BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH TIÊM CHỦNG VACCINE VÀ MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COV
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH TIÊM CHỦNG VACCINE VÀ MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG TRƯỜNG ĐẠI
HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ThS Trần Trương Ngọc Bích
Cần Thơ, năm 2022
Trang 2BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC CẦN THƠ
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH TIÊM CHỦNG VACCINE VÀ MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠI DỊCH COVID-19 ĐẾN VIÊN CHỨC, NGƯỜI LAO ĐỘNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y
DƯỢC CẦN THƠ
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀIPGS.TS.BS Trần Đỗ Hùng ThS Trần Trương Ngọc Bích
Cán bộ tham gia: TS Phạm Thị Ngọc Nga
TS Trần Văn Đệ ThS Phan Thị Ánh Nguyệt
CN Ngô Thị Thúy Hằng
Cần Thơ, năm 2022
Trang 3LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu khoa học: “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine và một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến viên chức, người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ” là công trình nghiên cứu do tôi chủ trì thực hiện
Kết quả chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác Các kết quả, số liệu nghiên cứu được trích dẫn là hoàn toàn trung thực
Tác giả
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan
Mục lục
PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI
PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng, biểu đồ, hình vẽ, đồ thị
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan về COVID-19 và vaccine COVID-19 3
1.1.1 COVID-19 và các biến thể 3
1.1.2 Tổng quan về vaccine COVID-19 5
1.1.3 Các loại vaccine COVID-19 đã được cấp phép tại Việt Nam 8
1.1.4 Kiến thức, thái độ và thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19 11 1.2 Một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 13
1.3 Tổng quan một số nghiên cứu liên quan 16
1.3.1 Ngoài nước 16
1.3.2 Trong nước 19
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
2.3 Phương pháp nghiên cứu 21
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: 21
2.3.2 Cỡ mẫu: 21
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu 22
2.3.4 Nội dung nghiên cứu 22
2.3.5 Phương pháp thu thập số liệu 27
Trang 52.3.6 Phương pháp xử lý số liệu 28
2.4 Đạo đức trong nghiên cứu 28
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19 31
3.2.1 Kiến thức 31
3.2.2 Thái độ 34
3.2.3 Thực hành 37
3.3 Một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến viên chức và người lao động 39
Chương 4 BÀN LUẬN 42
4.1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 42
4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19 43
4.2.1 Kiến thức 43
4.2.2 Thái độ 46
4.2.3 Thực hành 47
4.3 Một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến viên chức và người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ 48
KẾT LUẬN 53
KIẾN NGHỊ 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phiếu khảo sát
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Viết đầy đủ
NVYT Nhân viên y tế
ĐHYDCT Đại học Y Dược Cần Thơ
Trang 7Bảng 2.4 Bảng câu hỏi đánh giá ảnh hưởng của COVID-19 đến sức
khỏe tâm thần của viên chức và người lao động 26
Bảng 3.2 Đặc điểm tiêm vaccine và nhiễm COVID-19 của đối
Bảng 3.10 Một số yếu tố có liên quan đến việc báo cáo tác dụng phụ
cho nhân viên y tế
38
Bảng 3.11 Lo lắng về nguy cơ và nguyên nhân nhiễm COVID-19 39
Trang 8Bảng 3.13 Ảnh hưởng đến thu nhập và kinh tế gia đình 40
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của COVID-19 theo đặc điểm của người tham
gia
41
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Trang
Hình 1.1 Vắc-xin Covid-19 giúp các tế bào miễn dịch của cơ thể
tiếp xúc với các kháng nguyên của SARS-CoV-2 để hình thành miễn dịch với virus
7
Hình 1.2 Biểu đồ số liều vaccine COVID-19 được cấp trên thế giới 13 Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ cán bộ biết thông tin về vaccine COVID-19 31 Biểu đồ 3.2 Số liều vaccine COVID-19 nên tiêm 32 Biểu đồ 3.3 Lo lắng về việc tiêm chủng COVID-19 34 Biểu đồ 3.4 Nguyên nhân lo lắng về việc tiêm chủng COVID-19 36 Biểu đồ 3.5 Niềm tin Vaccine COVID-19 có thể bảo vệ chúng ta 37
Trang 10PHẦN 1 TÓM TẮT ĐỀ TÀI
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với diễn biến phức tạp mỗi ngày của dịch bệnh, viên chức và người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ là một trong các lực lượng tuyến đầu của ứng phó đại dịch COVID-19 và đang đối mặt với các mối đe dọa như tiếp xúc thường xuyên với virus, thời gian làm việc kéo dài, các tâm lý mệt mỏi, kiệt sức nghề nghiệp, kỳ thị xã hội vì cán bộ y tế có thể là nguồn lây, thậm chí bạo lực thể chất Hay sự hiểu biết kém về phòng bệnh có thế đến việc bản thân có thể trở thành F0 Từ đây sức khỏe tâm thần cũng như chất lượng cuộc sống của viên chức và người lao động ít nhiều bị ảnh hưởng rất lớn
Tiêm vaccine an toàn và hiệu quả là cách duy nhất để giảm tỷ lệ tử vong và làm chậm tình trạng đại dịch này, tuy nhiên, dựa trên báo cáo của các nhà nghiên cứu từ WHO và CDC việc loại bỏ COVID-19 dường như là không thể từ vaccine Sự hiểu biết sai về vaccine có thể dẫn đến tâm lý chủ quan, cũng như với sự xuất hiện ngày càng nhiều loại vaccine, sự phân vân thậm chí
là tranh thủ cơ hội để có loại vaccine tối ưu có thể diễn ra Đó là lý do tôi thực
hiện đề tài “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine
và một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến viên chức, người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ” với 2 mục tiêu:
