu tại huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam, tác giả cho biết có mối liên quan giữa tình trạng đỉnh dưỡng của con với chế độ nuôi dưỡng chưa đúng [22] Một nghiên cứu khác tại huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên tác giả Trần Thị Nga và cộng sự cho biết kiến thức của các bà mẹ về chăm sóc trẻ tốt nhưng thực hành về chăm sóc trẻ đặc biệt là trẻ ốm chưa tốt: 36,2% các bà mẹ có con

ốm tự điều trị tại nhà hoặc không điều trị [25] Nghiên cứu của tác giả Trương

Trang 26

16

Manh Sức tại thành phố Phủ Lý cũng cho kết quả tương tự về sự phát triển về

hễ chất của trẻ với kiến thức và thực hành của các bà mẹ trong chăm sóc trẻ

agay từ khi thai ky [30]

Để góp phần nâng cao sức khoẻ, thê lực, thể chất và trí tuệ của trẻ, ngoài

¡rách nhiệm của nhà trường thì trách nhiệm của gia đình đóng vai trò rất quan

trong Gia đình là một tế bào của xã hội và trẻ được giáo dục nền tảng chính ở

trong gia đình Giáo dục không chỉ đơn thuần là nuôi con day du vé vat chất,

mà chủ yếu giúp con trở nên hữu ích, là người con hiếu thảo trong gia đình,

công dân tốt cho xã hội và đất nước Một nhà giáo dục Mỹ đã nói: Nhà trường

đầu tiên là gia đình và người thầy đầu tiên là mẹ nên người mẹ rất quan trọng

đối với trẻ Họ thực hiện thiên chức làm mẹ, làm thẩy một trọng trách khó khăn

nhưng cao cả Sáng kiến kinh nghiệm của Bùi Thị Hải thuộc trường Mầm non

B Hà Nội [16] về kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền giữa nhà trường và

các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mẫu giáo mầm non

B cho thấy: Đối với ngành học mầm non, phối hợp giữa gia đình và nhà trường

là một nhiệm vụ thiết thực, tạo sự liên kết và thống nhất giữa trường mam non

và cha mẹ trẻ về nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức nuôi dưỡng, chăm

sóc, giáo dục trẻ ở lớp cũng như ở gia đình Đây là điều kiện thuận lợi để nhà

trường thực hiện công tác tuyên truyền, phô biến kiến thức khoa học chăm sóc,

giáo dục trẻ cho các bậc cha mẹ và cộng đồng nhằm giúp trẻ sự phát triển toàn

diện cả về thể chất, tỉnh thần, nhận thức, tình cảm, thầm mỹ, ngôn ngữ, giao

tiếp ứng xử góp phần thực hiện tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ mà nhiệm

vụ năm học đã dé ra Một nghiên cứu khác tại Thanh Liêm tỉnh Hà Nam về tình

trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cho biết kiến thức của bà mẹ và kinh tế gia

đình ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng trẻ [31]

_ Việc chăm sóc sức khỏe trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo không chỉ có gia

đình nhà trường mà còn cân sự quan tâm chăm sóc của cộng đông Trẻ bị các

Trang 27

16

Mạnh Sức tại thành phố Phủ Lý cũng cho kết quả tương tự về sự phát triển về

thể chất của trẻ với kiến thức và thực hành của các bà mẹ trong chăm sóc trẻ ngay từ khi thai kỳ [30]

Để góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực, thể chất và trí tuệ của trẻ, ngoài

trách nhiệm của nhà trường thì trách nhiệm của gia đình đóng vai trò rất quan trọng Gia đình là một tế bào của xã hội và trẻ được giáo dục nền táng chính ở

trong gia đình Giáo dục không chỉ đơn thuần là nuôi con đầy đủ về vật chất,

mà chủ yếu giúp con trở nên hữu ích, là người con hiếu thảo trong gia đình, công dân tốt cho xã hội và đất nước Một nhà giáo dục Mỹ đã nói: Nhà trường đầu tiên là gia đình và người thầy đầu tiên là mẹ nên người mẹ rất quan trọng

đối với trẻ Họ thực hiện thiên chức làm mẹ, làm thầy một trọng trách khó khăn

nhưng cao cả Sáng kiến kinh nghiệm của Bùi Thị Hải thuộc trường Mầm non

B Hà Nội [16] về kinh nghiệm trong công tác tuyên truyền giữa nhà trường và

các bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ ở trường mẫu giáo mầm non

