1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực trạng kiến thức và thực hành của người chăm sóc chính trong việc dự phòng tái phát bệnh cho người bệnh tâm thần phân liệt tại tỉnh nam định năm 2021

63 28 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ TRƯƠNG TUẤN ANH THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TRONG VIỆC DỰ PHÒNG

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

TRƯƠNG TUẤN ANH

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TRONG VIỆC DỰ PHÒNG TÁI PHÁT BỆNH CHO NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT TẠI

TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2021

NAM ĐỊNH – 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ

TRƯƠNG TUẤN ANH

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC CHÍNH TRONG VIỆC DỰ PHÒNG TÁI PHÁT BỆNH CHO NGƯỜI BỆNH TÂM THẦN PHÂN LIỆT TẠI

TỈNH NAM ĐỊNH NĂM 2021

NAM ĐỊNH – 2021

Trang 3

GDSK Giáo dục sức khỏe

NB Người bệnh

NCSC Người chăm sóc chính NVYT Nhân viên y tế

TTPL Tâm thần phân liệt

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ

HỌ VÀ TÊN THÀNH VIÊN THAM GIA

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN 4

1.1 Tổng quan về tâm thần phân liệt 4

1.1.1 Tình hình mắc bệnh tâm thần phân liệt 4

1.1.2 Triệu chứng lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt 6

1.1.3 Nguyên nhân gây bệnh tâm thần phân liệt 7

1.1.4 Tiến triển của bệnh tâm thần phân liệt 8

1.2 Người chăm sóc chính người bệnh tâm thần phân liệt 9

1.3 Tổng quan về kiến thức và thực hành dự phòng tái phát bệnh TTPL 10

1.3.1 Kiến thức về dự phòng tái phát bệnh TTPL 10

1.3.2 Thực hành về dự phòng tái phát bệnh TTPL 15

1.4 Khung lý thuyết 21

1.5 Tóm tắt địa bàn nghiên cứu 21

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 22

2.1.2 Thời gian nghiên cứu: 22

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu: 22

2.2 Phương pháp nghiên cứu 22

2.2.1 Thiết kế: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 22

2.2.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 22

2.2.3 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 23

2.2.4 Các biến số nghiên cứu: 24

2.2.5 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá: 24

2.2.6 Phương pháp phân tích số liệu: 25

2.2.7.Vấn đề đạo đức của nghiên cứu: 25

2.2.8 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số: 25

Trang 5

3.2 Thực trạng kiến thức về dự phòng tái phát bệnh TTPL của người chăm sóc chính 29

3.3 Thực trạng thực hành dự phòng tái phát bệnh TTPL của người chăm sóc chính 30

3.4 Các yếu tố liên quan đến dự phòng tái phát bệnh TTPL của người chăm sóc chính 32

Chương 4: BÀN LUẬN 34

4.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 34

4.2 Thực trạng kiến thức của người chăm sóc chính về dự phòng tái phát bệnh TTPL 36

4.2.1 Kiến thức về nguyên nhân gây bệnh, tái phát bệnh: 36

4.2.2 Kiến thức về triệu chứng của bệnh: 37

4.2.3 Kiến thức về dấu hiệu tái phát bệnh: 38

4.2.4 Kiến thức về xử trí các tác dụng không mong muốn khi sử dụng thuốc 38

4.3 Thực trạng thực hành của người chăm sóc chính về dự phòng tái phát bệnh TTPL 39

4.3.1 Thực trạng tuân thủ dùng thuốc của người chăm sóc chính 39

4.3.2 Thực trạng tuân thủ tái khám định kỳ 40

4.3.3 Thực trạng thực hành phục hồi chức năng cho người bệnh TTPL 40

4.3.4 Thực trạng thực hành cung cấp dinh dưỡng cho người bệnh TTPL 41

4.3.4 Thực trạng thực hành chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh TTPL 42

4.4 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức, thực trạng dự phòng tái phát bệnh TTPL 42

4.4.1 Giới tính: 43

4.4.2 Thu nhập hàng tháng: 43

4.4.3 Mức độ tuân thủ thực hành điều trị: 44

4.4.4 Nghề nghiệp 44

4.4.4 Thời gian chăm sóc người bệnh TTPL 45

KẾT LUẬN 46

KHUYẾN NGHỊ 47

KẾ HOẠCH THỰC HIỆN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐIỀU TRA

PHỤ LỤC 2: PHIẾU ĐỒNG Ý THAM GIA NGHIÊN CỨU

Trang 6

Bảng 3.1 Đặc điểm về mối quan hệ với người bệnh, trình độ học vấn, nghề nghiệp

người chăm sóc chính 28

Bảng 3.2 Thực trạng thực hành dự phòng tái phát bệnh TTPL của người chăm sóc chính 30

Bảng 3.3: Mối liên quan giữa kiến thức; thực hành về dự phòng tái phát bệnh TTPL 32 Bảng 3.4: Các yếu tố liên quan đến dự phòng tái phát bệnh TTPL 33

Biểu đồ 3.1 Đặc điểm giới tính của người chăm sóc chính 27

Biểu đồ 3.2 Đặc điểm tuổi của người chăm sóc chính 27

Biểu đồ 3.3 Đặc điểm về thu nhập của gia đình người chăm sóc chính 28

Biểu đồ 3.4 Thực trạng kiến thức của người chăm sóc chính về dự phòng tái phát bệnh 29

Biểu đồ 3.5 Xếp loại kiến thức của người chăm sóc chính về dự phòng tái phát bệnh 30

Biểu đồ 3.6 Mức độ thực hành của người chăm sóc chính về dự phòng tái phát bệnh 31

Trang 7

STT Họ và tên Tham gia

Trang 8

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tâm thần phân liệt là bệnh loạn thần nặng chưa rõ nguyên nhân, có khuynh hướng tiến triển mạn tính, dần dần gây sa sút các mặt hoạt động tâm thần làm cho người bệnh không thể hòa nhập với cuộc sống gia đình cũng như xã hội [13] Bệnh tâm thần phân liệt nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời sẽ dẫn đến sa sút trí tuệ, tự kỷ và mất khả năng lao động, ngày càng trở thành gánh nặng cho gia đình và

xã hội [18] Tâm thần phân liệt là một bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới Theo tổ chức Y tế thế giới bệnh tâm thần phân liệt chiếm khoảng 0,3% đến 1% dân số và ước tính thế giới có khoảng 26 triệu người mặc bệnh tâm thần phân liệt Tại Việt Nam, theo điều tra dịch tễ lâm sàng, tỷ lệ người mắc bệnh tâm thần phân liệt là 0,47% dân số Tái phát là một đặc trưng của tâm thần phân liệt Đây là một thách thức lớn vì nó mang lại tác động tiêu cực và hậu quả của nó là một gánh nặng rất lớn cho bệnh nhân, gia đình, lĩnh vực sức khỏe tâm thần và nên kinh tế đất nước Tỷ lệ tái phát 40% ở những người bệnh tiếp tục dùng thuốc và có thể lên đến 97% đối với những người bệnh không tiếp tục dùng thuốc Việc điều trị cho người bệnh tâm thần phân liệt phải được tuân thủ về tái khám định kỳ, duy trì dùng thuốc, phục hồi chức năng và tái hòa nhập cộng đồng để người bệnh cải thiện các mặt về chức năng tâm lý

xã hội, cũng như làm giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội [3] Trong quá trình điều trị này vai trò của người chăm sóc chính là rất quan trọng bởi người chăm sóc là người luôn ở bên cạnh hỗ trợ chăm sóc và quản lý người bệnh Nhưng trên thực tế nhiều trường hợp người chăm sóc chưa nhận thức được rõ về bệnh tâm thần phân liệt và sự quan trọng của việc chăm sóc dẫn đến người bệnh không tuân thủ điều trị, bỏ nhà đi lang thang, bệnh cảnh trở nên nặng nề hơn Điều này là mối nguy hiểm cho bản thân người bệnh, người nhà và xã hội Do đó người chăm sóc chính cần phải được cung cấp kiến thức và thực hành về chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng NB TTPL được phát hiện trong giai đoạn sớm và điều trị đúng cách thì người bệnh có nhiều cơ hội thuyên giảm bệnh và có thể khỏi hẳn Những người bệnh tâm thần phân liệt được điều trị kịp thời, thuốc phù hợp, phối hợp với nhiều liệu pháp và điều trị liên tục tối thiểu trong 5 năm thì tỷ lệ khỏi hẳn bệnh

