BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác M[.]
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả nghiên cứutrong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nàokhác Mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn đã được nêu rõnguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Thùy Linh
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Khoa giáo dục - Học việnQuản lý giáo dục đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giảng dậy, hướngdẫn tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và lời biết ơn sâu sắc tới cô giáo
- GS TS Nguyễn Thị Hoàng Yến là người đã trực tiếp giúp đỡ và chỉ bảo tận tình
cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn ban giám đốc cùng toàn thể cán bộ giáo viêntrung tâm trung tâm chuyên biệt Tottochan, trung tâm chuyên biệt Hand inHand đã giúp đỡ tận tình, tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã tạođiều kiện giúp đỡ và động viên tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoànthành luận văn này
Với quỹ thời gian có hạn và kinh nghiệm chưa nhiều nên tôi không tránhkhỏi những thiếu sót Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn đểluận văn của tôi được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận văn
Nguyễn Thùy Linh
Trang 4DANH MỤC BẢNG, BIỀU ĐỒ
BẢNG
Bảng 3.1 Thực trạng nhận biết của giáo viên 39Bảng 3.2 Thực trạng nhận biết của phụ huynh 39Bảng 3.3 Thực trạng mức độ khó khăn tâm lý trẻ em gái RLPTK tuổi dậy thì dưới
sự đánh giá của giáo viên 42Bảng 3.4 Thực trạng mức độ khó khăn tâm lý trẻ em gái RLPTK tuổi dậy thì dưới
sự đánh giá của phụ huynh 45Bảng 3.5 Thực trạng hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái tại các trung tâm 47
BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Thực trạng nhận biết của giáo viên và phụ huynh 40Biểu đồ 3.2.: Vai trò hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ ở tuổi dậy thì 41Biểu đồ 3.3 Thực trạng mức độ khó khăn tâm lý trẻ em gái RLPTK tuổi dậy thì dưới sự đánh giá của giáo viên 43Biểu đồ 3.4 Thực trạng mức độ khó khăn tâm lý trẻ dưới sự đánh giá của phụ huynh 46Biểu đồ 3.5 Thực trạng hỗ trợ tâm lý 47Biểu đồ 3.6 trước và sau khi hỗ trơ can thiệp 67Biểu đồ 3.7 Trước và sau khi hỗ trợ can thiệp 83
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
6 Giả thuyết nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Đóng góp mới của luận văn 4
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 6
1.1.1 Tuổi dậy thì của trẻ em gái hiện nay 6
1.1.2 Tuổi dậy thì của trẻ em gái tự kỷ 11
1.2 Một số khái niệm cốt lõi của đề tài 17
1.2.1 Tuổi dậy thì của trẻ em gái 17
1.2.2 Tuổi dậy thì của trẻ em gái Tự kỷ 17
1.2.3 Hỗ trợ tâm lý 18
1.2.4 Trung tâm chuyên biệt 19
1.2.5 Hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái tự kỷ 19
1.2.6 Hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái tự kỷ ở trung tâm chuyên biệt 20
1.3 Hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái tự kỷ vượt qua khó khăn của tuổi dậy thì 20
1.3.1 Khái niệm hỗ trợ tâm lý 21
1.3.2 Các phương thức hỗ trợ 21
1.4 Ý nghĩa của những hỗ trợ tâm lý giúp trẻ em gái tự kỷ vượt qua khó khăn của tuổi dậy thì 21
Trang 6Tiểu kết chương 1 24
CHƯƠNG 2 : TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Tổ chức nghiên cứu 25
2.1.1 Mục đích nghiên cứu 25
2.1.2 Vài nét về địa bàn và khách thể khảo sát 27
2.2 Tiến trình và phương pháp nghiên cứu 29
2.2 1.Tiến trình nghiên cứu 29
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu 30
2.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu định lượng 31
2.3 Công cụ khảo sát 35
Tiểu kết chương 2 38
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39
3.1 Thực trạng nhận biết của giáo viên và phụ huynh về việc biến đổi tâm lý của trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ ở tuổi dậy thì 39
3.2 Thực trạng hỗ trợ khó khăn tâm lý trẻ em gái tự kỷ tuổi dậy thì 41
3.2.1 Vai trò hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái rối loạn Phổ tự kỷ ở tuổi dậy thì 41
3.2.2 Thực trạng mức độ khó khăn tâm lý cho trẻ em gái rối loạn Phổ tự kỷ ở tuổi dậy thì 42
3.3 Một số đề xuất nâng cao hiệu quả của việc hỗ trợ tâm lý giúp trẻ em gái tự kỷ vượt qua khó khăn tuổi dậy thì tại một số trung tâm chuyên biệt – Thành phố Hà Nội 48
3.4 Nghiên cứu trường hợp điển hình 53
3.4.1 Trường hợp 1 54
3.4.2 Trường hợp 2 68
Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Khuyến nghị 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang WED và báo điện tử 89 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Khi một đứa trẻ ra đời nó cũng không biết và không thể lựa chọn cho mìnhmột cơ thể khỏe mạnh, một tinh thần minh mẫn hay một cơ thể khuyết tật, một tinhthần còi cọc, vì thế bên cạnh những cháu bé bình thường và phát triển tốt còn cómột tỉ lệ không nhỏ các cháu bị khiếm khuyết về thể chất hay tâm lý và những cháu
bé này cần có những sự can thiệp và hỗ trợ càng sớm càng tốt để giúp cho các em
có được những cơ hội tốt nhất trong việc phát triển và hội nhập xã hội Tại ViệtNam cũng như trên thế giới tỷ lệ trẻ khuyết tật chiếm một số lượng không nhỏ(khoảng 10% tổng số trẻ em được sinh ra) Vì thế công tác nhận diện , đặc điểm,can thiệp trẻ khuyết tật, đã và đang là vấn đề quan tâm chung của toàn xã hội và lànỗi niềm canh cánh của nhiều người và trách nhiệm cũng như nỗi lo âu lớn nhất củagia đình, bố mẹ các em
Giới tính ảnh hưởng trực tiếp đến những đứa trẻ tự kỷ, theo các nhà khoa họcĐại học Stanford (Mỹ) Hành vi các bé gái đa dạng hơn so với các bé trai cùng mắc
tự kỷ Mặc dù chỉ chiếm số ít nhưng những bé gái mắc tự kỷ có nhiều đặc điểmriêng biệt hơn, là do sự khác biệt giới tính ảnh hưởng trực tiếp đến não bộ Mọi đứatrẻ đều sẽ trải qua tuổi dậy thì dù chỉ số IQ hay các kỹ năng xã hội của chúng nhưthế nào Dù mức độ phát triển của một đứa trẻ không cân xứng so với độ tuổi thậtthì não bộ của chúng cũng không “ra lệnh” cho cơ thể đứa trẻ ngừng phát triển.Tuổi dậy thì là một giai đoạn phát triển, tương tự như khi 1 đứa trẻ sơ sinh trở thành
1 em bé chập chững biết đi Tuổi dậy thì thường bắt đầu từ 12 tuổi với các bé gái và
từ 14 tuổi với các bé trai
Trẻ tự kỷ tuổi dậy thì vẫn gặp khó khăn đáng kể vì bị giới hạn về trí tuệ vàngôn ngữ Những trẻ này phải nỗ lực rất nhiều trong việc dùng khả năng trí tuệ để
bù đắp cho giới hạn về mặt ngôn ngữ và giao tiếp xã hội của các em
Bé gái ở tuổi này thường có sự thay đổi sinh lý mạnh mẽ và rõ rệt Hơn nữatâm lý của trẻ cũng thay đổi khiến ba mẹ khó gần gũi con trong giai đoạn này Sựmất cân bằng tạm thời của hệ thần kinh làm cho cảm xúc của tuổi này không ổnđịnh: dễ xúc động, dễ vui, dễ buồn, dễ giận, dễ bực tức, dễ cáu gắt…
Trang 8Theo nhiều nhà Tâm lý học thì mỗi người đều trải qua nhiều giai đoạn củacuộc đời từ tuổi ấu thơ đến lúc về già Trong các thời điểm quan trọng ấy thì giaiđoạn dậy thì là một quá trình vô cùng quan trọng Nó có nhiều biến động về tâm lý.Nếu chúng ta không có sự am hiểu về những thay đổi này thì không thể nào giúp đỡtrẻ vượt qua những khủng hoảng mà trẻ gặp phải Vì vậy, để hỗ trợ tâm lý cũng nhưgiáo dục giới tính cho trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ thì chúng ta cần có sự hiểu biết
rõ ràng
Tuổi dậy thì là một giai đoạn phát triển đặc biệt của trẻ, ở giai đoạn này các
em không chỉ phát triển về mặt thể chất mà còn gặp phải những khó khăn về mặttâm lý Những khó khăn tâm lý này gây cản trở cho sự phát triển thể chất và tâm lýtrẻ Trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ tuổi dậy thì gặp khó khăn rất nhiều về mặt trí tuệ,giao tiếp và hành vi trong học tập cũng như trong cuộc sống
Vì những lý do trên tôi chọn đề tài “ Hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ ở tuổi dậy thì tại các trung tâm chuyên biệt Thành phố Hà Nội.”
nhằm giúp chúng ta có cách nhìn cụ thể hơn về những khó khăn tâm lý của trẻ emgái không may mắc phải hội chứng rối loạn phổ tự kỷ và đưa ra được những biệnpháp hỗ trợ tâm lý cho những trẻ em gái đó
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lí luận
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về khó khăn tâm lý tuổi dậy thìcủa trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ ,những vấn đề hỗ trợ tâm lý trẻ em gái tuổi dậythì Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn
Xác định cơ sở lý luận về khó khăn tâm lý tuổi dậy thì của trẻ em gái rối loạnphổ Tự kỷ
Trang 9Khảo sát đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này ở trẻ
em gái rối loạn phổ tự kỷ tuổi dậy thì
Đề xuất và thực nghiệm phác đồ hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái rối loạn phổ tự
kỷ kỷ tại các trung tâm chuyên biệt Thành phố Hà Nội
4 Đối tượng nghiên cứu
Các phương pháp hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái rối loạn phổ Tự kỷ ở tuổi dậythì tại các trung tâm chuyên biệt thành phố Hà Nội
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
5.1 Về khách thể nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu và sử dụng số liệu thu được từ việc khảo sát,phân tíchthực trạng hỗ trợ tâm lý giúp trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ vượt qua khó khăn củatuổi dậy thì tại một số trung tâm chuyên biệt– Thành phố Hà Nội Từ đó xây dựngcác phác đồ hỗ trợ tâm lý cho các trẻ em gái tại một số trung tâm chuyên biệt –Thành phố Hà Nội
Thời gian nghiên cứu : Tháng 12/2018 – 06/2019
Địa điểm nghiên cứu : Trung tâm chuyên biệt Tottochan, Trung tâm chuyênbiệt hand in hand
Đối tượng khảo sát : 20 giáo viên tại một số trung tâm chuyên biệt Thànhphố Hà Nội
20 cha mẹ có con gái trong độ tuổi dậy thì đang theo học tại một số trung tâmchuyên biệt Thành phố Hà Nội
20 trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ đang trong độ tuổi dậy thì học tại một số trungtâm chuyên biệt thành phố Hà Nội
5.2 Về nội dung nghiên cứu
Trong đề tài nghiên cứu những hỗ trợ tâm lý giúp trẻ em gái rối loạn tự kỷ vượt qua khó khăn của tuổi dậy thì ở những nội dung sau:
- Những biểu hiện tâm lý của tuổi dậy thì
- Phương pháp để xác định biểu hiện tuổi dậy thì
- Trợ giúp tâm lý cho trẻ em gái vượt qua khó khăn của tuổi dậy thì
6 Giả thuyết nghiên cứu
Trang 10Nếu hỗ trợ tâm lý giúp trẻ em gái tự kỷ vượt qua khó khăn trong giai đoạn tuổidậy thì sẽ thúc đẩy sự phát triển tốt cho trẻ em gái , từ những hành vi bất thường được thay thế bằng những hành vi phù hợp giúp trẻ em gái có những phản ứng phù hợp và có cơ hội hòa nhập xã hội tốt hơn.