B cho thấy: Đối với ngành học mầm non, phối hợp giữa gia đình và nhà trường

là một nhiệm vụ thiết thực, tạo sự liên kết và thống nhất giữa trường mầm non

và cha mẹ trẻ về nội dung, phương pháp, cách thức tô chức nuôi dưỡng, chăm

sóc, giáo dục trẻ ở lớp cũng như ở gia đình Đây là điều kiện thuận lợi để nhà

trường thực hiện công tác tuyên truyền, phô biến kiến thức khoa học chăm sóc, giáo dục trẻ cho các bậc cha mẹ và cộng đồng nhằm giúp trẻ sự phát triển toàn diện cả về thể chất, tinh thần, nhận thức, tình cảm, thâm mỹ, ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử góp phần thực hiện tốt mục tiêu chăm sóc giáo dục trẻ mà nhiệm

vụ năm học đã đề ra Một nghiên cứu khác tại Thanh Liêm tỉnh Hà Nam về tình trạng dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi cho biết kiến thức của bà mẹ và kinh tế gia

đình ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng trẻ [31]

Việc chăm sóc sức khỏe trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo không chỉ có gia

đình nhà trường mà còn cân sự quan tâm chăm sóc của cộng đồng Trẻ bị các

Trang 28

giun đường ruột, nếu không điều trị kịp thời sẽ ảnh hưởng đến sự tăng trưởng

của trẻ [34], [41], [46], [49] Nghiên cứu của tác giả Trần Mạnh Tiến tại huyện

Điện Biên năm 2009 cho biết tỷ lệ mắc viêm phổi trẻ em là 11,6%; nhóm tuổi

mắc cao nhất là 25- 36 tháng tuổi, tỷ lệ bà mẹ cho trẻ đi khám ở trạm y tế khi trẻ

bị ho sốt khó thở là 93,7% ở vùng thấp và 48,1% ở vùng cao Nghiên cứu cũng

chỉ ra sự ảnh hưởng của cán bộ y tế với chăm sóc trẻ em khi bị ốm là kiến thức

đúng của cán bộ y tế về nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính là 66,3%; cán bộ y tế biết

thực hành đúng về phân loại bệnh nhiễm khuẩn hô hắp cấp tinh là 44,8% [32]

Một nghiên cứu ở tỉnh Thái Bình về thực trạng dinh đưỡng cho các bếp ăn tại

các cơ sở nuôi dạy trẻ cho thấy số bếp đạt yêu cầu về dụng cụ chiếm 72,7% [11]

Theo Niên giám thống kê Y tế (2009) cho thấy tại Nam Định số trẻ trong

diện điều tra là 1522 thì có 18,6% trẻ trong diện SDD [8]

Vệ sinh cá nhân cho trẻ ở nhà và ở trường rất quan trọng, giúp trẻ sạch

sẽ và phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường hô hấp và tiêu hóa Đặc biệt

là bệnh giun sán Nghiên cứu của các tác giả tại Thành phố Hồ Chí Minh cho

biết xét nghiệm trên 1677 cháu học tại 4 trường mam non huyén Cu Chi cho

thấy tỷ lệ nhiễm giun kim là 30,7% Nhóm trẻ có các phụ huynh lao động trí

óc thì tỷ lệ nhiễm giun kim ít hơn các nhóm khác [18] Một nghiên cứu của

tác giả Phan Thị Hương Liên về sức khỏe trẻ em mầm non thành phố Hà Nội

cho biết tỷ lệ nhiễm giun chung ở trẻ em mầm non là 5,54% và nhiễm giun

đũa là 3,69%; giun tóc là 2,11% [21] Một nghiên cứu khác của Richard và

cộng sự tại vùng nông thôn Nicaragua và một số nghiên cứu khác khi tìm hiểu

mỗi liên hệ giữa nhiễm ký sinh trùng đường ruột với sự phát triển của trẻ ở

lứa tuổi mẫu giáo cho biết bệnh ký sinh trùng phố biến hơn ở trẻ em dưới 24

“háng tuổi với chiều cao thấp trong khi đó nhóm tuổi lớn hơn với cân nặng

:hấp có liên quan chặt chế với nhiễm ký sinh trùng [29], [43]