Trang 9

lên tới 50% Bên cạnh đó, bệnh tâm thần phân liệt có tỷ lệ tái phát cao Sau mỗi đợt bệnh cấp tính rầm rộ, người bệnh có thể trở lại gần như bình thường rồi lại bị tái phát bệnh Khi tái phát, người bệnh có biểu hiện ngày càng căng thẳng, khó chịu, hay lo lắng vô cớ, đôi khi hốt hoảng sợ hãi, đứng ngồi không yên, buồn bực khó chịu, thay đổi tính nết Người bệnh thay đổi các sinh hoạt hàng ngày, ăn uống thất thường hoặc

bỏ ăn, đôi khi ăn uống bẩn thỉu Người bệnh mất ngủ hoặc rối loạn chu kỳ thức-ngủ, trở nên thờ ơ với người thân, lười biếng, không chịu chăm sóc bản thân, thu hẹp giao tiếp với mọi người, xuất hiện những sự bất thường trong lời nói Trong tư duy có những suy nghĩ sai lầm, không phù hợp với thực tế, có những hành vi kỳ dị, khó hiểu Những lần tái phát sau thường có biểu hiện trầm trọng hơn lần trước[9] Do đó việc phòng ngừa tái bệnh tâm thân giữ vai trò rất quan trọng trong điều trị bệnh

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá kiến thức và thực hành của người chăm sóc chính trong việc dự phòng tái phát bệnh cho người bệnh tâm thần phân liệt

và xác định các yếu tố liên quan tại tỉnh Nam Định Những phát hiện từ nghiên cứu sẽ hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý nguồn nhân lực và các bên liên quan khác trong việc thiết kế các chiến lược và biện pháp can thiệp thích hợp để giảm thiểu gánh nặng chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt

Trang 10

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức và thực hành của người chăm sóc chính trong việc dự phòng tái phát bệnh cho người bệnh tâm thần phân liệt tại tỉnh Nam Định năm 2021

2 Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành của người chăm sóc chính trong việc dự phòng tái phát bệnh cho người bệnh tâm thần phân liệt tại tỉnh Nam Định năm 2021

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Tổng quan về tâm thần phân liệt

1.1.1 Tình hình mắc bệnh tâm thần phân liệt

Bệnh TTPL là một bệnh tương đối phổ biến, theo Tổ chức Y tế thế giới tỷ lệ mắc bệnh khoảng 0,3 – 1% dân số [2]

Theo số liệu đã được thống kê, người ta ước tính có khoảng 2,2 triệu người ở Hoa Kỳ mắc bệnh tâm thần phân liệt Tỷ lệ mắc mới được chẩn đoán dao động từ 11 đến 70 trên 100.000 người Nguy cơ phát triển tâm thần phân liệt được cho là khoảng 1% đối với dân số nói chung và không có sự khác nhau giữa nam và nữ [3]

Hiện nay thế giới có khoảng 24 triệu người mắc bệnh tâm thần phân liệt, mỗi năm trong số đó có khoảng: 1 triệu người tự sát, 10-20 triệu người có ý định tự sát [3]

Ở Việt Nam, từ năm 1964 đến nay đã có một số công trình điều tra cơ bản về bệnh tâm thần và thu được một số kết quả Song do phương pháp, công cụ và đặc biệt

là tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần ở mỗi thời kỳ có khác nhau nên tỷ lệ một số rối loạn tâm thần có thay đổi [3]

Năm 1981 Trần Văn Cường, Nguyễn Khánh Hợi điều tra tâm thần ở xã Hoà Bình Nguyễn Thị Mai và cộng sự điều tra về các bệnh tâm thần tại phường Lê Đại Hành, Hà Nội Nguyễn Văn Siêm và cộng sự điều tra Handicap tâm thần ở 4 xã (phường) Hà Nội Các công trình này cho tỷ lệ mắc bệnh tâm thần dao động 18-20% dân số [3]

Năm 1994 được sự giúp đỡ của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương, ngành tâm thần Việt Nam đã tiến hành điều tra tâm thần tại 3 điểm: xã Tự Nhiên, xã Quất Động thuộc huyện Thường Tín; xã Tiên Kiên, huyện Lâm thao – Phú Thọ và xây dựng mô hình chăm sóc sức khỏe tâm thần dựa vào cộng động; cho tỷ lệ mắc rối loạn tâm thần phân liệt là 0,3-1% dân số [3]

Năm 2010 Nguyễn Văn Siêm thực hiện nghiên cứu dịch tễ học TTPL tại cộng đồng, địa điểm nghiên cứu được tiến hành tại một phường của thành thị, một xã của

Trang 12

nông thôn đồng bằng và một xã miền núi với tổng dân số 23758 Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc chung là 0,52 – 0,61% dân số Tỷ lệ mắc điểm là 0,49 – 0,53% Tỷ

lệ mới mắc trong một năm 0,29 – 0,56‰ Xác suất mắc bệnh 1,26 – 1,44% Tỷ số người bệnh nữ/nam là 0,9 Số người bệnh khởi phát ở độ tuổi 15 – 25 có tỷ lệ cao nhất (49 – 65%) Tuổi khởi phát trung bình ở nam là 20 – 25, ở nữ là 25 – 30 Tỷ lệ độc thân ở người bệnh nam là 40,58%, ở người bệnh nữ là 38,71% Tỷ lệ ly hôn, ly thân là 5,33% Tỷ lệ NB mạn tính và hay tái phát là 88 – 94% [10]

Tại tỉnh Nam Định điều tra dịch tễ học 10 rối loạn tâm thần thường gặp của Bệnh viện Tâm thần Nam Định Tỷ lệ mắc bệnh tâm thần phân liệt trên địa bàn tỉnh là 0,31% Kết quả báo cáo tính đến tháng 6/2019 trong danh sách quản lý và theo dõi của Bệnh viện Tâm thần Nam Định, toàn tỉnh có 5788 người bệnh tâm thần phân liệt [1]

Trang 13

1.1.2 Triệu chứng lâm sàng bệnh tâm thần phân liệt

- Rối loạn ngôn ngữ

Ngôn ngữ của người mắc bệnh TTPL thường nghèo nàn, tối nghĩa, khó hiểu, thường gặp hiện tượng lời nói bị ngắt quãng, thêm vào những từ lạ khi nói, dòng liên tưởng lỏng lẻo, có lúc nói nhanh, có lúc nói chậm, không nói hoặc nói liên hồi, có lúc nói một mình, nói hỗn độn đầu gà đuôi vịt, lặp đi lặp lại

- Rối loạn tư duy

Thường là các loại hoang tưởng, (hoang tưởng là những ý tưởng, phán đoán không phù hợp với thực tế nhưng NB cho là đúng không thể giải thích thuyết phục được) Thường gặp hoang tưởng bị truy hại, NB khẳng định có một nhóm người hoặc một người nào đó âm mưu hại mình nhưng đặc biệt có ý nghĩ chẩn đoán là hoang tưởng bị chi phối, hoang tưởng bị kiểm tra, NB cảm thấy những cảm giác, hành vi, ý nghĩa của mình bị chi phối bởi một người nào đó từ bên ngoài, có khi bằng các máy vô tuyến điện, tia xạ hoặc bằng phù phép siêu nhiên,…