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Sưu tầm các tài liệu, sách báo, thông tin liên quan đến tâm sinh lý tuổi dậy thì của trẻ rối loạn phổ tự kỷ
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp và hệ thống hóa tài liệu nhằm thu thập, xử lý, chọn lọc và khái quát những vẫn đề cơ bản để:
Xây dựng cơ sở lý luận
Lựa chọn phác đồ can thiệp tâm lý cho trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ tuổi dậy thì
Thiết kế bộ công cụ điều tra, đánh giá
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Sử dụng phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi dành cho giáo viên, cán bộ quản
lý và cha mẹ trẻ gái rối loạn tự kỷ trong giai đoạn tuổi dậy thì
Trang 11Đây là phương pháp chủ đạo của đề tài Tiến hành xây dựng bức tranh tâm lý
về 2 trường hợp nhằm đánh giá và kiểm định hiệu quả các phác đồ hỗ trợ tâm lýgiúp trẻ em gái tự kỷ vượt qua khó khăn của tuổi dậy thì
8 Đóng góp mới của luận văn
8.1 Về lý luận:
Luận văn đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ một số đặc điểm tâm lý của trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ tuổi dậy thì
Luận văn đã phân tích, mô tả , xác định, đưa ra phác đồ hỗ trợ tâm lý
Luận văn có thể được dùng để làm tài liệu tham khảo cho các trung tâm, các trường hòa nhập can thiệp tâm lý hiệu quả không chỉ cho các trẻ gái RLPTK mà còncho các trẻ chậm phát triển trí tuệ Bên cạnh kết quả nghiên cứu cũng có thể được
sử dụng làm tài liệu bồi dưỡng cho các giáo viên , chuyên viên tâm lý ở các cơ sở, trung tâm TL tâm lý, các trường chuyên biệt hay giáo dục đặc biệt
8.2 Về thực tiễn:
Áp dụng hiệu quả các phác đồ hỗ trợ tâm lý giúp trẻ em gái tự kỷ vượt qua khókhăn của tuổi dậy thì Qua thực nghiệm từ đó có được những cách thức xử lý, thay thế hành hành vi phù hợp góp phần hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ trong giai đoạn tuổi dậy thì một cách có hiệu quả
2 Dự kiến cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo vàphụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ ở
tuổi dậy thì
Chương 2 Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Kết quả nghiên cứu việc hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái rối loạn phổ
tự kỷ ở tuổi dậy thì tại các trung tâm chuyên biệt Thành phố Hà Nội
Trang 12CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA HỖ TRỢ TÂM LÝ CHO TRẺ EM
GÁI RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ Ở TUỔI DẬY THÌ.
1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tuổi dậy thì của trẻ em gái.
Tuổi dậy thì là thời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ thơ sang giai đoạn trưởngthành tính dục, là thời kỳ quá độ khi không còn là trẻ con nhưng chưa hẳn là ngườilớn Đây là thời kỳ mà bất cứ một thiếu niên nào cũng phải trải qua những biến đổiquan trọng về thể chất cũng như về tâm lý
Trong bối cảnh trẻ em bị dậy thì quá sớm, các bậc cha mẹ dù rất lo lắng nhưngcũng không thể đoán được con mình có dậy thì sớm hay không, và chỉ khi con mắcchứng dậy thì sớm thì lúc đó phụ huynh mới cảm thấy "đau đầu"
Một báo cáo điều tra của Trung Quốc mới đây vừa công bố, thông qua việc kiểmtra chuyên môn phát hiện ra rằng, trong số 1258 trẻ em từ 4-12 tuổi tham gia khảosát, có tới 31,32% trẻ có các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ dậy thì sớm Điều đáng chú ý
là, việc đi khám về vấn đề dậy thì cho trẻ lại có tỉ lệ khá thấp
Tại Diễn đàn sức khỏe Trung Quốc lần thứ 10/2017 vừa được tổ chức đã công
bố bản khảo sát về tình hình phát triển và phát dục của trẻ em Thông tin trong bảnkhảo sát này cho thấy, tỉ lệ trẻ em gái và trẻ em trai dậy thì sớm cao tương đươngnhau Theo giáo sư Lưu Văn Lợi, Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốc gia, KhoaThần kinh nhận thức, Đại học Sư phạm Bắc Kinh (TQ) cho rằng, vấn đề giáo dụcgiới tính cho trẻ em không chỉ dừng lại ở một số tiết học, mà nên được xem là mộtmôn học GS Lưu Văn Lợi cho biết, dựa trên tài liệu của Tổ chức UNESCO về giáodục giới tính cho trẻ vị thành niên, Trung Quốc cũng đã có những tài liệu hướng dẫntrẻ nhỏ xử lý các tình huống gặp phải khi đến tuổi dậy thì như sự thay đổi của cơthể, trẻ em gái có kinh nguyệt, cách vệ sinh bộ phận sinh dục Trước đây, trẻ từ 13-
14 tuổi mới bắt đầu dậy thì, đến 17 tuổi mới là giai đoạn cao điểm hoàn thiện thểchất Tuy nhiên kể từ những năm 1970 trở đi, trẻ em dậy thì sớm hơn đã trở thành
xu thế mới Hướng dẫn trẻ em sớm có thái độ tích cực để phát triển cơ thể và mốiquan hệ giữa các cá nhân, thực hiện đúng giáo dục giới tính về hạnh phúc cuộc sống
Trang 13của đứa trẻ Nó không chỉ cho phép trẻ học cách tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết, chấpnhận, khoan dung, và ở một mức độ nhất định, có thể tránh được hoặc giảm sự kỳthị và vi phạm sai lầm ở trẻ em dậy thì sớm (Theo Health/People)
Bà Astrid Bant, Trưởng Đại diện Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc tại Việt Nam(UNFPA) cho biết, hiện nay, tuổi dậy thì ngày càng có xu hướng sớm hơn Theo sốliệu mới nhất được công bố tại Việt Nam, tuổi dậy thì ở nữ giới là 13 và ở nam giới
là 15 tuổi Đây là vấn đề cần phải lưu ý và quan tâm hơn nữa Nhiều nghiên cứu đãbáo cáo một xu hướng ngược tuổi tác hiện nay đối với khởi phát dậy thì ở trẻ gái sovới trước đây Sự khởi đầu trung bình của thelarche, pubarche và menarche đã giảmtrong những thập kỷ qua Xu hướng này đã được quan sát cả ở Mỹ và Châu Âu.Một nghiên cứu của Biro et al cho thấy 16% bé gái (với đỉnh 23,4% ở bé gái khôngphải gốc Tây Ban Nha) bắt đầu phát triển tuổi dậy thì khi 7 tuổi, trong khi 30% (vớiđỉnh là 42,9% ở bé gái không phải gốc Tây Ban Nha) bắt đầu từ 8 tuổi, thấp hơnmức trung bình trước đó Askglaede nhấn mạnh độ tuổi trung bình khác nhau để bắtđầu các đặc điểm giới tính thứ cấp giữa đầu những năm 1990 và những năm đầu củathập kỷ này (trong khoảng thời gian khoảng 15 năm) ở Đan Mạch Nếu trung bình
là 10,8 tuổi trong những năm 1990, nó đã giảm 1,02 năm từ năm 2006 đến 2008(xuống 9,86 tuổi) Các bé gái có thời kỳ đầu tiên trung bình 0,29 năm trước đó(13,13 tuổi) Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc giảm các dấu hiệu kích hoạt tuổidậy thì (sự phát triển vú ở trẻ gái và tăng thể tích ở trẻ trai) đã xảy ra trong nhữngnăm gần đây, mặc dù việc duy trì các tiêu chuẩn không thay đổi đáng kể của cuộcsống Nó cũng giải thích lý do tại sao số lượng nghiên cứu liên quan đến EDC vàảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển của tuổi dậy thì ngày càng tăng Mộttrong những nghiên cứu được thực hiện bởi Massart et al ở Ý, nơi ở một khu vựchạn chế ở phía bắc đảo Tuscany, họ đã báo cáo tỷ lệ dậy thì sớm cao hơn: nghiêncứu đã làm dấy lên nghi ngờ rằng tỷ lệ gia tăng này có thể tương quan với các yếu
Trang 14+Khủng hoảng tâm lý là trạng thái mất thăng bằng về hoạt động cảm xúc và lýtrí khi một người phải đối diện với một sự kiện xảy ra bất ngờ, thường là những sựkiện có nguy cơ gây nguy hại; hoặc đối diện với một giai đoạn chuyển tiếp trongphát triển có độ thách thức cao.
+Cũng có thể hiểu khủng hoảng là một giai đoạn hay một trạng thái không ổnđịnh đặc biệt là khi có những thay đổi nghiêm trọng ngoài mong đợi hay những tìnhhuống đã đến giai đoạn nguy kịch
Biểu hiện
* Quan niệm khác nhau về vấn đề khủng hoảng tuổi dậy thì
Quan niệm sinh vật
- Quan niệm này cho rằng do sự phát triển về mặt sinh lý lứa tuổi dậy thì khiến các
em lâm vào khủng hoảng
Quan niệm của các nhà nhân chủng học
- Họ cho rằng “khủng hoảng” và những mâu thuẫn ở lứa tuổi này là do xã hội chứkhông phải yếu tố sinh vật gây nên
- Bước vào tuổi dậy thì nhu cầu tình dục của trẻ phát triển mạnh, nhưng không đượcphép khủng hoảng
Đây là những quan điểm không toàn diện, cái nhìn không mang tính khách quanQuan niệm duy vật biện chứng
- Do sự biến động lớn về mặt sinh lý, cơ thể
- Do sự phát triển đột ngột về mặt tâm lý
Tuổi dậy thì là khoảng thời gian mà những thay đổi hoành hành trong tâm tư, tìnhcảm trẻ
Đọc bản tóm tắt 12 điểm tưởng phản của tuổi dậy thì từ Stanley Hall
Tóm tắt tư tưởng của Stanley Hall trong 12 điểm tương phản tâm lí của tuổi dậy thì:Tuổi dậy thì hoạt động hăng, nhưng cũng dễ nhược: Lúc này hoạt động hănghái, không đếm xỉa đến sức khỏe, dễ mắc chứng lao lực Lúc khác lại lười biếng,ngại làm việc, hoặc không thể làm việc được như trước, vì đã gắng sức quá trong
Trang 15khi bồng bột Vả lại những biến động trong thân xác cũng làm kiệt sức, làm mỏimệt thần kinh, gây trạng thái nhọc nhằn, chán ngán hoạt động.
Tuổi dậy thì dễ vui mà cũng dễ buồn: Có khi chỉ vì một căn cớ không đâu,đang vui như hoa nở, bỗng lại ủ dột như chiều thu Ngay đến chính nạn nhân cũngkhông biết lý do tại đâu Những trang nhật ký cho chúng ta thấy tâm hồn thiếu niênthiếu nữ theo thời tiết, với bất cứ biến cố nào xẩy ra nơi vạn vật trong vũ trụ nhưthông cảm với tâm hồn chúng
Tuổi dậy thì tự tôn, nhưng cũng tự ti: ưa khoe khoang, tự kiêu, dễ xúc động vềnhững lời khen chê, vì vinh dự, nhưng cũng dễ chán nản khi gặp một trở lực nhỏ.Chúng tưởng mình thiếu tài lực và hành động như người nhát đảm Rồi tạo ra chomình một mối sầu u uất không muốn thổ lộ cho tha nhân Để vơi sầu, chúng ghi đầynhững trang nhật ký hoặc tìm an ủi và nghị lực nơi Thượng Đế
Tuổi dậy thì quảng đại, nhưng cũng ích kỷ: Trong lúc hào hứng có thể rất hysinh, ghét ích kỷ, nhưng nhiều khi không ngần ngại chà đạp quyền lợi của tha nhân.Tuổi dậy thì vừa muốn làm thiên thần vừa muốn làm Satan: Một đàng muốnsống hợp luân lý, phong tục, một đàng có khuynh hướng thỏa mãn dục vọng, lý dorất dễ hiểu vì ý chí chưa phát triển đầy đủ, lại bị lôi kéo mãnh liệt bởi những khuynhhướng mới vừa đột nhập tâm hồn khiến chúng khó tìm đủ nghị lực mà thắng lướtcám dỗ
Tuổi dậy thì lúc ưa sống yên tĩnh một mình, lúc lại rạo rực muốn đi theonhóm: Hình ảnh những người bạn cũ luôn luôn ám ảnh chúng, mong muốn gặp mặt
Sự mong muốn này lộ ra bằng những trang nhật ký
Tuổi dậy thì lúc cao thượng, lúc đê hèn…
Tuổi dậy thì lúc thắc mắc mọi vấn đề, lúc thờ ơ tất cả: Chúng muốn tìm hiểutất cả, nhưng rồi lại thờ ơ với mọi cái, ngay cả vấn đề chúng chú trọng nhất nhưdanh vọng học hành
Tuổi dậy thì nhận lí rồi lại chê: khi đọc sách, lúc nhận những tư tưởng của tácgiả, lúc lại khinh chê những kiến thức ấy, sẵn có thiên kiến và tư tưởng cố chấp,chúng bịt tai trước lời bàn cãi của tha nhân
Trang 16Tuổi dậy thì là tuổi cách mạng: muốn đả phá và đổi mới trật tự sẵn có, nhưngrồi lại bảo thủ yêu cổ tục: Vì phán đoán và trí óc còn non nớt.
Tuổi dậy thì vừa tân vừa cổ: cho thiếu niên nhiều kiến thức mới, nhưng cũngthích duy trì cơ cấu hiện tại
Tuổi dậy thì vừa khôn vừa khờ: nhiều khi tỏ ra sáng suốt, thông hiểu và có ócxác thực, trái lại có lúc vớ vẩn hành động như người thiếu lương tri.[19]
Ở Việt Nam tuổi dậy thì ở trẻ em gái hiện nay tâm sinh lý thay đổi, làm chohành vi ứng xử thay đổi Trẻ gái tuổi dậy thì có biểu hiện lớn nhanh hơn các bạnđồng lứa tuổi, lúc đó hocrmon tăng trưởng phát triển nhanh
Khi một đứa trẻ bình thường đến tuổi dậy thì, những nhận thức của nó tươngxứng với sự phát triển tính dục của cơ thể Ngược lại, những đứa trẻ mắc chứng dậythì sớm có nhu cầu về tính dục nhưng lại ở một cá nhân chưa phát triển về nhậnthức, do vậy nhu cầu của chúng hoàn toàn mang tính bản năng Nhiều báo cáo vềmối tương quan giữa tình trạng dậy thì và quan hệ tình dục sớm đã được ghi nhận Dậy thì sớm được cho là có liên quan đến một số bệnh như: ung thư vú, bệnh lý timmạch Dậy thì sớm là một trong những nguyên nhân khiến trẻ yêu sớm, nhận thức
về tình yêu lệch lạc, trẻ không được trang bị đầy đủ về kiến thức giới tính, làm giatăng nguy cơ nạo phá thai ở tuổi vị thành niên Nếu dậy thì sớm do những nguyênnhân thực thể, có thể dẫn đến tử vong, nên cần phát hiện sớm và điều trị kịp thời,nếu vô căn không được điều trị sẽ dễ dẫn đến chiều cao thấp ở tu ổi trưởng thành.Trẻ dậy thì cần có sự chăm sóc đặc biệt, kiểm tra kịp thời nhằm giải tỏa gánh nặngtâm lý cho trẻ và cho cha mẹ, cải thiện chiều cao cơ thể và tránh nảy sinh những hậuquả nghiêm trọng Ngày nay xã hội càng phát triển, TP HCM là một trong nhữngthành phố công nghiệp phát triển cùng với sự hội nhập kinh tế thế giới, đời sống củangười dân càng được nâng cao, các em có nhiều cơ hội tiếp xúc nhiều thông tin với
đủ mọi hình thức, sự phát triển tâm sinh lý của các em gái cũng sớm hơn so vớitrước Chính vì vậy không ít bậc cha mẹ và các em gái băn khoăn không biết quátrình dậy thì của con gái và bản thân mình là bình thường hay bất thường Nhữngnăm gần đây, tuổi thấy kinh của các bé gái ở nhiều quốc gia có xu hướng sớm hơn
Trang 17Mặc dù có nhiều chuyên gia sản phụ khoa cũng như các nhà tâm lý học thông tincho rằng “trẻ Việt Nam dậy thì sớm” đã được cảnh báo, nhưng trong những nămgần đây chưa thấy số liệu thống kê rõ ràng là tại TP HCM tình trạng dậy thì ở các
bé gái học cấp I [4]
Biểu hiện khủng hoảng tâm lý trẻ em
Ích kỷ: Trẻ có xu hướng độc tôn, coi mọi thứ là của mình Không chịu chia sẻvới người khác Cụ thể như trẻ không cho người khác đụng vào đồ chơi của mình,không chịu nhường nhịn bạn bè
Chống đối: Điển hình của hành vi này, đó là trẻ không nghe theo những quyếtđịnh của cha mẹ hay cô giáo, luôn trong trạng thái sẵn sàng ẩu đả với những ngườixung quanh
Vô lễ: Trẻ sẵn sàng to tiếng với người lớn trước mỗi sự việc không theo ýmuốn của mình hay khi người khác không đáp ứng yêu cầu của trẻ
Ngoan cố: Trẻ vô cùng cố chấp trước những quyết định của bản thân, bất kể
nó đúng hay sai
Bất nguyên tắc: Trẻ tự tiện làm những điều mình cho là đúng mà không hỏi ýkiến của người lớn Luôn hướng tới sự độc lập trong mọi hành vi Trẻ muốn làmthay mọi hành động của cha mẹ như đòi tự mình nấu ăn, tự ra ngoài một mình, bấtchấp hậu quả
1.1.2 Tuổi dậy thì của trẻ em gái tự kỷ
Một nghiên cứu của Phần Lan cho thấy các bé gái đến các phòng khám giới ởquốc gia đó có tỷ lệ rối loạn phổ tự kỷ cũng như các vấn đề về sức khỏe tâm thầnkhác Các nhà nghiên cứu tìm thấy tỷ lệ mắc chứng tự kỷ 26% 64% đã có hoặc cóliên hệ điều trị do trầm cảm, 55%, do rối loạn lo âu, 53% do hành vi tự tử và tự làmhại bản thân, 13% do các triệu chứng loạn thần, 9% do rối loạn tiến hành, 4%, dolạm dụng chất gây nghiện, 26%, do rối loạn phổ tự kỷ và 11%, do tăng động giảmchú ý
Các vấn đề về giới tính có thể phát sinh từ khuynh hướng của người tự kỷ đốivới các mối quan tâm khác thường vì các vấn đề nhận dạng giới tính thực sự Hành
Trang 18vi giới tính ở trẻ vị thành niên mắc chứng tự kỷ cũng có thể đại diện cho lợi ích tìnhdục không quy tắc hoặc sở thích cảm giác bất thường Ấn tượng lâm sàng là mộtcảm giác lâu dài về sự khác biệt và một người ngoài cuộc giữa các bạn đồng tranglứa có thể đóng một vai trò ở trẻ em rối loạn phát triển chứng khó nuốt giới ở tuổithiếu niên Trong mẫu lâm sàng về thanh thiếu niên rối loạn chức năng giới, rốiloạn phổ tự kỷ vượt xa tỷ lệ phổ biến 6/1000 được đề xuất cho dân số nói chung.Một nghiên cứu năm 2014 từ Washington, cho thấy so với trẻ em phát triển bìnhthường, những người trẻ tuổi mắc chứng tự kỷ có khả năng thể hiện mong muốnkhác hơn giới tính sinh học của họ gần gấp 8 lần - một hiện tượng mà các tác giả
mô tả là khác biệt giới tính tỷ lệ truyền thông phương sai giới tính, theo dữ liệu báocáo của phụ huynh
Khó khăn xã hội là một đặc điểm chính của trẻ mắc chứng tự kỷ Một nghiêncứu năm 2011 được công bố trên Tạp chí Rối loạn Tự kỷ và Rối loạn Phát triểnĐiều kiện phổ tự kỷ được đặc trưng bởi những khó khăn trong giao tiếp và giao tiếp
xã hội, lợi ích hạn chế và hành vi lặp đi lặp lại [20]
Trong giai đoạn trẻ bước vào tuổi dậy thì, một số trẻ tự kỷ có thể trở nên trầmcảm hoặc có vấn đề về hành vi Theo thống kê, khoảng 25% trẻ tự kỷ tuổi dậy thìsinh chứng động kinh và khoảng 10% - 20% có thể phát triển những hành vi tiêucực vì sự phát triển sinh lý như dễ bực mình, cáu tiết, giảm thiểu sự chú ý, năngđộng hoặc thụ động hơn trước Tuổi dậy thì thường bắt đầu từ 12 tuổi với các bé gái
và từ 13- 14 tuổi với các bé trai Một vài trẻ bắt đầu sớm ở tuổi 12 trong khi một vàingười bắt đầu muộn ở tuổi 17 hay 18 Mọi đứa trẻ đều sẽ trải qua tuổi dậy thì dù chỉ
số IQ hay các kỹ năng xã hội của chúng như thế nào
Dù mức độ phát triển của một đứa trẻ không cân xứng so với độ tuổi thật thìnão bộ của chúng cũng không thể ngưng cơ thể trẻ ngừng phát triển Trẻ tự kỷ vẫnphải trải qua giai đoạn phát triển sinh lý giống như những trẻ không bị tự kỷ Trẻ tự
kỷ khi bước vào giai đoạn dậy thì sẽ gặp nhiều trở ngại hơn so với trẻ bình thường.Ngoài ra, một số trẻ tự kỷ bước vào tuổi dậy thì có sự háo hức tình dục mạnh mẽ vàthủ dâm công khai Với những trẻ tự kỷ thuộc dạng cao (high-functioning) thì muốn
có người tình - bạn trai hay bạn gái Còn với trẻ tự kỷ thuộc dạng thấp
Trang 19(low-functioning), không đủ khả năng ngôn ngữ để diễn đạt hay hiểu được lời giải thíchcủa phụ huynh.
Tom Hua và Danang Ho đã đưa ra những dẫn chứng, “ Michael Rosenthal,một chuyên gia nghiên cứu tâm lý trẻ em ở Child Mind Institute, New York, hầu hếtcác em tự kỷ trong chặng tuổi trưởng thành, bất luận mức độ khuyết tật nặng nhẹ,đều bị khiếm khuyết nghiêm trọng về hiệu năng chủ động (executive functioning)khiến các em khó có cơ hội hòa nhập và kết bạn ở nhà trường hay bên ngoài xã hội
“Rosenthal giải thích …Nếu não bộ con người là một dàn nhạc giao hưởng(orchestra) thì hiệu năng chủ động là người nhạc trưởng (conductor) với nhiệm vụdẫn dắt hoặc điều hành tất cả những nhạc công hiện diện trên sân khấu Khiếmkhuyết về hiệu năng chủ động là nguyên nhân khiến trẻ tự kỷ không thể soạn thảo
kế hoạch cho công việc, không thể tự kiểm soát thời gian sinh hoạt, học tập, kiềmchế hành vi, hoặc làm việc có kết quả tốt cùng nhóm
“Theo Steve Valdez, một chuyên gia tâm lý/giáo dục hiện làm việc thiệnnguyện cho hội Justice in Education ở Quận Cam, các em tự kỷ trong chặng tuổidậy thì, bất luận mức độ khuyết tật nặng nhẹ, đều bị khiếm khuyết nghiêm trọng vềhiệu năng chủ động (executive functioning) khiến các em khó có cơ hội hòa nhập vàkết bạn ở nhà trường hay bên ngoài xã hội Valdez giải thích …Nếu não bộ conngười là một dàn nhạc giao hưởng thì hiệu năng chủ động là người nhạc trưởng vớinhiệm vụ dẫn dắt hoặc điều hành tất cả những nhạc công hiện diện trên sân khấu.Khiếm khuyết về hiệu năng chủ động là nguyên nhân khiến các em tự kỷ không thểsoạn thảo kế hoạch cho công việc, không thể tự kiểm soát thời gian sinh hoạt, họctập, kiềm chế hành vi, hoặc làm việc có kết quả tốt theo nhóm Ông khuyên phụhuynh người Việt nên chấp nhận sự thật, bởi hiệu năng chủ động chính là gótAchille, một khiếm khuyết không chỉ hiện hữu trong chặng tuổi dậy thì, mà còn kéodài mãi cho đến tuổi trưởng thành và nhiều năm về sau
Tom Hua và Danang Ho đã nêu thêm những gợi ý quan trọng, “Gần đây, mộtphụ huynh cảm hiểu sự lo lắng của tôi về đứa con đang trong độ tuổi dây thì, đãemail và đề nghị tôi nên tìm đọc những cuốn sách viết bởi những người mẹ, người
Trang 20chị đã từng trải và chia sẻ sự thành công của họ trên diễn đàn tự kỷ qua YouTube ởHoa Kỳ Nhờ vậy, tôi tìm ra được một số sách vở rất có giá trị về quan niệm haycách thức dạy con tự kỷ.
“Trong cuốn Growing Up On The Spectrum (2009), Lyn Kern Koegel vàClaire LaZebrick, hai người mẹ có con tự kỷ đã trưởng thành, có nói về chươngtrình tự quản lý (self management program) với nhiều ví dụ rất hay và dễ hiểu đểdạy và chuẩn bị cho con biết cách đối mặt với nhiều tình huống dở khóc, dở cườitrong đời sống Tuổi dậy thì ở nữ giới thường bắt đầu sớm hơn so với tuổi dậy thì ởnam Trong giai đoạn này, bé gái có nhiều rất nhiều thay đổi về thể chất, sinh lý vàtâm lý Những thay đổi này có thể khiến trẻ hoang mang, lo lắng nhưng cũng là điềutất yếu trong quá trình phát triển để trở thành người phụ nữ trưởng thành
Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, căn bệnh stress rất phổ biến, nhất là ở lứatuổi dậy thì Theo các chuyên gia tâm lý, độ tuổi nhạy cảm này thường dễ bị áp lực
từ học tập, gia đình, bạn bè… Thậm chí, cả những suy nghĩ tiêu cực về vóc dánghay khả năng của bản thân cũng dẫn đến stress Trẻ em gái tự kỷ còn gặp tình trạngrối loạn tâm lý Tuổi dậy thì là lứa tuổi có rất nhiều thay đổi về tâm sinh lý Do khảnăng thích ứng còn hạn chế, khiến cho sức khỏe của trẻ em gái TK bị suy giảm, tinhthần mệt mỏi, lo âu, rối loạn tâm lý… Bên cạnh đó, việc ăn uống và sinh hoạt thấtthường ở lứa tuổi này cũng dễ khiến trẻ em gái TK mắc bệnh hơn Các biểu hiện dễthấy nhất của căn bệnh rối loạn tâm lý là biếng ăn, mất ngủ, mệt mỏi, dễ cáu gắt, lo
âu, học tập giảm sút… Nặng hơn, một số trường hợp còn có cả các biểu hiện nhưnói năng lung tung, khóc cười vô cớ, dễ hoảng sợ, ngại tiếp xúc với người khác Khirơi vào trạng thái stress, các bạn sẽ cảm thấy thường xuyên mệt mỏi, căng thẳng, lo
âu, suy nghĩ nhiều… Rối loạn cảm xúc là một biểu hiện tâm lý xảy ra khi có tìnhtrạng rối loạn tại não bộ, gây nên những bất ổn về tinh thần như chuyển từ cảm xúchưng phấn sang cảm xúc ức chế một cách nhanh chóng hoặc ngược lại Nguyênnhân của căn bệnh này thường là do những biến đổi ở tuổi dậy thì sẽ khiến chúngmình nhạy cảm hơn, dễ bị tác động bởi các áp lực trong học tập, làm việc… Biểuhiện của rối loạn cảm xúc như chán ăn, mất ngủ, gầy sút, hoạt động chậm chạp, mấttập trung, hay quên
Trang 21Ở tuổi dậy thì, trẻ gái TK còn gặp tình trạng rối loạn hành vi Những định hình
về xã hội xung quanh chưa toàn diện, khó thích ứng với xã hội Các bạn có thể bịtác động chỉ từ sách báo, phim ảnh bạo lực… Đây chính là nguyên nhân dẫn đếnrối loạn hành vi và gây nên những hậu quả nghiêm trọng như gây thương tích chongười khác, Một số trường hợp có thể thích ứng với các hoạt động xã hội nhưng vẫn
có hành vi chống đối
Trầm cảm là căn bệnh rối loạn tâm thần thường gặp với nhiều triệu chứng nhưhay buồn bã, không quan tâm tới mọi thứ xảy ra xung quanh và cả với bản thân, dễmệt mỏi, mất hi vọng vào tương lai… Căn bệnh này thường rất dễ mắc phải ở lứatuổi dậy thì do độ tuổi nhạy cảm này dễ chịu áp lực từ xung quanh, từ học hành, bố
mẹ, thầy cô, bạn bè hay cả từ các chất kích thích…Khi bị trầm cảm, các bạn thường
tự cô lập mình với thế giới bên ngoài Thậm chí, rất nhiều bạn chỉ quan tâm tới thếgiới “ảo” và sống trong thế giới này Điều này khiến cho cuộc sống của các bạn trởnên nhàm chán, u ám, thiếu niềm tin…
Những thay đổi cơ thể của tuổi dậy thì
Sự phát triển của các cơ quan sinh dục bên trong sẽ mạnh mẽ nhất vào tronggiai đoạn này, cả buồng trứng, tử cung và âm đạo bắt đầu phát triển nhanh và hoànthiện vào cuối thời kỳ dậy thì Buồng trứng bắt đầu hoạt động, kích thích sản sinh racác hoormone sinh dục, làm trứng phát triển và chín trong buồng trứng, tử cungtăng kích thước, dẫn đến hiện tượng kinh nguyệt Âm đạo phát triển, thành âm đạogiãn ra và trở nên đàn hồi Lúc này, các cô gái nên tìm hiểu các thông tin về cấutạo hệ sinh dục nữ, các hiểu biết về chu kỳ kinh nguyệt cũng như quá trình thụ thai,mang thai và sinh nở.Cần chú ý về tâm lý và sự thay đổi thể chất của con mìnhtrong thời kỳ dậy thì để giúp đỡ ngay khi cần thiết
Trạng thái tâm lý của trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷ tuổi dậy thì sẽ có nhữngbiến đổi Từ nhỏ, các bé gái thường được lớn lên trong vòng tay yêu thương chămsóc của cha mẹ Trước năm lên 6 tuổi, mặc dù đã nhận thức được sự khác biệt giữacon trai và con gái nhưng khi chơi đùa cùng bọn con trai, các bé gái cũng khôngcảm thấy có gì phải suy nghĩ Lúc này tâm lý của con trai và con gái không có gì làkhác biệt cả Từ 6-7 tuổi đến khoảng 10 tuổi, tâm lý khác biệt về giới tính sẽ tăng
Trang 22cao, bé gái nếu chơi cùng với bé trai sẽ sinh ra cảm giác xấu hổ, bất an Sau mườituổi, trẻ em gái bắt đầu thích trang điểm, làm đẹp và có những nhận thức mơ hồ vềgiới tính, bắt đầu có sự hứng thú đối với sự khác biệt và mối quan hệ giữa hai giớitính Sau 15-16 tuổi, cùng với sự phát triển của đặc trưng giới tính, tâm lý cũng có
sự phát triển thêm một bước Chúng bắt đầu tự cho mình là người lớn, chúng đòiđộc lập, đòi sự tôn trọng của người lớn (bao gồm cả cha mẹ chúng), đòi được đối xửbình đẳng, được tự do kết bạn, được tự mình suy xét vấn đề và có một khoảnh trờiriêng của mình Tuy nhiên, tâm lý của tuổi này vẫn chưa thực sự chín chắn, tìnhcảm vẫn rất bất ổn định, tính cách, khí chất, tư tưởng chưa được định hình, rất dễ bịảnh hưởng bởi các yếu tố môi trường, bạn bè xung quanh hoặc các công cụ truyền
bá như phim ảnh, truyền hình Trong giai đoạn này, cần phải triển khai giáo dục vềtri thức, đạo đức và pháp luật về giới tính cho em gái, giúp chúng xây dựng đượcthế giới quan, đạo đức quan đúng đắn, cho trẻ có quy tắc sống phù hợp
Ở Việt Nam trong những năm gần đây, việc chăm sóc, giáo dục cho trẻ có nhucầu đặc biệt đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, tạo điều kiện để các emđược phát triển và hòa nhập cộng đồng xã hội Trẻ có RLPTK trong giai đoạn tuổidậy thì có những hành vi ảnh hưởng trực tiếp đến trẻ và những người xung quanh.Vấn đề tâm lý,hành vi hỗ trợ cho trẻ có RLPTK đã và đang được rất nhiều giáoviên, cha mẹ, các chuyên gia hay những người làm việc có liên quan nghiên cứu.Tuy nhiên, công tác hỗ trợ tâm lý cho trẻ có RLPTK tuổi dậy thì ở nước ta còn gặpnhiều khó khăn do đội ngũ chuyên gia nghiên cứu về lĩnh vực này còn thiếu, cácgiáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như những kiến thức chuyên sâu tronglĩnh vực tâm lý tuổi dậy thì cho trẻ RLPTK
1.2 Một số khái niệm cốt lõi của đề tài
1.2.1 Rối loạn phổ Tự kỷ
Khái niệm trẻ tự kỷ
Cho đến nay, các nhà khoa học trên thế giới đã đưa ra khá nhiều quan niệm về
tự kỷ Những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, dưới đây là một số quanniệm phổ biến:
Trang 23Quan niệm của Bleuler, 1911: “ Tự kỷ là khái niệm chung dùng để chỉ nhữngngười bệnh tâm thần phân liệt không còn liên hệ với thế giới bên ngoài nữa mà sốngvới thế giới riêng của mình, bệnh nhân chia cắt với thực tế bên ngoài và lui về thếgiới bên trong của mình, khép mình trong ham muốn riêng và tự mãn”
Quan điểm của Freud : “ Tự kỷ là sự đầu tư vào đối tượng quay trở lại trongcái tôi, có nghĩa đã trợ thành tự yêu, là sự ẩn náu của trẻ trong thế giới bên tronghuyễn tưởng và ảo ảnh để hỏi rằng cái tự trị ảo tưởng chỉ có thể được một thời gian,đối với chủ thể với điều kiện phải thêm vào đó sự chăm sóc của người mẹ.”
Theo Kanner, 1943: “ Tự kỷ là sự rút cực đoan của một số trẻ em từ lúc mớibắt đầu cuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một số trẻ em từ lúc mới bắt đầucuộc sống, triệu chứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy, đó là sự sự rối loạn từcội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong công việc thiết lập các mốiquan hệ bình thường với các tình huống từ lúc bắt đầu cuộc sống”
Theo thông báo của Hiệp Hội Sức Khỏe Tâm Thần Quốc Tế: Rối loạn phổ tự
kỷ (Autism Spectrum Disorder-ASD), được hiểu như Rối loạn phát triển lan tỏa(Pervasive Developmental Disorder-PDDs), nguyên nhân bởi sự suy giảm trầmtrọng và bao phủ sự suy nghĩ, cảm giác, ngôn ngữ và khả năng quan hệ với ngườikhác Những rối loạn đó thông thường được chẩn đoán trong thời thơ ấu, gọi là rốiloạn tự kỷ, tiếp theo là Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu và có nhiều dạngnhẹ hơn như Hội chứng Asperger và hai rối loạn hiếm gặp khác là Hội chứng Rett
và Rối loạn tan rã thời thơ ấu (tr 1, ….) and ( www.nimh.nih.gov/publicat/autism).Cùng với những quan điểm trên, tác giả Hamilton khái quát: Tính tự kỷ trên thực tế
là một bệnh nằm trong Rối loạn phát triển lan tỏa, rối loạn này bao gồm Rối loạnAsperger (cũng được hiều là hội chứng Asperger), Rett, Rối loạn tan rã thới thơ ấu,
và Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu (PDD—NOS) Không như những rốiloạn khác được chẩn đoán bởi các triệu chứng cơ thể và các test y khoa, bệnh tự kỷđược xác định khi đối chiếu sự tương thích giữa bệnh của trẻ với các tiêu chuẩn tâmthần xác định (Tr 39, 79) Như vậy, tính tự kỷ bao hàm nhiều hội chứng, bị quy địnhbởi đặc điểm bệnh l lâm sàng và mức độ nặng nhẹ khác nhau Mỗi hội chứng cónhững triệu chứng giống nhau và những triệu chứng khác nhau tiêu biểu cho từng
Trang 24bệnh cảnh cụ thể Tuy nhiên trẻ em mắc các hội chứng này đều có biểu hiện chunglà: Thiếu kỹ năng trong quan hệ giao tiếp, phát triển khác thường về trí tuệ và nhậnthức, nghèo nàn trong thể hiện cảm xúc và tình cảm, chậm phát triển hoặc rối loạnphát triển về ngôn ngữ, theo bất thường về hành vi và ít nhiều có vấn đề cảm giác.
Có những điểm tương đồng như vậy nên tính tự kỷ có các tên gọi như: Rối loạn tự
kỷ, rối loạn phồ tự kỷ, rối loạn phát triển lan toả, rối loạn tự kỷ quạt nan, rối loạncầu vồng theo quan điểm sử dụng khái niệm và cách tiếp cận của từng tổ chức và
cá nhân Để nghiên cứu có tính khả thi, chúng tôi không nghiên cứu toàn bộ các hộichứng nêu trên ở trẻ mà chỉ tập trung vào ba hội chứng chính: Tính tự kỷ ở trẻ em(F84.0), Tự kỷ không điển hình (F84.1) và hội chứng Aspergerv (F84.5) theo bảngphân loại bệnh quốc tế ICD 10 Do đó, khi sử dụng thu t ngữ ―Tự kỷ‖ trong đề tàinày là bao hàm cả ba hội chứng trên Thu t ngữ Autism khi chuyển ngữ sang tiếngViệt, được dịch theo ba cụm t khác nhau: Tự kỷ, tự tỏa, tự bế Tuy nhiên về cơ bảnchỉ là cách dịch (cách gọi) khác nhau của bệnh Autism Nghiên cứu này s sử dụngduy nhất một cụm t ―Tự kỷ thông suốt đề tài thay v các cụm t ―Tự tỏa hay ―Tựbế‖ Công bố mô tả đầu tiên về tính tự kỷ bởi Bs.Leo Kanner vào 1943 Bs Kanner
mô tả một nhóm người trong số những cá nhân mà rất cô l p và xa cách- đó là thu tngữ tính tự kỷ Tính Tự kỷ có nghĩa là " cái tôi ", và nhóm mà Kanner đã nghiêncứu ( 11 trẻ) có vẻ đóng kín trong một thế giới nội tại – co cụm Những đặc trưng
bổ sung đáng ch bởi Bs Kanner bao gồm những thiếu hụt giao tiếp, duy tr sự đơnđiệu, những v n động khác thường, và hay gây hấn trong thời gian vài năm đầu đời.(tr7/ 102) Tự kỷ là một rối loạn phát triển được xác định bởi một sự phát triểnkhông b nh thường hay giảm s t một số chức năng biểu hiện trước 3 tuổi, hoạt độngbất thường đặc trưng trong 3 lĩnh vực: tác động xã hội qua lại, giao tiếp, và tácphong thu hẹp, lặp lại Rối loạn này xuất hiện ở trẻ trai nhiều hơn trẻ gái t 3 đến 4lần (tr247/ Trần Di Ái/ Phân Loại Bệnh Quốc Tế (ICD 10) Vế Các Rối Loạn TâmThần Và Hành Viện sức khỏe tâm thần-BV.tâm thần trung ương/HNội/1992) Ngoài
3 dấu hiệu trên, ngày nay người ta còn phát hiện ở trẻ tự kỷ có một số rối loạn khácliên quan đến rối loạn sinh hoc, nh n thức, giác quan, ngôn ngữ, …và có thể chẩnđoán trẻ tự kỷ t rất sớm, vào khoảng 1,5 tuổi và có thể sớm hơn nữa Tính tự kỷ
Trang 25không điền h nh là rối loạn phát triển lan tỏa, khác với tính tự kỷ bởi thời gian khởiphát của bệnh hoặc không có đầy đủ 3 tiêu chuẩn của chẩn đoán Như v y sự pháttriển bất thường và/hoặc suy giảm chỉ biểu hiện lần đầu tiên sau 3 tuổi; và/hoặc cácnét bất thuờng cần thiết cho chẩn đoán tính tự kỷ không t m thấy trong một hay haicủa cả 3 lĩnh vực tâm thần bệnh l là tác động xã hội qua lại, giao tiếp, và tác phongthu hẹp, lặp lại (tr.249/ Trần Di Ái/ Phân Loại Bệnh Quốc Tế (ICD 10) Về Các RốiLoạn Tâm Thần Và Hành Vi/viện sức khoe tâm thần-BV.tâm thần trung ương/HàNội/1992.)
1.2.2.Tuổi dậy thì của trẻ em gái
Dậy thì là quá trình thay đổi thể chất từ cơ thể một đứa trẻ trở thành cơ thểngười lớn có khả năng sinh sản Dậy thì bắt đầu khi những tín hiệu hormone trongnão truyền tới các tuyến sinh dục (buồng trứng) Đáp lại, các tuyến này sản sinh ranhiều loại hormone kích thích sự tăng trưởng, hình thành chức năng và biếnđổi não bộ, xương, cơ, da, vú và cơ quan sinh sản Cơ thể tăng trưởng nhanh trongnửa đầu của giai đoạn dậy thì và dừng lại khi quá trình dậy thì hoàn tất Trước dậythì, cơ thể của trẻ trai và trẻ gái hầu như giống nhau trừ bộ phận sinh dục Trong quátrình dậy thì, có những thay đổi lớn về kích thước, hình dạng, cấu tạo và chức năngcủa nhiều bộ phận và hệ cơ quan trong cơ thể
Dậy thì là chỉ giai đoạn phát triển quá độ về sinh lý từ thời kỳ nhi đồng sangthời kỳ thành niên Ở trẻ dưới 8 tuổi, mặc dù cơ quan sinh dục trong và ngoài củanam và nữ đã có sự phân biệt, chiều cao và thể trọng của cơ thể tăng rất nhanhnhưng không có sự khác biệt nhiều về giới tính Đó là do công năng tuyến sinh dụccủa cả nam và nữ đều ở trong trạng thái bị ức chế, nồng độ hoóc môn sinh dục trong
cơ thể cũng rất thấp Trung bình sau 11 tuổi (phạm vi là 9-12 tuổi), đặc trưng giớitính của trẻ em gái mới dần dần phát triển, biểu hiện chủ yếu là hai bên ngực bắtđầu nhô lên, đầu nhũ hoa to dần và màu sắc cũng thẫm dần; vùng dưới cánh tay và
cơ quan sinh dục ngoài bắt đầu xuất hiện lông Môi lớn, môi bé cũng thẫm lại và lớnlên, âm hộ bắt đầu xuất hiện những chất dịch màu trắng Cơ quan sinh dục trongcũng phát triển, chẳng hạn như âm đạo trở nên rộng, niêm mạc dày và có nhiều nếpnhăn, ống dẫn trứng dày lên Thông thường, vào khoảng 13 tuổi (phạm vi 10-16
Trang 26tuổi), cô gái sẽ thấy kinh lần đầu và 2-5 năm sau sẽ xuất hiện hiện tượng rụng trứng,
là lúc công năng sinh dục phát triển hoàn thiện Sự phát triển đặc trưng giới tính củatrẻ em gái từ khi bắt đầu cho đến khi phát dục hoàn toàn mất khoảng 4 năm (phạm
vi 1,5 – 6 năm)
1.2.2 Tuổi dậy thì của trẻ em gái Tự kỷ
Mọi đứa trẻ đều sẽ trải qua tuổi dậy thì dù chỉ số IQ hay các kỹ năng xã hộicủa chúng như thế nào Dù mức độ phát triển của một đứa trẻ không cân xứng sovới độ tuổi thật thì não bộ của chúng cũng không “ra lệnh” cho cơ thể đứa trẻ ngừngphát triển Tuổi dậy thì là một giai đoạn phát triển, tương tự như khi 1 đứa trẻ sơsinh trở thành 1 em bé chập chững biết đi Tuổi dậy thì thường bắt đầu từ 12 tuổivới các bé gái và từ 14 tuổi với các bé trai Những thay đổi về sinh lý ở độ tuổi nàychủ yếu tập trung vào sự phát triển những đặc tính thứ cấp và lần đầu thấy kinhnguyệt (ở nữ) Ở tuổi dậy thì các nhân tố tạo nên sự trưởng thành ở người phổ tự kỷkhông giống như những người khác với những thách thức có một không hai, sự đixuống, sự thụt lùi và sự thay đổi lớn giữa các cá nhân Ở giai đoạn này có thể tạonên một hình thái không ổn định Trẻ thuộc phổ tự kỷ có khó khăn trong các cơnbùng phát và nóng giận có thể trở nên trầm tĩnh hơn vào tuổi dậy thì Tuổi dậy thì làthời kỳ chuyển tiếp từ giai đoạn trẻ thơ sang giai đoạn trưởng thành, là thời kỳ trẻkhông còn là trẻ con nhưng vẫn chưa là người lớn Đây là thời kỳ mà bất cứ mộtthiếu niên nào cũng phải trải qua những biến đổi quan trọng về cơ thể cũng như về
tâm hồn Trẻ nữ, thường bắt đầu dậy thì ở tuổi từ 9 đến 14 Nhìn chung nữ dậy thì
sớm hơn nam khoảng 2 – 3 tuổi Có trẻ dậy thì sớm hơn và cũng có trẻ dậy thìmuộn hơn một vài năm
1.2.3 Hỗ trợ tâm lý
Trị liệu và hỗ trợ tâm lý là hoạt động chuyên sâu sử dụng các kiến thức ứngtâm lý học tác động và làm thay đổi tình trạng tâm lý, cảm xúc con người theo chiềuhướng tích cực
Chúng ta đều biết, trẻ nhỏ và thanh thiếu niên có thể gặp phải nhiều vấn đề liênquan đến việc học tập, các mối quan hệ xã hội, quản lý cảm xúc, stress hay nặnghơn là các rối loạn tâm lý như trầm cảm, lo âu, rối loạn hành vi, v.v Cán bộ tâm lý
Trang 27có thể hỗ trợ giúp các em cũng như gia đình, giáo viên và những người có liên quanhiểu và giải quyết những vấn đề này, đặc biệt, giúp các em vượt qua các trạng tháitâm lý bất ổn trong thời gian ngắn và tránh tái diễn Đồng thời, họ phối hợp cùnggia đình, nhà trường và các cán bộ chuyên môn khác nhằm tạo ra một môi trườnghọc tập an toàn và lành mạnh, hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện Nếu cần mộtđịnh nghĩa chuẩn thì có thể sử dụng định nghĩa đáng tin cậy nhất do Hiệp hội Tâm
lý học đường Mỹ đưa ra: Cán bộ tâm lý học đường áp dụng các kiến thức chuyênmôn trong các lĩnh vực sức khỏe tâm thần, sự học và hành vi để giúp học sinh thànhcông trên các phương diện học đường, xã hội, hành vi và cảm xúc
Ngoài việc tiến hành sàng lọc và các trị liệu bước đầu, đối với các em học sinh
bị khủng hoảng tâm lý nghiêm trọng, liệu cán bộ tâm lý học đường có thể đảmđương việc trị liệu mang tính chuyên sâu
1.2.4 Trung tâm chuyên biệt
Giáo dục chuyên biệt hình thành và phát triển phù hợp với những điều kiện xãhội, kinh tế và phù hợp với trình độ nhận thức, trình độ phát triển khoa học kỹ thuậtcủa nhân loại Nó đóng vai trò tích cực trong lịch sử phát triển của khuyết tật học. Trung tâm giáo dục chuyên biệt là phương thức giáo dục tách biệt trẻ em cócác dạng tách biệt khác nhau và cơ sở giáo dục khuyết tật riêng Đây là mô hìnhphát hiện sớm nhất trong lịch sử giáo dục trẻ khuyết tật, nó được thực hiện từ nămđầu của thế kỷ XỈ các nước, Pháp,Đức, Tây Ban Nha và một số châu Âu khác Đầutiên một số tu sĩ tập trung những trẻ mù, trẻ câm điếc vào các lớp học trong nhà thờ
để dạy Dần dần cách tập trung những trẻ khuyết tật để dạy được phát triển ở nhiềunước và trở thành hệ thống các trường chuyên biệt dạy trẻ khuyết tật Mỗi loại trẻkhuyết tật (điếc câm, người mù, chậm phát triển trí tuệ,…) lại được chia thànhnhững loại nặng, nhẹ khác nhau (điếc, nghễnh ngãng, mù, loà chậm phát triển trí tuệloại nhẹ, vừa và nặng) được dạy trong những lớp học, những trường riêng Ở đây trẻđược dạy theo chương trình riêng cho những phương pháp riêng, tách biệt với hệthống quốc dân
1.2.5 Hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái tự kỷ
Trang 28Tự kỷ là một hội chứng rối loạn phát triển lan tỏa ở trẻ em, bao gồm nhữngkhiếm khuyết nặng nề về khả năng tương tác xã hội, giao tiếp và những quan tâm,hoạt động bó hẹp, định hình Trẻ tự kỷ điển hình có thể bị rối loạn nhiều kỹ năngphát triển như: tư chăm sóc, ngôn ngữ, giao tiếp ứng xử, quan hệ xã hội, hành vi,cảm xúc, trí tuệ…Mức trưởng thành về tình cảm của trẻ em gái thấp hơn nhiều sovới tuổi năm tháng của em, trong giai đoạn này có vẻ như em chỉ có sự chín chắncủa trẻ bằng 2/3 tuổi của em Sự trưởng thành thường được đo bằng hành độngtrong khi giao tiếp Muốn thành thạo về tình cảm ta cần có thể cảm biết và hiểunhững dấu hiệu khi tiếp xúc với người khác như cái nhíu mày, nhăn trán, cười, vẻchán nản, cảm xúc v.v.; và ta phải có thể suy nghĩ rõ ràng về hành vi của mình cũngnhư hành vi của người khác Thêm vào đó, giai đoạn trẻ dậy thì còn có nghĩa làthuận theo những luật bất thành văn về giao tiếp và hành vi trong xã hội Tất cảnhững mặt này gây nhiều khó khăn cho trẻ gái rối loạn phổ tự kỷ, các em thường'khờ khạo' hoặc 'ngây thơ', không hiểu những tương tác tế nhị giữa bạn bè hoặc biếtcách hòa hợp vào chúng bạn Ở tuổi thiếu niên một số em bắt đầu cảm nhận là mìnhkhác chúng bạn, thấy khó khăn trong việc hòa với bạn cùng tuổi Ý thức này có thểdẫn tới chứng trầm cảm hay sầu não, và sẽ khó được khám phá ở những trẻ tự kỷkhông biết nói hoặc có ngôn ngữ yếu kém Hành vi có thể gia tăng hoặc khép kín.Vìvậy cần hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái tuổi dậy thì.
1.2.6 Hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái tự kỷ ở trung tâm chuyên biệt
Những đặc tính tâm lý của trẻ em gái tự kỷ có vẻ như phức tạp hơn khi đếntuổi dậy thì Tuổi dậy thì phức tạp hơn hành vi hóa đậm nét hơn, cảm xúc tăng bội
vì tâm tình thường đi từ thái cực này sang thái cực kia Người tự kỷ đã có sẵn khókhăn là không hiểu được cảm xúc của chính mình Đến tuổi dậy thì, những vấn đề
về giao tiếp đâm ra nổi bật thêm lên Giống như mọi thiếu niên khác, trẻ em gái tự
kỷ cũng muốn cha mẹ tránh xa, ít can dự hơn vào đời mình, nhưng đây là chuyệnđôi khi bất khả Bởi tuy thân hình trưởng thành thấy rõ nhưng nó không đi đôi với
sự chín chắn về tình cảm Trên thực tế, trẻ gái trong lứa tuổi này thường cần đượcquan tâm nhiều hơn Những đòi hỏi phức tạp về chuyện học, hành vi, và giao tếtrong tuổi dậy thì sinh ra nhiều thử thách cho trẻ em gái Tới tuổi thì phải thêm vào
Trang 29đó yếu tố dậy thì, kết cục là thường khi các thiếu niên này bị lo lắng nhiều, trầmcảm, mà không có mấy kỹ năng cần thiết để đối phó với khung cảnh chung quanh
em Các em cần có quy củ và nhiều hỗ trợ để qua được những năm xáo trộn này,cũng như có sửa đổi như là cách để giúp em thành người lớn hữu dụng và thích nghivới cuộc sống
1.3 Hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái tự kỷ vượt qua khó khăn của tuổi dậy thì 1.3.1 Khái niệm hỗ trợ tâm lý
Theo từ điển Tiếng Việt ( Viện ngôn ngữ học, 1997), “ Hỗ trợ là giúp đỡ, giúpcho ai việc gì đó để giảm bớt khó khăn” Khái niệm hỗ trợ còn được hiểu là sự giúp
đỡ của một người khác hoặc sự chỉ dẫn kịp thời cho người khác để họ có thể vượtqua những hoàn cảnh khó khăn
Với một số tác giả, hỗ trợ là giúp một ai đó giải quyết công việc cụ thể nhấtđịnh Tuy nhiên cần xác định rõ bản chất khái niệm để khi dịch chuyển vào nghiêncứu này không bị sai lệch ngữ nghĩa dẫn đến sai cách tiếp cận Hỗ trợ là trợ giúp,không phải làm thay Như vậy hỗ trợ không phải là làm thay một ai đó khi họ phảiđối mặt với khó khăn, mà là giúp họ những điều kiện nguồn lực, cách thức để họ tựđối mặt, tự giải quyết vấn đề của mình.Nói cách khác hỗ trợ, trợ giúp không phải làlàm thay mà là tạo những điều kiện phù hợp để chủ thể đang phải đương đầu vớikhó khăn có đủ năng lực, tự tin để ứng phó và giải quyết vấn đề của mình Nói cáchkhác, người giải quyết vấn đề vẫn là chủ thể- người đang đối mặt với những tìnhhuống khó khăn chứ không phải là chủ thể trợ giúp – yếu tố, tác nhân bên ngoài, hỗtrợ gián tiếp cho quá trình giải quyết tình huống khó khăn chứ không phải chủ thểtrợ giúp – yếu tố, tác nhân bên ngoài, hỗ trợ gián tiếp cho quá trình giải quyết tìnhhuống
Từ cách hiểu trên về bản chất của quá trình hỗ trợ tâm lý, chúng tôi hiểu hỗ trợ
là quá trình trợ giúp đối tượng – người đang phải đối mặt với những khó khăn nhấtđịnh, để họ có đủ năng lực tự đương đầu, tự giải quyết những vấn đề nảy sinh trongcuộc sống
Tác giả Trần Thị Minh Hằng cho rằng, trợ giúp tâm lý học đường là quá trìnhứng dụng hệ thống tri thức tâm lý học vào thực tiễn nhằm tạo ra các điều kiện thuận
Trang 30lợi tối đa trợ giúp học sinh có thể tự quyết định hay giải quyết các vấn đề của mìnhnảy sinh trong cuộc sống theo hướng tích cực, để phát triển nhân cách toàn diện.Trong thực tế, hỗ trợ tâm lý thường được hiểu là quá trình trợ giúp cho cá nhângặp vấn đề liên quan đến tâm lý, cảm xúc, hành vi, trong đó người hỗ trợ sử dụngkiến thức kỹ năng chuyên môn để thiết lập quan hệ tương tác tích cực đối với đốitượng ( còn gọi là thân chủ) nhằm giúp họ nhận thức được bản thân, đánh giá đượcđúng vấn đề của mình và sử dụng nguồn lực sẵn để tìm kiếm các giải pháp hiệu quả.Như vậy, ở phương diện này, khái niệm hỗ trợ tâm lý thường được tiếp cận dướiphương diện hỗ trợ và can thiệp tâm lý cá nhân.
Hỗ trợ tâm lý là ứng dụng các tri thức của tâm lý học vào thực tiễn nhằm tạo
ra các điều kiện thuận lợi làm thay đổi tình trạng tâm lý, cảm xúc con người theochiều hướng tích cực
Kết hợp hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp
Yếu tố ảnh hưởng tới hỗ trợ trực tiếp và gián tiếp là trình độ chuyên môn còn chưađược đồng đều, công cụ đo đạc còn hạn chế
1.4 Ý nghĩa của những hỗ trợ tâm lý giúp trẻ em gái tự kỷ vượt qua khó khăn của tuổi dậy thì.
Trang 31Tuổi dậy thì thường là chặng tuổi gây nhiều bâng khuâng, lo lắng cho phụhuynh, nhất là khi con em mình bị rối loạn phổ tự kỷ Sự tăng trưởng từng ngày vềthể xác cũng có nghĩa là sự kỳ vọng và áp lực của xã hội đối với các em sẽ gia tăng.Chẳng ai quan tâm hoặc lên án hành vi của đứa bé 3 tuổi tự lột tã lót, khoe hàng ởnhững nơi công cộng, nhưng rất khó cho mọi người cảm thông hay dung thứ nếumột thiếu niên tự kỷ tuột quần đứng tè giữa lộ thiên hay có những hành vi tự kíchtình dục giữa chốn đông người Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng trẻ em tự kỷ sẽ gặpnhiều trở ngại hơn so với trẻ bình thường khác, bởi vì rất khó cho phụ huynh chuẩn
bị trước để đối phó với những thay đổi sinh lý của con em mình, nhất là đối với các
em tự kỷ thuộc dạng thấp (low-functioning), không có đủ khả năng về ngôn ngữ đểdiễn đạt hay hiểu được những lời giải thích của phụ huynh Nhiều em tự kỷ tuổi dậythì càng lớn thì thân hình càng vạm vỡ, có sức mạnh hơn cả phụ huynh khiến vấn đềkiềm giữ hay kiểm soát hành vi hung hăng, tự hại, hoặc gây thương tích cho ngườithân của các em trong gia đình càng trở nên khó khăn hơn
Theo thống kê hiện nay, chừng 25% trẻ tự kỷ tuổi dậy thì sinh chứng độngkinh và chừng 10% đến 20% có thể phát sinh những hành vi tiêu cực vì sự pháttriển sinh lý, thường bắt đầu khoảng 1 năm hoặc sớm hơn trước khi cơ thể thay đổi,với những biểu hiện như dễ bực mình, cáu tiết, giảm thiểu sự chú ý, năng động hoặcthụ động hơn trước, hoặc gia tăng sự lặp đi lặp lại qua hành vi nào đó Ngoài ra, một
số thanh thiếu niên tự kỷ có sự háo hức tình dục mạnh mẽ và thủ dâm rất công khai.Riêng các em tự kỷ thuộc dạng cao thì lại muốn có người tình - bạn trai hay bạn gái.Đương nhiên, các em tự kỷ ở tuổi dậy thì, bất luận thuộc dạng nào, cũng đều cónhững sự thích thú về tình dục như những trẻ bình thường, chỉ khác là các em tự kỷ
dễ bị rủ rê, lợi dụng tình dục, hoặc bị lôi cuốn vào những hành động có tính tháchthức, xúi dục của bạn bè rồi vi phạm kỷ luật, bị khai trừ hay xếp vào những môitrường bị hạn chế nhiều nhất ở nhà trường dành cho trẻ bị rối loạn về hành vi Vìvậy vai trò của việc hỗ trợ tâm lý giúp bé gái tự kỷ vượt qua khó khăn của tuổi dậythì là vô cùng quan trọng
Mục đích của vấn đề giáo dục sinh lý là giúp trẻ tự kỷ nhận thức và có cái nhìntốt đẹp về bản thân, nhất là học được những kinh nghiệm lành mạnh Tùy vào mức
Trang 32độ khuyết tật và khả năng nhận thức của trẻ em gái, sự hướng dẫn hỗ trợ về tâm lý
có thể bắt đầu bằng sự giải thích của phụ huynh về những bộ phận khác nhau trên
cơ thể qua hình ảnh hoặc bằng những phương tiện khác, chẳng hạn dùng búp bêBarbie, tài liệu, sách vở hay những câu chuyện có liên quan đến sự khác biệt về thânthể giữa nam và nữ Điều quan trọng là phải sử dụng đúng từ ngữ Trẻ khuyết tậtthường bị người khác lạm dụng tình dục Vì vậy, dạy trẻ tự kỷ biết về các tên gọi vànhận dạng đúng những bộ phận trên cơ thể cũng là cách hay nhất để bảo vệ trẻ emgái trong giai đoạn dậy thì Tiến Sĩ Lynn Kern Koegel gợi ý rằng ngoài sự giáo dục
về sinh lý ở nhà trường, phụ huynh nên chuẩn bị và nói cho con em tự kỷ hiểu vềtình dục một cách đơn giản và thiết thực trước khi chuyện sẽ xảy ra
Trang 33đi sâu nhằm tìm hiểu và làm rõ để có những can thiệp phù hợp
Đồng thời, trong chương 1 cũng làm rõ khái niệm cốt lõi của đề tài nghiên cứu giúpcho người đọc thống nhất cách nhìn với tác giả
Trong xã hội hiện đại, mô hình hỗ trợ tâm lý cho trẻ em gái rối loạn phổ tự kỷtuổi dậy thì ngày càng trở nên bức thiết trong việc trợ giúp các em có lối sống lànhmạnh về sức khỏe tâm thần, hướng tới việc hòa nhập được tốt hơn Hoạt động hỗtrợ tâm lý là quá trình tác động có mục đích nhằm làm cho người được trợ giúp cóđiều kiện thiết lập lại sự cân bằng về tâm lý, phát huy tiềm năng của mình, qua đó
tự khám phá ra ý nghĩa của cuộc sống, vượt qua khó khăn để có cuộc sống vui vẻ.Kết quả phân tích đặc điểm tâm lý và những khó khăn mà trẻ em gái rối loạnphổ tự kỷ tuổi dậy thì gặp phải trong quá trình tâm lý, sinh lý đang phát triển Vìvậy cần hỗ trợ tâm lý để tạo điều kiện thuận lợi, giúp trẻ em gái phát triển toàn diện,
có khả năng hòa nhập với các bạn cùng trang lứa
Trang 34CHƯƠNG 2 : TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
về học tập, rối loạn phổ tự kỷ, ….Hiện tại trung tâm CT và TL cho 15 trẻ gặp nhữngkhó khăn tâm lý khác nhau, trong khoảng độ tuổi từ 8 cho đến 17 tuổi, trong đó rốiloạn phổ tự kỷ chiếm đa số Trung tâm đang tập trung dạy và can thiệp cho trẻ lớn,trung tâm đang tổ chức định hướng dạy nghề cho các em Hoạt động chủ yếu tạitrung tâm là lồng ghép giữa vận động với học kỹ năng sống Ngoài ra còn có một sốhoạt động đào tạo nghề như : đan nứa, thêu túi, làm nơ và kẹp tóc
+ Trung tâm chuyên biệt Hand in hand Trung tâm chuyên biệt Hand in handđóng tại địa chỉ số 8 Lê Quang Đạo, Mỹ Đình, Nam Từ Liêm thành phố Hà Nội.Trung tâm thành lập từ tháng 2 năm 2010 Trung tâm chuyên tiếp nhận các trẻ cókhó khăn về học tập, rối loạn phổ tự kỷ, chậm phát triển trí tuệ, chậm nói ….Hiệntại trung tâm CT và TL cho 25 trẻ gặp những khó khăn tâm lý khác nhau, trongkhoảng độ tuổi từ 6 cho đến 18 tuổi, trong đó rối loạn phổ tự kỷ chiếm đa số Hoạtđộng chính của trung tâm là hướng dẫn các con học làm bánh Với trẻ tự kỷ, trẻchậm phát triển trí não, việc tập cho các bé tương tác, phối hợp hoạt động nhóm là
vô cùng khó Vấn đề học tập, việc làm cho thanh thiếu niên mắc chứng tự kỷ nóiriêng và khuyết tật nói chung luôn là nỗi trăn trở của gia đình và cộng đồng Thôngqua việc tập cho trẻ cách thức bán hàng, Trung tâm Hand in Hand hướng đến hoànthiện kỹ năng giao tiếp và hướng nghiệp cho trẻ, giúp các bé sau này có được mộtcuộc sống như người bình thường khác
Trang 35Nghiên cứu được tiến hành tại 2 trung tâm tên cơ sở can thiệp trực tiếp cho trẻtại đây Khách thể nghiên cứu được lựa chọn gồm 02 trẻ, các trẻ đều sinh sống tại
Hà Nội có độ tuổi từ 10 đến 16 tuổi Các khách thể đều là trẻ gái, đều có biểu hiệnRLPTK
Sơ lược về hai trẻ can thiệp
Trẻ Nguyễn Thị Thu T sinh ra trong gia đình bố mẹ là trí thức, mẹ hiện tạiđang làm ở Ngân hàng, bố làm kế toán Nguyễn Thị Thu T là con gái lớn trong giađình T có hai em một trai và một gái, Từ nhỏ T đã được chuẩn đoán là trẻ Tự kỷ ởviện nhi TW T đi học hòa nhập tiểu học 5 năm sau đó T học tại Trung tâmTotochan cả ngày Trước đây T là một cô bé ngoan ngoãn chăm chỉ lao động, dễbảo một năm lại đây T có thay đổi khá lớn T không còn muốn giao tiếp với mọingười xung quanh Tính khí thất thường lúc cười lúc khóc, Khi trao đổi với NTLgiáo viên của NTT tại trung tâm cho biết T khó ngủ và ngủ ít, thường xuyên xa lánhmọi người, ngại làm việc.Tính khí thất thường Trung tâm và gia đình cũng nhậnthấy trẻ có một vài biểu hiện thay đổi về tâm lý Sau khi trao đổi với NTL thì giađình và giáo viên tại trung tâm bắt đầu nhận ra được rõ ràng các điểm yếu của trẻ,
và mong muốn nhận thức, tư duy logic, các lĩnh vực hành vi thích ứng của trẻ đượccải thiện hơn trong thời gian tới
Trẻ Lê Thị Thùy D Bố 48 tuổi, là nhân viên kinh doanh Mẹ 42 tuổi, là nhânviên văn phòng Lê Thị Thùy D là con gái thứ trong gia đình, D có một anh trai họclớp 12 Hiện tại D đang sống cùng ông bà nội, bố mẹ và anh trai Khoảng 3 tuổi mẹthấy con phát triển chậm hơn so với các bạn nên cho con đi khám viện nhi Trungương chuẩn đoán: D mắc chứng rối loạn phổ tự kỷ Khi trao đổi với NTL mẹ LêThị Thùy D rất là hợp tác, sẵn sàng trao đổi với NTV về các vấn đề của con, mẹ trẻ
Trang 36cảm thấy lo lắng về tâm lý tuổi dậy thì của trẻ và các lĩnh vực hành vi thích ứng củatrẻ Gia đình và trung tâm cũng nhận thấy thời gian gần đây con có thay đổi tínhcách hay cáu giận vô cớ, không biết cách nói lên suy nghĩ của mình, chưa biết cáchthể hiện cảm xúc đúng Sau khi trao đổi với NTV thì gia đình và trung tâm nhận rađược rõ ràng các điểm yếu của trẻ, và mong muốn nhận thức, tư duy logic, và cáclĩnh vực hành vi thích ứng của trẻ được cải thiện hơn trong thời gian tới.
2.2 Tiến trình và phương pháp nghiên cứu
2.2 1.Tiến trình nghiên cứu.
Để hoàn thành luận văn chúng tôi tổ chức nghiên cứu theo bốn giai đoạn:Giai đoạn 1 : Nghiên cứu lý luận, được tiến hành từ tháng 12/2018 đến hếttháng 1 năm 2019 Trong giai đoạn này chúng tôi xây dựng đề cương, nghiên cứutài liệu lý luận về những khó khăn tâm lý của trẻ em gái tuổi dậy thì và các biệnpháp hỗ trợ tâm lý cho các trẻ em gái tuổi dậy thì tại các trung tâm chuyên biệt Đểtiến hành nghiên cứu, chúng tôi tiến hành thu thập các tài liệu trong và ngoài nước
có liên quan đến những khó khăn tâm lý tuổi dậy thì và các phương pháp hỗ trợ tâm
lý cho trẻ em gái TK vượt qua khó khăn để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài
Giai đoạn 2 : Từ tháng 1 đến tháng 2 năm 2019 : Nghiên cứu tổng quan về cácphương pháp can thiệp và những điều chỉnh cần thiết để CT tâm lý cho trẻ gái TKvượt qua khó khăn của tuổi dậy thì Mục đích chính của giai đoạn này là tìm hiểu kỹnhững khó khăn tâm lý tuổi dậy thì, từ đó xác định cách thức CT phù hợp với trungtâm và kết hợp các phương pháp CT khác để xây dựng chiến lược CT tối ưu cho cáctrẻ Kết quả của giai đoạn này là chúng tôi xây dựng được các giáo án, các chươngtrình cụ thể về các nội dung CT chính để có thể chỉ định CT cho các trẻ gái giaiđoạn sau
Giai đoạn 3: Từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2019 : Tiến hành đánh giá và CT hỗtrợ tâm lý cho 2 trường hợp trẻ gái tự kỷ tuổi dậy thì Mục đích của giai đoạn này làđánh giá hành vi, cảm xúc, xã hội của trẻ gái tuổi dậy thì tại trung tâm chuyên biệt
và tiến hành CT hỗ trợ tâm lý cho các ca lâm sàng
Giai đoạn 4: Từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2019: Tổng kết quá trình nghiên cứu,tổng kết, rút ra các kết luận nghiên cứu và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao
Trang 37hiệu quả của hỗ trợ tâm lý giúp trẻ em gái tự kỷ vượt qua khó khăn tuổi dậy thì tạicác trung tâm chuyên biệt – Thành phố Hà Nội.
2.2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận.
Mục đích: Nghiên cứu thu thập tài liệu, khái quát hóa những thông tin, nhữngnghiên cứu của tác giả trong, ngoài nước về vấn đề tâm lý trẻ gái tuổi dậy thì và CT
hỗ trợ tâm lý cho trẻ gái RLPTK ở tuổi dậy thì Từ đó xác định cách tiếp cận khái niệm công cụ, các tiêu chí đánh giá, xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài.
Cách thức tiến hành: Để xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn chúng tôi sửdụng phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu Phương pháp này bao gồm các giaiđoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa những lý thuyết, nhữngnghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan đến trẻ gái RLPTK ởtuổi dậy thì và các biện pháp hỗ trợ CT tâm lý cho trẻ gái RLPTK Ngoài ra, chúngtôi cũng kết hợp với việc sử dụng phương pháp phỏng vấn chuyên gia nhằm tranhthủ ý kiến của các nhà chuyên môn có kinh nghiệm trong các lĩnh vực tâm lý học,giáo dục học và một số lĩnh vực khác có liên quan để xây dựng những nội dungnghiên cứu, xây dựng các giả thuyết khoa học và hướng tiếp cận làm sáng tỏ giảthuyết khoa học
Nghiên cứu thu thập số liệu, khái quát hóa những thông tin, những nghiên cứucủa tác giả trong, ngoài nước Sưu tầm các tài liệu, sách báo, thông tin liên quanđến đặc điểm tâm lý của bé gái tự kỷ trong giai đoạn tuổi dậy thì
Thảo luận nhóm với giáo viên về cách thức hỗ trợ tâm lý cho bé gái tuổi dậy thì tại các trung tâm chuyên biệt trong thành phố Hà Nội
2.2.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu định tính
2.2.2.2.1 Phương pháp quan sát
Mục đích: Thu thập thông tin để đánh giá thực trạng hỗ trợ tâm lý cho trẻ gáiRLPTK ở tuổi dậy thì tại các trung tâm chuyên biệt Bên cạnh đó hỗ trợ nhằm bổsung một số thông tin nhằm phân tích, đánh giá, làm rõ kết quả nghiên cứu từ điềutra bằng phiếu hỏi Và để đánh giá những biểu hiện về hành vi, ngôn ngữ, cảm xúc,thái độ, nhận thức của học sinh
Trang 38Nội dung: Quan sát các hành vi của học sinh cụ thể qua các biểu hiện bênngoài của học sinh trong thời gian học tập tại trung tâm, biểu hiện tâm lý học sinhhay thể hiện để từ đó có những đánh giá một cách khách quan và chính xác.
Cách tiến hành:
- Lập kế hoạch quan sát:
Mục đích: Quan sát biểu hiện hành vi, cảm xúc thái độ nhận thức của học sinh.Đối tượng: Học sinh gái RLPTK ở tuổi dậy thì
Thời gian: Trong giờ cá nhân, nhóm, sinh hoạt chung và giờ chơi tự do
Môi trường quan sát: Trong lớp và ngoài lớp học
- Tiến hành quan sát:
Xin phép ban giám đốc trung tâm cũng như các giáo viên lớp mình quan sát.Tiến hành quan sát không chính thức Rút kinh nghiệm quan sát Quan sát chínhthức
Phân tích và xử lý thông tin Chỉnh sửa biên bản quan sát Sắp xếp lại theo nộidung Phân tích một cách sơ bộ, đánh giá nhanh về các nội dung quan sát
Đây là một trong những phương pháp chính của đề tài Phương pháp quan sátđược sử dụng nhằm mục đích thu thập thông tin để đánh giá những biểu hiện vềhành vi, ngôn ngữ, cảm xúc, thái độ, nhận thức kỹ năng, đồng thời quan sát cáchnhà TL CT cho trẻ để từ đó có điều chỉnh chiến lược CT phù hợp Phương phápquan sát được tiến hành từ lúc đưa trẻ đến trung tâm cho đến giờ học cá nhân,nhóm, vận động và cả những sinh hoạt của trẻ tại trung tâm Nội dung quan sát chủyếu hướng đến các biểu hiện, hành vi của trẻ ở lớp, sự hướng dẫn giáo viên trongcác hoạt động trị liệu hàng ngày để có cơ sở đánh giá thực trạng những hộ trợ tâm
Trang 39- Khách thể phỏng vấn: Phỏng vấn sâu một số giáo viên, cán bộ quản lý và cha
mẹ trẻ làm rõ hơn các nội dung thu thập được từ phiếu hỏi
- Nội dung phỏng vấn: Phỏng vấn về thực trạng hỗ trợ tâm lý cho trẻ gái rốiloạn PTK ở tuổi dậy thì
- Nguyên tắc phỏng vấn: Cuộc phỏng vấn được tiến hành trong bầu không khíthân thiện, cởi mở, nhằm tạo cho giáo vên, cán bộ quản lý, cha mẹ trẻ tâm trạngthoải mái, tránh đối đầu với khách thể để tạo cho họ cảm giác tin tưởng, thân thiện.Các bước trong quá trình phỏng vấn: thời gian và địa điềm được sắp xếp linhhoạt sao cho phù hợp, thuận tiện nhất cho người được phỏng vấn Khi phỏng vấnquan tâm đến những nội dung sau:
+ Trẻ khóc cười vô cớ vào thời gian nào?
+ Học sinh nhận thức như thế nào về giới tính?
+ Động cơ nào thúc đẩy hành vi không kiểm soát của học sinh?
+ Trong các yếu tố chủ quan và khách quan, yếu tố nào đóng vai trò quantrọng và ảnh hưởng nhiều đến tâm lý của học sinh
Trong các bước này khách thể được trình bày một cách thỏa mái về những vấn
đề người phỏng vấn đặt ra, trong phỏng vấn, phải đưa ra những câu hỏi thích hợpnhất và vào thời điểm thích hợp
2.2.2.3 Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study)
Đây là phương pháp chủ đạo của đề tài Để giải quyết những nhiệm vụ nghiêncứu thực tiễn, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 2 trường hợp trẻ gái trong độ tuổidậy thì tại 2 trung tâm chuyên biệt Thành phố Hà Nội
Phương pháp nghiên cứu trường hợp được tiến hành theo những bước sau:Tìm hiểu thông tin bệnh sử của trẻ từ phía gia đình
Thăm khám, sàng lọc, đánh giá thực trạng mức độ khó khăn tâm lý trong độtuổi dậy thì
Lập kế hoạch can thiệp cho từng cá nhân
Tiến hành can thiệp theo kế hoạch
Lượng giá kết quả can thiệp sau 6 tháng, kết luận về sự thay đổi cảm xúc, hành
vi của trẻ sau khi can thiệp
Trang 40Trao đổi hai chiều với phụ huynh về kết quả đạt được, thực hiện những điềuchỉnh khi cần thiết, lập kế hoạch can thiệp tiếp theo.
Kết luận chung mức độ phát triển cảm xúc, hành vi, tâm lý của từng trươnghợp Đóng hồ sơ trị liệu, quyết định kết thúc quá trình can thiệp
2.3 Công cụ khảo sát.
Để đánh giá đối tượng tham gia, chúng tôi sử dụng thang đo Trắc nghiệmCBCL ( Child Behavior Checklist) tiền thân là bảng tự thuật về hành vi của trẻ YSR( Youth Self – Report ), được thiết kế bởi Achenbach, là thang đo về 8 nhóm sứckhỏe tâm thần, gồm: Lo âu/ trầm cảm (12 items), Thu mình/ trầm cảm ( 8 items),phàn nàn về cơ thể (11 items), vấn đề xã hội ( 11items), vấn đề nhận thức (12items),vấn đề chú ý (9 items), hành vi hung tính ( 18 items), phá bỏ quy tắc ( 15 items) Cóhai phiên bản thang đo CBCL là thang đo dành cho cha mẹ và thang đo dành cho trẻ
tự thuật Đối với thang đo dành cho trẻ, có hai loại là thang đo dành cho trẻ dưới 6tuổi và thang đo dành cho trẻ từ 6 đến 18 tuổi Trong nghiên cứu này tôi sử dụngthang đo dành cho trẻ từ 6 đến 18 tuổi Thang đo gồm 113 biểu hiện được liệt kêtrên mốc thời gian trong vòng 6 tháng tính đến thời điểm làm trắc nghiệm Trongthang đo này mỗi items được đánh giá theo mức độ: Không đúng, Một phần đúngmột phần sai, rất đúng hoặc thường xuyên đúng
Điểm của thang đo được tính theo: Tính tổng điểm các câu hỏi hoặc tính điểmtheo 8 hội chứng: Hành vi xâm kích, vấn đề chú ý, lo âu/ trầm cảm, các vấn đề xãhội, vấn đề phàn nàn về cơ thể, thu mình/trầm cảm, vấn đề tư duy, hành vi vi phạmquy tắc Điểm thang đo được tính theo hệ số điểm T với điểm trung bình chungtrong dân số là 50 và độ lệch chuẩn là 10 Ở thang đo các vấn đề sức khỏe tâm thầnnói chung, điểm chuẩn T dưới 60 điểm được cho là bình thường Những giá trị Tquá nhỏ, dưới 30 và nằm trong khoảng 60 đến 63 điểm được cho là có nguy cơ cóvấn đề sức khỏe tâm thần khác Điểm thang lâm sàng cũng được tính theo hệ sốđiểm T với điểm trung bình chung trong dân số là 50 và độ lệch chuẩn là 10 Vớicác vấn đề hướng nội, hướng ngoại, giá trị T từ 60 đến 63 điểm được cho là trongkhoảng ranh giới Khi T nằm dưới 60 điểm được cho là bình thường Khi T lớn hơn
63 điểm được xem là có vấn đề ( mức rối loạn)