Trang 29

18

Nghiên cứu của Trần Thị Nga và Đỗ Thị Phương (2006) tại Phú Lương,

Thái Nguyên và một số nghiên cứu khác cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng còn ở

mức cao và chênh lệch nhiều giữa các địa phương Còn nhiều bà mẹ/người

chăm sóc chính trẻ còn thiếu hiểu biết và không thực hiện các hành vi vệ sinh

cá nhân và vệ sinh trong chăm sóc trẻ [25], [27], [33] Một nghiên cứu tại

Srilanka và một số nghiên cứu khác chỉ ra vệ sinh môi trường và chế độ ăn

ảnh hưởng đến dinh đưỡng trẻ [22], [44]

15 Thực trạng các trường mầm non tại thành phố Nam Định

| Trẻ em có được khoẻ mạnh hay không phụ thuộc rất nhiều vào điều

kiện học tập ở nhà trường, nơi một nửa thời gian hàng ngày của các em ở đó

Việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ trẻ em là nhiệm vụ quan trọng

| góp phần đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất, tính than cho thé

hệ tương lai của đất nước

Một ngôi trường khang trang sạch đẹp, đảm bảo vệ sinh, một đội ngũ

cô giáo đầy nhiệt huyết như người mẹ thứ hai, điều đó sẽ thúc đây sự phát

triển của trẻ một cách đáng kể Sự hiểu động vốn là một nhân tố tích cực để

hoàn thiện nhân cách nếu được thể hiện trong một môi trường giáo dục thân

thiện Việt Nam là nước đông dân thứ 13 trên thế giới nhưng chỉ số phát

triển và các chỉ tiêu về chất lượng dân số chỉ xếp thứ 108/177

Thành phố Nam Định là một thành phó thuộc tỉnh ly của tỉnh Nam

Định và cũng nằm trong bối cảnh chung của đất nước về sự phát triển giáo

Trang 30

19

Đề giải quyết tinh trạng quá tải ở các trường mầm non công lập trên địa

bàn Thành phố Nam Định đòi hỏi phải có sự vào cuộc quyết liệt của các cấp

ủy Đảng, chính quyền các cấp, sự chung tay góp sức của các tô chức, ban ngành, đoàn thể ở địa phương, có cơ chế chính sách phát triển giáo dục mầm non hợp lý Trước hết là phát triển mạng lưới quy mô trường, lớp mầm non phải gắn với quy hoạch đô thị; xây dựng mới các trường mầm non công lập ở

các khu dân cư mới, đầu tư, cải tạo cơ sở vật chất cho các trường công lập

đang xuống cấp; nâng cao đào tạo, bồi đưỡng cán bộ quản lý và giáo viên mầm non, đồng thời tạo điều kiện cho các trường tư thục phát triển và có kế

hoạch bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ chăm sóc, giáo dục trẻ cho đội

ngũ người trông trẻ ở các nhóm trẻ gia đình

Điều lệ trường học mầm non quy định, trẻ từ 18 đến 36 tháng tuổi

được nhận vào nhà trẻ và từ 37 đến 72 tháng tuổi được nhận vào lớp mầm non [4] Tuy nhiên hiện nay, hầu hết các trường mầm non trên địa bàn thành

phố đều không nhận trẻ trên dưới 2 tuổi Vì vậy, hầu hết trẻ trong lứa tuổi

này phải đến trường tư thục hoặc được gửi ở các cơ sở trông trẻ tại gia đình Không chỉ chỉ phí gửi trẻ cao hơn nhiều so với các trường mắm non công lập

mà chất lượng nuôi dưỡng của các gia đình nhận chăm sóc trẻ cũng là một vấn đề khiến các bậc phụ huynh không yên tâm Tuy nhiên, nếu các trường mầm non công lập thực hiện đúng quy định Điều lệ trường mam non, nhận trẻ từ 18 đến 36 tháng tuổi thì tình trạng quá tải trong các nhà trường còn trầm trọng hơn nhiều Thực trạng tại các trường mầm non ngoại thành thành phố Nam Định, các trường ngoại thành do xã quản lý vì vậy kinh phí đầu tư