- Rối loạn tri giác

Thường gặp ảo thanh (nghe tiếng nói khi không có người xung quanh), tiếng nói văng vẳng bên tai hoặc xuất hiện ở trong đầu, trong các bộ phận của cơ thể NB Nội dung tiếng nói thường bình phẩm hoặc ra lệnh cho NB Một số NB có những rối loạn cảm giác trong cơ thể nhất là các cơ quan nội tạng hoặc có cảm giác biến đổi các bộ phận trong cơ thể như cảm thấy không có tim phổi, chân tay dài ra hay ngắn lại

- Rối loạn cảm xúc

Những thay đổi cảm xúc thường xuất hiện sớm, đặc trưng là cảm xúc ngày càng cùn mòn, khô lạnh, NB mất cảm tình với người xung quanh, bàng quan lạnh nhạt với vui thú trước đây Thường gặp cảm xúc trái ngược với nội dung lời nói và hoàn cảnh xung quanh (đi vào đám cưới lại khóc, đi vào đám ma lại cười), hoặc cảm xúc 2 chiều (vừa yêu, vừa ghét một người, một hiện tượng) NB thường xa lánh người thân, hằn học với mọi người, đôi khi biểu hiện cảm xúc đột biến như khóc lóc, cơn cười vô duyên vô cớ, cơn lo sợ, cơn giận dữ Có thể xuất hiện những thời kỳ trầm cảm, biểu hiện buồn chán không lý do hoặc hưng phấn nói nhiều

- Rối loạn hành vi tác phong

Trang 14

Người bệnh TTPL thường xa lánh mọi người, sống độc thân đi lang thang không

có mục đích; có NB lên cơn kích động hò hét, đập phá; có NB có những động tác định hình lặp đi lặp lại hoặc điệu bộ nhún vai nhếch mép Đặc trưng là hiện tượng căng trương lực biểu hiện trạng thái kích động xen kẽ bất động; trong trạng thái kích động, lời nói và động tác có tính chất định hình; có trường hợp xung đột tấn công Trong trạng thái bất động, NB nằm sững sờ không nói, không ăn và chống đối; có NB ban ngày nằm yên tại giường, tối lại dậy đi lại bình thường Một số NB có những hành vi

kỳ dị, trời nắng nóng thì mặc áo bông, trời rét lại cởi trần lội xuống sông bơi; có NB lên cơn xung đột bột phát tự nhiên đốt nhà, chém giết người một cách thản nhiên

- Rối loạn ý chí

Người bệnh mất sáng kiến, mất động cơ, khả năng học tập và lao động giảm sút Những việc trước kia NB làm dễ dàng thì nay phải cố gắng lắm mới làm được Thói quen nghề nghiệp mất dần đến chỗ không thiết làm gì nữa Một NB sau nhiều năm bị bệnh, đời sống ngày càng suy đồi, lang thang hoặc nằm lì một chỗ, không chú ý đến vệ sinh thân thể

- Rối loạn về nhận thức

Mặc dù ý tưởng, hành vi của NB rất không bình thường nhưng không bao giờ họ thừa nhận là mình sai Chính vì không nhận thức được bệnh nên họ thường từ chối việc chăm sóc và điều trị

- Biến đổi nhân cách

Sau một thời gian bị bệnh, NB TTPL thường biến đổi nhân cách gọi là nhân cách phân liệt; đặc trưng với 2 tính chất cơ bản là tính thiếu hòa hợp trong các mặt hoạt động tâm thần và tính tự kỷ biểu hiện bằng sự tách rời thế giới thực tại bên ngoài để quay vào cuộc sống nội tâm bên trong bí ẩn, lạ kỳ chỉ tự mình biết, không ai có thể hiểu được

Nhìn chung, các triệu chứng lâm sàng của bệnh TTPL là vô cùng phong phú, phức tạp và luôn biến đổi [11], [13], [7]

1.1.3 Nguyên nhân gây bệnh tâm thần phân liệt

Trong suốt quá trình lịch sử của ngành tâm thần học, các tác giả đã kiên trì nghiên cứu và thử nghiệm, có nhiều giả thuyết của các chuyên ngành liên quan đến

Trang 15

Tâm thần học như: Hoá sinh học, Di truyền học, Thần kinh học, Triết học, nhưng cho đến nay bệnh nguyên và bệnh sinh của TTPL vẫn chưa xác định được rõ ràng, chưa có một giả thuyết nào mang đến một kết quả thuyết phục [7] [6]

Giả thuyết về sinh hóa

Nghiên cứu của nhiều tác giả cho rằng ở NB TTPL có rối loạn chuyển hoá các chất trung gian hoá học thần kinh như Serotonin, Catecholamin,

Giả thuyết về rối loạn cấu trúc và chức năng não

Một hướng nghiên cứu được chú ý gần đây là giả thuyết về rối loạn động hệ Dopaminergic Cơ sở khoa học của giả thuyết này là hiệu quả điều trị của các thuốc hướng thần làm phong tỏa Receptors Dopamin và làm giảm sự dẫn truyền Dopamin ở các vùng khác nhau của não Do vậy, bệnh TTPL có thể liên quan đến thừa hoặc tăng tương đối hoạt tính Neuron hệ thống Dopamine trung ương

Một số giả thuyết về di truyền học

Bệnh TTPL và những rối loạn liên quan đến TTPL xảy ra với tỷ lệ cao trong số những người có mối liên hệ sinh học với NB TTPL Một số nghiên cứu cho thấy rằng nếu bố hoặc mẹ mắc bệnh thì khả năng mắc bệnh của con cái từ 10% - 20% và nếu cả

bố và mẹ mắc bệnh thì tỷ lệ con mắc bệnh tăng lên đến 30% - 40%

Một số giả thuyết khác

Môi trường tâm lý xã hội, mất khả năng thích ứng với các Stress tâm lý, rối loạn cấu trúc và xung đột gia đình, các biến đổi văn hóa, các yếu tố liên quan trong quá trình mang thai, sinh nở…tuy không phải là nguyên nhân nhưng cũng là những nhân tố thúc đẩy bệnh phát sinh và phát triển

1.1.4 Tiến triển của bệnh tâm thần phân liệt

- Giai đoạn báo trước

NB ngày càng giảm sút khả năng học tập và công tác, đầu óc mù mờ, khó suy nghĩ, cảm xúc lạnh nhạt dần, khó thích ứng với ngoại cảnh, giảm dần các thích thú trước đây Một số NB biểu hiện trạng thái giống suy nhược thần kinh như đau đầu, mất ngủ, chóng mệt mỏi, khó tiếp thu cái mới, bồn chồn lo lắng, dễ nổi nóng, dễ bùng nổ Sau nữa, NB có cảm giác bị động tăng dần cảm thấy đuối sức trước cuộc sống Một số

NB cảm thấy có những biến đổi kỳ lạ trong người như thay đổi nét mặt, màu da; có

Trang 16

NB trở nên say sưa đọc các loại sách như triết học, lý luận viển vông, không phù hợp với thực tế