(1) Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đối với việc tiêm chủng vaccine COVID-19 của viên chức và người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
(2) Mô tả một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến viên chức và người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Trang 11II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Viên chức và người lao động đang công tác tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích
Cỡ mẫu:
n = Z
2 × p × (1 p)
d2 Trong đó: Z = 1,96 (hệ số tin cậy với mức ý nghĩa α = 0,05)
p= 0,34 là tỷ lệ số người tham gia nghiên cứu có lo lắng về việc tiêm ngừa vacxin COVID-19 theo nghiên cứu của Sabria Al-Marshoudi (2021) [26]
d = sai số cho phép của nghiên cứu, chọn d = 0,05
Vậy n = 345 viên chức và người lao động Trong thực tế có 422 viên
chức và người lao động tham gia khảo sát
Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu: Chọn thuận tiện tất cả các viên chức và người lao động đủ tiêu chuẩn chọn
Nội dung nghiên cứu:
Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu: Giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, thâm niên công tác, chức danh nghề nghiệp, chuyên môn, trình độ học vấn, số lần đã tiêm vaccine, loại vaccine, tình trạng nhiễm COVID-19
Kiến thức, thái độ, thực hành đối với việc tiêm chủng vaccine
COVID-19: bộ câu hỏi được xây dựng gồm 3 phần:
Kiến thức tiêm chủng vaccine COVID-19: Câu hỏi kiến thức về vaccine COVID-19 có tổng 6 câu hỏi về, trong đó có 1 câu hỏi về thông tin vaccine COVID-19 và 5 câu hỏi về kiến thức tiêm chủng COVID-19 Bên
Trang 12cạnh đó phần này còn có 1 câu hỏi thứ 7 để tìm nguồn gốc có được thông tin vaccine COVID-19 của viên chức, người lao động Trường
Câu hỏi về thái độ về tiêm chủng vaccine COVID-19 gồm 4 hỏi
Câu hỏi thực hành liên quan đến thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19, bao gồm 4 câu hỏi Phản hồi các tùy chọn có hoặc không
Một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến viên chức và người lao động: Xây dựng bảng khảo sát các yếu tố ảnh hưởng của COVID-19 đến viên chức và người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ, bao gồm: Nguy cơ mắc COVID-19; ảnh hưởng sức khỏe, tâm lý; Ảnh hưởng đến thu nhập và kinh tế gia đình; Ảnh hưởng đến số giờ làm việc; Ảnh hưởng đến hiệu quả công việc
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19:
Kiến thức: có 152/422 (36%) đối tượng tham gia có kiến thức đúng về tiêm chủng vaccine COVID-19 Ngoài trừ đặc điểm thâm niên công tác được xác định có liên quan mang ý nghĩa thống kê với tỷ lệ kiến thức đúng (p=0,032) 87,7% thông tin về vaccine COVID-19 có nguồn gốc được nhân viên Trường ĐHYDCT cập nhật từ các kênh truyền thông như ti vi, báo, đài,…
Thái độ: có 226/422 (53,6%) đối tượng tham gia khảo sát có lo lắng về việc tiêm chủng COVID-19 và 196/422 (46,4%) đối tượng không lo lắng khi tiêm Yếu tố giới tính và chuyên môn có ảnh hưởng đến lo lắng về việc tiêm chủng COVID-19 lần lượt với p = 0,036 và p = 0,018 Nguyên nhân lo lắng hàng đầu về việc tiêm chủng COVID-19 là từ các tin tức trên truyền thông chiếm 73,8% và có 48,4% nghi ngờ cá nhân không có hiệu quả và an toàn khi tiêm Ngoài ra có đến 88,6% đối tượng cho rằng vaccine COVID-19 an toàn
và có một số tác dụng phụ và có 55,6% viên chức, người lao động tham gia
Trang 13khảo sát tin rằng vaccine COVID-19 có thể bảo vệ chúng ta khỏi bị nhiễm COVID-19
Thực hành: có đến 96,4% đối tượng sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 lần đầu, 98,8% sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 lần thứ 2, 96,9% sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 sau lần 2 và 91,9% sẽ báo cáo tác dụng phụ cho nhân viên y tế khi gặp tác dụng phụ của vaccine Nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan mang ý nghĩa thống kê giữa việc báo cáo tác dụng phụ của vaccine COVID-19 với một số đặc điểm của đối tượng
3.2 Một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến viên chức và người lao động
Nghiên cứu ghi nhận có 369/422 (87,4%) viên chức, người lao động Trường ĐHYDCT bị ảnh hưởng bởi COVID-19 Lo lắng lớn nhất của viên chức, người lao động là sẽ nhiễm bệnh do tiếp xúc trong thời gian làm việc chiếm 80,6% COVID-19 ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe tâm lý: mệt mỏi (61,4%), tăng tỷ lệ mất ngủ (25,6%), rối loạn lo âu/ trầm cảm (24,4%) Có 368/42 (87,2%) viên chức, người lao động giảm thu nhập Tỷ lệ bị ảnh hưởng đến số giờ và hiệu quả công việc trong nghiên cứu lần lượt là 69,9% và 66,8% Chưa ghi nhận mối liên quan mang ý nghĩa thống kê giữa các ảnh
hưởng của đại dịch COVID-19 theo đặc điểm của đối tượng tham gia
V KẾT LUẬN
Viên chức và người lao động Trường ĐHYDCT có kiến thức đúng về tiêm chủng vaccine COVID-19 khá thấp (36%) Về thái độ, có 226/422 (53,6%) đối tượng lo lắng về việc tiêm chủng COVID-19 Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia thực hành tiêm vaccine COVID-19 chiếm tỷ lệ luôn cao >90% Ngoài ra, về đại dịch COVID-19 năm 2021 đã thật sự gây nhiều lo lắng và ảnh hưởng không ít đến tâm lý cũng như giờ làm việc, năng suất công việc và kinh tế viên chức và người lao động Trường ĐHYDCT
Trang 14
PHẦN 2 TOÀN VĂN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
Trang 151
ĐẶT VẤN ĐỀ
COVID-19 (Coronavirus Disease 2019) là bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (SARS-CoV-2) gây ra, bùng phát tại thành phố Vũ Hán, Trung Quốc vào cuối tháng 12/2019, sự lây lan nhanh chóng và mức độ nguy hiểm của COVID-19 đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của rất nhiều người trên toàn thế giới và đặt ra một vấn đề lớn cần phải nhanh chóng giải quyết cho toàn cầu [4]