cho trường phụ thuộc vào tài chính của xã cấp Số giáo viên trong diện biên

chế thì có mức lương theo ngạch bậc còn lại đa số là giáo viên thuộc diện hợp đồng Kinh phí chỉ trả lương cho giáo viên hợp đồng phụ thuộc vào tiền

thu học phí của phụ huynh trẻ theo tháng vì thế không có sự ổn định mức

Trang 31

20

lương Số lượng trẻ nghỉ nhiều do thời tiết giá rét hoặc nóng bức cũng đồng

nghĩa với việc tiền lương của giáo viên hợp đồng bị hụt di do nguồn thu

giảm Điều đó ảnh hưởng tới đời sống của một bộ phận không nhỏ giáo viên

tại các trường mầm non ngoại thành

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho giáo

viên chưa được thực sự quan tâm, hầu như các giáo viên phải tự khắc phục để

đi học Tất cả những vấn đề trên là một thách thức lớn đối với việc đâm bảo

chất lượng cho các trường mầm non trong địa bàn thành phố Nam Định

Trang 32

21

Chương 2

ĐÓI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, đối tượng và thời gian nghiên cứu

2.1.1 Địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được tiễn hành tại 6 trường mầm non thuộc địa bản thành

phố Nam Định

Thành phố Nam Định có dân số là 352.108 người, tỉ lệ thành thi là

85,71%; nông thôn là 14,29 % Mật độ 7589 ngườikm2 Thành phố Nam

Định là một thành phố nằm ở phía bắc của Việt Nam, trực thuộc tỉnh và là tỉnh

ly của tỉnh Nam Định Nằm ở khu vực đồng bằng sông Hồng trù phú, nơi đây

đã sớm trở thành một trung tâm văn hoá và tôn giáo ngay từ những thời kỳ đầu

thé ky XIII trong lịch sử Việt Nam Thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ

ký quyết định công nhận là đô thị loại I ngày 28/11/2011 Trước đó, ngày

22/11/2011 thành phố Nam Định cũng đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết

định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch xây dựng thành phố Nam Định thành

trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học và xã hội của tỉnh Nam Định và của vùng

Nam đồng bằng sông Hồng: đây cũng là một thành phố của vùng duyên hải

Bắc Bộ Thành phố hiện có điện tích tự nhiên nhỏ nhất do vùng nông thôn

ngoại thành rất hẹp Với dân so đông tập trung trên diện tích hẹp nên có mật độ

cao nhất trong các thành phố cả nước, hiện đã hơn 7000 người/km?) Về quy

mô dân số nội thành so với các thành phố ở miền Bắc chỉ đứng sau Hà Nội và

Hải Phòng (đã hơn 30 vạn dân đạt 17.221 người/ 1 km” vào năm 2011) Thành

phố Nam Định có 20 phường: Bà Triệu, Cửa Bắc, Cửa Nam, Hạ Long, Lộc Hạ,

Lộc Vượng, Năng Tĩnh, Ngô Quyền, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Quang

Trung, Thống Nhất, Trần Đăng Ninh, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần

Trang 33

Tế Xương, Trường Thi, Văn Miếu,.Vị Hoàng, Vị Xuyên 5 xã ngoại thành: Lộc

An, Lộc Hòa, Mỹ Xá, Nam Phong, Nam Vân

Thành phố hiện có 29 trường mầm non, trong đó có 27 trường mầm non công lập, 2 trường mầm non tư thục Những năm qua, ngành học mầm non thành phố luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm đầu tư, chăm lo Quy mô trường lớp, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ luôn ổn định, phát triển Đội ngũ giáo viên có trình độ chuyên môn cao, yêu nghề, nhiệt tình trong công tác Bên cạnh những thuận lợi, công tác phô cập GDMN cho trẻ 5 tuổi trên địa bàn thành phố còn gặp khó khăn như: dân số của các phường, xã

trên địa bàn thành phố luôn biến động, ảnh hưởng đến công tác điều tra phổ

cập Sự phân bố các trường mầm non ở các phường không đều, nhiều phường

có 2 trường mầm non như: Trần Hưng Đạo, Vy Xuyên, Văn Miềễu, Trường Thi nhưng có phường lại chưa có trường mầm non như phường Trần Quang Khải Ngoài ra, trẻ mầm non chưa có quy định học đúng tuyến nên các trường gặp khó khăn trong công tác theo dõi phố cập Đội ngũ giáo viên mầm non hiện nay còn thiếu, thời gian đứng lớp cả ngày nên thời gian điều tra phố cập chủ yếu là ngoài giờ làm việc Kinh phí cho công tác phổ cập GDMN cho trẻ

5 tuổi còn hạn hẹp; mức thu nhập của giáo viên ngoài biên chế thấp, ảnh hưởng đến chất lượng của giáo dục

Trong 6 trường mầm non thành phố Nam Định được lựa chọn vào nghiên cứu bao gồm 3 trường mầm non thuộc vùng nội thành và 3 trường mắm non thuộc vùng ngoại thành

Các trường nội thành đó là: Trường mầm non Lộc Vượng, trường mam

non VỊ Xuyên, trường mam non Ngô Quyền

Trường mầm non Lộc Vượng có 11 cô, số cháu là 200 Địa điểm xây

dựng trường được đặt trên một diện tích rộng, thoáng Giao thông thuận lợi

Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ Thiết bị ngoài trời có được trang bị nhưng

Trang 34

Trường mầm non Ngô Quyền có 19 cô, số cháu là 330 Địa điểm xây dựng trường chật hẹp, giao thông đi lại khó khăn vào mùa mưa, đường phố ngập lụt, thoát nước chậm Diện tích trồng cây xanh không có, khuôn viên

không thoáng Các hoạt động ngoài trời của trẻ bị hạn chế Số trẻ đông, trung

bình mỗi cô phụ trách khoảng 17 cháu

Các trường ngoại thành đó là: Trường mầm non xã Mỹ Xá, trường mầm non xã Nam Phong, trường mầm non xã Nam Vân

Trường mầm non xã Mỹ Xá có 40 cô, số cháu là 600 được chia ra làm 4 khu

phân đều cho các khu dân cư thuộc địa bàn xã Diện tích xây dựng và diện

tích trồng cây xanh của trường đạt được theo quy định Giao thông thuận lợi

+ Điều kiện cơ sở vật chất và vệ sinh

+ Bà mẹ có con học tại 6 trường mam non ©

+ Cô giáo chăm sóc trẻ tại 6 trường mâm non

Trang 35

24

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 3 đến tháng 9 năm 2013

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp dịch tễ học mô tả dựa trên cuộc điều tra cắt ngang

Nghiên cứu ngang qua các bảng kiểm và hỏi để xác định thực trạng điều kiện vệ sinh và cơ sở vật chất phục vụ công tác chăm sóc trẻ của các trường mầm non thành phố Nam Định

Nghiên cứu ngang mô tả thông qua phỏng vần trực tiếp các bà mẹ và cô

giáo về kiến thức và thực hành chăm sóc trẻ em lứa tuổi nhà trẻ mẫu giáo

2.2.2 Cỡ mẫu và chọn mẫu

* Cỡ mẫu nghiên cứu

- Cỡ mẫu cho kiểm tra cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh: Toàn bộ các

trường được chọn vào nghiên cứu gồm 6 trường mâm non công lập

- Cỡ mẫu cho phỏng vấn bà mẹ theo công thức tính như sau [35]:

; p(1-p)

n=Z (1-0/2) )

d

Trong đó:

n: Là cỡ mẫu cho nghiên cứu

Zany: HE số tin cậy phụ thuộc vào ngưỡng xác suất œ (Với œ = 0,05

thì Z = 1,96)

p: Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về chăm sóc trẻ em lứa tuổi nhà trẻ

mẫu giáo, ước tính p=0,5

Trang 36

d: Độ sai lệch mong muốn, trong nghiên cứu này chúng tôi chọn d =

0,05 Với các dữ liệu trên chúng tôi tính được n = 384, thực tế chúng tôi đã

điều tra được 399 bà mẹ có con học ở các trường trên

- Cỡ mẫu cho điều tra cô giáo chúng tôi chọn toàn bộ các cô giáo tại 6

trường trên n = 113

* Kỹ thuật chọn mẫu

- Chọn trường:

Thành phố Nam Định có 27 trường mầm non công lập và 2 trường

mầm non tư thục với phạm vi và công việc là như nhau, đều có nhiệm vụ

chăm sóc trẻ em từ 37 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi, số lượng trẻ em và biên

chế các cô giáo là tương đương nhau Trong nghiên cứu này chúng tôi mới đi

vào điều tra ở các trường công lập Trong các trường công lập có 21 trường

nội thành và có 6 trường ngoại thành, vì vậy chúng tôi sử dụng kỹ thuật chọn

mẫu ngẫu nhiên để chọn lấy 3 trường mầm non nội thành và 3 trường mam

non ngoại thành vào nghiên cứu, đó là các trường:

Trường nội thành: Ngô Quyền, Lộc Vượng và Vị Xuyên

Trường ngoại thành: Nam Phong, Mỹ Xá và Nam Vân

- Chọn đối tượng điều tra:

+ Déi tượng là cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh: tất cả các trường

được chọn vào nghiên cứu

+ Đối tượng là các bà mẹ: Lập danh sách các bà mẹ có con đang theo

học tại 6 trường nói trên, sau đó sử dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên để

chọn ra các bà mẹ phỏng vân điêu tra cho đủ cỡ mâu nghiên cứu

+ Đối tượng là cô giáo: Lập danh sách các cô giáo đang làm việc tại 6

_ trường nói trên, sau đó chọn toàn bộ các cô giáo đề phỏng vân điều tra.

Trang 37

26

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin, các kỹ thuật áp dung trong nghiên cứu

- Sử dụng phiếu điều tra để kiểm tra cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh tại

các trường điều tra về địa điểm xây dựng, diện tích xây dựng, diện tích cây xanh,

các công trình vệ sinh, các đồ dùng trang thiết bị phục vụ cho công tác nuôi dạy

trẻ: bô, đồ chơi y tế học đường

- Sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn các bà mẹ về kiến thức, thực hành

chăm sóc trẻ Khi các bà mẹ đến đón con hoặc cho con đến lớp, đoàn điều tra

tiến hành giải thích mục đích cuộc điều tra và tiễn hành phỏng vẫn theo bộ câu

hỏi theo cỡ mẫu nghiên cứu, trường hợp bà mẹ có nhiều con thì chí phỏng vẫn

một lần

- Sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn cô giáo về kiến thức, thực hành chăm

sóc trẻ Tiến hành phỏng vấn tất cả các cô giáo đang chăm sóc trẻ tại 6 trường

điều tra

- Xét nghiệm mẫu nước đề đánh giá chất lượng nước ăn uống và sinh hoạt

tại trường với các chỉ số vệ sinh:

Chất hữu cơ

.NH;

.NO,

Vị khuẩn coliform Vi khuan F coliform

Vikhuan Cl Welchii Vi khuẩn hiếu khí

- Xét nghiệm vi khuẩn hiếu khí không khí để đánh giá tình trạng vệ sinh

không khí phòng học và hoạt động vui chơi của trẻ

- Xét nghiệm tìm vi khuẩn coliform va F coliform & mot số đồ chơi và

bàn chơi của trẻ để đánh giá tình trạng vệ sinh chung.

Trang 38

27

- Kỹ thuật lấy mẫu nước và lấy mẫu không khí theo thường quy chung

của Viện Y học lao động & Vệ sinh môi trường và Viện Vệ sinh dịch tế [2]

+ Lấy mẫu: Trước khi lấy mẫu vào chai, tráng chai 1 - 2 lần bằng chính

nước đó, để cho chảy vài phút rồi mới lấy nước vào chai Mẫu nước để xét nghiệm vi khuẩn tiến hành khử khuẩn bằng nhiệt sau đó mở cho nước chảy 3-

5 phút, rồi lấy nước vào chai Thực hiện các xét nghiệm theo kỹ thuật thường qui như sau:

+ Xét nghiệm chất hữu cơ: Dựa trên nguyên tắc dùng Kali permanganat (KMnO¿) thừa để oxy hóa các chất hữu cơ trong nước Lượng oxy tiêu thụ tương đương với lượng Kali permanganat phản ứng Xác định lượng Kaili permanganat thừa bằng axít Oxalic (HạC;O/)

+ Xét nghiệm NH;: Dựa trên nguyên tắc trong môi trường kiềm,

Amoniac trong nước sẽ tác dụng với thuốc thử Nessler (K;Hgl¿) cho một phức chất màu vàng Đọc kết quả bằng so màu với thang mầu mẫu

+ Xét nghiệm NO;: Dựa trên nguyên tắc trong môi trường axit, nitrit

trong nước sẽ chuyển thành axit nirơ (HNO2), axit này kết với thuốc thử

Griess cho phức chất màu hồng.Đọc kết quả bằng so màu với thang mau mau

+ Xét nghiém Coliform va F Coliform bang phuong phap da éng (The Most Probable Number): Coliform la vi khudn thudng tim thay ở phân người, phân động vật và có thể thấy ở cả môi trường như đất, nước, rau quả

Đây là loại vi khuẩn hiếu khí và ky khí tùy tiện, không có nha bào, chúng

được coi là chỉ điểm vệ sinh quan trọng đối với các nguồn nước đã xử lý Sự

có mặt của coliform chứng tỏ rằng phương pháp tiệt khuẩn chưa đạt hiệu quả Xét nghiệm dựa vào tính chat sinh vat hoa hoc coliform va F Coliform lên men đường lactose, sinh axit, sinh hơi và sử dụng muối mật Sau nuôi

cấy tra bang tính kết quả.

Trang 39

28

+ Xét nghiệm vi khuẩn hiếu khí không khí theo phương pháp Koch

như sau:

Trong không khí thường có nhiều loại vi khuẩn hiếu khí, bao gồm loại

vi khuẩn gây bệnh và loại vi khuẩn không gây bệnh Xác định vi khuẩn hiểu

khí là tìm hiểu mức độ nhiễm vi khuẩn nói chung, qua đó có thể sơ bộ đánh

giá chất lượng ô nhiễm vi sinh vật không khí

Nguyên lý: Vi khuẩn hiếu khí phát triển thuận lợi trong môi trường thạch thường Sử dụng phương pháp lắng bụi của Koch, dựa vào sự lắng đọng

của các hạt aerosol có mang theo các vi sinh vật rơi trên bề mặt môi trường

thạch thường đề nuôi cấy

Mỗi địa điểm tiến hành lấy mẫu ở 5 vị trí trong đó 4 mẫu ở xung quanh

và l1 mẫu ở giữa, mỗi vị trí đặt 1 đĩa thạch (theo thường qui) trong thời gian

10 phút Sau đó mẫu được vận chuyển về phòng xét nghiệm và để trong tủ ấm

với nhiệt độ 37°C/24 giờ

- Công thức tính kết quả:

Ax100x100 Sxk

SLVK: Sé6 luong vi khuan trong Im? khéng khí A: Số khuẩn lạc mọc trên đĩa thạch

SLVK !1m` =

$: Diện tích bề mặt môi trường

k: Hệ số thời gian đĩa thạch (k=l với thời gian 5 phút, k=2 với thời gian 10 phút)

100: Hệ số để tính kết quả trong Im”

Lấy kết quả trung bình của 5 vị trí lay mẫu là kết quả đại diện cho

một mẫu

+ Xét nghiệm vi khuẩn CJ.welchii là loại vi khuẩn ky khí có trong

phân người và phân gia súc, ngoài ra còn thay vi khuan trong dat, bùn, nước

Trang 40

29

| va khéng khi bị nhiễm phân Nước bị nhiễm phân lâu ngay thuéng thay Cl

ị Weichii vì nó là vì khuẩn có nha bào nên sống lâu và có sức chịu đựng với : nhiệt độ cao Nguyên tắc xét nghiệm dựa vào tính chất C7 Welclii chịu được

nhiệt độ cao và sinh nhiều Hydrosunfua nên người ta tìm khuẩn lạc màu đen

trong môi trường Winson Blair Sau khi nuôi cấy thì tính kết quả bằng đếm các khuẩn lạc màu đen tròn trong môi trường, 1 khuẩn lạc màu đen trong môi trường 14 1 con Cl Welchii

2.2.4 Bién số và chỉ số trong nghiên cứu

* Biến số về cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh:

Địa điểm xây dựng

Diện tích xây dựng

Cây xanh

Cung cấp nước sạch

Công trình vệ sinh

Các phòng phục vụ công tác nuôi dạy trẻ

Điều kiện vệ sinh phòng nuôi dạy trẻ

Vị khuẩn hiểu khí không khí

Biến số về kiến thức và thực hành của các bà mẹ về chăm sóc trẻ

Tuổi

Giới

Trình độ học vẫn

Ngày đăng: 15/08/2022, 21:31

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w