- Giai đoạn toàn phát

Các triệu chứng khởi đầu nặng dần lên; đồng thời xuất hiện các triệu chứng loạn thần rầm rộ, bao gồm các triệu chứng dương tính (ảo giác, hoang tưởng) và các triệu chứng âm tính (thiếu hòa hợp) Tùy theo triệu chứng nổi bật lên hàng đầu và thời gian kéo dài trong giai đoạn kịch phát, người ta chia ra các thể bệnh TTPL khác nhau Theo bảng phân loại quốc tế 10, các thể bệnh TTPL gồm: thể hoang tưởng có các triệu chứng hoang tưởng (đặc biệt là hoang tưởng bị kiểm tra bị chi phối) và ảo giác, thường gặp ảo thanh; thể thanh xuân xuất hiện ở tuổi trẻ, nổi bật trạng thái kích động lố lăng,

si dại, cảm xúc hỗn độn, tư duy rời rạc, tác phong điệu bộ nhăn mặt, nheo mắt, tinh nghịch; thể căng trương lực nổi bật là triệu chứng kích động xen kẽ bất động, chống đối, động tác định hình; thể đơn thuần chủ yếu các triệu chứng âm tính, thiếu hòa hợp, cảm xúc cùn mòn, giảm sút hiệu quả lao động và học tập, ý chí giảm sút dần

- Giai đoạn di chứng

Các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác mất đi hoặc mờ nhạt, chỉ còn các triệu chứng âm tính nổi bật lên như cảm xúc cùn mòn, ngôn ngữ nghèo nàn, hoạt động kém, bị động trong cuộc sống, kém chăm sóc bản thân, một số NB sống lang thang [7] [6] [12]

1.2 Người chăm sóc chính người bệnh tâm thần phân liệt

Theo Đạo luật công nhận người chăm sóc 2004 của Australia: “Người chăm sóc chính là một người cung cấp sự chăm sóc, hỗ trợ và giúp đỡ liên tục cho một người có khuyết tật, bệnh mạn tính (bao gồm bệnh tâm thần) hoặc yếu đuổi (trẻ em), không nhận tiền lương hoặc tiến công cho sự chăm sóc” [14]

Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê (2002): “Người chăm sóc chính là người thường xuyên trực tiếp đưa người bệnh đi khám bệnh định kỳ, trực tiếp đi lĩnh thuốc, cho người bệnh uống thuốc hằng ngày, đôn đốc giúp người bệnh làm vệ sinh cá nhân hằng ngày, trên 18 tuổi và sống cùng người bệnh [8]

Trang 17

Dựa trên định các nghĩa trên, tùy thuộc vào các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau thì sẽ áp dụng cho phù hợp Nghiên cứu của chúng tôi định nghĩa người chăm sóc chính của người bệnh TTPL là thành viên trong gia đình người bệnh, thường xuyên trực tiếp đưa người bệnh đi khám bệnh định kỳ, trực tiếp đi lĩnh thuốc, cho người bệnh uống thuốc hàng ngày; có thời gian giúp người bệnh làm vệ sinh cá nhân hàng ngày, chịu trách nhiệm giám hộ cho người bệnh khi nằm viện, trên 18 tuổi, sống cùng nhà với người bệnh

1.3 Tổng quan về kiến thức và thực hành dự phòng tái phát bệnh TTPL

1.3.1 Kiến thức về dự phòng tái phát bệnh TTPL

Nâng cao kiến thức về dự phòng tái phát bệnh tâm thần phân liệt là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch đến người dân, giúp người chăm sóc chính, gia đình người bệnh và cộng đồng nâng cao sự hiểu biết để thay đổi thái độ, chấp nhận và duy trì thực hiện những hành vi lành mạnh, có lợi cho sức khỏe cá nhân người bệnh và phòng tránh được sự tái phát bệnh [5]

Để nâng cao được kiến thức về dự phòng tái phát bệnh TTPL thì giáo dục sức khỏe giữ vai trò rất quan trọng GDSK cung cấp các kiến thức mới làm cho đối tượng được giáo dục hiểu biết rõ hơn các vấn đề sức khỏe bệnh tật, từ đó họ có thể nhận ra các vấn đề sức khỏe bệnh tật liên quan đến bản thân, gia đình, cộng đồng nơi họ đang sinh sống, dẫn đến thay đổi tích cực giải quyết các vấn đề bệnh tật sức khỏe [5] Giáo dục sức khỏe gồm có 3 lĩnh vực là: Kiến thức của người chăm sóc về dự phòng tái phát bệnh tâm thần phân liệt; thái độ của người chăm sóc về dự phòng tái phát bệnh tâm thần phân liệt; Thực hành của người chăm sóc về dự phòng tái phát bệnh tâm thần phân liệt

+Kiến thức của người chăm sóc về dự phòng tái phát bệnh tâm thần phân liệt: Bệnh tâm thần phân liệt có tỷ lệ tái phát cao Nếu không điều trị củng cố sẽ có 60-70% số bệnh nhân tái phát sau một năm, gần 90% bệnh nhân tái phát sau 2 năm Tỷ

lệ tái phát ở các bệnh nhân tâm thần phân liệt điều trị củng cố liên tục bằng thuốc sau 1 năm là dưới 20%, sau 2 năm là dưới 30% Sau một đợt bệnh cấp diễn rầm rộ, nếu được điều trị sớm và hợp lý, bệnh nhân có thể nhanh chóng trở nên gần như bình thường Trong giai đoạn ổn định ấy có thể xuất hiện một đợt tâm thần phân liệt cấp diễn khác

Trang 18

Đó là sự tái phát của bệnh tâm thần phân liệt Sự tái phát của tâm thần phân liệt phụ thuộc vào các yếu tố sau: thể bệnh và tiến triển của bệnh; không điều trị củng cố, hoặc điều trị củng cố quá ngắn; stress tâm lý mạnh; lạm dụng rượu và ma tuý; bệnh cơ thể kết hợp Việc phát hiện sớm các dấu biểu hiện của tái phát bệnh TTPL giúp cho việc điều trị đạt hiệu quả cao hơn và phòng tránh được các nguy hiểm cho người bệnh và cộng đồng Người chăm sóc chính người bệnh TTPL điều trị ngoại trú là người có thời gian tiếp xúc với người bệnh thường xuyên và kéo dài nên cần được cũng cấp kiến thức để phát hiện ra sớm nhất các dấu hiệu tái phát của bệnh TTPL

* Dấu hiệu tái phát

- Căng thẳng ngày một tăng, bệnh nhân cảm thấy khó chịu, hay lo lắng vô cớ, viển vông và không thể thư giãn Đôi khi người bệnh hoảng hốt, sợ hãi, làm người bệnh đứng ngồi không yên, buồn bực trong người Người bệnh thay đổi tính nết, hay cáu giận vô cớ Sinh hoạt hàng ngày cũng thay đổi, bệnh nhân ăn uống thất thường Người bệnh có thể từ chối ăn hoặc ăn những thứ mà trước đó họ hoàn toàn không thích, đôi khi ăn uống bẩn thỉu

- Bệnh nhân thường mất ngủ hoặc rối loạn chu kỳ thức - ngủ, trở nên thờ ơ với người thân, lười biếng, không tự chăm sóc bản thân, thu hẹp giao tiếp với mọi người Xuất hiện sự bất bình thường trong lời nói: nói bâng quơ, không ăn nhập với hoàn cảnh, nói một mình Trong tư duy có những ý nghĩ sai lầm, không đúng với thực tế hoặc không thể có được trong thực tế, có những hành vi kỳ dị, khó hiểu

* Mục đích và lợi ích của nâng cao kiến thức dự phòng tái phát bệnh TTPL Nâng cao kiến thức về dự phòng tái phát bệnh TTPL qua truyền thông Truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến mọi vấn đề của xã hội Truyền thông tác động đến nhận thức của công chúng, từ nhận thức sẽ tác động đến hành động và ứng xử công chúng Khi mà một ứng xử của công chúng được lặp đi lặp lại sẽ thành nề nếp, tập quán, cuối cùng trở thành chuẩn mực xã hội Nhờ truyền thông mà những vấn đề này được xã hội chấp nhận và lan truyền nhanh chóng trong công chúng Đặc biệt với công tác truyền thông tư vấn sức khỏe cộng đồng nói riêng có thể kể đến những mục đích, tầm quan trọng, vai trò cụ thể của truyền thông như:

Trang 19

Mục đích:

Nâng cao kiến thức dự phòng tái phát bệnh TTPL góp phần thực hiện một trong những quyền của con người là quyền được chăm sóc và bảo vệ sức khỏe Mục tiêu cơ bản của nâng cao kiến thức là giúp cho mọi người:

- Xác định những vấn đề và nhu cầu sức khỏe của người bệnh TTPL

- Hiểu rõ những điều gì người chăm sóc có thể làm được để giải quyết những vấn

đề sức khỏe, bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho người bệnh TTPL bằng những khả năng của chính họ cũng như sự giúp đỡ từ bên ngoài

- Quyết định những hành động thích hợp nhất để tăng cường cuộc sống khỏe mạnh [5]

Lợi ích của truyền thông nâng cao kiến thức dự phòng tái phát bệnh TTPL:

- Truyền thông dễ dàng lôi cuốn sự lưu ý của quần chúng đối với các vấn đề sức khỏe một cách nhanh chóng

- Truyền thông có thể đưa ra các ý kiến về sức khỏe hết sức hữu hiệu

- Truyền thông có thể kích thích quần chúng, tạo ra những đáp ứng tình cảm để người nghe - xem thay đổi nếp sống để có một sức khỏe tốt

- Truyền thông có thể tác động lên dư luận, tạo ra các cơ hội để tranh luận cách thức duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật qua phương tiện liên lạc

- Truyền thông có thể hợp tác với các nhà chuyên môn để tổ chức các buổi gặp

gỡ giữa quần chúng với nhau hoặc giữa các nhà chuyên môn với quần chúng để trao đổi kiến thức bảo vệ sức khỏe

- Tính cách giáo dục, chia sẻ kiến thức, cổ vũ những hành vi có lợi cho cộng đồng

- Giúp cải thiện sự gắn bó các quan hệ công cộng, giúp các tổ chức liên quan tới bảo vệ sức khỏe cùng sát cánh làm việc

- Góp phần tranh đấu, cổ vũ, truyền thông tiếp tay với các nhà lãnh đạo đưa ra các chính sách y tế, dung hòa các tranh luận và tìm ra các hỗ trợ ý kiến có tính cách quyết định đặc biệt [5]

Trang 20

Nhận thức về chăm sóc sức khỏe tâm thần nói chung và tâm thần phân liệt nói riêng là một trong những vấn đề ngày càng được quan tâm trên toàn thế giới vì sự ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế của mỗi quốc gia, đến chất lượng cuộc sống của con người Theo WHO, những ảnh hưởng về kinh tế do rối loạn sức khỏe tâm thần là rộng khắp, lâu dài và rất lớn Nó gây nên chi phí lớn cho cá nhân, gia đình và cộng đồng Theo báo cáo y tế thế giới năm 2001, những rối loạn tâm thần và hành vi chiếm khoảng 12% gánh nặng bệnh tật toàn cầu [10] Chính vì vậy, sức khỏe tâm thần cũng như rối loạn tâm thần ngày càng được quan tâm nghiên cứu Tâm thần phân liệt không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của những người bị ảnh hưởng, mà còn những người xung quanh đặc biệt là những người chăm sóc họ [21], [16] Việc điều trị có hiệu quả hơn khi những người chăm sóc được trang bị kiến thức đầy đủ liên quan đến chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt [22],[24], [18]

Về sức khỏe tâm thần đã có những nghiên cứu sâu rộng về nhận thức và thái độ của người dân đối với vấn đế này Như nghiên cứu vào năm 2007 của một tổ chức ở Ireland về “Nhận thức và thái độ của người dân Ireland đối với vấn đề sức khỏe tâm thần [20] Nghiên cứu được tiến hành trên 1000 người dân nhằm thông báo cho sự phát triển nhận thức về vấn đề sức khỏe tâm thần của người dân Ireland hướng đến việc nâng cao nhận thức và hiểu biết về sức khỏe tâm thần của người dân Những người thực hiện nghiên cứu này cũng có mong muốn phát triển khả năng ứng phó của người dân Ireland đối với những rối loạn sức khỏe tâm thần Kết quả nghiên cứu trên chỉ ra nhận thức của người dân về các vấn đề sức khỏe tâm thần còn hạn chế Trong bài báo “Làm thế nào để người Thái Lan chăm sóc, quản lý người bệnh tâm thần phân liệt tại nhà” của Tiến sĩ Phyllis và Jintana Yunibhand (2009) đã chỉ ra ở Thái Lan có khoảng 343.680 người bệnh tâm thần phân liệt được chăm sóc tại nhà bởi người thân

và hầu hết họ đều có ít kiến thức về bệnh tâm thần phân liệt, kết quả thu được bằng cách phỏng vấn sâu và quan sát 170 người chăm sóc người bệnh tâm thần phần liệt [21]

Một số tác giả khác lại nhấn mạnh đến nhận thức của người chăm sóc về những gánh nặng mà họ phải trải qua khi chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt, bởi bệnh tâm thần phân liệt là một rối loạn tâm lý nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống của những người bị ảnh hưởng mà cả gia đình của họ Khi bệnh tâm thần phân

Trang 21

liệt có xu hướng trở nên mạn tính, sự suy giảm chức năng dẫn đến mất chức năng xã hội, thay đổi mô hình truyền thông trong gia đình, dẫn đến những khó khăn nghề nghiệp và gây gánh nặng cho gia đình Các phản ứng của gia đình đối với một thành viên trong gia đình bị tâm thần phân liệt bao gồm gánh nặng chăm sóc, sợ hãi và bối rối về các dấu hiệu và triệu chứng bệnh tật, sự không chắc chắn về bệnh, thiếu sự hỗ trợ của xã hội và kỳ thị

Trong một nghiên cứu được thực hiện tại hai bệnh viện tư nhân của Malaysia và

Ấn độ trên 50 người bệnh tâm thần phân liệt và người chăm sóc người bệnh do Thara

và cộng sự (2010) thực hiện đã chỉ ra những gánh nặng mà người chăm sóc ở cả hai nước gặp phải như: gánh nặng tài chính; sự kỳ thị của những người xung quanh; sự cải thiện của người bệnh Mặc dù không có sự khác nhau nhiều về mặt văn hóa nhưng có

sự khác nhau về nhận thức giữa người chăm sóc của hai quốc gia Nhận thức về gánh nặng của người chăm sóc ở Malaysia cao hơn ở Ấn Độ Và những yếu tố có thể ảnh hưởng đến người chăm sóc ở Malaysia là tuổi của người bệnh; các hỗ trợ từ gia đình; quan hệ hôn nhân giữa người chăm sóc và người bệnh; các dịch vụ y tế hỗ trợ Còn ở

Ấn độ, tình hình tài chính; sự kỳ thị của những người xung quanh; mức độ cải thiện của bệnh là những yếu tố tác động trực tiếp đến người chăm sóc [17] Có thể nói những gánh nặng mà người chăm sóc gặp phải trong khi chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức của người chăm sóc về bệnh tâm thần phân liệt bởi họ không có nhiều thời gian rảnh rỗi để tìm hiểu những kiến thức về bệnh tâm thần phân liệt

Nghiên cứu về nhận thức của người nhà về bệnh tâm thần phân liệt như nghiên cứu của nhóm tác giả Phạm Xuân Trưởng, Nguyễn Văn Doanh, Đỗ Văn Hạnh của Bệnh viên quân y 103 (2015): “Khảo sát nhận thức của người bệnh và người chăm sóc người bệnh về bệnh tâm thần phân liệt”, qua khảo sát 67 bệnh nhân tâm thần phân liệt

và 47 người chăm sóc trực tiếp người bệnh nghiên cứu chỉ ra đa số người bệnh và người chăm sóc người bệnh nhận thức sai rằng tâm thần phân liệt là bệnh thần kinh (55,88% và 55,32%) Chỉ 35,29% số người bệnh và 25,53% số người chăm sóc nhận thức đúng rằng tâm thần phân liệt là bệnh tiến triển suốt đời Chỉ có 45,59% số người bệnh và 40,43% số người chăm sóc nhận thức đúng rằng bệnh tâm thần phân liệt phải