Tính từ tháng 12/2019, thế giới đã chiến đấu chống lại đại dịch COVID-19 với hơn 219 triệu trường hợp được xác nhận và 4,55 triệu trường hợp tử vong được báo cáo trên toàn thế giới tính đến 24/9/2021 Việt Nam cũng đang chiến đấu với làn sóng thứ hai với biến thể mới mạnh hơn của coronavirus với 728 triệu trường hợp được xác nhận và 18.017 trường hợp tử vong (tính đến 24/9/2021) Trong đợt bùng phát dịch từ tháng 4/2021 đến nay
số ca tử vong do COVID-19 không ngừng tăng cao, có những thời điểm lên đến 386 ca/ngày (ngày 28/8/2021)
Các chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19 liên tục được các cấp lãnh đạo từ Nhà nước đến địa phương thay đổi áp dụng để đạt được hiệu quả tối đa và phù hợp cho từng tình hình diễn biến dịch cụ thể Kết hợp với diễn biến phức tạp mỗi ngày của dịch bệnh, viên chức và người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ là một trong các lực lượng tuyến đầu của ứng phó đại dịch COVID-19 và đang đối mặt với các mối đe dọa như tiếp xúc thường xuyên với virus, thời gian làm việc kéo dài, các tâm lý mệt mỏi, kiệt sức nghề nghiệp, kỳ thị xã hội vì cán bộ y tế có thể là nguồn lây, thậm chí bạo lực thể chất Hay sự hiểu biết kém về phòng bệnh có thế đến việc bản thân có thể trở thành F0 Từ đây sức khỏe tâm thần cũng như chất lượng cuộc sống của viên chức và người lao động ít nhiều bị ảnh hưởng rất lớn
Trang 162
Tiêm vaccine an toàn và hiệu quả là cách duy nhất để giảm tỷ lệ tử vong và làm chậm tình trạng đại dịch này, tuy nhiên, dựa trên báo cáo của các nhà nghiên cứu từ WHO và CDC việc loại bỏ COVID-19 dường như là không thể từ vaccine Và với sự xuất hiện của nhiều loại vaccine, hiệu quả phòng bệnh cao thấp và các tác dụng phụ của từng loại khác nhau Hơn nữa hiệu quả của vaccine không phải là mãi mãi Các hiểu biết từ các phương thức lây truyền của virus và thực hiện các biện pháp phòng ngừa thích hợp là những chiến lược cần thiết và hiệu quả nhất để kiểm soát căn bệnh này Sự hiểu biết sai về vaccine có thể dẫn đến tâm lý chủ quan, cũng như với sự xuất hiện ngày càng nhiều loại vaccine, sự phân vân thậm chí là tranh thủ cơ hội
để có loại vaccine tối ưu có thể diễn ra [26]
Đề tài “Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng
vaccine và một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến viên chức,
người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ” được thực hiện với
mục tiêu:
(1) Xác định tỷ lệ kiến thức, thái độ, thực hành đối với việc tiêm chủng vaccine COVID-19 của viên chức và người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
(2) Mô tả một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đến viên chức và người lao động Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Trang 173
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về COVID-19 và vaccine COVID-19
1.1.1 COVID-19 và các biến thể
COVID-19 là dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona có tên SARS-CoV-2 khởi phát tại thành phố Vũ Hán, tỉnh Hồ Bắc, miền Trung Trung Quốc [4] Bệnh nhân đầu tiên được phát hiện vào ngày 08/12/2019, sau đó diễn biến rất phức tạp do tốc độ lây lan của dịch bệnh tăng theo cấp số mũ Đến ngày 31/12/2019, Trung Quốc chính thức thông báo với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) về bùng phát dịch Đến 06/2/2020, số người chết do bệnh viêm phổi cấp lên tới 565, trong đó có 563 người ở Trung Quốc đại lục, một người ở Philippine, một người ở Hong Kong; số ca nhiễm bệnh cũng tăng lên 28.276 trên toàn cầu Trước tình hình này, ngày 31/01/2020, WHO tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu đối với dịch viêm phổi cấp do virus Corona chủng mới (SARS-CoV-2) gây ra Ngày 11/3/2020,
tổ chức Y tế thế giới (WHO) chính thức công bố dịch COVID-19 do virus Corona chủng mới (SARS-CoV-2) là đại dịch toàn cầu [9], [10], [15]
Đến cuối năm 2021, có nhiều biến thể SARS-CoV-2 được phát hiện Chúng liên tục biến đổi thông qua đột biến và đôi khi những đột biến này dẫn đến một biến thể mới của virus Nếu như một số loại biến thể xuất hiện và biến mất, thì những loại khác tiếp tục hoành hành Biến thể mới sẽ còn tiếp tục xuất hiện Hiện nay có bốn dạng biến thể chính của SARS-CoV-2 được ghi nhận [12]:
Biến thể đang được theo dõi (variants being monitored - VBM)
Các biến thể được chỉ định là VBM bao gồm các biến thể trong đó dữ liệu cho thấy có khả năng hoặc tác động rõ ràng đối với các biện pháp đối phó y tế đã được phê duyệt hoặc cho phép sử dụng hoặc có liên quan đến
Trang 184
bệnh nặng hơn hoặc lây truyền tăng cao nhưng không còn được phát hiện hoặc đang lưu hành ở mức rất thấp Những biến thể này không gây ra rủi ro đáng kể và tiềm ẩn đối với sức khỏe cộng đồng
Biến thể đáng quan tâm (variant of interest - VOI)
Biến thể với các chỉ dấu gen cụ thể đã được liên kết với những thay đổi với liên kết thụ thể, giảm trung hòa bởi các kháng thể được tạo ra để chống lại tình trạng lây nhiễm hoặc tiêm chủng trước đó, giảm hiệu quả của các biện pháp điều trị, tác động chẩn đoán tiềm tàng, hoặc gia tăng dự đoán về khả năng lây truyền hoặc độ nghiêm trọng của bệnh [12]
Hiện tại không có biến thể SARS-CoV-2 được xác định là VOI
Biến thể đáng lo ngại (variant of concern - VOC)
Một biến thể theo đó có bằng chứng về sự gia tăng khả năng lây truyền, bệnh nghiêm trọng hơn (ví dụ, tăng mức nhập viện hoặc tử vong), giảm đáng kể khả năng trung hòa bởi các kháng thể được tạo ra trong quá trình lây nhiễm hoặc tiêm chủng trước đó, giảm hiệu quả của các phương pháp điều trị hoặc vaccine, hoặc các thất bại trong việc phát hiện chẩn đoán [12]
Vào ngày 30 tháng 11, 2021, nhóm liên ngành về SARS-CoV-2 của chính phủ Hoa Kỳ (SIG) đã phân loại Omicron là biến thể đáng lo ngại (VOC)
Biến thể có hậu quả nghiêm trọng (variant of high consequence VOHC): được xếp vào nhóm gây hậu quả nghiêm trọng là các biến thể có
