Chương 2 : Tổng quan tài liệu : Trình bày kết quả rà soát tổng hợp các y văn về các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu, thực trạng các vấn đề sức khỏe thường gặp trong công nhân môi trườ
Trang 1BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
BÁO CÁO TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
ĐỀ TÀI CẤP THÀNH PHỐ
Nhiệm vụ THỰC TRẠNG SỨC KHOẺ, CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN NGHỀ NGHIỆP CỦA CÔNG NHÂN NGÀNH MÔI TRƯỜNG ĐÔ THỊ HÀ NỘI
VÀ GIẢI PHÁP CAN THIỆP
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thúy Quỳnh
Cấp quản lý: Thành phố
Mã số đề tài (nếu có): 01C-08/09-2016-3
Thời gian thực hiện: từ tháng 7/2016 đến tháng 7/2019 Tổng kinh phí thực hiện đề tài 1200 triệu đồng Trong đó: kinh phí SNKH 1200 triệu đồng
Nguồn khác (nếu có) 0 triệu đồng
Hà Nội, 2019
Trang 2BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP THÀNH PHỐ
1 Tên đề tài: Thực trạng sức khoẻ, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải pháp can thiệp
2 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thúy Quỳnh
3 Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng
4 Cơ quan quản lý đề tài: Sở KHCN Hà Nội
5 Phó chủ nhiệm đề tài (nếu có): Không
6 Danh sách nghiên cứu viên:
TT Học hàm, học vị - Họ và Tên Tổ chức công tác Nội dung, CV
chính tham gia
1 TS NguyễnThúy Quỳnh Đại học Y tế công cộng Chủ nhiệm đề tài
2 Ths Trần Thị Thu Thủy Đại học Y tế công cộng Thư ký đề tài
3 Ths Nguyễn Thị Minh Thành Đại học Y tế công cộng Thành viên
4 TS Nguyễn Ngọc Bích Đại học Y tế công cộng Thành viên
5 Ths Phan Văn Tiến Đại học Y tế công cộng Thành viên
6 Ths Đỗ Thị Thu Hà Trung tâm Y tế Cầu Giấy Thành viên
7 Ths Lưu Quốc Toản Đại học Y tế công cộng Thành viên
8 Ths Lê Thị Thu Hà Đại học Y tế công cộng Thành viên
9 Ths Nguyễn Thanh Vân Đại học Y tế công cộng Thành viên
10 Ths Vũ Thái Sơn Đại học Y tế công cộng Thành viên
7 Thư ký đề tài: Ths Trần Thị Thu Thủy
8 Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 7/2016 đến tháng 7/2019
Trang 4MỤC LỤC
MỤC LỤC iv
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH ix
DANH MỤC HỘP ix
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT x
LỜI NÓI ĐẦU xii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tình trạng sức khỏe của công nhân môi trường đô thị 3
1.1.1 Nguy cơ mắc bệnh hô hấp 3
1.1.2 Nguy cơ mắc bệnh da liễu 6
1.1.3 Nguy cơ mắc bệnh cơ xương khớp 7
1.1.4 Nguy cơ mắc các vấn đề tâm lý 10
1.1.5 Nguy cơ bị tai nạn thương tích trong lao động 11
1.1.6 Một số vấn đề sức khỏe khác 12
1.2 Một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến sức khỏe công nhân môi trường đô thị 12 1.2.1 Yếu tố vi khí hậu 13
1.2.2 Yếu tố hóa học 14
1.2.3 Yếu tố sinh học 14
1.2.4 Yếu tố tâm sinh lý ecgonomy 15
1.2.5 Yếu tố gây tai nạn 18
1.3 Các giải pháp can thiệp 19
1.3.1 Các giải pháp trên thế giới và hiệu quả can thiệp 19
1.3.2 Các chế độ cho công nhân môi trường đô thị tại Việt Nam 21
1.3.3 Giới thiệu Mô hình nơi làm việc lành mạnh của WHO 34
1.4 Các công cụ sàng lọc vấn đề sức khỏe 37
1.5 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 38
1.6 Luận giải về việc đặt ra mục tiêu và những nội dung cần nghiên cứu của đề tài 41
2 CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 44
2.1 Đối tượng nghiên cứu 44
Trang 52.3.1 Thiết kế nghiên cứu 45
2.3.2 Điều tra thực trạng sức khỏe 45
2.3.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu can thiệp 46
2.4 Các biến số và chỉ số nghiên cứu 48
2.5 Xây dựng chương trình can thiệp và nội dung can thiệp 50
2.5.1 Nguyên tắc 50
2.5.2 Các bước xây dựng mô hình can thiệp 51
2.5.3 Giám sát thực hiện chương trình can thiệp 53
2.6 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin 54
2.6.1 Mục tiêu 1 và 2: “Đánh giá tình trạng sức khoẻ” và “Điều kiện lao động liên quan đến sức khoẻ của công nhân” 54
2.6.2 Mục tiêu 3: Xây dựng và thử nghiệm chương trình can thiệp 55
2.7 Kiểm soát chất lượng thông tin 55
2.8 Phương pháp xử lý số liệu 56
2.8.1 Thông tin định lượng (mục tiêu 1, 2, 3) 56
2.8.2 Thông tin thứ cấp về khám sức khoẻ 56
2.8.3 Thông tin định tính (mục tiêu 3) 56
2.9 Sai số và hạn chế của nghiên cứu 57
2.10 Đạo đức trong nghiên cứu 57
3 CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 59
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 59
3.1.1 Một số thông tin cá nhân của công nhân MTĐT 59
3.1.2 Đặc điểm về điều kiện sống và kinh tế 60
3.1.3 Đặc điểm về hành vi sức khỏe 63
3.2 Thực trạng sức khỏe công nhân MTĐT Hà Nội 65
3.2.1 Thực trạng sức khỏe qua số liệu khám sức khỏe định kỳ 65
3.2.2 Thực trạng sức khoẻ đánh giá qua cảm nhận của công nhân 68
3.2.3 Một số vấn đề sức khỏe đặc thù nghề nghiệp của công nhân MTĐT 77
3.3 Thực trạng điều kiện lao động của công nhân MTĐT Hà Nội 79
3.3.1 Các yếu tố về môi trường làm việc 79
3.3.2 Các yếu tố về tổ chức lao động 84
3.3.3 Tư thế lao động và mối liên quan đến sức khoẻ của công nhân 85
3.3.4 Thực trạng sử dụng thiết bị bảo hộ lao động của công nhân 88
3.4 Thử nghiệm và đánh giá chương trình can thiệp 93
3.4.1 Đặc điểm chung của công nhân tham gia chương trình can thiệp 93
Trang 63.4.2 Kết quả thực hiện chương trình can thiệp 96
4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 115
4.1 Kết luận 115
4.2 Khuyến nghị 116
4.2.1 Đối với công ty mô trường đô thị 116
4.2.2 Đối với công nhân môi trường đô thị: 117
4.2.3 Đối với CDC Hà Nội và TTYT các quận/huyện 117
LỜI CÁM ƠN 118
5 PHỤ LỤC 126
Phụ lục 1: Bản hướng dẫn thảo luận nhóm tập trung 126
Phụ lục 2: Phương pháp đánh giá một số vấn đề sức khỏe đặc thù theo thang đo quốc tế130 Phụ lục 3: Các bộ công cụ điều tra của nghiên cứu 132
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1-1 Quy định bảo hộ lao động bắt buộc đối với công nhân MTĐT 23
Bảng 1-2: Quy định tổng hợp công việc nặng nhọc, độc hại của ngành Vệ sinh môi trường và văn bản tham chiếu 27
Bảng 2-1: Cơ cấu nhân sự công ty URENCO MTV Hà Nội 40
Bảng 3-1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của công nhân MTĐT 59
Bảng 3-2 Tình trạng hôn nhân và gia đình của công nhân MTĐT 60
Bảng 3-3 Đặc điểm về điều kiện sống của công nhân MTĐT 60
Bảng 3-4 Điều kiện kinh tế của công nhân MTĐT 62
Bảng 3-5 Thực trạng hút thuốc lá ở công nhân MTĐT 63
Bảng 3-6 Thực trạng uống rượu/ bia ở công nhân MTĐT 63
Bảng 3-7 Kết quả phân loại sức khỏe của công nhân tại các chi nhánh URENCO tham gia nghên cứu năm 2013-2014 65
Bảng 3-8 Kết quả khám định kỳ tại các chi nhánh URENCO tham gia nghiên cứu năm 2013-2014 66
Bảng 3-9 Kết quả phân loại sức khỏe của công nhân ở tất cả các chi nhánh công ty URENCO năm 2016 67
Bảng 3-10 Kết quả khám định kỳ của tất cả các chi nhánh tại công ty URENCO năm 2016 68
Bảng 3-11 Triệu chứng sức khỏe sau ca làm việc của công nhân MTĐT 68
Bảng 3-12 Tỷ lệ công nhân có ít nhất một triệu chứng sau ca làm việc 71
Bảng 3-13 Mức độ của các triệu chứng sau ca làm việc 73
Bảng 3-14 Tỷ lệ mắc bệnh mạn tính trong 12 tháng trước nghiên cứu 74
Bảng 3-15 Tỷ lệ công nhân bị TNLĐ trong 12 tháng trước nghiên cứu 76
Bảng 3-16 Mức độ nguy cơ bị rối loạn cơ xương khớp mạn tính của công nhân MTĐT đánh giá qua thang điểm Orebro 77
Bảng 3-17 Tỷ lệ công nhân có dấu hiệu hô hấp mạn tính 78
Bảng 3-18 Mức độ tiếp xúc các yếu tố tác hại trong môi trường làm việc của công nhân MTĐT 79
Bảng 3-19 Mức độ ảnh hưởng sức khoẻ của các yếu tố tác hại trong môi trường làm việc theo cảm nhận của công nhân MTĐT 82
Bảng 3-20 Thông tin về cách tổ chức lao động của công nhân MTĐT 84
Trang 8Bảng 3-21 Tỷ lệ công nhân có tư thế lao động bất lợi theo thời gian 85
Bảng 3-22 Trang bị bảo hộ cá nhân được cấp của công nhân 89
Bảng 3-23 Đánh giá của công nhân về các trang bị bảo hộ cá nhân được cấp 90
Bảng 3-24 Mối liên hệ giữa cường độ lao động và triệu chứng đau sau ca………….93
Bảng 3-25.Mối liên hệ giữa các yếu tố liên quan sức khỏe với ít nhất một triệu chứng hô hấp theo ATS của CNMTĐT……… 94
Bảng 3-26 Một số đặc điểm nhân khẩu học của công nhân……….96
Bảng 3-27 Thông tin về công việc hiện tại của công nhân MTĐT ……….96
Bảng 3-28 Danh mục các tài liệu can thiệp được xây dựng……… 101
Bảng 3-29 Kết quả đào tạo tập huấn và truyền thông cho công nhân………109
Bảng 3-30 Kết quả các hoạt động can thiệp tại các tổ………110
Bảng 3-31 Tỷ lệ hiểu biết của công nhân về một số yếu tố tác hại nghề nghiệp trước và sau can thiệp ……… 112
Bảng 3-32 Chỉ số hiệu quả can thiệp (CSHQCT) liên quan đến kiến thức về yếu tố tác hại nghề nghiệp của công nhân trước và sau can thiệp ……… 114
Bảng 3-33 Hiểu biết trước và sau can thiệp về các vấn đề sức khỏe do yếu tố có hại………115
Bảng 3-34 Hiệu quả can thiệp Kiến thức của công nhân về các vấn đề sức khỏe do yếu tố có hại ……… 117
Bảng 3-35 Hiệu quả can thiệp Kiến thức của công nhân về các vấn đề sức khỏe do yếu tố có hại ……… …118
Bảng 3-36 Hiệu quả can thiệp Kiến thức về Bảo hộ lao động……… 120
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2-1: : Mô hình nơi làm việc lành mạnh 35
Hình 2-1: Khung lý thuyết của nghiên cứu 43
Hình 4-1 Tỷ lệ tập thể dục của công nhân MTĐT 64
Hình 4-2 Phân bố nguyên nhân TNLĐ trong tổng số công nhân bị TNLĐ 76
Hình 4-3 Thực trạng sử dụng đầy đủ các trang bị bảo hộ cá nhân được cấp 90
Hình 4-4 Sơ đồ hệ thống chăm sóc sức khỏe người lao động doanh nghiệp 96
DANH MỤC HỘP Hộp 4-1 Tài liệu Hướng dẫn chăm sóc sức khỏe công nhân 100
Hộp 4-2 Tờ gấp dự phòng rối loạn cơ xương khớp cho công nhân môi trường đô thị 100
Hộp 4-3 Tờ gấp dự phòng bệnh hô hấp cho công nhân môi trường đô thị 101
Hộp 4-4 Tờ gấp dự phòng say nắng, say nóng cho công nhân môi trường đô thị 101
Hộp 4-5 Tờ gấp dự phòng tổn thương do vật sắc nhọn 102
Hộp 4-6 Tờ gấp dự phòng tai nạn giao thông 102
Hộp 4-7 Dự phòng rối loạn cơ xương khớp ở công nhân môi trường đô thị 103
Hộp 4-8 Dự phòng tổn thương vật sắc nhọn và cách xử lý 103
Hộp 4-9 Dự phòng bệnh đường hô hấp ở công nhân môi trường đô thị 103
Hộp 4-10 Dự phòng tai nạn giao thông ở công nhân môi trường đô thị 104
Hộp 4-11 Dự phòng tai nạn giao thông ở công nhân môi trường đô thị 104
Hộp 4-12 Tài liệu hướng dẫn triển khai sử dụng Bảng kiểm tư thế lao động 104
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSLĐ An toàn vệ sinh lao động
BHLĐ Bảo hộ lao động
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
HQCT Hiệu quả can thiệp
HTTV Hội thảo tham vấn
ILO Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization) KSK Khám sức khỏe
MTĐT Môi trường đô thị
MTLĐ Môi trường lao động
NLĐ Người lao động
PTTH Phổ thông trung học
RLCXKNN Rối loạn cơ xương khớp nghề nghiệp
TB/ĐLC Trung bình/ Độ lệch chuẩn
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
TGCTRĐT Thu gom chất thải rắn đô thị
THCS Trung học cơ sở
THNN Tác hại nghề nghiệp
Trang 11TNTT Tai nạn thương tích
TTYT Trung tâm y tế
URENCO Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên Môi trường Đô thị
Hà Nội VSN Vật sắc nhọn
VSV Vi sinh vật
WHO Tổ chức y tế thế thới (World Health Organization)
Trang 12LỜI NÓI ĐẦU
Quản lý chất thải rắn đô thị là một trong những vấn đề môi trường nổi cộm trong nhiều năm qua Theo thống kê, lượng chất thải sinh hoạt phát sinh ở khu vực đô thị khoảng 38.000 tấn/ngày với mức gia tăng trung bình 12% mỗi năm Chất thải rắn (CTR) sinh hoạt đô thị có tỷ lệ hữu cơ vào khoảng 54 - 77%, chất thải có thể tái chế (thành phần nhựa và kim loại) chiếm khoảng 8 - 18% Chất thải nguy hại còn bị thải lẫn vào chất thải sinh hoạt mang đến bãi chôn lấp là 0,02 ÷ 0,82% CTR y tế phát sinh
là 600 tấn/ngày với mức độ gia tăng khoảng 7,6% mỗi năm Đối với CTR công nghiệp khu vực đô thị, hiện chưa có thống kê con số cụ thể nhưng ước tính khối lượng CTR công nghiệp phát sinh trong các khu vực đô thị khá cao, tập trung ở các ngành cơ khí, dệt may, da giầy và thực phẩm Ước tính lượng chất thải nguy hại trong CTR công nghiệp chiếm tỷ lệ khoảng 20 - 30%
Trong những năm gần đây, công tác phân loại, thu gom và xử lý CTR đã đạt được những kết quả nhất định Tỷ lệ thu gom và xử lý CTR sinh hoạt trung bình đạt khoảng 85% vào năm 2014 và tăng lên 85,3% trong năm 2015 Công nghệ xử lý CTR sinh hoạt phổ biến là chôn lấp, ủ phân hữu cơ và đốt Tại khu vực đô thị, tỷ lệ CTR sinh hoạt được chôn lấp trực tiếp khoảng 34%, tỷ lệ CTR sinh hoạt được tái chế tại các
cơ sở xử lý đạt khoảng 42% và lượng CTR còn lại là bãi thải của quá trình xử lý được chôn lấp chiếm khoảng 24% Công nhân môi trường đô thị là lực lượng đóng góp tạo nên sự thay đổi tích cực ấy
Công nhân môi trường đô thị, nhất là những người làm nghề thu gom rác, làm việc trong môi trường có nguy cơ nhiễm bệnh rất cao Người quét rác sẽ phải đối mặt với nhiều loại bệnh nguy hiểm liên quan đến hô hấp và tiêu hóa; thậm chí phải đối mặt với các bệnh nguy hiểm như HIV/AIDS và các bệnh truyền nhiễm khác nếu tiếp xúc với những vật dụng lây bệnh như: kim tiêm, ống chích Cùng với đó, công việc này đòi hỏi nhiều hoạt động thể lực cao, động tác lặp đi lặp lại, tất cả những yếu tố tác hại này đều gây nên những ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lao động dẫn đến phát sinh bệnh nghề nghiệp Các rủi ro nghề nghiệp với người lao động có thể xảy ra ở tất cả các bước trong quá trình quản lý rác thải, từ thu gom rác thải tại hộ gia đình tới khi vận chuyển đến địa điểm tái chế hoặc tiêu hủy Tất cả những yếu tố tác hại này đều có tác động
Trang 13Trước tình hình đó, đề tài “Thực trạng sức khoẻ, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải pháp can thiệp” được thực hiện nhằm mô tả tình trạng sức khỏe của công nhân môi trường đô thị, điều kiện lao động liên quan đến sức khỏe và đề xuất một số giải pháp can thiệp nhằm bảo vệ và nâng cáo sức khỏe cho công nhân
Báo cáo bao gồm 5 chương chính và phụ lục với các nội dung như sau:
1 Chương 1: Đặt vấn đề : Nêu rõ tính cấp thiết và lý do thực hiện đề tài và mục tiêu của đề tài
2 Chương 2 : Tổng quan tài liệu : Trình bày kết quả rà soát tổng hợp các y văn về các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu, thực trạng các vấn đề sức khỏe thường gặp trong công nhân môi trường đô thị, điều kiện lao động đặc thù và các giải pháp ATVSLĐ hiện có có thể áp dụng cải thiện và bảo vệ sức khỏe công nhân
3 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu áp dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là điều tra dịch tễ học để mô tả thực trạng sức khỏe và điều kiện lao động đáp ứng mục tiêu 1, và phương pháp can thiệp đánh giá trước sau
có đối chứng nhằm thử nghiệm mô hình tại nơi làm việc an toàn cho các tổ thu gom rác Nghiên cứu tập trung vào các công nhân thu gom rác thải của một số đơn vị trên địa bàn Hà Nội, áp dụng các bộ công cụ quốc tế đánh giá một số vấn
đề sức khỏe đặc thù (Rối loạn cơ xương khớp, hô hấp mạn tính), các phương pháp thông kê phù hợp để đảm bảo tính khoa học của kết quả
4 Chương 4 : Kết quả và bàn luận : Các kết quả của nghiên cứu được trình bày thành 3 phần theo 3 mục tiêu Phần 1 về thực trạng sức khỏe công nhân bao gồm các triệu chứng sau ca, bệnh mạn tính, tai nạn lao động, các vấn đề cơ xương khớp và hô hấp mạn tính và kết quả khám sức khỏe định kỳ Phần 2 mô
tả đánh giá chủ quan của công nhân về điều kiện lao động của họ, các yếu tố tác hại nghề nghiệp và mức độ tiếp xúc trong lao động, các tư thế lao động bất lợi, v.v Và phần 3 mô tả kết quả chương trình can thiệp, các sản phẩm truyền thông
đề tài xây dựng và hiệu quả lên kiến thức, thực hành ATVSLĐ của công nhân
5 Chương 5 : Kết luận và khuyến nghị : Phần này đề cập đến những kết quả chính, nổi bật của nghiên cứu về các vấn đề sức khỏe, điều kiện lao động và hiệu quả can thiệp Từ đó, làm cơ sở đưa ra các khuyến nghị phù hợp cho các
Trang 14bên liên quan trong công tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho công nhân môi trường đô thị
Trang 15ĐẶT VẤN ĐỀ
Bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, quá trình đô thị hóa nhanh chóng đã
và đang tạo ra những vấn đề y tế công cộng liên quan đến chất lượng môi trường sống, trong đó có vấn đề rác thải đô thị Theo một số tác giả trên thế giới đã dự báo, đến năm
2025, khối lượng chất thải đô thị toàn cầu sẽ tăng lên gấp đôi mỗi ngày [1], [2] Tại Việt Nam, theo báo cáo môi trường quốc gia 2011, từ năm 2003 đến năm 2008, chất thải rắn sinh hoạt đô thị tăng trên 200% và còn tiếp tục gia tăng trong thời gian tới [3]
Với ước tính tốc độ đô thị hóa của Việt Nam trong giai đoạn 2015-2020 là 3,1% thì tốc độ phát sinh chất thải được dự tính sẽ tăng khoảng 8-10% mỗi năm [4] Trong khi đó, khác với các nước phát triển, hầu hết quá trình làm sạch đường phố đã được cơ giới hóa, ở nước ta với nguồn lực hạn chế thì quá trình làm sạch đường phố chủ yếu được thực hiện bằng sức người với các trang thiết bị thô sơ (chổi, xẻng, xe đẩy,.) [5]
Do đó, có thể thấy, chất thải đô thị phát sinh càng nhiều thì càng tạo áp lực lớn đối với các công ty môi trường đô thị nói chung và đối với công nhân môi trường đô thị nói riêng Mặt khác, tình trạng chất thải không được phân loại đúng tại nguồn, không được
xử lý ban đầu một cách phù hợp, khiến công nhân môi trường đô thị phải tiếp xúc trực tiếp với bụi bẩn, các sinh vật lây nhiễm và các hoá chất độc hại trong môi trường lao động [6], [7] Bên cạnh đó, một số điều kiện lao động đặc thù như phải làm việc ngoài trời, trên đường phố trong mọi điều kiện thời tiết, làm ca đêm liên tục, không có ngày nghỉ lễ,… cũng tạo ra những nguy cơ sức khoẻ rất cần được quan tâm đối với công nhân môi trường đô thị
Với số lượng các nghiên cứu về tình trạng sức khoẻ và điều kiện lao động của công nhân môi trường đô thị ở Việt Nam còn ít, nghiên cứu “Thực trạng sức khoẻ, các yếu tố liên quan nghề nghiệp của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội và giải
pháp can thiệp” là cần thiết để trả lời các câu hỏi: Thực trạng sức khoẻ của công nhân
môi trường đô thị Hà Nội hiện nay như thế nào? Những nguy cơ sức khoẻ nào thường gặp ở công nhân môi trường đô thị? Những yếu tố liên quan đến nghề nghiệp nào ảnh hưởng đến sức khoẻ công nhân môi trường đô thị?, qua đó cung cấp số liệu và đề xuất
các giải pháp can thiệp cho các nhà quản lý doanh nghiệp, các nhà quản lý y tế, các nhà hoạch định chính sách liên quan đến sức khoẻ nghề nghiệp nhằm bảo vệ và nâng cao sức khoẻ công nhân môi trường đô thị
Trang 16Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng sức khoẻ của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội 2017)
(2016-2 Phân tích một số yếu tố liên quan nghề nghiệp đối với sức khoẻ của công nhân ngành môi trường đô thị Hà Nội
3 Đề xuất và thử nghiệm giải pháp can thiệp
Trang 171 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tình trạng sức khỏe của công nhân môi trường đô thị
Công nhân môi trường là xương sống của hệ thống vệ sinh của bất kỳ xã hội nào Tại các nước phát triển, hầu hết các quá trình làm sạch đường phố đã được cơ giới hóa, tuy nhiên tại nước đang phát triển, như Ấn Độ hoặc Việt Nam, với nguồn lực hạn chế, hầu hết các quá trình làm sạch trên địa bàn đô thị vẫn được thực hiện bằng sức người Ngoài ra, với tình trạng rác thải không được phân loại tại nguồn, không được
xử lý ban đầu một cách phù hợp, công nhân môi trường đô thị phải trực tiếp tiếp xúc với bụi bẩn, các sinh vật lây nhiễm, hoá chất, phân động vật, và vật sắc nhọn Những yếu tố này khiến cho công nhân có nguy cơ cao mắc phải những vấn đề về da, tiêu hóa, hô hấp và chấn thương [8], [5]
1.1.1 Nguy cơ mắc bệnh hô hấp
Theo kết quả nghiên cứu tại Calcutta cho thấy tỷ lệ bị các bệnh về đường hô hấp ở công nhân Thu gom chất thải rắn đô thị (TGCTRĐT) là 71%, trong khi trong nhóm đối chứng, tỷ lệ mắc các bệnh về đường hô hấp chỉ chiếm 34% Trong nghiên cứu của tác giả Hala Samir Abou-AlWafa tại Ai Cập, 25% nhóm công nhân thu gom CTR bị các bệnh về đường hô hấp, cao hơn hẳn so với nhóm công nhân dịch vụ (12,2%) [9] Trong khi đó, theo nghiên cứu của tác giả Thayyil là 7,78% [10], nghiên cứu của Diggika U A tại Pune cũng phát hiện tỷ lệ bị các bệnh về đường hô hấp ở công nhân quét rác đường phố cao hơn với nhóm so sánh là nhân viên văn phòng [11]
Các nghiên cứu cũng cho thấy các bệnh đường hô hấp thường gặp trong công nhân TGCTRĐT là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, viêm phế quản mạn tính, hen phế quản, nhiễm trùng đường hô hấp tái phát, nhiễm trùng đường hô hấp trên, bệnh hô hấp mạn tính
Kết quả nhiều nghiên cứu khác nhau tại các quốc gia trong nhóm công nhân
TGCTRĐT cho thấy có sự suy giảm một số chỉ số về chức năng phổi Tác giả Smilee
Johncy S và các cộng sự nghiên cứu tại Ấn Độ trong nhóm chứng và công nhân trước
và sau khi quét rác cho thấy thông khí phổi giảm đáng kể ở công nhân quét rác so với nhóm chứng, cho thấy bệnh phổi hạn chế và tắc nghẽn phổi ở công nhân quét rác có thể là do hít phải hỗn hợp bụi, tác nhân gây ảnh hưởng đến đường hô hấp theo nhiều
Trang 18rác tại Tây Ban Nha cũng cho thấy nhóm công nhân này có nguy cơ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [13] Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính cũng được tìm thấy trong nghiên cứu của tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ, với 22,1% công nhân có dấu hiệu bị bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính [14] Nghiên cứu của tác giả Nku CO và cộng sự trên nữ công nhân quét rác đường phố tại Nigeria cho thấy tất cả các giá trị chức năng phổi đều giảm một cách rõ ràng, mặc dù không có ý nghĩa thống kê [15] Trong nghiên cứu được thực hiện trên những công nhân làm việc tại bãi đổ rác tại Chennai, Ấn Độ, chức năng phổi của công nhân quét rác giảm đáng kể so với những người khuân vác và những người lái xe, công nhân nữ có giá trị chức năng phổi thấp hơn đáng kể so với công nhân nam, chức năng phổi của công nhân thấp hơn so với những người dân sống gần bãi đổ rác [16] Tác giả Yanhong Gong và cộng sự đã theo dõi chức năng phổi của
30 công nhân MTĐT và 30 giáo viên trong thành phố thuộc tỉnh Fujian, Trung Quốc trong vòng 10 năm, kết quả cho thấy, tất cả các giá trị đo chức năng phổi ở công nhân TGCTRĐT đều giảm đáng kể so với nhóm giáo viên sau 10 năm theo dõi, các chỉ số giảm ở công nhân nam nhiều hơn so với công nhân nữ, chức năng phổi ở công nhân tương quan nghịch với thời gian làm việc của họ [17] Các nghiên cứu trên đều cho thấy, giá trị đo chức năng phổi của công nhân TGCTRĐT đô thị bị giảm rõ rệt, thời gian làm việc càng lâu thì chức năng phổi càng yếu
Bệnh viêm phế quản mạn tính là một trong những bệnh dẫn tới các dấu hiệu
bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính Trong nghiên cứu của tác giả Yogesh D Sabde tại thành phố Nagpur, Ấn Độ cho thấy 5,9% công nhân TGCTRĐT bị bệnh viêm phế quản mạn tính, nhóm công nhân quét rác đường phố bị bệnh viêm phế quản mạn tính cao hơn đáng kể so với nhóm chứng (OR=4,2; p<0,05) [18]
Hen phế quản cũng là một trong những bệnh dẫn tới dấu hiệu tắc nghẽn mạn
tính của phổi Theo nghiên cứu của tác giả Yogesh D Sabde tại thành phố Nagpur, Ấn
Độ cho thấy 1,8% công nhân TGCTRĐT mắc hen phế quản, cao hơn nhiều so với nhóm chứng (0,7%) [18] Hen phế quản cũng được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Isa Halim tại Thổ Nhĩ Kỳ với tỷ lệ là 2,8% [14] Nghiên cứu của tác giả Raaschou-Nielsen O qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi cho thấy có 3,66% công nhân MTĐT được chẩn đoán có thể bị hen phế quản, tỷ lệ công nhân làm sạch đường phố tại thành phố
Trang 19bệnh viêm phế quản mạn tính và bệnh hen phế quản là do công nhân phải tiếp xúc với bụi và các chất độc hại từ phương tiện giao thông cao hơn so với TCCP [20]
Nhiễm trùng đường hô hấp trên là một nhiễm trùng đường hô hấp thường gặp
trong công nhân TGCTRĐT Kết quả nghiên cứu của tác giả Yogesh D Sabde tại thành phố Nagpur, Ấn Độ cho thấy có 7,3% công nhân TGCTRĐT bị nhiễm trùng đường hô hấp trên ; 8,1% công nhân bị bệnh hô hấp mạn tính, cao gấp 3,8 lần so với nhóm chứng là nhân viên văn phòng (p<0,05) [21] Trong nghiên cứu của tác giả Diggikar U A tại thành phố Pune, Ấn Độ, 10,2% công nhân TGCTRĐT bị nhiễm trùng đường hô hấp tái phát được phát hiện [11]
Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra một số triệu chứng về bệnh hô hấp mà công nhân TGCTRĐT thường mắc phải như ho, khó thở, thở khò khè, khô mũi, viêm mũi, viêm xoang, tức ngực, đau họng, đau đầu, có đờm và hắt hơi
Triệu chứng khó thở ở công nhân TGCTRĐT được phát hiện trong nhiều nghiên cứu, 11,7% công nhân TGCTRĐT bị khó thở trong nghiên cứu của tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ [22], nghiên cứu của tác giả Hala S A tại Ai Cập (12%) [9], nghiên cứu của tác giả Tandon R tại Ai Cập (26%) [23], nghiên cứu của tác giả Mariammal tại Ấn Độ (31,7%) [24] Tỷ lệ công nhân bị khó thở trong nghiên cứu của tác giả Mariammal cao hơn nhiều so với các nghiên cứu còn lại, có thể giải thích là do đối tượng nghiên cứu là những công nhân làm việc trên 15 năm, qua đó có thể cho thấy thời gian làm việc tỷ lệ thuận với triệu chứng khó thở ở công nhân [24]
Tác giả Prisca S tiến hành nghiên cứu trên 102 công nhân TGCTRĐT và 85 người bán rau cho thấy tỷ lệ công nhân TGCTRĐT bị thở khò khè cao hơn rất nhiều so với nhóm người bán rau (32,4% so với 14,1%) [25] Nghiên cứu của tác giả Mariammal tại Ấn Độ cũng cho thấy nhóm công nhân TGCTRĐT có tỷ lệ thở khò khè cao hơn nhiều so với nhóm công nhân xây dựng (31,7% so với 15%) [24]
Có đến 25% công nhân TGCTRĐT bị ho được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Tandon R tại Ấn Độ [23] 14,2% công nhân bị ho kéo dài được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ [22] Tác giả Nayera S tiến hành
so sánh nhóm công nhân TGCTRĐT và nhóm chứng cho thấy, tỷ lệ công nhân TGCTRĐT có triệu chứng ho cao hơn so với nhóm chứng (17,5% so với 5,8%) [26] Triệu chứng ho ở công nhân TGCTRĐT cao hơn so với nhân viên văn phòng cũng
Trang 20được tìm thấy trong nghiên cứu của tác giả Ewis AA tại Ai Cập (18,1% so với 7,1%) [27] Nghiên cứu của tác giả Prisca S cũng cho thấy công nhân TGCTRĐT có triệu chứng ho cao hơn so với những người bán rau (54,9% so với 12,9%) [25]
Công nhân TGCTRĐT thường gặp phải các triệu chứng về mũi như viêm mũi, tắc nghẽn mũi, viêm xoang, mũi khó chịu, chảy nước mũi, sổ mũi 2,5% công nhân TGCTRĐT bị tắc nghẽn mũi được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Hala Samir tại Ai Cập [9] 33% công nhân TGCTRĐT bị viêm mũi trong nghiên cứu của tác giả Athanasiou M tại Ấn Độ, cao hơn so với nhóm chứng (27%) [28] 36,3% công nhân TGCTRĐT có triệu chứng mũi khó chịu được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Prisca S, cao hơn rất nhiều so với nhóm người bán rau (4,7%) [25] Tác giả Mariammal tiến hành nghiên cứu trên công nhân TGCTRĐT so với công nhân xây dựng làm việc trên 15 năm cho thấy công nhân thường gặp các triệu chứng như viêm xoang (60% so với 40%), chảy nước mũi (17,3% so với 10%) và sổ mũi (14,3% so với 30%) [24]
Ngoài các triệu chứng trên, công nhân TGCTRĐT còn gặp phải các triệu chứng như tức ngực, viêm họng, đau đầu, có đờm và hắt hơi Có 14,2% công nhân TGCTRĐT bị tức ngực kéo dài 1 năm được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Halim Issever tại Thổ Nhĩ Kỳ [22] Tác giả Athanasiou M phát hiện các triệu chứng ở công nhân TGCTRĐT và nhóm chứng tại Ấn Độ là viêm họng (17% so với 8%, p<0,05) và đau đầu (36% so với 33%) [28] Tác giả Prisca S tiến hành nghiên cứu trên công nhân TGCTRĐT và người bán rau cho thấy công nhân bị các triệu chứng hô hấp như có đờm (39,2% so với 7,1%) và hắt hơi (63,7% so với 8,2%) [25]
1.1.2 Nguy cơ mắc bệnh da liễu
Công nhân vệ sinh đường phố đặc biệt dễ bị một loạt các vấn đề về da do đặc điểm nghề nghiệp của họ Nguy cơ của vấn đề này là do làm việc ngoài trời trong thời gian dài và tiếp xúc với những vi sinh vật (VSV), hóa chất, chất thải của con người và động vật, cũng như các vật sắc nhọn (VSN) Các triệu chứng về bệnh về da thường gặp là khô da, nứt nẻ, sẩn ngứa, viêm da, chàm, dị ứng, nấm…
Theo nghiên cứu của Sudhir Nayak năm 2013 tại Ấn Độ, trên đối tượng công
Trang 21và nhiệt độ cao Một lý do khác có thể là vệ sinh cá nhân kém dẫn đến các vấn đề về ghẻ, ngứa, mụn nhọt Những trường hợp sạm da, viêm da vùng mặt nhấn mạnh sự cần thiết của việc sử dụng các biện pháp bảo vệ khi làm công việc ngoài trời Nghiên cứu cũng cho thấy điều kiện kinh tế xã hội thấp của những công nhân MTĐT cũng gây nên tình trạng dinh dưỡng kém khiến họ dễ bị mắc các bệnh khác nhau [29]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Ngô Minh Phương trên nữ công nhân MTĐT từ năm
1998 cho thấy hầu hết 100% công nhân quét rác và quét dọn vệ sinh công cộng gặp phải các bệnh về da [30] Kết quả này cũng tương đồng với nghiên cứu của Đoàn Tuyết Nhung năm 1995 trong nghiên cứu đối chứng giữa công nhân trực tiếp thu gom rác và công nhân khối văn phòng làm đối chứng Nghiên cứu 2172 hồ sơ sức khỏe của công nhân trực tiếp thu gom rác và 111 hồ sơ sức khỏe công nhân khối văn phòng cho thấy tỷ lệ nữ công nhân thu gom rác bị dị ứng sẩn ngứa dao động từ 14,8% đến 18,3% trong khi nhóm đối chứng không có trường hợp nào có vấn đề tương tự [31]
1.1.3 Nguy cơ mắc bệnh cơ xương khớp
Các vấn đề sức khỏe liên quan đến cơ xương khớp là một trong những vấn đề sức khỏe phổ biến nhất ở công nhân TGCTRĐT Rối loạn cơ xương khớp nghề nghiệp (RLCXKNN) là những chấn thương và các rối loạn gây cảm giác đau đớn tới cơ bắp, gân và dây thần kinh ; ảnh hưởng đến cử động hoặc hệ thống cơ xương khớp của cơ thể NLĐ [32], [33] Đây là một loạt các tình trạng viêm và thoái hóa ảnh hưởng đến các cơ bắp, gân, dây chằng, khớp, thần kinh ngoại biên và sự lưu thông của mạch máu
; thường tiến triển chậm và kết hợp với cảm giác đau [34], [35], [36] Hội chứng bao gồm các vấn đề như “chấn thương do căng cơ lặp đi lặp lại”, “hội chứng quá sức nghề nghiệp”, “chấn thương lưng”, “viêm xương khớp”, “đau lưng”, “đau thần kinh tọa”,
“trượt đĩa đệm”, “hội chứng ống cổ tay” và một số hội chứng khác Các bệnh toàn thân như viêm khớp dạng thấp, bệnh gout, bệnh lupus và bệnh tiểu đường cũng có thể ảnh hưởng đến hệ cơ xương khớp và thần kinh ngoại vi nhưng không liên quan đến công việc nên không thuộc nhóm này [34]
Yêu cầu lao động thể lực cao, thời gian làm việc kéo dài và tư thế lao động bất lợi khiến công nhân MTĐT gặp nhiều vấn đề về cơ xương khớp hơn các đối tượng lao động khác, trong đó TGCTRĐT là một trong những công việc có nguy cơ mắc RLCXKNN cao nhất RLCXKNN xuất hiện và tiến triển khi các cơ bắp hoạt động
Trang 22nhiều lần hoặc trong một thời gian dài mà không được nghỉ ngơi Nguy cơ chấn thương sẽ tăng lên nếu lực tác dụng lớn hoặc công nhân phải làm việc trong tư thế bất lợi Hầu hết RLCXKNN liên quan đến công việc là những rối loạn tích lũy, do phơi nhiễm lặp đi lặp lại với công việc có cường độ cao hoặc thấp trong một thời gian dài, tiến triển từ từ, tích lũy theo thời gian [37] Do hầu như tất cả các công việc đều đòi hỏi việc sử dụng cánh tay và bàn tay, nên RLCXKNN ở chi trên, cổ và vai thường phổ biến hơn RLCXKNN cũng có thể gây ảnh hưởng đến chân, hông, mắt cá chân và bàn chân trong trường hợp điều kiện công việc đòi hỏi sử dụng chân và các khớp chân nhiều [32] RLCXKNN là kết quả của sự kết hợp tổng hòa và tương tác giữa nhiều yếu
tố nguy cơ nêu trên chứ không phải từ một nguy cơ đơn lẻ, tiến triển theo giai đoạn từ nhẹ đến nặng, từ không thoải mái đến đau đớn, từ lúc chỉ xảy ra khi đang làm việc cho đến khi xuất hiện ngay cả khi nghỉ ngơi [32] Các triệu chứng có thể biến mất nhanh chóng sau ca làm việc, sau đó xuất hiện ngày càng dai dẳng, ngay cả khi không làm việc [38]
RLCXKNN xuất hiện và tiến triển khi các cơ bắp hoạt động nhiều lần hoặc trong một thời gian dài mà không được nghỉ ngơi Nguy cơ chấn thương sẽ tăng lên nếu lực tác dụng lớn hoặc công nhân phải làm việc trong tư thế bất lợi Hầu hết RLCXKNN liên quan đến công việc là những rối loạn tích lũy, do phơi nhiễm lặp đi lặp lại với công việc có cường độ cao hoặc thấp trong một thời gian dài [37]
RLCXKNN tiến triển từ từ, tích lũy theo thời gian Hầu như tất cả các công việc đều đòi hỏi việc sử dụng cánh tay và bàn tay Do đó, RLCXKNN ở chi trên, cổ và vai
là phổ biến RLCXKNN cũng có thể gây ảnh hưởng đến chân, hông, mắt cá chân và bàn chân trong trường hợp điều kiện công việc đòi hỏi sử dụng chân và các khớp chân nhiều [39] RLCXKNN là kết quả của sự kết hợp tổng hòa và tương tác giữa nhiều yếu
tố nguy cơ nêu trên chứ không phải từ một nguy cơ đơn lẻ [39]
RLCXKNN tiến triển theo giai đoạn từ nhẹ đến nặng, từ không thoải mái đến đau đớn, từ lúc chỉ xảy ra khi đang làm việc cho đến khi xuất hiện ngay cả khi nghỉ ngơi Các triệu chứng có thể biến mất nhanh chóng sau ca làm việc, sau đó xuất hiện ngày càng dai dẳng ngay cả khi không làm việc [40] Có 3 giai đoạn tiến triển RLCXKNN
là giai đoạn sớm, giai đoạn trung gian và giai đoạn cuối [39], [40] Mỗi cá nhân có thể
Trang 23RLCXKNN không đe dọa tính mạng nhưng có thể làm suy giảm chức năng của
cơ thể, gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người lao động [41] Việc suy giảm chức năng của cơ thể khiến cho người lao động gặp khó khăn khi thực hiện những sinh hoạt cơ bản nhất [34] RLCXKNN có thể khiến người lao động phải thay đổi công việc hoặc không thể lao động được nữa [41] RLCXKNN còn gây ra những khoản chi phí cao cho lao động như vắng mặt, mất năng suất, tàn tật, tăng các chi phí
về chăm sóc sức khỏe và bồi thường lao động [42] RLCXKNN được báo cáo là chiếm khoảng một phần năm tổng trường hợp nghỉ ốm của người lao động trong ngành công nghiệp rác thải [43], [44]
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy tỷ lệ công nhân TGCTRĐT mắc RLCXKNN khá cao dao động với tỷ lệ khoảng 45%-70% [45], [46], [47], [48], [10] Trong đó, tỷ lệ RLCXKNN ở công nhân TGCTRĐT cao nhất là 72,2% trong nghiên cứu ở Hàn Quốc [46] và 71% tại Ấn Độ [48]
Tùy vào công việc cụ thể, thời gian và mức độ phơi nhiễm khác nhau mà công nhân có các tổn thương RLCXKNN ở những bộ phận khác nhau Kết quả tổng hợp các nghiên cứu cho thấy triệu chứng đau xuất hiện thường xuyên hoặc thỉnh thoảng ở cổ, cánh tay trên, thắt lưng, lưng, mông Số người đau ở chân, đùi, hông là thấp nhất Đặc biệt, đau ở cổ, vai, cánh tay, mông và vùng lưng tăng lên rõ ràng theo độ tuổi [37] Trong số các trường hợp báo cáo, triệu chứng đau vùng lưng và thắt lưng được phản ánh nhiều nhất dao động từ 30%-73% [49], [46], [47], [48] Theo sau đó là các triệu chứng đau chi trên chiếm 39,6% [46], đau vai 37% [48], đau chi dưới 27,4% [46], đau hông 1% [48] Một nghiên cứu cắt ngang tại Ấn Độ năm 2009 cho thấy tỉ lệ mắc RLCXKNN ở các vị trí cổ tay, cổ và đầu gối khá thấp chỉ từ 2-12% [48] Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác tại Ấn Độ và Ghana lại báo cáo kết quả lớn hơn nhiều với tỷ
lệ đau cổ tay chiếm 48,2% [47], đau cổ chiếm 44,7% [47] và đau đầu gối là 39% [10] Bên cạnh các triệu chứng trên, công nhân còn gặp khó khăn khi cử động cánh tay, đầu
và cổ, cử động đầu gối đặc biệt là uốn gối (34%), leo cầu thang và mang vác nặng (18%) Khoảng 54% cảm thấy sự yếu đi của cánh tay, bàn tay, chân và bàn chân [48] Tại Việt Nam, hiện có rất ít nghiên cứu về RLCXKNN ở nhóm công nhân TGCTRĐT được công bố Nghiên cứu của Đoàn Tuyết Nhung (1995) cho thấy khoảng 10% - 20% công nhân quét rác, xúc rác, quét dọn vệ sinh công cộng và thu gom phân
Trang 24nhân viên văn phòng [31]
1.1.4 Nguy cơ mắc các vấn đề tâm lý
Căng thẳng nghề nghiệp là sự tương tác giữa các điều kiện lao động với đặc trưng của người lao động (NLĐ) khiến cho các chức năng bình thường về tâm lý hay sinh lý hoặc cả hai bị thay đổi Nói cách khác căng thẳng nghề nghiệp là những đòi hỏi lao động vượt quá năng lực ứng phó của NLĐ [50] Các nghiên cứu đã kết luận có 3 biểu hiện do căng thẳng gây ra [50] là:
Những rối nhiễu tâm lý do căng thẳng: lo lắng, sợ hãi, cảm giác hụt hẫng, quá
nhạy cảm trong cảm xúc, giảm hiệu quả trong giao tiếp, cảm giác bị xa lánh và ghét
bỏ, mất tập trung, mất tính tự chủ, v.v
Những triệu chứng thực thể: tăng nhịp tim và huyết áp, bệnh đường tiêu hóa (loét
dạ dày, tá tràng), sự mệt mỏi toàn thân, bệnh tim mạch, chứng bệnh về hô hấp, chứng nhức đầu, đau mỏi cơ xương, v.v
Triệu chứng ứng xử: né tránh công việc, tăng lạm dụng rượu và ma túy, chán ăn
và giảm cân đột ngột, các quan hệ với bạn bè và gia đình xấu đi, tự sát và ý định tự sát, v.v
Một nghiên cứu ở Brazil cho thấy có sự rối loạn tâm thần nhẹ xảy ra ở 44,7% công nhân làm việc quét dọn vệ sinh trong các khu phố có mật độ dân trung bình, với các dấu hiệu trầm cảm và lo âu Nghiên cứu của Venkatesh, C.D (2014) đã tập trung vào nữ công nhân quét rác tại Bangalore thuộc bang Karnataka, Ấn Độ về sức khỏe và điều kiện kinh tế của họ Nghiên cứu này chỉ rõ rằng làm công việc thu gom rác, nữ công nhân phải tiếp xúc với các bệnh nhiễm trùng do virus và vi khuẩn có ảnh hưởng đến da, đôi mắt, chân tay, hô hấp và hệ thống tiêu hóa Kết quả nghiên cứu về gánh nặng tâm lý, cho thấy 56,7% nữ công nhân làm công việc thu gom rác bị căng thẳng tâm lý với các biểu hiện lo âu
Kết quả điều tra công nhân vệ sinh môi trường tại Kathmandu, Nepal cho thấy 53,4% công nhân có dấu hiệu căng thẳng tâm lý Nghiên cứu chỉ ra nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến tâm lý người công nhân như tuổi, biến cố trong cuộc sống, khối lượng công việc và sự kỳ thị của xã hội đối với nghề nghiệp, v.v Trong đó, tác giả nhấn
Trang 25thường xuyên phải tiếp xúc với chất bẩn, nguy hiểm
Tại Việt Nam hiện chưa có nhiều nghiên cứu ở nhóm công nhân MTĐT Nghiên cứu của tác giả Ngô Minh Phương (1998) tại Việt Nam cho thấy NLĐ bị giảm dung lượng trí nhớ tức thời sau ca làm việc so với trước ca làm việc từ 26,3%- 34,5% ở công nhân quét và xúc rác, giảm từ 38,1 - 69,9% ở công nhân quét nhà vệ sinh công cộng và thu phân hố xí hai ngăn [30] Kết quả nghiên cứu của Đoàn Tuyết Nhung (1995), tỷ lệ nữ công nhân MTĐT Hà Nội bị căng thẳng tâm lý ở mức độ nhẹ 51,4%, ở mức độ trung bình 24,3% và 2,6% ở mức độ nặng Nghiên cứu đề cập đến nhiều yếu
tố liên quan đến tình trạng này như tuổi tác, tiền lương, thời gian làm việc, v.v Trong
đó, 5 yếu tố đặc thù được nhấn mạnh ở đây là tâm lý nghề, hệ số ca và thời gian ca, thời gian tập trung quan sát, căng thẳng thần kinh tâm lý – xúc cảm trong ca làm việc,
vị trí tư thế lao động và đi lại trong ca [31]
1.1.5 Nguy cơ bị tai nạn thương tích trong lao động
Tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1992-1997, TGCTRĐT đã được xác định là một trong những công việc nguy hiểm nhất [51] Thu gom và tái chế chất thải chiếm hơn 1% tổng số tử vong nghề nghiệp trên toàn nước Mỹ những năm 1992-1997 Trong đó, công nhân TGCTRĐT bị va xe chiếm phần lớn nguyên nhân tử vong, một số khác tử vong do tiếp xúc với thiết bị Theo thống kê của Viện An toàn và Sức khỏe Nghề Nghiệp Quốc Gia Hoa Kỳ (NIOSH) năm 2012, đối tượng bị tai nạn lao động nhiều nhất trong khu vực tư nhân là NLĐ làm trong ngành vận chuyển chất thải như công nhân lái xe tải và công nhân thu gom Tuy chỉ chiếm 46% (162.000) lực lượng lao động nhưng số ngày nghỉ do tai nạn nghề nghiệp và bệnh tật của nhóm này chiếm khoảng 75% tổng số ngày nghỉ của công nhân môi trường năm 2003 [51] Trong giai đoạn từ 2003-2009, các ngành công nghiệp thu gom CTR ghi nhận tổng cộng 599 trường hợp tử vong do tai nạn nghề nghiệp, trung bình 85 trường hợp tử vong mỗi năm [51] Đến năm 2010, TGCTRĐT được đánh giá là công việc nguy hiểm nhất ngày thứ Bảy với tỷ suất tử vong là 30/100.000 công nhân [52]
Cũng tại Mỹ, một nghiên cứu đánh giá định lượng rủi ro được tiến hành tại Florida
đã chỉ ra rằng tỷ lệ thương tích ở người nhặt rác bị các bệnh cơ xương và tổn thương
da đã giảm từ 88 và 15 người/1.000 công nhân (1993-1997) xuống còn 16 và 3 người/1000 công nhân (2005-2012) Tuy nhiên xu hướng này lại có chiều hướng gia
Trang 26tăng đối với nhóm công nhân tái chế chất thải, tỷ lệ nguy cơ bị các bệnh cơ xương và thương tích da đã tăng từ 13 và 4 người/1.000 công nhân (1993-1997) lên 14 và 6 người/1.000 công nhân (2005-2012) Trong 20 năm từ 1992 đến 2012, 43 công nhân
đã tử vong trong khi TGCTRĐT tại New Jersey trong đó có 29 trường hợp tử vong do phương tiện giao thông, 8 trường hợp khi đang thu gom trên đường, 3 trường hợp do
bị kẹt trong xe chở rác [52]
1.1.6 Một số vấn đề sức khỏe khác
Bên cạnh một số vấn đề sức khỏe đặc thù ở trên, công nhân MTĐT nói chung và công nhân TGCTRĐT nói riêng, đặc biệt là công nhân nữ, thường gặp mắc các bệnh tiết niệu, bệnh phụ khoa
Trong nghiên cứu của tác giả Ngô Minh Phương năm 1998 tại Việt Nam, kết quả phỏng vấn sâu với nữ công nhân MTĐT cho thấy do điều kiện làm việc phải đi lại nhiều trên mặt đường trong mọi điều kiện thời tiết bất lợi, khó khăn trong việc vệ sinh
cá nhân như không có nhà vệ sinh lưu động, không có khu thay quần áo, thời gian làm việc ca kíp là những nguyên nhân khiến các nữ công nhân MTĐT dễ mắc các bệnh tiết niệu và phụ khoa [30]
Nghiên cứu của tác giả Đoàn Tuyết Nhung, các bệnh phụ khoa nữ công nhân thường mắc phải là bệnh viêm âm đạo và viêm cổ tử cung (trên 90% số người mắc phụ khoa) Kết quả rà soát 3077 hồ sơ sức khỏe cho thấy tỷ lệ mắc bệnh phụ khoa (viêm
âm đạo và cổ tử cung) ở công nhân MTĐT (từ 30,4% - 30,4%) gấp 4-5 lần so với nhóm nghề đối chứng [31] Cũng trong nghiên cứu này, số ngày nghỉ việc bình quân
do ốm đau của nữ công nhân MTĐT đều cao hơn số ngày nghỉ việc bình quân do ốm đau chung của cả công ty và cao hơn nhiều so với nhóm nữ văn phòng [31] Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho thấy do thường xuyên phải tiếp xúc trực tiếp với rác thải, nước rác nên nguy cơ công nhân bị nhiễm VSV gây bệnh rất cao (tỷ lệ nhiễm giun đũa cao gấp 4,5 lần, nhiễm giun tóc cao gấp 4,1 lần so với cộng đồng nói chung) [31]
1.2 Một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến sức khỏe công nhân môi trường đô thị
Công nhân vệ sinh môi trường đô thị có rất nhiều công việc đa dạng tuy nhiên
Trang 27qua hệ thống ròng rọc Điều kiện lao động đặc thù của ngành là làm việc ngoài trời, trực tiếp tiếp xúc với phân rác, làm ca đêm liên tục, không có sự luân chuyển ca, không có ngày nghỉ lễ, nghỉ tết Ngoài ra, họ cũng phải đối diện với sự mặc cảm nghề nghiệp, sự khinh miệt do thiếu nhận thức đúng đắn của những người ngoài xã hội Mặc khác, mức độ đô thị hóa ngày càng tăng kéo theo sự gia tăng lớn về khối lượng chất thải cần phải giải quyết Trong khi đó, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, chắp vá, thiếu đồng bộ, nhận thức công tác giữ gìn vệ sinh đô thị của người dân còn hạn chế làm tăng đáng kể cường độ làm việc của công nhân vệ sinh môi trường đô thị, ảnh hưởng đến sức khỏe và khả năng làm việc của họ Họ thường làm việc một ca 8 giờ và buổi sáng bắt đầu từ 5 – 6 giờ sáng hoặc ca đêm, bất kể trong thời tiết nào Do môi trường làm việc phải tiếp xúc thường xuyên với chất thải nên công nhân làm trong ngành vệ sinh môi trường đô thị phải thường xuyên tiếp xúc với các yếu tố tác hại nghề nghiệp như bụi bẩn, vi khuẩn, nấm mốc, các loại độc tố, hóa chất, các vật sắc nhọn, bên cạnh đó là nguy cơ tai nạn thương tích gặp phải trong quá trình tham gia thu, gom rác thải, hoặc những tình huống tai nạn ngoài ý muốn do các yếu tố bên ngoài tác động vào [29] Dưới đây là tổng quan một số yếu tố nghề nghiệp liên quan đến sức khoẻ của công nhân TGCTRĐT
1.2.1 Yếu tố vi khí hậu
Do tính chất của công việc, công nhân TGCTRĐT phải làm việc ngoài trời nên chịu ảnh hưởng trực tiếp khí hậu tự nhiên Theo số liệu khí tượng thì ở miền bắc Việt Nam, hàng năm trung bình có khoảng 60-70 ngày không khí lạnh dưới 20°C chiếm khoảng 16%-18% thời gian trong năm, vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 1-5°C, khoảng 65-75 ngày không khí nóng từ 32°C -37°C và trên 37°C chiếm khoảng 17-19% thời gian trong năm (vượt TCCP từ 2°C-7°C) Như vậy, hàng năm, công nhân TGCTRĐT ở Hà Nội phải làm việc trong điều kiện nhiệt độ vượt TCCP khoảng 33%-37% thời gian trong năm, chưa kể đến những đợt Gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống 5°C-10°C hay mưa bão, rét buốt, công nhân vẫn phải làm việc đến 1-2 giờ sáng hôm sau Điều này khiến cho công nhân dễ mắc phải các triệu chứng như đau đầu, say nắng, cảm lạnh, v.v Mặt khác, trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, độ ẩm, tốc độ gió gây cản trở lớn đến sự tản nhiệt của cơ thể, đôi khi về mùa đông tốc độ gió ở những nghề tiếp xúc với rác vượt TCCP từ 2,5-7 lần [31], [53], [54]
Trang 28từ 4,87-8,83 lần về mùa hè Các chất này đều có tính chất chung là gây kích thích đường hô hấp, nồng độ cao có thể gây ngộ độc cấp tính [31]
Do chủ yếu là làm việc ngoài trời và trên đường phố nên công nhân TGCTRĐT thường xuyên phải tiếp xúc với lượng lớn khói, bụi trong môi trường làm việc Khói, bụi phát sinh từ khí thải của các phương tiện giao thông, trong quá trình công nhân sử dụng chổi để quét đường phố, trong quá trình xây dựng, thi công các cơ sở hạ tầng giao thông, khu chung cư, nhà dân tại đô thị, v.v Ngoài ra, công nhân TGCTRĐT còn
có nguy cơ tiếp xúc thụ động với khói thuốc lá do những người hút thuốc lá tham gia giao thông, những người hút thuốc lá tại các quán nước vỉa hè,… [55], [56], [57] Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Dong-Uk Park tại Hàn Quốc cho thấy, mức
độ tiếp xúc với bụi trung bình của công nhân TGCTRĐT là 0,9 mg/m3 (SD=0,9mg/m3, phạm vi=0,05-4,51 mg/m3) Mức độ tiếp xúc với bụi ở công nhân thu gom chất thải sinh hoạt không phân loại dao động 1,37-2,69 mg/m3, cao hơn đáng kể so với mức độ phơi nhiễm của các công nhân khác Sự khác biệt đáng kể về mức độ tiếp xúc với bụi cũng phụ thuộc vào ngày làm việc, độ ẩm và khu vực làm việc (p<0,05) Nữ công nhân tiếp xúc với bụi qua đường hô hấp cao hơn nam công nhân, các ngày trong tuần tiếp xúc với bụi cao hơn các ngày cuối tuần [58] Nghiên cứu của tác giả Hala Samir Abou-ElWafa cũng chỉ ra rằng công nhân TGCTRĐT thường xuyên phải tiếp xúc với khói diesel do làm việc gần nơi có nhiều phương tiện qua lại, có thể gây kích thích đường hô hấp [9]
1.2.3 Yếu tố sinh học
Theo nghiên cứu của Hala Samir Abou-ElWafa và cộng sự tại Ai Cập, công nhân
Trang 29gom một số chất thải hữu cơ tạo điều kiện cho vi khuẩn Gram âm phát triển, từ đó hình thành các nội độc tố dưới dạng giọt treo, có thể được hít vào đường hô hấp, gây viêm đường hô hấp và những vấn đề sức khỏe khác [9] Sự xuất hiện của vi sinh vật cũng được phát hiện trong nghiên cứu của tác giả Dong-Uk Park, với mức độ tiếp xúc trung bình của công nhân TGCTRĐT với vi sinh vật bao gồm cả vi khuẩn là 1,9-105 CFU/m3, vi khuẩn gram âm là 7-104 CFU/m3, hoặc nấm là 2,2-104 CFU/m3 (so với TCCP là 104 CFU/m3) Đặc biệt, 18,7% công nhân đã tiếp xúc với vi khuẩn với tổng mức lớn hơn 106 CFU/m3, có nguy cơ gia tăng các triệu chứng hô hấp như cảm cúm Khi công nhân phải tiếp xúc nhiều với nấm hoặc nội độc tố có thể dẫn đến viêm đường
hô hấp [58] Một số nghiên cứu cho rằng vi sinh vật tích lũy trong quần áo công nhân cũng có thể là nguồn phơi nhiễm gây ra các bệnh về đường hô hấp [59], [17]
1.2.4 Yếu tố tâm sinh lý ecgonomy
Trong nghiên cứu của tác giả Yanhong Gong và cộng sự về sức khỏe của công nhân vệ sinh môi trường trong một số khu đô thị ở Vũ Hán, Trung Quốc, tác giả đã cho thấy công nhân vệ sinh môi trường phải thường xuyên làm việc với cường độ lao động và khối lượng công việc lớn Mặc dù tính chất công việc khá vất vả, làm việc trong thời gian dài nhưng hầu hết các công nhân vệ sinh lại có thu nhập thấp hơn so với những ngành nghề khác Bên cạnh đó, nhiều người dân còn có thái độ thiếu coi trọng đối với ngành vệ sinh môi trường cũng như những công nhân vệ sinh, họ bị coi
là đối tượng có địa vị xã hội thấp Chủ lao động cũng không đề cao việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe lao động cho họ Các công nhân chưa được trang bị những phương tiện bảo vệ cá nhân tối thiểu nhất như mặt nạ, hay cấp phát nước rửa tay hoặc xà phòng, thậm chí còn không được đào tạo và tập huấn trước khi bắt đầu làm việc Đây
là một trong những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến tâm lý người lao động, gây lo lắng, bất an, từ đó ảnh hưởng đến sức khỏe cũng như chất lượng công việc [17]
Về tiêu hao năng lượng và tần số mạch trung bình trong ca làm việc
Đối với công nhân ở Việt Nam, trong nghiên cứu của mình, tác giả Ngô Minh Phương đã chỉ ra, công nhân quét thu gom rác, quét nhà vệ sinh công cộng có mức tiêu hao năng lượng từ 2,98-3,09 Kcal/phút và mạch đập trung bình từ 97 ±1 nhịp/phút xếp vào loại lao động thể lực trung bình, công nhân xúc rác, thu phân hố xí 2 ngăn có mức tiêu hao năng lượng từ 4,26-4,66 kcal/phút và mạch từ 102±14 đến 106±12 nhịp/phút
Trang 30xếp vào loại lao động thể lực nặng Mặc dù tính chất lao động của các công việc không đòi hỏi phải gắng sức lớn và liên tục nhưng công nhân phải làm việc trong điều kiện khí hậu không thuận lợi, tiếp xúc thường xuyên liên tục với các loại hơi khí độc, bụi, bẩn, mùi hôi thối nhất là những ngày hè oi bức hoặc sau cơn mưa hay những ngày đông giá rét, kết hợp với chỗ nghỉ tạm bợ trên đường phố đã làm cho cơ thể họ chóng mệt mỏi, khó chịu, biến lao động thể lực nhẹ thành trung bình và lao động thể lực trung bình thành lao động thể lực nặng Điều này được thể hiện ở kết quả giảm cơ lực của 2 tay sau lao động so với trước lao động từ 9,2% đến 21,8% [30]
Vị trí, tư thế lao động trong ca làm việc
Khi nói đến vị trí, tư thế lao động và đi lại trong ca làm việc, công nhân vệ sinh môi trường đô thị làm việc chủ yếu ở các ngõ, phố, các khu nhà vệ sinh công cộng và các nhà vệ sinh trên đường phố Tư thế lao động vừa đi vừa làm hoặc cúi để lấy thùng phân từ hố xí hoặc đẩy xe rác, rửa nhà vệ sinh công cộng hoặc xoay người sang hai bên để thu gom rác, quét nhà vệ sinh Đi bộ từ 2-4 km để đẩy xe rác, quét rác, tua vỉa, hoặc xách nước gánh phân với trọng lượng từ 10-20kg/lần Ngoài ra, họ cũng thường xuyên cúi khom, ngửa người phía sau hoặc vặn người sang bên để xúc đất, rác lên ô tô, thùng xe [30]
Những vấn đề về chấn thương ở công nhân vệ sinh còn phát sinh khi làm việc trong một thời gian dài mà không có thời gian nghỉ ngơi Những tổn thương còn tác động mạnh hơn đến cơ thể khi các tư thế làm việc không thoải mái, người lao động phải làm việc gắng sức, làm các công việc lặp đi lặp lại trong một thời gian dài Nhiều công nhân vệ sinh có cảm giác khó chịu ở cổ, cánh tay trên, lưng, mông, chân, đùi do những nguyên nhân trên [60]
Trong nghiên cứu của tác giả Eric Binion, Jutta Gutberlet về những ảnh hưởng của việc xử lý chất thải rắn đến an sinh xã hội của những người làm nghề tái chế không chính thức, tại Brazil, người lao động thường xuyên phải làm việc trong những tư thế không thoải mái như: ngồi xổm, quỳ, chấn động, lặp đi lặp lại một số động tác trong quá trình làm việc [61]
Nhịp độ lao động
Trang 31suốt ca làm việc [30]
Yêu cầu tập trung quan sát
Nghề thu gom rác thải chỉ yêu cầu tập trung quan sát ở mức trung bình nhưng nghiên cứu cho thấy người lao động phải làm việc trong điều kiện ánh sáng thấp hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép từ 2-3 lần, làm mắt phải luôn điều tiết trong điều kiện ánh sáng kém hoặc chói mắt do đèn pha của các phương tiện giao thông ngược chiều Kết hợp với sự ảnh hưởng của bụi và hơi khí độc từ phân rác nên thời gian phản xạ ở nữ công nhân môi trường đô thị sau ca lao động đều dài hơn từ 30,7% đến 44,7% so với trước ca [30]
Căng thẳng thần kinh tâm lý – xúc cảm trong ca làm việc
Môi trường làm việc của công nhân vệ sinh môi trường phải tiếp xúc với nhiều đối tượng trong xã hội Một số người dân thể hiện thái độ đồng cảm, coi trọng nghề công nhân vệ sinh, nhưng trong nhiều trường hợp, công nhân vệ sinh bị coi thường, bị gây khó dễ, thậm chí bị đe dọa tinh thần trong quá trình làm việc Điều này mang lại cảm giác bất an, cùng với cảm giác bị tách biệt khỏi xã hội, xấu hổ, dẫn đến xu hướng tự đánh giá cao mức độ tổn thương ở công nhân môi trường đô thị Trên thế giới, mối đe dọa nghề nghiệp đã được liên tục ghi nhận ở công nhân tái chế rác thải như bị cướp, bị sách nhiễu, hay bắt nạt Chính những bất ổn của công việc, thái độ kì thị và sự thiếu an ninh tài chính có thể dẫn đến căng thẳng khi làm việc [62], [63], [64]
Tại Việt Nam, yếu tố căng thẳng thần kinh, tâm lý, cảm xúc cũng được nhiều tác giả quan tâm và đề cập đến đối với những công nhân làm việc trong các ngành nghề này Công nhân vệ sinh MTĐT, không chỉ phải chịu tác động của môi trường độc hại, bẩn thỉu, có nhiều loại vi sinh vật gây bệnh mà còn chịu gánh nặng tâm lý nghề nghiệp rất lớn – đó là thái độ của người xung quanh đối với nghề nghiệp của họ Bởi nghề của
họ được coi là kém hấp dẫn Điều này thể hiện rất rõ qua các phiếu điều tra tâm lý ở
nữ công nhân quét rác, xúc rác, quét rửa nhà vệ sinh công cộng, thu phân 2 ngăn và nữ công nhân văn phòng Qua kết quả nghiên cứu, không có đối tượng nào cho rằng họ ưa thích công việc hiện tại ở nghề thu phân và quét nhà vệ sinh công cộng Ngược lại 90% nữ nhân viên văn phòng ưa thích công việc đang làm Có tới 60,9% ý kiến ở công nhân thu phân 2 ngăn và 46,4% ý kiến ở công nhân quét nhà vệ sinh công cộng mặc cảm với công việc này Lý do họ xin vào làm việc ở 2 nghề này là muốn có việc làm
Trang 32trong biên chế nhà nước (đều chiếm 60%) và do không xin được việc khác Trong khi
đó khối văn phòng chỉ có 25% cho rằng họ không thích nghề văn phòng và 90% có thái độ bình thường và không có trường hợp nào mặc cảm với nghề văn phòng Như vậy, nữ nhân viên văn phòng không có cảm giác nặng nề hoặc bị “coi thường” nghề nghiệp như nhóm nữ công nhân làm việc ở các nghề thu gom rác, xúc rác, quét rửa nhà
vệ sinh công cộng, thu phân hố xí hai ngăn mặc dù họ thuộc công ty môi trường đô thị [30]
Chỉ có một tỷ lệ nhỏ công nhân quét thu gom rác, xúc rác cho rằng nghề của họ được người xung quanh tôn trọng, trong khi đó công nhân thu phân 2 ngăn và quét nhà
vệ sinh công cộng cho rằng không nhận được thái độ tôn trọng của người xung quanh hoặc nếu có cũng rất thấp (khoảng 3,4%-9,3%) Đặc biệt nữ công nhân thu phân 2 ngăn và quét nhà vệ sinh công cộng đều nói rằng chồng con không tán thành việc họ làm (chiếm đến 59,8% và 51,7% ý kiến) Kết quả nghiên cứu này cho thấy, nữ công nhân MTĐT phải chịu gánh nặng tâm lý rất lớn về sự mặc cảm nghề nghiệp cũng như thái độ của người xung quanh với nghề nghiệp của họ còn nặng nề Lao đông thủ công thiếu các phương tiện kỹ thuật tiên tiến và chủ yếu phải làm đêm, không có chế độ đổi
ca, không có ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, không có điều kiện chăm sóc gia đình con cái Tất
cả các yếu tố trên đã tạo nên “bầu không khí” căng thẳng thần kinh tâm lý rất lớn, biến lao động bình thường thành lao động nặng nhọc, có ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, giảm khả năng làm việc [30]
1.2.5 Yếu tố gây tai nạn
Yếu tố gây tai nạn thương tích cho công nhân vệ sinh bao gồm nguy cơ gây tai nạn giao thông, nguy cơ từ những chiếc xe chở rác, hay vật sắc nhọn gây ra trong quá trình lao động Năm 2010, trong báo cáo của Liên hiệp các công chức và nhân viên làm việc công của Canada về công nhân làm nghề thu gom rác, chấn thương nghề nghiệp tác động lên 35% số công nhân Thu gom rác thải tưởng chừng như không nguy hiểm đối với người lao động, nhưng đây là một ngành có thể gây nhiều rủi ro về sức khỏe, khiến cho gần 35.000 công nhân trên hàng trăm quốc gia bỏ [65]
Một trong những yếu tố có khả năng cao gây tai nạn thương tích cho công nhân vệ
Trang 33chốt hoặc rơi xuống nếu các dây cáp bị lỗi hoặc móc bị long khi nâng các xe thu gom rác Một vài số liệu nữa liên quan đến tai nạn thương tích xảy ra trong quá trình vận chuyển rác thải, ghi nhận tại Bang New Jersey, Mỹ, từ năm 1992 đến 2002, có 43 trường hợp công nhân vệ sinh môi trường tử vong trong quá trình thu gom rác thải lên các xe chứa Theo thống kê, 20 trường hợp trong số đó tử vong do bị vật nặng đè nén (như bánh xe, thùng chứa rác) hoặc văng ra khỏi xe chở rác trong quá trình di chuyển,
9 trường hợp do tai nạn giao thông liên quan đến xe chở rác, 8 người tử vong trong quá trình lái xe tải, 3 người bị kẹt giữa xe tải và thùng chứa rác khi đang thu gom [20] Ngoài ra công nhân thu gom rác đô thị cũng có nguy cơ cao bị tai nạn giao thông do phương tiện giao thông trên đường, đặc biệt khi trời tối
Công nhân môi trường đô thị cũng có nguy cơ bị tổn thương do vật sắc nhọn như chai lọ thủy tinh vỡ, bơm kim tiêm, v.v lẫn trong các túi rác vứt bừa bãi, không đúng quy định, không được phân loại Ngoài những tổn thương cơ học, rác thải sắc nhọn gây ra những bệnh tật truyền nhiễm nghiêm trọng như uốn ván, VGB, HIV, ảnh hưởng trầm trọng đến sức khỏe người lao động bị phơi nhiễm [65]
1.3 Các giải pháp can thiệp
1.3.1 Các giải pháp trên thế giới và hiệu quả can thiệp
Trên thế giới đã có một số chương trình, nghiên cứu được triển khai nhằm cải thiện điều kiện lao động và tình trạng sức khỏe của công nhân môi trường đô thị Ví dụ một nghiên cứu bán thực nghiệm ở Thái Lan năm 2012 trên những người nhặt rác được chia thành hai nhóm 44 người nhặt rác đã được lựa chọn ngẫu nhiên từ 63 người nhặt rác tại một bãi đổ rác ở Muang Nakhon Ratchasima đô thị được chọn là nhóm can thiệp; 44 người nhặt rác đã được lựa chọn từ 58 người nhặt rác tại tám địa điểm đổ khác cho các nhóm kiểm soát Chương trình can thiệp bao gồm đào tạo, cầm tay chỉ việc, thu gom và phân loại rác thải, hỗ trợ sử dụng ba loại thiết bị bảo hộ (găng tay, ủng cao su và mặt nạ)
Về các vấn đề sức khỏe thể chất của người nhặt rác trước nghiên cứu, phần lớn bị đau thấp trở lại và bong gân (95%), cảm lạnh thông thường (89%) và phát ban da (66%) Các vấn đề khác bao gồm đau đầu (49%), mệt mỏi (34%), khó thở (23%), chốc
lở (19%) (công nhân quét đường có nhiều hơn một triệu chứng) Sau sáu tháng theo dõi, ở nhóm đối chứng bị đau thấp trở lại và bong gân (84%), cảm lạnh thông thường
Trang 34(62%), phát ban da (59%), đau đầu (44%), mệt mỏi (31%), khó thở (19%), và chốc lở (20%) Trong khi đó tỷ lệ gặp phải các vấn đề sức khỏe ở nhóm can thiệp giảm hơn hẳn với những cơn đau thấp trở lại và bong gân (68%), cảm lạnh thông thường (49%), phát ban da (32%), đau đầu (37%), mệt mỏi (28%), khó thở (8%), và chốc lở (12%)
Về môi trường làm việc, những người nhặt rác thường xuyên phải đối mặt với vệ sinh kém, rung động từ máy móc, thông gió kém, tiếng ồn, mùi hôi khó chịu, nhiệt độ cao, nước thải, vi sinh vật và động vật gây bệnh (chuột, bò sát và côn trùng) Một số không sử dụng bất kỳ phương tiện bảo hộ cá nhân nào và một số sử dụng khẩu trang, găng tay, và ủng cao su Về tư thế, họ thực hiện nhiều động tác uốn, kéo và mang vác trên lưng Sau sáu tháng can thiệp, tỷ lệ thương tích và số lượng sử dụng phương tiện bảo hộ ở nhóm kiểm soát không thay đổi, còn ở nhóm can thiệp thì số lượng chấn thương ít hơn và có sự gia tăng đáng kể việc sử dụng phương tiện bảo hộ Các hành vi giảm thiểu rủi ro sức khỏe trong mô hình này làm giảm đáng kể các chi phí chăm sóc sức khỏe của cá nhân và cải thiện đáng kể kiến thức, thái độ và thực hành của người lao động Tỷ lệ % của các triệu chứng thể chất giảm và việc sử dụng bảo hộ cá nhân tăng sau can thiệp ở nhóm can thiệp so với nhóm chứng cho thấy việc sử dụng bảo hộ
cá nhân và đảm bảo vệ sinh cá nhân đóng vai trò quan trọng trong việc làm giảm nguy
cơ sức khỏe ở những người nhặt rác [24]
Một nghiên cứu khác tại Ghana năm 2014 về thực trạng sử dụng và những rào cản trong việc sử dụng đồ bảo hộ lao động ở 280 công nhân môi trường đô thị cho thấy bốn loại phương tiện bảo hộ cá nhân được sử dụng là áo bảo hộ che phủ toàn bộ bề mặt cơ thể (72,6%), ủng Wellington chỉ che chân (62,5%), găng tay để bảo hộ các ngón tay và lòng bàn tay đến cổ tay (59,3%) và mặt nạ để che miệng và mũi (32,1%) Việc sử dụng găng tay (91,6%), áo bảo hộ (100%) và ủng Wellington (75,0%) là cao hơn đáng kể ở nhóm công nhân nhặt rác so với nhóm công nhân quét rác, tiêu hủy, vận chuyển rác và những người thực hiện nhiều nhiệm vụ xử lý chất thải khác (p <0,0001) Quan sát trực tiếp cho thấy những công nhân không mang ủng Wellington, họ sử dụng
“dép lê” và dép xăng-đan hoặc đi chân trần Qua phỏng vấn thì công nhân đều ý thức được lợi ích của việc sử dụng phương tiên bảo hộ cá nhân nhưng khi quan sát thì hầu hết công nhân không sử dụng phương tiện bảo hộ cá nhân liên tục trong suốt một ngày
Trang 35Một lý do được đưa ra là không có khả năng tự chi trả cho phương tiện bảo hộ cá nhân Một lý do khác để không sử dụng BHLĐ đơn giản là không có Khi làm việc cho một công ty xử lý chất thải, công nhân được nhận được phương tiện bảo hộ cá nhân để thực hiện công việc của họ Tuy nhiên, nhiều công nhân phản ánh rằng phương tiện bảo hộ cá nhân không được cung cấp cho tất cả Đối với những công nhân
đã được cung cấp phương tiện bảo hộ cá nhân, những vật dụng này cũng không được công ty thay thế nếu bị hỏng Công nhân do đó buộc phải sử dụng hương tiện bảo hộ
cá nhân kém chất lượng Khó chịu nói chung là một rào cản lớn khiến công nhân không mặc bảo hộ cá nhân Những lý do như viêm da do găng tay hay viêm, nấm da
do điều kiện nóng ẩm khi đeo găng tay, ủng kéo dài, đồ bảo hộ nặng, không phù hợp
về kích cỡ, cản trở lao động,v v là những lý do người lao động đưa ra [66]
1.3.2 Các chế độ cho công nhân môi trường đô thị tại Việt Nam
Tại Việt Nam, công nhân môi trường đô thị được hưởng tất cả các quyền lợi, chế
độ như các đối tượng lao động trong các ngành nghề khác, được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật Cụ thể, Điều 6 chương I bộ luật ATVSLĐ quy định người lao động có quyền:
- Được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn, vệ sinh lao động; yêu cầu người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm điều kiện làm việc an toàn,
vệ sinh lao động trong quá trình lao động, tại nơi làm việc;
- Được thực hiện chế độ bảo hộ lao động, chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện BNN; được người sử dụng lao động đóng bảo hiểm TNLĐ, BNN; được hưởng đầy đủ chế độ đối với người bị TNLĐ, BNN; được trả phí khám giám định thương tật, bệnh tật do TNLĐ, BNN; được chủ động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động và được trả phí khám giám định trong trường hợp kết quả khám giám định đủ điều kiện để điều chỉnh tăng mức hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN
- Yêu cầu người sử dụng lao động bố trí công việc phù hợp sau khi điều trị ổn định do bị TNLĐ, BNN
- Từ chối làm công việc hoặc rời bỏ nơi làm việc mà vẫn được trả đủ tiền lương
và không bị coi là vi phạm kỷ luật lao động khi thấy rõ có nguy cơ xảy ra
Trang 36ngay cho người quản lý trực tiếp để có phương án xử lý; chỉ tiếp tục làm việc khi người quản lý trực tiếp và người phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động đã khắc phục các nguy cơ để bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động
Điều 7 chương I bộ luật ATVSLĐ quy định người sử dụng lao động có nghĩa vụ:
- Xây dựng, tổ chức thực hiện và chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc thuộc phạm vi trách nhiệm của mình cho người lao động và những người có liên quan; đóng bảo hiểm TNLĐ, BNN cho người lao động
- Tổ chức huấn luyện, hướng dẫn các quy định, nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; trang bị đầy đủ phương tiện, công cụ lao động bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; thực hiện việc chăm sóc sức khỏe, khám phát hiện BNN; thực hiện đầy đủ chế độ đối với người bị TNLĐ, BNN cho người lao động
- Không được buộc người lao động tiếp tục làm công việc hoặc trở lại nơi làm việc khi có nguy cơ xảy ra TNLĐ đe dọa nghiêm trọng tính mạng hoặc sức khỏe của người lao động
- Bố trí bộ phận hoặc người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động; phối hợp với Ban chấp hành công đoàn cơ sở thành lập mạng lưới an toàn, vệ sinh viên; phân định trách nhiệm và giao quyền hạn về công tác an toàn, vệ sinh lao động
- Thực hiện việc khai báo, điều tra, thống kê, báo cáo TNLĐ, BNN, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động nghiêm trọng; thống kê, báo cáo tình hình thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động; chấp hành quyết định của thanh tra chuyên ngành về an toàn, vệ sinh lao động
1.3.2.1 Bảo hộ lao động
Điều 16 chương I luật ATVSLĐ quy định người sử dụng lao động phải trang cấp đầy đủ cho người lao động các phương tiện bảo vệ cá nhân khi thực hiện công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; trang bị các thiết bị an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc Điều 23 chương II luật ATVSLĐ quy định:
Trang 37- Người lao động làm công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người
sử dụng lao động trang cấp đầy đủ phương tiện bảo vệ cá nhân và phải sử dụng trong quá trình làm việc
- Người sử dụng lao động thực hiện các giải pháp về công nghệ, kỹ thuật, thiết bị
để loại trừ hoặc hạn chế tối đa yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại và cải thiện điều kiện lao động
- Người sử dụng lao động khi thực hiện trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:
o Đúng chủng loại, đúng đối tượng, đủ số lượng, bảo đảm chất lượng theo tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
o Không phát tiền thay cho việc trang cấp phương tiện bảo vệ cá nhân; không buộc người lao động tự mua hoặc thu tiền của người lao động để mua phương tiện bảo vệ cá nhân;
o Hướng dẫn, giám sát người lao động sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân;
o Tổ chức thực hiện biện pháp khử độc, khử trùng, tẩy xạ bảo đảm vệ sinh đối với phương tiện bảo vệ cá nhân đã qua sử dụng ở những nơi dễ gây nhiễm độc, nhiễm trùng, nhiễm xạ
Bảng 1-1 Quy định bảo hộ lao động bắt buộc đối với công nhân MTĐT STT Tên nghề, công việc Tên trang bị bảo hộ lao động Ghi chú
1 Quét, xúc chuyển rác,
san bãi rác
- Quần áo lao động phổ thông
- Mũ, nón lá chống mưa nắng
- Khẩu trang lọc bụi
- Găng tay vải bạt
- Giầy vải bạt thấp cổ
- Ủng cao su
- Áo mưa
Trang bị cho người làm việc khi trời tối
Trang 38- Yếm hoặc tạp dề chống ướt, bẩn
- Khẩu trang lọc bụi
- Găng tay cao su
Điều 21 chương II bộ luật ATVSLĐ quy định về vấn đề khám sức khỏe và điều
Trang 39- Hằng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe ít nhất một lần cho người lao động; đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần
- Khi khám sức khỏe theo quy định, lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây BNN phải được khám phát hiện BNN
- Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động trước khi
bố trí làm việc và trước khi chuyển sang làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hơn hoặc sau khi bị TNLĐ, BNN đã phục hồi sức khỏe, tiếp tục trở lại làm việc, trừ trường hợp đã được Hội đồng y khoa khám giám định mức suy giảm khả năng lao động
- Người sử dụng lao động tổ chức khám sức khỏe cho người lao động, khám phát hiện BNN tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo đảm yêu cầu, điều kiện chuyên môn kỹ thuật
- Người sử dụng lao động đưa người lao động được chẩn đoán mắc BNN đến cơ
sở khám bệnh, chữa bệnh đủ điều kiện chuyên môn kỹ thuật để điều trị theo phác đồ điều trị BNN do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định
- Chi phí cho hoạt động khám sức khỏe, khám phát hiện BNN, điều trị BNN cho người lao động do người sử dụng lao động chi trả quy định được hạch toán vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế theo Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và hạch toán vào chi phí hoạt động thường xuyên đối với cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp không có hoạt động dịch vụ
1.3.2.3 Khám và điều trị bệnh thông thường, TNLĐ
Điều 152 chương IX Bộ luật lao động quy định người lao động bị TNLĐ, BNN phải được giám định y khoa để xếp hạng thương tật, xác định mức độ suy giảm khả năng lao động và được điều trị, điều dưỡng, phục hồi chức năng lao động đúng theo quy định của pháp luật
Điều 38 chương III luật ATVSLĐ quy định người sử dụng lao động có trách
Trang 40nhiệm đối với người lao động bị TNLĐ, BNN như sau:
- Kịp thời sơ cứu, cấp cứu cho người lao động bị TNLĐ và phải tạm ứng chi phí
sơ cứu, cấp cứu và điều trị cho người lao động bị TNLĐ hoặc BNN;
- Thanh toán chi phí y tế từ khi sơ cứu, cấp cứu đến khi điều trị ổn định cho người bị TNLĐ hoặc BNN như sau:
o Thanh toán phần chi phí đồng chi trả và những chi phí không nằm trong danh mục do BHYT chi trả đối với người lao động tham gia BHYT;
o Trả phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động đối với những trường hợp kết luận suy giảm khả năng lao động dưới 5% do người sử dụng lao động giới thiệu người lao động đi khám giám định mức suy giảm khả năng lao động tại Hội đồng giám định y khoa;
o Thanh toán toàn bộ chi phí y tế đối với người lao động không tham gia BHYT;
- Trả đủ tiền lương cho người lao động bị TNLĐ, BNN phải nghỉ việc trong thời gian điều trị, phục hồi chức năng lao động;
1.3.2.4 Bồi dưỡng nghề độc hại nguy hiểm
Điều 22, chương II bộ luật ATVSLĐ quy định người sử dụng lao động thực hiện đầy đủ các chế độ bảo hộ lao động và chăm sóc sức khỏe đối với người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm và nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật
Điều 24, chương II bộ luật ATVSLĐ quy định người lao động làm việc trong điều kiện có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại được người sử dụng lao động bồi dưỡng bằng hiện vật Việc bồi dưỡng bằng hiện vật theo nguyên tắc sau đây:
- Giúp tăng cường sức đề kháng và thải độc của cơ thể;
- Bảo đảm thuận tiện, an toàn, vệ sinh thực phẩm;
- Thực hiện trong ca, ngày làm việc, trừ trường hợp đặc biệt do tổ chức lao động không thể tổ chức bồi dưỡng tập trung tại chỗ