Trang 22

điều trị củng cố suốt đời [15] Điều này cho thấy kiến thức về bệnh TTPL của người chăm sóc còn hạn chế

1.3.2 Thực hành về dự phòng tái phát bệnh TTPL

1.3.2.1 Tuân thủ điều trị bệnh tâm thần phân liệt tại cộng đồng

TTPL là bệnh chưa rõ căn nguyên và có khuynh hướng tiến triển ngày càng nặng, trở thành mạn tính Bệnh làm tan rã sự hoà hợp vốn có của quá trình cơ bản tạo nên đời sống con người Khi bệnh ở giai đoạn cấp tính cần được điều trị tại bệnh viện chuyên khoa, đây chỉ là một phần nhỏ trong quá trình điều trị bệnh TTPL Vấn đề là phải được điều trị lâu dài tại cộng đồng để phòng tái phát và giúp NB khắc phục những triệu chứng âm tính, từ đó NB phục hồi được các chức năng sinh hoạt và tái thích ứng với xã hội [2], [7], [12] Vì vậy, điều trị bệnh TTPL phải có chiến lược trước mắt và lâu dài Chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần cộng đồng ra đời đã đáp ứng được chiến lược đó

Đến nay, căn nguyên của bệnh TTPL chưa rõ ràng, vấn đề điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và PHCN lao động cho NB Nói cách khác, điều trị bệnh TTPL phải kết hợp nhiều liệu pháp như: liệu pháp hoá dược, liệu pháp lao động, liệu pháp PHCN tâm lý, tái thích ứng xã hội và lý liệu pháp Tuỳ từng thể bệnh và mức độ đáp ứng của NB mà sử dụng các liệu pháp cho phù hợp hoặc phối hợp để hiệu quả hơn Trong những liệu pháp trên thì liệu pháp hoá dược là quan trọng nhất, nó là nền tảng cho việc áp dụng phối hợp các liệu pháp khác [13]

* Liệu pháp hoá dược

Sau khi ra viện, người bệnh TTPL và người có nhiệm vụ chăm sóc chính được nhân viên Y tế (NVYT) chuyên khoa tâm thần tư vấn để tiếp tục điều trị bằng thuốc an thần kinh tại nhà như: Aminazine, Haloperidol, Amitriptyline, Seduxen, clozapine (Clozaril), Invega Sustenna, Invega Trinza, aripiprazole (Abilify) Hàng tháng, NCS chính đưa NBTTPL đi lĩnh thuốc và khám lại để điều chỉnh liều lượng thuốc cho phù hợp Bên cạnh đó, NCS chính cũng được tư vấn những bất thường của NB và khi nào cần phải đưa NB đi khám ngay

*Liệu pháp về tâm lý

Cộng đồng cần có thái độ tâm lý tốt, tôn trọng NB Mục đích của liệu pháp tâm

lý là làm cho NB an tâm, tin tưởng vào kết quả điều trị, chống tư tưởng bi quan lo

Trang 23

lắng, chán đời, giúp NB hăng hái tham gia lao động, học nghề và tham gia các hoạt động xã hội khác Bên cạnh đó, gia đình và cộng đồng cần biết cách nâng đỡ, không mặc cảm, để chung sống với NB, giúp dự phòng biến chứng, giảm tái phát

* Liệu pháp lao động và tái thích ứng xã hội

Là biện pháp quan trọng trong điều trị NBTTPL tại cộng đồng, giúp NB và gia đình giải quyết các tình huống trong cuộc sống, đỡ một phần gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội

Bệnh tâm thần phân liệt ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc sống người bệnh và làm cho

họ mất đi nhiều khả năng sinh hoạt bình thường Mặt khác, phần lớn người bệnh bắt đầu bị bệnh khi còn trẻ và bệnh tâm thần phân liệt được coi như một bệnh mạn tính làm cho họ mất đi hoặc suy yếu những khả năng sinh hoạt như: suy nghĩ, học hỏi, giao tiếp xã hội, làm việc, tình cảm, các mối quan hệ cá nhân cũng như quan hệ xã hội [12] Phần khó khăn nhất trong điều trị bệnh tâm thần phân liệt là làm sao giúp người bệnh giảm bớt mức độ tàn phế và có thể sống một cuộc sống tương đối bình thường trong thời gian sau cơn bệnh

Trái với những thay đổi mau chóng và rõ rệt trong việc dùng thuốc điều trị và kìm chế những triệu chứng nổi, việc phục hồi sinh hoạt cho người bệnh chỉ mang lại những thay đổi chậm và nhỏ Tuy nhiên giảm bớt những tàn phế và cải thiện cuộc sống của người bệnh là hai mục tiêu quan trọng trong chương trình phục hoạt cho người bệnh tâm thần phân liệt

Những chương trình phục hồi khả năng sinh hoạt cho người bệnh là một phần trong kế hoạch trị liệu bao quát cho người bệnh tâm thần phân liệt sau khi họ đã tương đối ổn định, không còn các triệu chứng rối loạn tinh thần nữa

1.3.2.2 Chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt

Mục tiêu của chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt là đề cập tới các điểm chính như sau [4]:

- Khả năng sống còn:

Biết tự chăm sóc bản thân, biết cách ăn uống lành mạnh hợp với tình trạng sức khoẻ, biết cách nấu ăn, mua sắm, giữ gìn vệ sinh thân thể, thu xếp chỗ ăn ở, biết cách

Trang 24

sử dụng những phương tiện công cộng để đi lại

- Khả năng giao tiếp xã hội:

Người bệnh được hướng dẫn để dần dần lấy lại và tăng cường lòng tự tin, sự tự trọng, biết cách giao tiếp và đối thoại với người khác, biết cách giải quyết những khúc mắc, bất đồng ý kiến với người khác một cách thoả đáng

- Khả năng thích nghi và đối phó với những khó khăn hàng ngày:

Người bệnh được giúp đỡ và hướng dẫn trong việc tìm cách giảm bớt những căng thẳng tinh thần

- Khả năng tổ chức cuộc sống:

Người bệnh được hướng dẫn trong việc thu xếp và tổ chức cuộc sống hàng ngày sao cho có nề nếp, thành một thông lệ, có giờ giấc, biết sử dụng giờ rảnh một cách hữu ích và thoải mái

- Khả năng làm việc:

Làm việc cũng giúp cho con người cảm thấy mình có ích, thoả mãn vì mình đã hoàn thành được một điều gì đó, tự tin vào khả năng của mình, đồng thời đóng góp phần của mình vào cuộc sống xã hội Làm việc còn tạo cho con người cơ hội để giao tiếp với người khác, có bạn bè quan hệ tình cảm lành mạnh

Việc điều trị bằng thuốc không thể phục hồi được những khả năng này một cách toàn vẹn Một số người bệnh đã từng nằm điều trị trong các bệnh viện tâm thần nhiều năm và đã quen với lối sống phụ thuộc vào sự giúp đỡ, chỉ dẫn và chăm sóc của các bác sỹ, điều dưỡng và các nhân viên y tế khác trong mọi chuyện; họ thường không phải lo lắng đến việc ăn ở cho bản thân cũng như không phải lo cho gia đình Sau nhiều năm sống như vậy, nghị lực, tinh thần, óc sáng tạo, khả năng ứng biến với cuộc sống ngoài xã hội của họ bị ảnh hưởng nặng nề, cho đến khi họ phải trở về sống với gia đình thì họ trở thành gánh nặng cho gia đình Nếu họ không được có cơ hội để làm lại cuộc đời thì họ sẽ tiếp tục là gánh nặng cho gia đình và xã hội [23]