-thể vô hiệu hoá, khiến các loại vaccine hiện tại không -thể phát huy tác dụng
phòng ngừa Đến nay, chưa có biến thể nào được xếp vào nhóm này
Ngày nay, các nhà khoa học theo dõi tất cả 4 biến thể Một số biến thể lây lan dễ dàng hơn và nhanh hơn các biến thể khác, có thể dẫn tới có thêm nhiều ca bệnh COVID-19 Ngay cả khi biến thể nói chung gây bệnh ít
Trang 195
nghiêm trọng hơn, thì việc tăng tổng số ca có thể làm tăng số ca nhập viện, làm gia tăng sức ép lên các nguồn lực chăm sóc sức khỏe và có thể dẫn đến tăng số ca tử vong
Đến 1/4/2022 trên thế giới đã ghi nhận 490.664.062 trường hợp mắc COVID-19 trong đó có 6.151.255 trường hợp tử vong Bệnh lây lan trên 215 quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn cầu [1]
1.1.2 Tổng quan về vaccine COVID-19
1.1.2.1 Nguyên lý hoạt động của vaccine Covid-19
Để hiểu cách hoạt động của vaccine COVID-19, trước tiên cần xem xét cách cơ thể chúng ta chống lại bệnh tật Khi vi trùng, chẳng hạn như SARS-CoV-2 là virus gây ra bệnh COVID-19, xâm nhập vào cơ thể chúng ta, chúng
sẽ tấn công và sinh sôi Sự xâm lấn này được gọi là nhiễm trùng, đây là nguyên nhân gây bệnh Hệ thống miễn dịch của chúng ta sử dụng một số công cụ để chống lại nhiễm trùng, đó là các tế bào miễn dịch Các loại tế bào bạch cầu khác nhau chống lại nhiễm trùng theo những cách khác nhau:
Đại thực bào là các tế bào bạch cầu nuốt và tiêu hóa vi trùng, các tế bào chết Các đại thực bào để lại các bộ phận của vi trùng xâm nhập, được gọi là kháng nguyên Cơ thể nhận biết các kháng nguyên này là nguy hiểm và kích thích cơ thể sản sinh ra các các kháng thể tấn công chúng
Tế bào lympho B là tế bào bạch cầu tạo ra các kháng thể tấn công các mảnh virus/kháng nguyên do đại thực bào để lại
Tế bào lympho T có nhiệm vụ tấn công các tế bào trong cơ thể đã bị nhiễm bệnh
Lần đầu tiên một người bị nhiễm virus SARS-CoV-2 có thể mất vài ngày hoặc vài tuần để cơ thể họ tạo ra tất cả các công cụ cần thiết để vượt qua nhiễm trùng Sau khi bị nhiễm trùng, hệ thống miễn dịch của người đó ghi nhớ những gì đã học được về cách bảo vệ cơ thể chống lại căn bệnh đó
Trang 206
Cơ thể giữ một số tế bào lympho B và T, được gọi là "tế bào nhớ" Các
tế bào lympho này sẽ hoạt động nhanh chóng nếu cơ thể gặp lại cùng một loại virus Khi các kháng nguyên quen thuộc được phát hiện, các tế bào lympho B sản xuất kháng thể để tấn công chúng Các chuyên gia vẫn đang tìm hiểu thời gian các tế bào bộ nhớ này có thể bảo vệ một người chống lại virus gây ra COVID-19
Cơ chế của vaccine COVID-19
Các loại vaccine khác nhau hoạt động theo những cách khác nhau để bảo vệ cơ thể Nhưng với tất cả các loại vaccine, chúng đều giúp các tế bào miễn dịch của cơ thể tiếp xúc với các kháng nguyên của SARS-CoV-2 để hình thành miễn dịch với virus Sau khi tiêm vaccine, cơ thể giữ lại các tế bào lympho T và B “nhớ” để chống lại loại virus đó trong tương lai
Thông thường, phải mất vài tuần sau khi tiêm vaccine thì cơ thể mới sản sinh ra tế bào lympho T và tế bào lympho B Do đó, có thể một người bị nhiễm virus gây ra COVID-19 ngay trước hoặc ngay sau khi tiêm chủng và sau đó bị bệnh vì vaccine không có đủ thời gian để bảo vệ
Đôi khi, sau khi tiêm phòng, quá trình xây dựng khả năng miễn dịch có thể gây ra các triệu chứng, chẳng hạn như sốt Những triệu chứng này là bình thường và là dấu hiệu cho thấy cơ thể đang xây dựng khả năng miễn dịch
Trang 217
Hình 1.1 Vaccine Covid-19 giúp các tế bào miễn dịch của cơ thể tiếp xúc với các kháng nguyên của SARS-CoV-2 để hình thành miễn dịch với virus
1.1.2.2 Các loại vaccine COVID-19 hiện nay
Vaccine mRNA chứa vật chất từ SARS-CoV-2 cung cấp cho các tế bào của chúng ta hướng dẫn cách tạo ra một loại protein vô hại đặc trưng cho virus Sau khi tế bào của chúng ta tạo ra protein này, các tế bào miễn dịch nhận ra rằng protein này là protein lạ và tạo ra các tế bào lympho T và tế bào lympho B có thể chống lại virus SARS-CoV-2 nếu chúng ta bị nhiễm trong tương lai Đại diện của vaccine mRNA là vaccine của Pfizer-BioNTech và vaccine Moderna
Vaccine tiểu đơn vị protein bao gồm các mảnh (protein) vô hại của virus gây ra SARS-CoV-2 thay vì toàn bộ virus Sau khi được chủng ngừa,
cơ thể chúng ta nhận ra protein lạ và tạo ra miễn dịch chống lại virus Ví dụ của vaccine tiểu đơn vị protein là Nanocovac
Vaccine vector virus chứa một phiên bản sửa đổi của virus khác với virus gây ra COVID-19, ví dụ adenovirus Bên trong lớp vỏ của virus đã biến đổi có chứa vật chất di truyền từ virus SARS-CoV-2 Khi vectơ virus ở bên
Trang 228
trong tế bào của chúng ta, vật liệu di truyền sẽ cung cấp cho các tế bào hướng dẫn để tạo ra một loại protein đặc trưng cho virus SARS-CoV-2 Sử dụng các hướng dẫn này, các tế bào của chúng ta tạo ra protein Điều này thúc đẩy cơ thể chúng ta tạo ra tế bào lympho T và tế bào lympho B chống lại virus đó nếu chúng ta bị nhiễm trong tương lai Ví dụ của vaccine vectơ là các vaccine của Astrazeneca, Johnson & Johnson’s Janssen và Skopnik Một điều lưu ý là các vaccine vector virus đã được biến đổi để không gây bệnh Chúng chỉ đóng vai trò như một công cụ đưa thông tin về protein của loại virus mà chúng ta đang muốn tạo ra vaccine
Vaccine DNA đang được phát triển, nhưng chưa đến giai đoạn sử dụng rộng rãi Cơ chế của chúng tương tự như vaccine mRNA, tuy nhiên thay vì sử dụng thông tin di truyền dưới dạng mRNA (bước trung gian tạo protein từ DNA) thì người ta sử dụng phần tử DNA để khiến cho các tế bào của chúng
ta tạo ra protein đặc trưng của virus SARS-CoV-2 và kích hoạt hệ miễn dịch Vaccine virus bất hoạt (ví dụ như Sinofarm, Sinovac) hoặc virus sống giảm động lực Một trong những điểm yếu của các loại virus này là khả năng nó chống lại các biến thể của virus hạn chế
1.1.3 Các loại vaccine phòng COVID-19 đã được cấp phép tại Việt Nam
Đến thời điểm hiện nay, có 6 loại vaccine phòng COVID-19 đã được
Bộ Y tế cấp phép sử dụng tại Việt Nam
1.1.3.1 Vaccine COVID-19 Vaccine AstraZeneca
Vaccine COVID-19 do Tập đoàn AstraZeneca sản xuất đã được cấp phép sử dụng khẩn cấp tại 181 quốc gia, vùng lãnh thổ và được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này
đã được sử dụng tại 119 quốc gia, vùng lãnh thổ với tổng số vaccine đã sử dụng khoảng 980 triệu liều
Trang 239
Tại Việt Nam, vaccine AstraZeneca đã được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Việt Nam đã tiếp nhận tổng cộng 8.716.290 liều sau tổng 15 đợt giao Vaccine AstraZeneca được triển khai tiêm chủng tại Việt Nam từ tháng 3/2021, hiện đang có số lượng sử dụng nhiều nhất tại Việt Nam
1.1.3.2 Vaccine Gam-COVID-Vac (SPUTNIK V)
Vaccine Gam-COVID-Vac do Viện Nghiên cứu Gamaleya, Nga sản xuất đã được cấp phép sử dụng tại 70 quốc gia, vùng lãnh thổ Đến nay, vaccine này đã được sử dụng tại 49 quốc gia với tổng số vaccine đã sử dụng khoảng 85 triệu liều
Tại Việt Nam, vaccine Sputnik V đã được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện vaccine cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Giữa tháng 3/2021, Việt Nam tiếp nhận 2.000 liều vaccine Sputnik V do Chính phủ Liên bang Nga viện trợ và sử dụng cho gần 900 người Ngày 1/8, Việt Nam nhận thêm 10 nghìn liều vaccine Sputnik V do Chính phủ Liên bang Nga tặng
1.1.3.3 Vaccine Vero Cell của Sinopharm
Vaccine Vero Cell do Sinopharm phát triển và Beijing Institute of Biological Products Co., Ltd Trung Quốc sản xuất, đã được cấp phép sử dụng tại 64 quốc gia, vùng lãnh thổ, đã được Tổ chức Y tế thế giới đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này đang sử dụng tại 59 quốc gia với khoảng 800 triệu liều đã được sử dụng
Tại Việt Nam, vaccine Vero Cell đã được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Việt Nam đã tiếp nhận 500.000 liều vaccine Sinopharm do Chính phủ Trung Quốc viện trợ và đang triển khai tiêm chủng từ tháng 7/2021 Quảng Ninh là địa phương đầu tiên triển khai tiêm xong 88.100 liều mũi 1 và sẽ tiến hành tiêm mũi 2 từ
Trang 2410
ngày 4/8 Riêng Bình Liêu Quảng Ninh đã đạt độ bao phủ tiêm vaccine đối với 50% dân số toàn huyện Thành phố Hồ Chí Minh nhận cũng là loại vaccine này
1.1.3.4 Vaccine Comirnaty của Pfizer/BioNTech
Vaccine của Pfizer/BioNTech đã được cấp phép sử dụng tại 111 quốc gia và vùng lãnh thổ và được Tổ chức Y tế thế giới đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này đã được sử dụng tại 97 quốc gia với khoảng 850 triệu liều đã được sử dụng
Vaccine Comirnaty đã được Bộ Y tế phê duyệt có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Việt Nam đã tiếp nhận tổng cộng 746.460 liều vaccine Pfizer và đang triển khai tiêm chủng
1.1.3.5 Vaccine Spikevax (Covid-19 Vaccine Moderna)
Vaccine Spikevax do Moderna sản xuất đã được cấp phép sử dụng tại
64 quốc gia, vùng lãnh thổ và được Tổ chức Y tế thế giới đưa vào danh sách
sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này đã được sử dụng tại 63 quốc gia với khoảng 340 triệu liều
Vaccine này đã được Bộ Y tế phê duyệt sử dụng có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Tính đến nay, Việt Nam
đã tiếp nhận tổng cộng 5.000.100 liều vaccine Moderna do Chính phủ Mỹ viện trợ thông qua COVAX Facility và đang triển khai tiêm chủng
1.1.3.6 COVID-19 Vaccine Janssen
Vaccine Janssen do Janssen Pharmaceutica NV (Bỉ) và Janssen Biologics B.V (Hà Lan) sản xuất được cấp phép sử dụng tại 56 quốc gia, vùng lãnh thổ và được Tổ chức Y tế thế giới đưa vào danh sách sử dụng khẩn cấp Đến nay, vaccine này đã được sử dụng tại 34 quốc gia với khoảng 60 triệu liều đã sử dụng
Trang 2511
Vaccine do Janssen sản xuất đã được Bộ Y tế phê duyệt sử dụng có điều kiện cho nhu cầu cấp bách trong phòng, chống dịch COVID-19 Hiện nay, Việt Nam chưa tiếp nhận vaccine này
Tất cả các vaccine được cấp phép và đưa về Việt Nam sử dụng đều đảm bảo an toàn và hiệu quả
1.1.4 Kiến thức, thái độ và thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19
Đại dịch do Coronavirus 2019 (COVID-19) đã ảnh hưởng đến hơn 200 quốc gia, gây ra thiệt hại về sinh mạng và sinh kế Sự phát triển nhanh chóng của vaccine COVID-19 là một bước phát triển quan trọng và dữ liệu ban đầu cho thấy rằng vaccine này vừa an toàn vừa hiệu quả Tuy nhiên, việc chấp nhận vaccine COVID-19 còn phụ thuộc vào các đặc điểm nhân khẩu học xã hội khác nhau Mục đích của nghiên cứu này là tìm hiểu kiến thức và thái độ
đối với vaccine COVID-19 ở Ấn Độ [11]
Về mặt tâm lý, việc chấp nhận vaccine mới vẫn chưa được chắc chắn bởi cả nhân viên y tế và người dân nói chung Ngay từ đầu đại dịch COVID-
19, nhân viên y tế đang hoạt động ở tuyến đầu, bất chấp nguy cơ nhiễm bệnh
và tử vong cao hơn Họ làm công việc chuyên môn của mình với nỗi sợ bị lây nhiễm không chỉ với họ mà còn với bệnh nhân và người nhà của họ Các nhân viên y tế nhạy bén hơn trong việc tiêu thụ thông tin Đặc biệt, những người làm việc ở tuyến đầu cho rằng họ đã phát triển các kháng thể bảo vệ do
bị nhiễm vi rút nhiều lần Nhiều quốc gia trên thế giới đã ưu tiên sử dụng vaccine cho nhân viên y tế trong đó có Việt Nam [26]
Ngày 11/08/2020 vaccine COVID-19 đầu tiên trên thế giới là SPUTNIK V do Nga sản xuất được công bố Sau đó nhiều vaccine phòng COVID-19 của các quốc gia khác cũng đã công bố như AstraZeneca (Anh), Pfizer, BioNTech (Đức, Mỹ), Moderna (Mỹ), Sinopharm (Trung Quốc),…đã
Trang 26Theo nghiên cứu của Shibal Bhartiya và cộng sự (2021): Gần 2/3 (64,5%) thanh niên từ 18 đến 40 tuổi không biết về sự sẵn có của vaccine COVID-19, tiếp theo là 56,4% người từ 40 đến 60 tuổi và 46,2% người trên
60 tuổi không biết về sự sẵn có của vaccine Trong số những người tham gia nghiên cứu, gần 79% sẵn sàng sử dụng vaccine COVID-19 khi vaccine này
có sẵn để sử dụng và chỉ 2% không muốn tiêm vaccine này Hơn 2/3 số người trả lời rằng họ sẵn sàng chấp nhận vaccine COVID thuộc nhóm không
có thu nhập Yếu tố quan trọng nhất đối với việc do dự vaccine là sự xuất hiện của các tác dụng phụ nhẹ hoặc nghiêm trọng sau khi chủng ngừa Khả năng chấp nhận vaccine có thể được tăng lên khi có thông tin bổ sung về tính
an toàn và hiệu quả của vaccine trong phạm vi công cộng, tốt nhất là từ một nguồn thông tin tập trung, đáng tin cậy [11]
Đầu năm 2022, sau khi triển khai vaccine hiệu quả và các nền kinh tế thay đổi tốt hơn trong thời điểm dịch COVID-19, tình hình dịch trên thế giới
ổn định, triển vọng kinh tế toàn cầu đã được cải thiện trong đó có cả Việt Nam
Trang 2713
Hình 1.2 Biểu đồ số liều vaccine COVID-19 được cấp trên thế giới [1]
1.2 Một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19
Đại dịch COVID-19 đã và đang có những tác động to lớn đến mọi mặt đời sống xã hội ở khắp nơi trên toàn thế giới.Nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy đại dịch COVID-19 làm ảnh hưởng tới sức khoẻ tâm thần của NVYT; tăng tỷ lệ mất ngủ, mệt mỏi, lo âu, trầm cảm, stress J Z Huang đã khảo sát về sức khỏe tâm thần trên 230 NVYT tại một bệnh viện truyền nhiễm trong đại dịch COVID-19, cho thấy: Tỷ lệ lo âu ở NVYT là 23,04% và điểm lo âu là 42,91±10,89 Trong đó, tỷ lệ lo âu mức độ nặng, vừa phải và nhẹ lần lượt là 2,17%, 4,78% và 16,09% Tỷ lệ lo âu ở nữ NVYT cao hơn nam (p=0,045); điểm lo âu ở nữ cao hơn nam (p=0,012) Tỷ lệ lo âu ở điều dưỡng cao hơn so với bác sĩ (p=0,039) và điểm lo âu ở điều dưỡng cao hơn
so với bác sĩ (p <0,001) Tỷ lệ rối loạn căng thẳng sau sang chấn ở NVYT là 27,39% [16]
Nghiên cứu phân tích tổng hợp của nhóm tác giả Kavita Batra cho thấy
tỷ lệ chung của các chứng lo âu, trầm cảm, căng thẳng, hội chứng căng thẳng sau chấn thương, mất ngủ, tâm lý đau buồn, kiệt sức của nhân viên y tế lần lượt là 34,4%, 31,8%, 40,3%, 11,4%, 27,8%, 46,1% và 37,4%, và tỷ lệ lo lắng và trầm cảm ở nữ giới, y tá và những người tuyến đầu cao hơn so với nam giới, bác sĩ và nhân viên y tế tuyến hai [20]
Trang 2814
Lo lắng về nguy cơ lây nhiễm đối với các thành viên trong gia đình cũng là một vấn đề đáng quan tâm ở NVYT Nghiên của của Hiệp hội Nghiên cứu Y tá Hoàng gia Anh trên 2.600 điều dưỡng và hộ sinh trong đại dịch COVID-19 chỉ ra có khoảng 33% điều dưỡng/ hộ sinh bị trầm cảm, lo âu hoặc stress nghiêm trọng hoặc cực kỳ nghiêm trọng 92% điều dưỡng/ hộ sinh lo lắng về nguy cơ lây nhiễm đối với các thành viên trong gia đình họ [25]
Rối loạn giấc ngủ cũng là một một trong những ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 đối với NVYT Yifang Zhou (2020) nghiên cứu với tổng số 1.931 NVYT tuyến đầu tham gia chống dịch COVID-19 nhận thấy: Tỷ lệ NVYT có chất lượng giấc ngủ kém là 18,4% (KTC 95%: 16,6 - 20,11) Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy chất lượng giấc ngủ kém có liên quan tới tuổi và công việc Những người nhiều tuổi hơn có nguy cơ có chất lượng giấc ngủ kém cao hơn (gấp 1,043) (p<0,001) và điều dưỡng có nguy cơ có chất lượng giấc ngủ kém cao hơn (gấp 3,132 lần (p<0,001) [37]
Tăng tỷ lệ mệt mỏi và kiệt sức do COVID-19 ở nhân viên y tế Theo một nghiên cứu khác tỷ lệ mệt mỏi trong số các NVYT khi đối mặt với đại dịch COVID-19 là 56,7% Ngoài ra, thái độ tiêu cực với đại dịch cũng tác động trực tiếp đến việc gây ra mệt mỏi và các triệu chứng sang chấn sau chấn thương Kiệt sức là triệu chứng phổ biến trong số các NVYT chăm sóc người bệnh COVID-19 53,0% NVYT đã trải qua mức độ kiệt sức cao Điểm trung bình trong kiệt sức cảm xúc, cá nhân hóa và thiếu thành tích cá nhân lần lượt
là 26,6, 10,2 và 27,3 Tuổi tác, giới tính, loại công việc và địa điểm thực hành
là các yếu tố liên quan tới mức độ kiệt sức mà NVYT đã trải qua Bởi vậy việc chăm sóc sức khỏe cho NVYT, đặc biệt là chăm sóc sức khỏe tâm thần cho NVYT trong giai đoạn hiện nay là hết sức cần thiết [25]
Trang 2915
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Hoàng Minh Nam và cộng sự (2020) về Ảnh hưởng của đại dịch COVID – 19 đến công việc, cuộc sống và sức khỏe tâm thần của người dân tỉnh Thái Nguyên Kết quả cho thấy, có 55,71% đối tượng nghiên cứu chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ dịch COVID-19 (mất việc, tăng/giảm giờ làm…); 64,86% đối tượng phải cắt giảm chi tiêu hoặc nhân sự trợ giúp từ các tổ chức, cá nhân Tỷ lệ có các dấu hiệu
từ nhẹ đến rất nặng lo âu là 12,29%, trầm cảm là 16% và sang chấn tâm lý là 12,29% Nhóm đối tượng có độ tuổi 40 - 49 lo âu bằng 0,22 lần so với nhóm dưới 30 tuổi, 95%CI (0,07 - 0,76); nhóm hộ nghèo, cận nghèo có tỷ lệ sang chấn tâm lý gấp 5,12 lần so với nhóm có điều kiện kinh tế bình thường, 95%CI (1,40 - 18,67) và nhóm đối tượng có đi qua vùng dịch có tỷ lệ trầm cảm cao gấp 6,6 lần so với nhóm không đi qua vùng dịch, 95%CI (1,19 - 36,58) Dịch COVID-19 ảnh hưởng đến việc làm và thu nhập của người dân, đồng thời cũng gây rối loạn sức khỏe tâm thần của họ [17]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Thảo và cộng sự (2020) nhằm đánh giá tác động của đại dịch COVID-19 đến sức khỏe tâm thần của nhân viên y tế tại một số bệnh viện tuyến Trung Ương cho thấy có 9,6% đối tượng
có vấn đề sức khỏe tâm thần cần quan tâm, 8,8% có sức khỏe tâm thần ảnh hưởng lâu dài trong nhiều năm và 2,8% được chẩn đoán có tình trạng căng thẳng Điểm trung bình của “Sự ám ảnh” về COVID 19 là cao nhất (7,1 ± 7,3), tiếp theo là “Sự lảng tránh” (4,8 ± 6,9) và “Phản ứng thái quá” (3,2 ± 4,8) Các nhân viên y tế là điều dưỡng trực tiếp chăm sóc bệnh nhân, nhân viên y tế tại các khoa hành chính, sống độc thân và có tuổi đời, tuổi nghề cao thì có nguy cơ cao bị các vấn đề sức khỏe tâm thần cao hơn các đối tượng khác [17]
Trang 30- Nghiên cứu về kiến thức, tháo độ, thực hành vaccine COVID-19
Năm 2020, Ward JK, Alleaume C., Peretti-Watel P., Seror V., Cortaredona S., Launay O Thái độ của công chúng Pháp đối với vaccine COVID-19 trong tương lai: chính trị hóa một vấn đề sức khỏe cộng đồng [34]
Năm 2021, Iacoella C., Ralli M., Maggiolini A., Arcangeli A., Ercoli
L Việc chấp nhận vaccine COVID-19 cho những người vô gia cư ở Thành phố Rome, Ý [18]
Năm 2021, Rzymski P., Zeyland J., Poniedziałek B., Małecka I., Wysocki J Nhận thức và thái độ đối với vaccine COVID-19: một nghiên cứu cắt ngang ở Ba Lan [28]
Năm 2021, Kozak A., Nienhaus A COVID-19 Tiêm chủng: tình trạng
và sự sẵn sàng tiêm chủng của các nhân viên trong ngành chăm sóc sức khỏe
và phúc lợi ở Đức [24]
Nghiên cứu của Al-Marshoudi S và cộng sự, năm 2021, đã thực hiện nghiên cứu mô tả cắt ngang đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành ở Oman
Trang 31Năm 2022, Metadel Adane và cộng sự thực hiện một nghiên cứu cắt ngang dựa trên tổng 404 NVYT ở Thành phố Dessie, đông bắc Ethiopia vào tháng 5 năm 2021 Kết quả ghi nhận tỷ lệ NVYT có kiến thức, nhận thức tốt, thái độ tích cực về tiêm chủng COVID-19 lần lượt là 62,5%, 60,5% và 52,3%; 64,0% NVYT muốn được tiêm vắc xin trong khi 36,0% cho rằng họ
sẽ từ chối Gần một nửa (46,9%) NVYT cho rằng vắc xin có thể làm trầm trọng thêm bất kỳ tình trạng y tế nào đã có từ trước và 39,5% trong số họ cho rằng vắc xin có thể gây nhiễm COVID-19 [6]
Năm 2022, Minh Cuong Duong và cộng sự nghiên cứu kiểm tra mức
độ hiểu biết về vaccine COVID-19 của người dân Việt Nam Kết quả ghi nhận trong số 1708 người được khảo sát, 942 (55,2%) là nữ và 797 (46,7%)
có mức kiến thức chấp nhận được Tuổi và được tiêm vaccine COVID-19 có không có liên quan với trình độ kiến thức thấp hơn Các chuyên gia kỹ thuật
và giảng viên không có sức khỏe có liên quan với trình độ kiến thức thấp hơn [14]
- Nghiên cứu về ảnh hưởng của đại dịch COVID-19
Năm 2021, Ghufran Jassim và cộng sự nghiên cứu sự tác động tâm lý của COVID-19 trên 502 đối tượng là người Bahrain> 18 tuổi đã trải qua cách
ly hoặc cách ly Kết quả ghi nhận 40% người tham gia cho thấy trầm cảm đáng kể về mặt lâm sàng Số trầm cảm và căng thẳng sau chấn thương cao hơn đáng kể ở phụ nữ, sinh viên đại học, những người có tiền sử về tình trạng sức khỏe tâm thần [19],
Trang 3218
Một nghiên cứu của Stephen X Zhang (2020) báo cáo về sức khỏe tâm thần của NVYT ở Iran (khi quốc gia này phải đối mặt với số ca nhiễm COVID-19 cao nhất) trên 304 NVYT (bác sĩ, y tá, bác sĩ X-quang, kỹ thuật viên, v.v.) cho thấy tỷ lệ NVYT có các rối loạn lo âu là 28,0%, trầm cảm là 30,6% và stress là 20,1% [36]
Xingyue Song (2020) nghiên cứu đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần của 14.825 bác sĩ và điều dưỡng tại 31 tỉnh của Trung Quốc cho thấy tỷ
lệ các triệu chứng trầm cảm và rối loạn căng thẳng sau chấn thương lần lượt
là 25,2% và 9,1% Điều dưỡng có liên quan đến nguy cơ mắc rối loạn căng thẳng sau chấn thương cao hơn bác sĩ [31]
Sofia Pappa (2020) đã tổng hợp, phân tích 13 nghiên cứu với tổng cộng 33.062 NVYT Tỷ lệ lo lắng của NVYT được đánh giá trong 12 nghiên cứu là 23,2% và tỷ lệ trầm cảm là 22,8% (được đánh giá qua 10 nghiên cứu) Một phân tích phân nhóm cho thấy sự khác biệt về giới tính và nghề nghiệp: NVYT nữ và điều dưỡng có tỷ lệ mắc các triệu chứng trầm cảm cao hơn so với NVYT là nam giới và bác sĩ Tỷ lệ mất ngủ được ước tính là 38,9% trong
5 nghiên cứu [27]
Nghiên cứu khác của Wenzhi Wu và cộng sự năm 2020, khảo sát trên
2110 NVYT và 2158 sinh viên đại học ở tất cả các tỉnh của Trung Quốc đã cho thấy NVYT căng thẳng tâm lý cao hơn đáng kể so với sinh viên đại học, đặc biệt là NVYT ở Vũ Hán (p <0,001) NVYT ở Vũ Hán có điểm cao hơn đáng
kể so với NVYT ở khu vực khác về "Nghĩ về sự nguy hiểm của dịch", "Khả năng mắc bệnh của bản thân", "Lo lắng về lây truyền cho gia đình" (p<0,05),
"Chất lượng giấc ngủ kém"," Cần phải được chuẩn bị tâm lý" và "Lo lắng về việc bị nhiễm bệnh " (p<0,01) Về "Tự tin vào việc kiểm soát dịch bệnh", nhóm NVYT ở khu vực Vũ Hán có điểm đánh giá thấp hơn đáng kể so với nhóm NVYT ở khu vực ngoài Vũ Hán (p<0,05) Cảm xúc, nhận thức, phản
Trang 33Năm 2020, Hà Văn Như thực hiện nghiên cứu khảo sát kiến thức, thái
độ và thực hành trong việc kiểm soát COVID-19 và một số yếu tố liên quan trong dân số Việt Nam vào năm 2020 Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện với 1999 người tham gia trong độ tuổi 18-59, thông qua một mạng trực tuyến bảng câu hỏi [33]
Năm 2020, Giao Huynh thực hiện nghiên cứu nhằm đánh giá kiến thức
và thái độ đối với bệnh do coronavirus-2019 (COVID-19) của nhân viên y tế tại Bệnh viện Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 1 năm 2020 đến tháng 2 năm 2020 tại Bệnh viện Quận 2 Một chiến lược lấy mẫu ngẫu nhiên có hệ thống đã được thực hiện và dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi tự quản lý về kiến thức và thái độ của nhân viên y tế về COVID-19 [17]
Năm 2020, Kiều Thị Hoa thực hiện nghiên cứu ‘Khảo sát kiến thức, thái độ của viên chức và người lao động Đại học Y dược Hà Nội về COVID-
19 năm 2020’: Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Y Hà Nội trên
354 viên chức và người lao động hệ bác sĩ đang học tập tại trường nhằm mô
tả kiến thức, thái độ của viên chức và người lao động đối với đại dịch COVID-19 Nghiên cứu sử dụng phương pháp thu thập số liệu thông qua Google Form và thời gian thu thập số liệu trong 1 tháng [3]
Năm 2020, nhóm nghiên cứu của Trần Xuân Bách đã khảo sát tác động của COVID-19 đối với kinh tế và chất lượng cuộc sống của người Việt Nam
Trang 3420
trong thời kỳ giãn cách xã hội trên 341 người dân Việt Nam Kết quả ghi nhận, có 66,9% đối tượng thu nhập kinh tế bị giảm Về khía cạnh chất lượng cuộc sống cũng giảm, 38,7% thuộc nhóm lo lắng/trầm cảm [32],…
Và còn nhiều nghiên cứu về COVID-19 trong nước cũng đã được công
bố, nhưng chưa có nghiên cứu nào về khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng COVID-19 và một số ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 trên nhóm đối tượng là viên chức và người lao động đặc biệt là viên chức và người lao động của trường Đại học Y dược Cần Thơ
Trang 3521
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: viên chức và người lao động đang công tác tại Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Tiêu chuẩn chọn: Viên chức và người lao động đang công tác tại
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ không phân biệt độ tuổi, giới tính
Tiêu chuẩn loại trừ: Viên chức và người lao động không đồng ý tham
gia khảo sát
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Trường Đại học Y Dược Cần Thơ
Thời gian nghiên cứu: Tháng 11/2021 đến tháng 11/2022 trong đó
thời gian khảo sát từ tháng 1/2022 đến tháng 3/2022
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích
Trong đó: Z = 1,96 (hệ số tin cậy với mức ý nghĩa α = 0,05)
p= 0,34 là tỷ lệ số người tham gia nghiên cứu có lo lắng về việc tiêm ngừa vacxin COVID-19 theo nghiên cứu của Sabria Al-Marshoudi (2021) [26],
d = sai số cho phép của nghiên cứu, chọn d = 0,05
Vậy n = 345 viên chức và người lao động Trong thực tế có 422 viên
chức và người lao động tham gia khảo sát
Trang 3622
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu: Chọn thuận tiện tất cả các viên chức và
người lao động đủ tiêu chuẩn chọn
2.3.4 Nội dung nghiên cứu
2.3.4.1 Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Giới tính: là biến số định tính có 2 giá trị là nam hoặc nữ
Tuổi: là biến số định lượng được tính bằng cách lấy năm hiện tại trừ đi năm sinh, đơn vị tính là năm
Tình trạng hôn nhân: là biến số định tính, có 2 giá trị quan sát tương ứng với 2 tình trạng hôn nhân là độc thân hoặc và có gia đình
Thâm niên công tác: là biến số định lượng, đây là số năm mà đối tượng đang công tác tại cơ sở hiện tại, được tính bằng số năm tiến hành nghiên cứu trừ đi năm bắt đầu làm tại cơ sở đó, đơn vị tính là năm
Chức danh nghề nghiệp: là biến số định tính, đây là các cấp bậc của đối tượng nghiên cứu được xác định bởi quá trình học tập, rèn luyện mà có được, cụ thể: Giảng viên; chuyên viên/kỹ thuật viên; kế toán viên; thư viện viên
Chuyên môn: là biến số định tính, có 3 giá trị quan sát tương ứng với 3
Loại vaccine: là biến số định tính được xác định bởi loại vaccine COVID-19 mà đối tượng nghiên cứu đã tiêm, có 4 giá trị quan sát tương ứng: Astrazeneca, Pfizer, Moderna và vaccine khác
Trang 372.3.4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19
Kiến thức tiêm chủng vaccine COVID-19
Câu hỏi kiến thức về vaccine COVID-19 có tổng 6 câu hỏi về, trong đó
có 1 câu hỏi về thông tin vaccine COVID-19 và 5 câu hỏi về kiến thức tiêm chủng COVID-19 (Bảng 2.1) Mỗi câu trả lời đúng là được tính là 1 và câu trả lời sai được tính là 0 Không trả lời hoặc không biết được coi là trung lập
và cũng được tính là 0 Đối với câu hỏi nhiều đáp án chỉ được tính ĐÚNG khi chọn chính xác và đầy đủ tất cả đáp án đúng
Theo phân loại kiến thức của Bloom, người có điểm kiến thức ≥ 80% tổng số điểm tương ứng ≥ 5 điểm được đánh giá kiến thức “đúng”, và ngược lại người có số điểm kiến thức <80% tổng số điểm tương ứng < 5 điểm được đánh giá kiến thức “chưa đúng” [7]
Bên cạnh đó phần này còn có 1 câu hỏi thứ 7 để tìm nguồn gốc có được thông tin vaccine COVID-19 của viên chức, người lao động Trường
Trang 3824
Bảng 2.1 Bảng câu hỏi đánh giá về kiến thức tiêm chủng vaccine COVID-19
Câu hỏi thông tin về vaccine COVID-19
1 Có biết thông tin về vaccine COVID-19
Sabria Al-Marshoudi và cộng sự, (2021) [26]
Sovan Samanta và cộng sự,
2020 [29]
Câu hỏi kiến thức tiêm chủng COVID-19
2 Có thể mắc bệnh COVID-19 ngay cả khi
đã tiêm ngừa COVID-19 không?
Sabria Al-Marshoudi và cộng sự, (2021) [26]
3 Có thể tiêm chủng COVID-19 nếu có tiền
sử nhiễm COVID-19 không?
4 Có thể tiêm chủng COVID-19 khi đang/đã
bị COVID-19 không?
5 Các tác dụng phụ mà vaccine COVID-19
có thể gây ra
6 Số liều vaccine COVID-19 nên tiêm
Nguồn gốc có được thông tin vaccine COVID-19
7 Nguồn gốc thông tin vaccine COVID-19 Shawahna R và cộng sự,
(2021) [30]
Trang 3925
Thái độ tiêm chủng vaccine COVID-19
Câu hỏi về thái độ về tiêm chủng vaccine COVID-19 gồm 4 hỏi (Bảng 2.2) Ngoại trừ câu hỏi “nguyên nhân lo lắng” được chọn nhiều đáp án, 3 câu còn lại mỗi câu chỉ 1 đáp án (phụ lục 1)
Bảng 2.2 Bảng câu hỏi đánh giá thái độ về tiêm chủng vaccine COVID-19
1 Lo lắng về việc tiêm chủng COVID-19 Shibal Bhartiya và cộng sự
(2021) [11]
Fidelia Cascini và cộng sự (2021) [13]
Sovan Samanta và cộng
sự, 2020 [29]
2 Nguyên nhân lo lắng
3 Vaccine COVID-19 có an toàn
4 Niềm tin Vaccine COVID-19 có thể bảo
vệ chúng ta
Thực hành tiêm chủng vaccine COVID-19
Câu hỏi thực hành liên quan đến thực hành tiêm chủng vaccine
COVID-19, bao gồm bốn câu hỏi (Bảng 2.3) Phản hồi các tùy chọn có hoặc không (Phụ lục 1)
Bảng 2.3 Bảng câu hỏi đánh giá về thực hành tiêm chủng vaccine
COVID-19
1 Sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19
Sabria Marshoudi và cộng
Al-sự, (2021) [26]
2 Sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 lần thứ 2
3 Sẵn sàng tiêm vaccine COVID-19 sau lần thứ
2
4 Sẽ báo cáo tác dụng phụ cho nhân viên y tế khi
gặp tác dụng phụ của vaccine