1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc của bà mẹ có con mắc ho gà đang điều trị tại trung tâm bệnh nhiệt đới bệnh viện nhi tw

43 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 631,59 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH VŨ THỊ XUÂN THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC CỦA BÀ MẸ CÓ CON MẮC HO GÀ ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM BỆNH NHIỆT ĐỚI - BỆNH VIỆN NHI TW BÁO C

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

VŨ THỊ XUÂN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC CỦA BÀ MẸ CÓ CON MẮC HO GÀ ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM BỆNH NHIỆT ĐỚI - BỆNH VIỆN NHI TW

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

NAM ĐỊNH - 2021

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỀU DƯỠNG NAM ĐỊNH

VŨ THỊ XUÂN

THỰC TRẠNG KIẾN THỨC VÀ THỰC HÀNH CHĂM SÓC CỦA BÀ MẸ CÓ CON MẮC HO GÀ ĐANG ĐIỀU TRỊ TẠI TRUNG TÂM BỆNH NHIỆT ĐỚI - BỆNH VIỆN NHI TW

Chuyên ngành: Nhi khoa

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP

GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN Th.S NGUYỄN THỊ THANH HUYỀN

NAM ĐỊNH - 2021

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành được chuyên đề tốt nghiêp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban giám hiệu, các quý thầy cô trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã nhiệt tình giảng dạy truyền đạt những kiến thức, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện chuyên đề “Thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc của bà mẹ có con mắc bệnh ho gà điều trị tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới – Bệnh viện Nhi Trung ương”

Tôi xin trân thành cảm ơn Ban giám đốc Bệnh viện Nhi Trung Ương và các phòng ban có liên quan đã tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thiện chuyên đề

Xin trân thành cảm ơn các bác sỹ, điều dưỡng làm việc tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới - Bệnh viện Nhi Trung Ương đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu

Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thạc sỹ Nguyễn Thị Thanh Huyền - Cô đã dành nhiều thời gian quý báu để truyền đạt cho tôi những kiến thức chuyên môn và trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp Điều dưỡng chuyên khoa I

Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ và giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình học tập và nghiên cứu của mình

Xin chân trọng cảm ơn!

Nam Định, ngày 15 tháng 10 năm 2021

Tác giả

Vũ Thị Xuân

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nghiên cứu “Thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc của bà mẹ có con mắc ho gà đang điều trị tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới- Bệnh viện Nhi Trung Ương” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả trong nghiên cứu này trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu có gì sai sót tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả

Vũ Thị Xuân

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

BẢNG DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ iv

DANH MỤC BẢNG iv

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 3

1.1 Cơ sở lý luận 3

1.1.1 Lịch sử bệnh ho gà 3

1.1.2 Căn nguyên 3

1.1.3 Nguồn lây bệnh và đường lây truyền 4

1.1.4 Miễn dịch 5

1.1.5 Chẩn đoán 5

1.1.6 Biến chứng 8

1.1.7 Điều trị và chăm sóc 10

1.1.8 Biện pháp phòng bệnh 13

1.2 Cơ sở thực tiễn 14

1.2.1 Trên Thế giới 14

1.2.2 Tại Việt Nam 15

Chương 2: MÔ TẢ VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 17

2.1 Thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc của bà mẹ có con mắc bệnh ho gà điều trị tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới - Bệnh viện Nhi Trung ương 17

2.1.1 Giới thiệu sơ lược về Trung tâm Bệnh nhiệt đới – Bệnh viện Nhi Trung ương: 17

2.1.2 Thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc của bà mẹ có con mắc bệnh ho gà điều trị tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới – Bệnh viện Nhi Trung ương 17

Trang 6

Chương 3: BÀN LUẬN 23

3.1 Thực trạng của vấn đề khảo sát 23

3.1.1 Đặc điểm của đối tượng khảo sát 23

3.1.2 Thực trạng kiến thức chung về bệnh ho gà 23

3.1.3 Thực trạng thực hành của bà mẹ về chăm sóc trẻ ho gà 25

3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức và thực hành chăm sóc của bà mẹ có con mắc bệnh ho gà điều trị tại Trung tâm bệnh Nhiệt Đới - Bệnh viện Nhi Trung ương 26

3.2.1 Ưu điểm và nhược điểm, tồn tại hạn chế 26

3.2.2 Đề xuất giải pháp nâng cao kiến thức và thực hành của bà mẹ 28

KẾT LUẬN

KHUYẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC: PHIẾU KHẢO SÁT

Trang 7

TC- CĐ- ĐH Trung cấp, cao đẳng, đại học

TT-GDSK Truyền thông - giáo dục sức khỏe WHO Tổ chức Y tế Thế giới

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Đặc điểm về trình độ học vấn của bà mẹ 18

Biểu đồ 2.2: Đặc điểm về nghề nghiệp của bà mẹ 19

Biểu đồ 2.3: Đặc điểm về nơi cư trú của bà mẹ 19

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.2: Đánh giá mức độ nặng của cơn ho gà 11

Bảng 2.1: Các nguồn thông tin về ho gà ở trẻ em 20

Bảng 2.2: Kiến thức của bà mẹ về nguyên nhân và đường lây truyền của bệnh ho gà 20

Bảng 2.3: Kiến thức của bà mẹ về triệu chứng cơn ho gà 20

Bảng 2.4: Kiến thức của bà mẹ về biến chứng bệnh ho gà 21

Bảng 2.5: Kiến thức của bà mẹ về chế độ dinh dưỡng của trẻ ho gà 21

Bảng 2.6 Kiến thức của bà mẹ về biện pháp dự phòng bệnh ho gà 21

Bảng 2.7: Thực hành về cách xử trí khi trẻ bị ho gà 22

Bảng 2.8: Thực hành về dấu hiệu đưa trẻ đến cơ sở y tế khám bệnh 22

Bảng 2.9: Thực hành về chăm sóc trẻ trong cơn ho 22

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ho gà là bệnh nhiễm trùng đường hô hấp cấp tính, có khả năng lây nhiễm cao Mặc dù, đã được dự phòng bằng vắc xin nhưng bệnh vẫn chưa hoàn toàn được kiểm soát và có thể gây tử vong, đặc biệt với trẻ nhỏ

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước tính có khoảng 50 triệu ca mắc

và 300.000 ca tử vong mỗi năm, ở các nước đang phát triển tỉ lệ tử vong do

ho gà ở trẻ nhũ nhi được ước tính khoảng 4%[5] Trong những năm gần đây, các vụ dịch ho gà lẻ tẻ vẫn liên tục xảy ra ở nhiều nước, kể cả các nước phát triển có tỷ lệ tiêm phòng cao, như vụ dịch ở Washington năm 2012 có 2520 ca mắc (37.5 ca/100.000 dân), tăng 1.3 lần so với số liệu cùng thời điểm năm 2011[6] Tại California năm 2010, có khoảng 9000 ca mắc, 809 ca nhập viện,

và 10 ca tử vong là vụ dịch ho gà lớn nhất trong hơn 60 năm tại khu vực này [7]; Theo báo cáo năm 2009 tại Ba Lan, có 2390 ca mắc, tỷ lệ mắc là 6.3/100.000 dân, trong đó có 1079 ca (45%) phải nhập viện [8]; Nghiên cứu

về dịch ho gà tại phía bắc Bồ Đào Nha từ 2000-2006 cho thấy tỷ lệ nhập viện trung bình hàng năm ở trẻ dưới 1 tuổi là 114/100.000, tỷ lệ tử vong là 0.3% [9] Việt Nam, sau khi có chương trình tiêm chủng mở rộng (TCMR), phổ cập

ba liều vắc xin cơ bản bạch hầu - uốn ván - ho gà (DTP) cho trẻ dưới 1 tuổi từ đầu những năm 1980 thì tỷ lệ mắc và tử vong do ho gà ở trẻ em giảm đáng kể

từ 75.5/100.000 dân trong những năm 1984-1986, xuống 7.5/100.000 dân vào những năm 1991-1995, và còn 0.32/100.000 dân trong 5 năm 2008-2012[4]

Tại Bệnh viện Nhi Trung ương, hàng năm tiếp nhận và điều trị nhiều trường hợp trẻ mắc ho gà Mặc dù đã áp dụng nhiều biện pháp hiện đại trong điều trị nhưng tỷ lệ khỏi bệnh ra viện sau điều trị chiếm 79,6% (86/108); Tỷ

lệ tử vong 2,8% (3/108), trong đó 7,5% (3/40) trẻ dưới 2 tháng tuổi [2] Biểu hiện lâm sàng bệnh ho gà khác nhau theo tuổi, đặc biệt, ở trẻ nhỏ bệnh thường không điển hình và có tiến triển nặng Do đó việc bà mẹ nắm được kiến thức

và cách chăm sóc trẻ từ những giai đoạn đầu đến khi trẻ được chẩn đoán chính xác mắc ho gà đóng vai trò quan trọng trong điều trị và giảm biến

Trang 10

chứng, hạn chế nguy cơ tử vong và giảm lây nhiễm bệnh cho cộng đồng Vì vậy, nhằm tìm hiểu kiến thức và thực hành của bà mẹ về chăm sóc trẻ mắc bệnh ho gà chúng tôi tiến hành thực hiện chuyên đề: “Thực trạng kiến thức

và thực hành chăm sóc của bà mẹ có con mắc bệnh ho gà điều trị tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới – Bệnh viện Nhi Trung ương” nhằm hai mục tiêu:

1 Mô tả thực trạng kiến thức và thực hành chăm sóc của bà mẹ có con mắc bệnh ho gà điều trị tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới - Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2021

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao kiến thức và thực hành chăm sóc của bà mẹ có con mắc bệnh ho gà điều trị tại Trung tâm Bệnh nhiệt đới

- Bệnh viện Nhi Trung ương

Trang 11

ho gà được dùng để đặt tên cho bệnh này trong các ngôn ngữ khác nhau: tos ferina (ho như gà) và tosse canina (ho như chó sủa) trong tiếng Tây Ban Nha

và tiếng Ý, chincough (ho hổn hển) trong tiếng Anh cổ, coq luche (gà gáy) trong tiếng Pháp, và “ho 100 ngày” trong tiếng Trung Quốc

1.1.2 Căn nguyên

Bordetella pertussis là nguyên nhân chính gây dịch bệnh ho gà và các đợt bệnh ho gà lẻ tẻ Trực khuẩn ho gà lần đầu tiên được phân lập bởi Jules Bordet và Octave Gengou năm 1906 Năm 1923, Bergey và cộng sự đặt tên cho nó là Haemophilus pertussis, đến năm 1952, Moreno López chuyển chúng sang giống Bordetella, thuộchọ Alcaligenaceae – một họ mới, được De lay đề xuất năm 1986, gồm giống Alkaligenes và Bordetella Giống Bordetella hiện nay gồm 4 loài: Bordetella pertussis, B parapertussis, B bronchiseptica và B.avium [3]

B parapertussis chiếm khoảng 5% trong các loài Bordetella spp phân lập được ở Hoa Kỳ, và ít gây bệnh kéo dài [6] B pertussis chỉ gây bệnh ở người, B parapertussis có thể gây bệnh cho cừu, B bronchiseptica thường gây bệnh cho động vật như gây ho ở chó, khụt khịt mũi ở thỏ, và gây viêm mũi ở lợn Các ca bệnh do B bronchiseptica ở người gây viêm xoang, viêm khí phế quản, viêm phổi không biến chứng, viêm nội tâm mạc, nhiễm trùng huyết, viêm màng não sau chấn thương và sau phẫu thuật, viêm phúc mạc; thường các trường hợp này xảy ra ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch hoặc trẻ

Trang 12

nhỏ tiếp xúc thường xuyên với vật nuôi B hinzii được tìm thấy trong máu của người bị suy giảm miễn dịch mà không có triệu chứng bệnh hô hấp, người

bị nang phổi hoặc những bệnh nhân bị bệnh u hạt Wegener B holmesii và những căn nguyên giống như B holmesii thường liên quan đến tình trạng viêm phế quản, nhiễm trùng huyết, và viêm nội tâm mạc ở những người cắt lách hoặc suy giảm miễn dịch và có tiếp xúc với chó

1.1.3 Nguồn lây bệnh và đường lây truyền

Ổ chứa: Người là vật chủ duy nhất Bởi vậy, nguồn truyền bệnh là bệnh nhân bị bệnh ho gà, không có nguồn lây truyền ở người lành mang trùng hoặc người bệnh trong thời kỳ lui bệnh [1]

Thời kỳ lây truyền: Bệnh lây lan mạnh trong tuần đầu của bệnh, khi có những biểu hiện viêm long đường hô hấp và những cơn ho đầu tiên, sau đó tính lây truyền giảm dần và sẽ mất đi sau 3 tuần mắc bệnh, mặc dù lúc này cơn ho vẫn còn dai dẳng Nếu được điều trị kháng sinh có hiệu lực thì thời gian lây truyền được rút ngắn và thông thường khoảng 5 ngày

Nhóm tuổi đi học là nguồn lây bệnh chính trong cộng đồng Năm 1996

ở Massachusetts, có 20 báo cáo khác nhau ho gà, trong đó có 18 báo cáo xảy

ra ở các trường học; 67% số ca ở lứa tuổi 10-19 Sự bùng phát dịch ở lứa tuổi học đường là do không tiêm chủng hoặc thiếu tiêm chủng nhắc lại ở tuổi tiền học đường Sự suy giảm miễn dịch ở người già và khả năng miễn dịch thấp ở trẻ nhũ nhi cũng làm cho nhóm này có nguy cơ mắc bệnh cao và bệnh nặng Đối với trẻ sơ sinh thì hay gặp ho gà ở nhóm trẻ sinh non hoặc trẻ đẻ ra từ các

bà mẹ bị ho Như vậy, các dữ liệu cho thấy trẻ lớn là ổ chứa và nguồn lây nhiễm ho gà cao cho các cá thể nhạy cảm và trẻ nhũ nhi trong cộng đồng

Ho gà là bệnh có khả năng lây truyền cao; khi tiếp xúc gần với người bị

ho gà và tiếp xúc với chất tiết đường hô hấp trong không khí (ho, hắt hơi) thì nguy cơ lây bệnh rất cao là 100% B pertussis không tồn tại được lâu trong môi trườngnên không lây gián tiếp qua đồ vật Không có bằng chứng về người mang vi khuẩn mạn tính Sau khi tiếp xúc gần với người bệnh như

Trang 13

người trong gia đình, người chăm sóc trẻ, trên 50% người có miễn dịch đầy

đủ hoặc có miễn dịch tự nhiên bị nhiễm vi khuẩn không triệu chứng, hoặc bệnh nhẹ

1.1.4 Miễn dịch

Ho gà là bệnh nhiễm trùng niêm mạc do độc tố gây tổn thương niêm mạc và toàn thân Mắc bệnh tự nhiên hay tiêm phòng đều có thể tạo ra kháng thể và đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào

Vai trò của miễn dịch thể dịch trong ho gà đã được biết rõ Kháng thể IgA tiết ngăn cản vi khuẩn bám dính vào biểu mô đường hô hấp, và IgG trong huyết thanh có tác dụng miễn dịch chống nhiễm khuẩn

Vai trò của miễn dịch tế bào trong bệnh ho gà chưa được xác định đầy

đủ Nhưng cả mắc bệnh tự nhiên hay tiêm phòng đều không tạo được miễn dịch hoàn toàn hay miễn dịch suốt đời Như vậy, kháng thể kháng độc tố ho

gà (PT) nồng độ cao, kết hợp với kháng thể kháng nhiều loại kháng nguyên B pertussis và đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào đóng vai trò quan trọng trong phòng mắc bệnh ho gà Đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào có thể tồn tại lâu dài nhưng nồng độ kháng thể giảm nhanh xuống dưới mức phòng bệnh sau 5 năm mắc bệnh tự nhiên và khả năng bảo vệ giảm xuống sau 3-5 năm tiêm phòng và không đo được kháng thể sau 12 năm Sự bùng phát dịch bệnh ho gà xảy ra ở người lớn tuổi, trong các trại dưỡng lão, kể cả ở những vùng

có tỷ lệ tiêm phòng cao, ở học sinh, thanh thiếu niên, và người lớn trên tất cả các quốc gia và cộng đồng kinh tế xã hội khác nhau cho thấy hậu quả của việc hết thời gian hiệu lực kể từ khi tiêm phòng

1.1.5 Chẩn đoán

Triệu chứng lâm sàng

Ho gà cổ điển là một bệnh kéo dài chia thành 3 giai đoạn: khởi phát, kịch phát, và giai đoạn lui bệnh, mỗi giai đoạn kéo dài khoảng 2 tuần Mỗi giai đoạn có những biểu hiện đặc trưng của bệnh và có những nguy cơ biến chứng khác nhau, tuy nhiên còn phụ thuộc vào tuổi và tình trạng miễn dịch

Trang 14

của từng cá thể Ho gà điển hình thường gặp ở trẻ nhỏ chưa được tiêm phòng

Ở trẻ nhỏ dưới 3 tháng, giai đoạn khởi phát thường chỉ kéo dài một vài ngày hoặc không có, giai đoạn kịch phát, lui bệnh kéo dài hơn, với thời gian ho co thắt có thể kéo dài suốt năm đầu Ở trẻ được tiêm chủng, tất cả các giai đoạn của bệnh đều ngắn hơn

Thể thông thường điển hình

Trong ho gà cổ điển, thời gian ủ bệnh từ 3 đến 12 ngày tiếp theo là sự xuất hiện các triệu chứng của thời kỳ khởi phát, giữa hai giai đoạn này không

- Thời kỳ toàn phát (giai đoạn ho cơn):

Kéo dài 1-2 tuần, xuất hiện những cơn ho gà điển hình, xảy ra bất chợt,

vô cớ cả ngày và đêm, ho cả khi trẻ đang chơi, đang ăn hoặc khi quấy khóc Cơn ho diễn biến qua 3 giai đoạn: ho, thở rít và khạc đờm

+ Ho: ho rũ rượi thành cơn, mỗi cơn từ 15-20 tiếng ho liên tiếp Khi ho lưỡi bị đẩy ra ngoài, lâu dần dẫn đến loét hãm lưỡi (ở trẻ chưa có răng không

có triệu chứng này) Ho nhiều làm trẻ thở yếu dần có lúc như ngừng thở, mặt tím tái, mắt đỏ, tĩnh mạch cổ nổi, chảy nước mắt nước mũi

+ Thở rít vào: Xuất hiện cuối cơn ho do khí hít vào đi qua thanh môn vẫn đóng một phần

+ Khạc đờm: Các cơn ho có thể kết thúc với sự bài xuất ra nút nhầy đặc quánh dính là chất bài tiết của khí quản cô đặc, lông mao rụng, và biểu mô đường hô hấp bị hoại tử, trực khuẩn ho gà và bạch cầu lympho

Sau mỗi cơn ho, trẻ bơ phờ mệt mỏi, có thể nôn, vã mồ hôi, mạch nhanh, thở nhanh Kèm theo có thể thấy một số triệu chứng sau: sốt nhẹ hoặc

Trang 15

không sốt, mặt và mi mắt nặng, loét hãm lưỡi, nghe phổi trong cơn ho có thể thấy một số ran phế quản

Các cơn ho tăng dần về số cơn và mức độ nặng của cơn trong vòng vài ngày đến một tuần và duy trì trạng thái nặng trong vòng vài ngày đến vài tuần, đôi khi có cơn ho kéo dài vài giờ

- Thời kỳ lui bệnh và hồi phục:

Kéo dài khoảng 2-4 tuần Số cơn ho giảm dần, thời gian mỗi cơn ngắn lại, cường độ ho giảm, khạc đờm ít, sau đó hết hẳn Tình trạng toàn thân tốt dần lên, trẻ ăn được và vui chơi bình thường

Tuy nhiên, một số trẻ xuất hiện những cơn ho phản xạ kéo dài, thậm chí tới 1-2 tháng

Thể thô sơ: Không ho, chỉ hắt hơi nhiều

Thể nhẹ: Cơn ho nhẹ, ngắn, và không điển hình, không khạc đờm nhiều Thường gặp ở trẻ em đãtiêm vắc xin phòng ho gà nhưng kháng thể thấp và tồn lưu ngắn Thể này thường khó chẩn đoán

Chẩn đoán phân biệt

Nhiễm adenovirus có thể phải phân biệt với ho gà do có các triệu chứng liên quan như đau họng, viêm kết mạc Theo một nghiên cứu, số ngày ho trung bình của adenovirus là 18 ngày, so với 35 ngày trong bệnh ho gà Tuy nhiên, gần 50 % trẻ nhiễm adenovirus có ho kịch phát trên 21 ngày và 53% bị nôn sau ho triệu chứng ít gặp hơn là thở rít chiếm 20%

Nhiễm Mycoplasma khó phân biệt với bệnh ho gà trên lâm sàng Tuy nhiên, nếu bệnh sử trẻ có sốt, đau đầu và có các triệu chứng toàn thân khi khởi phát bệnh, và hay gặp có ran ở phổi thì thường gợi ý nhiễm Mycoplasma Mặc dù, những trường hợp trẻ nhỏ viêm phổi không sốt thường được làm xét nghiệm ho gà nhưng những trường hợp trẻ ho từng tiếng một (có nhịp thở khi ho), kèm viêm kết mạc mủ, thở nhanh, phổi có ran, khò khè thì điển hình cho nhiễm C trachomatis, hoặc nếu có triệu chứng viêm đường

hô hấp dưới chiếm ưu thế thì điển hình cho nhiễm virus hợp bào đường hô

Trang 16

hấp (respiratory syncytial virus – RSV) Trường hợp trẻ bị ho gà (chỉ trừ khi trẻ có viêm phổi bội nhiễm), khi thăm khám lâm sàng giữa các cơn ho, kể cả đếm nhịp thở, là hoàn toàn bình thường Vì vậy, đối với trẻ nhỏ nếu nghi ngờ

ho gà vì bệnh sử có ho cơn kịch phát và biểu hiện lâm sàng ngoài cơn ho bình thường thì cần theo dõi và chứng kiến cơn ho trước khi có kế hoạch điều trị bệnh ho gà

Xét nghiệm

Tăng bạch cầu (với số lượng bạch cầu từ 15 000 đến 100 000 tế bào/mm3) do tăng số lượng tuyệt đối của bạch cầu Lympho đặc trưng trong giai đoạn cuối của thời kỳ khởi phát và thời kỳ toàn phát bệnh ho gà, biểu hiện ít nhất trong 75% trẻ chưa tiêm phòng Tăng cả Lympho bào dòng T và dòng B và các tế bào lympho có hình thái nhỏ bình thường hơn là những tế bào lớn không điển hình Tăng lympho bào không hay gặp ở trẻ lớn, người lớn và trẻ nhỏ đã được tiêm phòng ho gà Tăng tuyệt đối bạch cầu trung tính (thường bị bỏ qua vì tăng lympho bào) cho thấy có nhiễm trùng bội nhiễm Tăng bạch cầu ưa acid không hay gặp trong bệnh ho gà, ngay cả với trẻ nhỏ

Tăng lympho bào và tiểu cầu đồng thời thì càng tăng nguy cơ bệnh nặng Phản ứng tăng bạch cầu lympho và tiểu cầu tăng cao là chỉ điểm của nguy cơ tử vong

Hạ đường huyết ít được báo cáo

Hình ảnh chụp Xquang ngực có tổn thương thâm nhiễm quanh rốn phổi hoặc phù tổ chức kẽ (đôi khi có tổn thương dạng cánh bướm) và có thể xẹp phổi Tổn thương nhu mô dạng tập trung thường là do nhiễm trùng bội nhiễm Có thể gặp tràn khí màng phổi, tràn khí trung thất, và tràn khí ở mô mềm (tràn khí dưới da)

1.1.6 Biến chứng

Các biến chứng chính của bệnh là ngừng thở, nhiễm trùng bội nhiễm (như viêm phổi và viêm tai giữa), suy hô hấp (do ngừng thở, viêm phổi, hoặc tăng áp phổi) và các di chứng thực thể do ho nặng Tỷ lệ các biến chứng do ho

Trang 17

gà đã được báo cáo là phụ thuộc vào tuổi, tình trạng miễn dịch, việc chẩn đoán và điều trị bệnh Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc và tử vong cao, đặc biệt trẻ dưới 2 tháng tuổi

Tử vong do ho gà theo báo cáo của CDC ngày càng tăng ở nhóm trẻ rất nhỏ Các yếu tố khác liên quan đến tử vong được xác định gồm: chủng tộc (như người Mỹ gốc Tây Ban Nha), đa thai, đẻ non, lây bệnh từ người trong gia đình.Tăng áp phổi là một biến chứng ngày càng được công nhận có thể gây ra giãn thất phải và suy hô hấp Đối tượng bị ảnh hưởng thường là trẻ nhỏ dưới 4 tuần tuổi và sinh trước 39 tuần thai Thất bại với điều trị thở máy và phải điều trị bằng màng oxy ngoài cơ thể thì tỷ lệ tử vong tăng rất cao (>80% ở trẻ dưới 6 tuần tuổi

Ở trẻ lớn và thanh thiếu niên, tỷ lệ phải nhập viện là 1% đến 7% và biến chứng khoảng 5%; viêm phổi và viêm tai giữa là biến chứng thường gặp nhất Những bệnh nhân có những bệnh lý mạn tính tim mạch, hô hấp, cơ, thần kinh thì có nguy cơ bị bệnh nặng hơn Những bệnh nhân bị hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải thì bệnh có thể kéo dài cả tình trạng ho và bài xuất

vi khuẩn

Sốt, thở nhanh, suy hô hấp giữa các cơn ho và tăng số lượng bạch cầu trung tính là những chỉ điểm của viêm phổi bội nhiễm những căn nguyên có thể gặp là Staphylococcus aureus, Streptococcus pneumonia và các vi khuẩn

ký sinh ở vùng hầu họng Biến chứng giãn phế quản hiếm gặp sau nhiễm ho gà Suy hô hấp tiến triển ở trẻ nhỏ nghi ngờ do tăng áp phổi nhưng hiếm khi không kèm theo viêm phổi

Tăng áp lực trong lồng ngực và ổ bụng trong cơn ho có thể gây ra các biến chứng: xuất huyết kết mạc và củng mạc mắt, chấm xuất huyết ở nửa trên

cơ thể, chảy máu cam, xuất huyết thần kinh trung ương và xuất huyết võng mạc; tràn khí màng phổi và tràn khí dưới da, thoát vị bẹn và rốn, gãy xương sườn, tiểu tiện không tự chủ, rách hãm lưỡi

Trang 18

Các tổn thương thần kinh trung ương hầu hết là do thiếu oxy, xuất huyết liên quan đến ho và ngừng thở ở trẻ nhỏ Tình trạng ngừng thở hoặc nhịp tim chậm hoặc cả hai tình trạng này là do kích thích thần kinh phế vị hoặc sự co thắt khí quản trước cơn ho hoặc do sự tắc nghẽn trong cơn hay tình trạng thiếu oxy sau cơn ho Đôi khi, ngừng thở hoặc nhịp chậm xảy ra mà không có ho Co giật thường là hậu quả của thiếu oxy, nhưng hạ natri máu do

sự bài tiết không hợp lý hormone chống bài niệu kết hợp với viêm phổi cũng

có thể gây ra

1.1.7 Điều trị và chăm sóc

1.1.7.1 Đánh giá và chăm sóc hỗ trợ

Mục tiêu của điều trị là hạn chế cơn ho, theo dõi mức độ nặng của cơn

ho và hỗ trợ người bệnh khi cần, đảm bảo dinh dưỡng, nghỉ ngơi để bệnh nhân hồi phục không di chứng Tất cả trẻ nhỏ dưới 3 tháng đều phải nhập viện, và trẻ từ 3 đến 6 tháng chỉ trừ trường hợp đã chứng kiến cơn ho không

có cơn ho nặng

Mục tiêu của việc nhập viện là: (1) đánh giá tiến triển của bệnh và các triệu chứng nặng đe dọa tính mạng trong giai đoạn kịch phát của bệnh; (2) phòng hoặc điều trị biến chứng; (3) tư vấn cho cha mẹ về tiến triển tự nhiên của bệnh và cách chăm sóc trẻ tại nhà Đối với hầu hết trẻ dưới 2 tháng không

có biến chứng, những mục tiêu này thường được thực hiện trong 48 đến 72 giờ Trẻ nhũ nhi có những cơn ho nặng với các triêu chứng đe dọa tính mạng thì cần cân nhắc đặt nội khí quản, an thần và thở máy

Trang 19

Bảng 1.2: Đánh giá mức độ nặng của cơn ho gà Các thông số Chỉ số mong đợi Dấu hiệu nặng Thời gian cơn ho < 45 giây > 60 giây

Thái độ xử trí cơn ho Lo lắng, lúng túng Không biết làm gì

Đặc điểm cơn ho Tiếng ho to, các tiếng ho

mạnh liên tục, không ngớt cho đến khi có luồng không khí được đẩy ra

Nôn/nghẹt thở/thở hổn hển sau ho

Màu sắc da Đỏ Xanh tái

Nhịp tim nhanh Kiểm soát được < 30

giây sau khi ngừng ho

Kéo dài và đòi hỏi phải

Trang 20

- Cho trẻ ăn nhiều bữa: Nếu trẻ ho liên tục hoặc nôn nhiều, bú khó khăn, không đảm bảo có thể cho trẻ ăn qua sonde hoặc nuôi dưỡng tĩnh mạch Thành phần và độ đặc của thức ăn không ảnh hưởng đến cơn ho và độ quánh của đờm Cần tránh cho trẻ ăn quá nhiều mỗi bữa

Nhiều trẻ đã cải thiện nhanh sau khi nhập viện và điều trị kháng sinh, đặc biệt trong giai đoạn đầu của bệnh hoặc do trẻ được tránh khỏi môi trường

có các yếu tố nguy cơ như khói thuốc lá, bụi, khô, tiếng ồn, nhiều yếu tố kích thích

Ngừng thở, co giật cùng các biến chứng khác thường xảy ra trong giai đoạn kịch phát bệnh do vậy cần theo dõi sát, cung cấp đủ oxy, và máy hút khi cần

1.1.7.2 Thuốc kháng sinh

Theo kháng sinh đồ, vi khuẩn ho gà vẫn nhạy cảm với erythromycin, các macrolide thế hệ mới, quinolone, các cephalosporin thế hệ ba, và meropenem [10] Ampicillin, rifampin, và trimethoprim-sulfamethoxazole có hiệu quả thấp, còn các cephalosporins thế hệ một và thế hệ hai thì không có hiệu quả Hầu như không gặp chủng vi khuẩn B pertussis kháng erythromycin [11] Theo kết quả in vitro, B parapertussis ít nhạy cảm với hầu hết các kháng sinh ngoại trừ macrolides Tuy nhiên, hiệu quả lâm sàng của các thuốc có thể không giống như trên xét nghiệm

Kháng sinh được chỉ định khi nghi ngờ hoặc chẩn đoán xác định mắc

ho gà ở trẻ dưới 1 tuổi trong vòng 6 tuần từ khi khởi phát ho, và trẻ trên 1 tuổi trong vòng 3 tuần từ khi khởi phát ho [11] Có thể sử dụng erythromycin, clarithromycin, hoặc azithromycin cho trẻ trên 1 tháng tuổi Tuy nhiên, trẻ sơ sinh < 1 tháng nên sử dụng azithromycin do có sự liên quan giữa việc sử dụng erythromycin và chứng hẹp phì đại môn vị ở trẻ nhỏ (infantile hypertrophic pyloric stenosis - IHPS) Sự liên quan này được chứng minh ở trẻ dưới 6 tuần tuổi, với nguy cơ tương đối (relative risk – RR) tăng 7 đến 10 lần Nguy cơ cao nhất xảy ra trong 2 tuần đầu ở trẻ đủ tháng với liệu trình thuốc 14 ngày

Trang 21

hoặc hơn Các báo cáo về sử dụng azithromycin ở trẻ sơ sinh thì không gặp IHPS Trong những trường hợp không dung nạp với nhóm macrolide có thể

sử dụng thay thế bằng trimethroprim-sulfamethoxazole

Hiệu quả điều trị thể hiện rõ nhất ở trẻ nhỏ với thời gian cải thiện triệu chứng lâm sàng nhanh chóng, ngoài ra lợi ích của điều trị còn giúp làm giảm khả năng lây bệnh Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi (và các cá thể chưa có miễn dịch) nên chọn azithromycin liều 10 mg/kg/ngày trong 5 ngày Các nghiên cứu lâm sàng cho thấy, macrolides có hiệu quả tốt hơn amoxicillin trong diệt

vi khuẩn B pertussis Các liệu pháp điều trị thay thế không được nghiên cứu 1.1.8 Biện pháp phòng bệnh

Cách ly

Ngoài các biện pháp dự phòng chuẩn, các biện pháp dự phòng lây truyền qua đường hô hấp được khuyến cáo ít nhất 5 ngày sau khi bắt đầu điều trị kháng sinh Nhiều khi người ta cách ly trẻ lâu hơn để giảm thiểu nguy cơ lây bệnh, giảm các kích thích cho trẻ và tránh các mối lo lắng bị lây bệnh cho các thành viên khác trong gia đình

Phòng bệnh cho người thân và những người tiếp xúc khác

Dự phòng sau phơi nhiễm (Postexposure prophylaxis – PEP) bằng kháng sinh nhóm macrolide cho tất cả những người trong gia đình có tiếp xúc với trẻ và những người tiếp xúc gần với trẻ (như những người chăm sóc trẻ) ở bất kỳ tuổi nào, tiền sử tiêm phòng và có biểu hiện triệu chứng hay không [12] Những người ít tiếp xúc với trẻ có thể không cần dự phòng như: hàng xóm, nhân viên tiêm chủng cho trẻ Các nghiên cứu cho thấy tiếp xúc gần như: tiếp xúc mẹ - con, những người trong gia đình, những người chăm sóc trẻ… có tỷ lệ lây truyền cao nhưng điều trị dự phòng bằng macrolide cho hiệu quả tốt (đặc biệt dự phòng sớm trước khi có ca thứ hai bị lây bệnh)

Những người đến thăm trẻ mà có ho cũng phải được cách ly cho đến khi họ kết thúc 5 ngày macrolide dự phòng Tại các ổ dịch như trung tâm chăm sóc trẻ, trường học, tất cả trẻ khác, học sinh, nhân viên có triệu chứng ho

Ngày đăng: 20/02/2022, 23:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w