Từ những đặc điểm trên chúng ta thấy việc cung cấp kiến thức cho NCS người bệnh tâm thần phân liệt là vô cùng quan trọng thông qua việc giáo dục sức khỏe Người bệnh tâm thần phân liệt khi ổn định chủ yếu là sống tại gia đình vì vậy để người bệnh được chăm sóc tốt nhất thì gia đình người bệnh phải có kiến thức về

Trang 25

bệnh tâm thần phân liệt, về chăm sóc để người bệnh tái hòa nhập cộng đồng một cách tốt nhất Những quan điểm sai lệch về bệnh tâm thần phân liệt sẽ ảnh hưởng đến việc chăm sóc người bệnh, và đây cũng là con đường đẩy người bệnh xa rời cuộc sống cộng đồng, bị mọi người xa lánh Chính vì vậy gia đình có vai trò vô cùng quan trọng trong chăm sóc người bệnh tâm thần phân liệt

* Các vai trò của người chăm sóc chính cho người bệnh tại nhà gồm có:

- Tuân thủ điều trị thuốc cho người bệnh TTPL: Người chăm sóc quản lý thuốc

và cho bệnh nhân uống thuốc theo đúng quy định của bác sĩ chuyên khoa để tránh tái phát bệnh và duy trì cuộc sống bình thường của bệnh nhân và tuyệt đối không được tự

Cách uống thuốc: Cách uống đúng nhất với NB tâm thần phân liệt là đưa thuốc cho NB và bảo NB uống trước mặt Hiện nay có khá nhiều NB tích thuốc để tự tử vì vậy NCS cần phải quản lý thuốc nghiêm ngặt, không được để cho NB tự lấy thuốc và uống Tại bệnh viện, người bệnh được các nhân viên y tế cho uông thuốc và kiểm soát việc uống thuốc, tuy nhiên khi NB ổn định về điều trị tại nhà, khi cho NB uống thuốc, NCS cần phải yêu cầu người bệnh há miệng kiểm tra xem NB có uống thuốc thật không do đó việc bảo NB uống thuốc trước mặt nhằm hạn chế vấn đề NB tự ý bỏ thuốc hoặc giấu thuốc

- Tái khám định kỳ hàng tháng: Người bệnh TTPL đang điều trị cần được đi khám định kỳ hàng tháng; người bệnh TTPL đã điều trị khỏi hẳn cần đi khám 6 tháng một lần Hàng tháng gia đình cần đưa NB đến kiểm tra và lĩnh thuốc ít nhất 1 lần/tháng Hiện nay trong chương trình chăm sóc sức khỏe tâm thần, thì khám định kỳ cho NB là một trong những nhiệm vụ cần phải thực hiện trên người bệnh TTPL Việc tái khám định kỳ sẽ giúp cho bác sỹ biết được tình trạng của NB, điều chỉnh thuốc theo

Trang 26

từng giai đoạn bệnh nhằm ngăn ngừa tái phát Gia đình không nên đợi đến khi NB có dấu hiệu phát bệnh trở lại mới đưa đi khám

- Vệ sinh:

Người chăm sóc cần khuyến khích và đôn đốc để NB tham gia vệ sinh cá nhân hàng ngày, bên cạnh đó NCS nên hướng dẫn tỷ mỷ và kiên nhẫn, khích lệ họ để họ cảm thấy vui, tích cực tham gia Nhưng người chăm sóc cần giám sát và trợ giúp khi cần, không nên để người bệnh tâm thần phân liệt làm một việc gì lâu, mà nên nghỉ giải lao thường xuyên

Hỗ trợ của gia đình: Nếu người bệnh có thể tự tắm và gội, giặt quần áo được được thì để cho NB tự vệ sinh và tắm rửa Gia đình có thể hỗ trợ NB trong một chừng mực nào đó nếu NB cần hỗ trợ (vd: NB có thể tự tắm được thì gia đình giặt quần

áo giúp)

Người chăm sóc cần phải giữ vệ sinh sạch sẽ cho người bệnh: Dù người bệnh có thể

tự làm hay gia đình phải hỗ trợ thì hàng ngày NB cần phải được vệ sinh cá nhân, quần áo, đầu tóc phải gọn gàng Không nên để cho NB bẩn thỉu và lôi thôi Có như vậy NB mới cảm thấy không tự ti, và bớt ánh mắt kỳ thị từ người khác Hơn nữa việc cơ thể được sạch

sẽ có thể hạn chế được các bệnh nhiễm khuẩn hoặc viêm nhiễm khác Vì vậy người chăm sóc cần phải giúp đỡ để người bệnh luôn được sạch sẽ

để ăn NB tâm thần phân liệt ở giai đoạn ổn định hoàn toàn có thể tham gia cùng gia đình thực hiện các công việc như nấu cơm hoặc rửa bát Gia đình không nên để người bệnh thụ động, không tham gia hoặc hỗ trợ hoàn toàn giúp NB

- Lao động, phục hồi chức năng tâm lý và tái hòa nhập cộng đồng cho NB:

Trang 27

Lao động: Người chăm sóc cần khuyến khích và đôn đốc NB tham gia lao động Khi người bênh làm được việc gì dù là nhỏ nhất thì gia đình cũng nên khuyến khích động viên Làm việc giúp cho người bệnh cảm thấy mình có ích, thoả mãn vì mình đã hoàn thành được một điều gì đó, tự tin vào khả năng của mình, đồng thời đóng góp phần của mình vào cuộc sống xã hội Làm việc còn tạo cho con người cơ hội để giao tiếp với người khác, có bạn bè quan hệ tình cảm lành mạnh

Giao tiếp: Muốn phục hồi chức năng tâm lý cho NB thì phải phục hồi khả năng giao tiếp của NB Muốn vậy thì NCS cũng như gia đình NB phải hiểu rõ và tích cực giao tiếp Cho người bệnh giao tiếp với tất cả mọi người để người để người bệnh bớt mặc cảm, tự ti

Tham gia tập luyện thể dục thể thao: Tập thể dục và nghỉ ngơi hợp lý cũng rất quan trọng đối với sức khỏe tâm thần của NB Đây cũng là phương pháp tốt để cho NB tái hòa nhập xã hội Do đó gia đình cũng nên khuyến khích và động viên để NB chủ động tham gia

Tái hòa nhập cộng đồng: Người chăm sóc dành tình cảm, sự yêu thương, sự quan tâm cho người bệnh và phải làm cho người bệnh thấy họ thuộc về gia đình, cho người bệnh cảm giác được đảm bảo an toàn

Người chăm sóc phải chấp nhận sự thay đổi hành vi của người bệnh là hậu quả của bệnh tật, làm cho người bệnh có cảm giác được yêu thương, là thành viên của gia đình và cộng đồng

Giải thích cho mọi người trong cộng đồng rõ thay đổi hành vi của người bệnh là

do bệnh chứ không phải là do người bệnh cố ý làm như vậy Làm sao để mọi người trong cộng đồng quan tâm giúp đỡ người bệnh, chăm sóc cho người bệnh hòa nhập

Trang 28

1.4 Khung lý thuyết

Trên cơ sở các công trình nghiên cứu và thực tiễn quản lý và chăm sóc người bệnh TTPL ngoại trú Khung lý thuyết được hình thành bao gồm các yếu tố dưới đây:

1.5 Tóm tắt địa bàn nghiên cứu

Nam Định là một tỉnh lớn với theo số liệu năm 2010 có tổng diện tích là 1652,29

km2, dân số trung bình năm 2010 là 1830023 người và mật độ dân số là 1108/km2 Về

vị trí địa lý, Nam Định tiếp giáp với tỉnh Thái Bình ở phía bắc, tỉnh Ninh Bình ở phía nam, tỉnh Hà Nam ở phía tây bắc, giáp biển (vịnh Bắc Bộ) ở phía đông Nam Định có

9 huyện: Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, Nam Trực, Trực Ninh, Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng và 01 phố Nam Định

Theo thống kê của Bệnh viện Tâm thần Nam Định năm 2019, toàn tỉnh Nam Định hiện có 5678 người bệnh tâm thần phân liệt được theo dõi điều trị tại cộng đồng

Thực hành:

Hành vi dự phòng tái phát TTPL: Khám định kỳ, tuân thủ điều trị…

Yếu tố nhân khẩu học: Tuổi, giới, nghề nghiệp…

Hỗ trợ y tế: Cấp phát thuốc, phát hiện và xử lý những tác dụng phụ của thuốc…

Trang 29

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu được thực hiện trên người chăm sóc chính người bệnh được chẩn đoán xác định là Tâm thần phân liệt đang được điều trị ngoại trú tại tỉnh Nam Định

Tiêu chuẩn lựa chọn:

-Người chăm sóc chính ≥ 18 tuổi, đồng ý tham gia nghiên cứu

-Người chăm sóc chính cho người bệnh tâm thần phân liệt đang được điều trị ngoại trú tại tỉnh Nam Định

Tiêu chuẩn loại trừ:

-Người chăm sóc chính không đồng ý tham gia nghiên cứu

-Người bệnh TTPL đi khỏi địa bản nghiên cứu hoặc chết trong thời gian nghiên cứu

2.1.2 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 1/2021-4/2021

2.1.3 Địa điểm nghiên cứu:

Theo thống kế của Bệnh viện Tâm thần Nam Định năm 2020, toàn tỉnh Nam Định hiện có 5678 người bệnh tâm thần phân liệt được theo dõi điều trị Số lượng người bệnh tâm thần phân liệt phân bố rải rác ở các huyện và thành phố trong tỉnh

Tỉnh Nam Định có 9 huyện và 1 thành phố Nhóm nghiên cứu lên danh sách các huyện và thành phố, sau đó lựa chọn ngẫu nhiên 02 đơn vị đại diện để tiến hành nghiên cứu Nghiên cứu chọn ngẫu nhiên được 2 huyện: Ý Yên và Nam Trực

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Thiết kế: Nghiên cứu mô tả cắt ngang

2.2.2 Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Trang 30

d: là sai số cho phép, chọn tỷ lệ này là 5%

*Cỡ mẫu trong nghiên cứu: 385

2.2.3 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu

Dựa vào tổng quan tài liệu và mục tiêu nghiên cứu Bộ công cụ nghiên cứu của chúng tôi tự xây dựng dựa trên:

- “Tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và quản lý một số rối loạn tâm thần tại cộng đồng” - Bệnh viện Tâm thần Trung ương I năm 2016 [4];

- “Tài liệu hướng dẫn chẩn đoán, chăm sóc và quản lý người bệnh tâm thần tại cộng đồng” - Bộ Y Tế dự án bảo vệ sức khỏe tâm thần cộng đồng năm 2010 [9];

- “Bệnh tâm thần phân liệt và những hiểu biết cơ bản về điều trị, chăm sóc, quản lý và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng” - Chương trình mục tiêu quốc gia

về y tế, dự án bảo vệ SKTT cộng đồng năm 2012 [12]

Sau khi tham khảo các tài liệu trên chúng tôi tiến hành thực hiện các bước trong quy trình xây dựng bộ công cụ nghiên cứu

* Quá trình xây dựng bộ công cụ được thực hiện theo 2 bước:

Bước 1: Thảo luận việc sử dụng nội dung của các tài liệu và bộ công cụ của các tác giả cho việc xây dựng bộ công cụ cho nghiên cứu này Chúng tôi điều chỉnh và đơn giản hóa nội dung câu hỏi để phù hợp với ngữ cảnh nghiên cứu Từ đó thiết kế ra bản thảo của bộ công cụ khảo sát kiến thức và thực hành dự phòng tái phát bệnh TTPL của người chăm sóc chính

Bước 2: Bộ công cụ đã được gửi đến chuyên gia về sức khỏe tâm thần góp ý về

sự phù hợp bộ công cụ với mục tiêu nghiên cứu Sau khi hoàn thành xong bộ câu hỏi, tiến hành đánh giá tính chính xác bằng phương pháp chuyên gia (test CVI), đánh giá

độ tin cậy bằng phương pháp điều tra thử Kappa Sau đó, chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi hoàn chỉnh này để tiến hành khảo sát thu thập số liệu nghiên cứu

* Công cụ nghiên cứu gồm 4 phần:

Phần A: Bao gồm các thông tin cá nhân của người chăm sóc: giới tính, năm

Trang 31

sinh, trình độ học vấn, nghề nghiệp, mối quan hệ của người chăm sóc với người bệnh,… Phần này gồm 10 câu từ 1 đến 5

Phần B: Bộ câu hỏi kiến thức về dự phòng tái phát bệnh cho người bệnh TTPL của người chăm sóc chính Phần này gồm 5 câu hỏi, từ B1 đến B5

Phần C: Thực hành về dự phòng tái phát bệnh cho người bệnh TTPL của người chăm sóc chính Phần này gồm 7 câu hỏi, từ C1 đến C7

Phần D: Những yếu tố liên quan đến thức thức và thực hành của người chăm sóc chính trong việc dự phòng tái phát bệnh cho người người bệnh TTPL Phần này gồm 5 câu hỏi, từ D1 đến D5

Số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn sử dụng bộ câu hỏi được soạn sẵn theo các bước sau:

-Bước 1: Lựa chọn đối tượng nghiên cứu theo tiêu chuẩn chọn mẫu

-Bước 2: Đối tượng nghiên cứu được giới thiệu mục đích, ý nghĩa, phương pháp

và quyền lợi của người tham gia nghiên cứu Nếu đồng ý, đối tượng nghiên cứu ký vào bản đồng thuận và được phổ biến hình thức tham gia nghiên cứu Sau đó, đối tượng nghiên cứu được hướng dẫn về cách trả lời các thông tin trong phiếu phỏng vấn

-Bước 3: Tiến hành hỏi người chăm sóc chính theo câu hỏi trong phiếu phỏng vấn 2.2.4 Các biến số nghiên cứu:

-Biến phụ thuộc: Kiến thức, thái độ, thực hành

-Biến độc lập: Biến nhân khẩu học ( tuổi, giới, nghề nghiêp, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, thu nhập, thời gian chăm sóc người bệnh TTPL)

2.2.5 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá:

Để đo kiến thức về dự phòng tái phát bệnh cho người bệnh TTPL của NCS chính chúng tôi sử dụng 5 câu hỏi từ câu B1 đến câu B5 Dựa vào câu trả lời của NCS chính

để đánh giá kiến thức của họ Mỗi ý trả lời đúng của NCS chính được 1 điểm, trả lời không đúng hoặc không trả lời 0 điểm Điểm kiến thức bằng tổng điểm các câu trả lời của NCS chính Điểm càng cao thì kiến thức càng tốt, và ngược lại

- Mức độ kém: Dưới 3 điểm (Trả lời đúng dưới 3 câu)

- Mức độ trung bình: 3 điểm (Trả lời đúng 3 câu)

- Mức độ khá: 4 điểm (Trả lời đúng 4 câu)

- Mức độ tốt: 5 điểm (trả lời đúng 5 câu)

Người chăm sóc có kiến thức đạt khi điểm trung bình chăm sóc đạt từ 3 điểm

Ngày đăng: 26/10/2022, 23:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm