1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

ghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích cộng đồng thành phố Hà Nội (2013-2015) và hiệu quả giải pháp can thiệp phòng chống tai nạn giao thông, đuối nước tại một số xã

41 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích cộng đồng thành phố Hà Nội (2013-2015) và hiệu quả giải pháp can thiệp phòng chống tai nạn giao thông, đuối nước tại một số xã
Trường học Trường Đại học Y Hà Nội
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Nghiên cứu
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 41
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân mắc TNTT đứng hàng đầu là tử vong do tai nạn giao thông TNGT chiếm khoảng 40 - 50%, với trung bình trên 15.000 người tử vong/năm bình quân mỗi ngày có khoảng 30 người chết và

Trang 1

và trung bình Mỗi năm trên thế giới có trên 260.0000 trẻ em dưới 19 tuổi tử vong do các vụ va chạm tai nạn giao thông [70]

Tại Việt Nam, TNTT đang diễn biến rất phức tạp và đang dần trở thành một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại bệnh viện Tại Hội

thảo “Đánh giá giữa kỳ thực hiện chỉ thị và kế hoạch phòng chống tai nạn thương tích tại cộng đồng của ngành y tế giai đoạn 2011 – 2015” cho thấy,

trung bình hàng năm có khoảng 900.000 trường hợp mắc TNTT Trong đó có trên 34.000 người tử vong, chiếm 11 – 12% tổng số tử vong toàn quốc Tỷ suất tử vong trung bình do TNTT trong 5 năm (2006 – 2010) là 45,4/100.000 dân [8] Tình hình mắc TNTT diễn biến không ổn định qua các năm Nguyên nhân mắc TNTT đứng hàng đầu là tử vong do tai nạn giao thông (TNGT) chiếm khoảng 40 - 50%, với trung bình trên 15.000 người tử vong/năm (bình quân mỗi ngày có khoảng 30 người chết và 70 người bị thương gây tàn tật suốt đời), tiếp đến là đuối nước với trung bình 6.000 người tử vong/năm, trong đó trẻ em và vị thành niên dưới 19 tuổi chiếm trên 50% Ngoài ra, các nguyên nhân gây TNTT khác như tai nạn lao động, tự tử, bỏng, ngộ độc, ngã, bạo lực … vẫn xảy ra phổ biến trong cộng đồng [9]

Tai nạn thương tích không những là mối nguy hại lớn đối với tính mạng

và sức khoẻ người dân mà còn đòi hỏi chí phí xã hội và kinh tế lớn cho việc

Trang 2

khắc phục hâụ quả TNTT có thể xẩy ra ở mọi nơi, trong nhà, ngoài đường, trường học, nơi làm việc, nơi sản xuất… khi mọi người sơ suất, chủ quan hay không có biện pháp phòng tránh [8], [9], [17], [18]

Thành phố Hà Nội, năm 2010 có 100.320 trường hợp mắc TNTT làm tử vong 784 người (0,78%) Năm 2011: 93.736 trượng hợp mắc, trong đó tử vong 693 người (0,74%) Năm 2012, số trường hợp mắc là 92.701 người và

tử vong 686 người (0,74%) Như vậy, trong 3 năm (2010-2012), số người mắc TNTT tuy có chiều hướng giảm nhưng mức giảm rất ít; một số loại hình TNTT trước đây ít gặp lại đang có chiều hướng gia tăng như đuối nước, tự tử, bạo lực, xung đột… và hoàn cảnh xuất hiện cũng rất đa dạng, phức tạp, có thể gặp ở mọi lúc, mọi nơi [57], [60] Nếu so với cả nước, trung bình tỷ suất mắc TNTT của Hà Nội đứng ở mức thấp (30/100.000 dân), tuy nhiên nếu thống kê

số vụ mắc TNTT/năm thì Hà Nội đứng ở tốp đầu so với các địa phương khác

Để góp phần xây dựng các giải pháp phòng chống TNTT nói chung và TNGT, đuối nước nói riêng trên địa TP Hà Nội có hiệu quả hơn trong những

năm tới, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích tại cộng đồng thành phố Hà Nội (2013 – 2015) và hiệu quả giải pháp can thiệp phòng chống tai nạn giao thông, đuối nước tại một số xã (2015 - 2016)”

Mục tiêu nghiên cứu:

1) Đánh giá thực trạng tai nạn giao thông và đuối nước tại cộng đồng thành phố Hà Nội (2013 - 2015)

2) Xây dựng, thử nghiệm và đánh giá hiệu quả giải pháp can thiệp phòng chống tai nạn giao thông, đuối nước tại một số xã của Hà Nội (2015

- 2016)

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN

1.1.1 Định nghĩa và phân loại tai nạn thương tích

1.1.1.1 Định nghĩa về tai nạn thương tích

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), tai nạn thương tích (TNNT) là các tổn thương thực thể trên cơ thể người gây nên bởi sự tác động bên ngoài vượt quá sức chống đỡ của cơ thể Tai nạn thương tích có thể là một vết thương trên cơ thể do phơi nhiễm với một lực tác động quá mức, hoặc có thể một rối loạn chức năng xẩy ra do một sự thiếu hụt một yếu tố thiết yếu cho cuộc sống (không khí, nước, nhiệt độ cần thiết ) như là ngạt, sự tắc nghẽn đường thở hoặc bị cóng [17], [70], [71], [72]

1.1.1.2 Phân loại tai nạn thương tích

Có khá nhiều cách phân loại TNTT và thường được dùng cho những mục đích nghiên cứu khác nhau, tuy nhiên có 2 cách phổ biến được dùng là:

- Phân loại theo chủ đích: cách phân loại dựa trên chủ đích của người gây ra TNTT và được chia làm 2 loại:

+ Tai nạn thương tích không chủ định: Tai nạn thương tích xảy ra do sự việc xảy ra một cách vô tình, không có sự chủ ý gây TNTT của các đối tượng

Ví dụ như tai nạn giao thông (TNGT), ngã

+ Tai nạn thương tích có chủ định: Tai nạn thương tích xảy ra do sự việc xảy ra một cách cố tình của người gây ra TNTT hoặc nạn nhân.Ví dụ bạo lực,

tự tử

Phân loại theo các nguyên nhân:

- Cách phân loại này dựa trên nguyên nhân bên ngoài hoặc nguyên nhân gây ra TNTT và thường được phân ra theo các loại như sau:

Trang 4

Bảng 1.1 Phân loại nguyên nhân tai nạn giao thông

+ Tai nạn giao thông

+ Ngã (không tính ngã do tai nạn lao

động và tai nạn giao thông)

+ Bạo lực trong gia đình, xã hội + Khác: Hóc dị vật, sét đánh

Từ định nghĩa và phân loại về tai nạn thương tích cho thấy, trong TNTT

có TNGT; TNGT là một trong những nguyên nhân của TNTT [17]

1.1.2 Định nghĩa, loại hình, đối tượng, hình thái, tổn thương của tai nạn giao thông [17], [14]

1.1.2.1 Định nghĩa về tai nạn giao thông

Tai nạn giao thông là những sự cố bất ngờ gây ra giữa những người tham gia giao thông hoặc do phương tiện giao thông, môi trường giao thông không an toàn dẫn đến những tổn thương trầm trọng về thể chất và tinh thần cho người bị tai nạn, có thể dẫn đến tử vong

1.1.2.2 Các loại hình hoạt động giao thông

- Đường bộ; Đường sắt (Tàu hoả , Tàu điện); Đường thuỷ; Đường hàng không

1.1.2.3 Các đối tượng tham gia hoạt động giao thông

- Đường bộ: Các loại ô tô, máy kéo, xe công nông .Các loại xe máy:

được xác định là loại xe có 2 bánh, dung tích xi lanh nhỏ hơn 50 cm3, thiết

kế tốc độ lớn nhất không quá 50 Km/ giờ (Thông tư 08/2001-TT/BGTVT ngày 16-5-2001) Các loại xe mô tô: được xác định là loại xe có 2 hoặc 3 bánh, dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên, trọng lượng toàn xe không vượt quá

40 kg Xe đạp; Xe xích lô; Xe ba gác (xe cải tiến) người kéo; Người đi bộ (bộ hành - quang gánh, xe đẩy )

Trang 5

- Đường sắt: Tàu hoả; Tàu điện trên mặt đất; Tàu điện ngầm; Xe goòng

trong hầm mỏ

- Đường thuỷ: Tàu thuỷ; Xà lan tự hành; Ca nô; Xuồng máy, Tàu thuyền

gắn máy đẩy

- Đường hàng không: Các loại máy bay chở khách Máy bay trực thăng,

Các loại máy bay chiến đấu Khinh khí cầu (thể thao, du lịch) Nhảy dù thể thao,tàu vũ trụ

* Chấn thương bụng: thương tổn vùng ổ bụng do chấn thương Cơ chế:

Chấn thương kín: ngã đập bụng vào vật cứng, đi xe có tốc độ cao bị dừng lại đột ngột Vết thương: rách da, cân cơ ở thành bụng có hoặc không thấu bụng

+ Các thương tổn của chấn thương bụng: Các thương tổn ở thành bụng;

Các thương tổn các cơ quan trong ổ bụng

* Chấn thương ngực: tổn thương vùng ngực do chấn thương, các thương tổn thường gặp: Thành ngực; Chấn thương phổi; Vết thương ngực

1.1.3 Định nghĩa, loại hình, đối tượng, hình thái, tổn thương của tai nạn đưôi nước [14], [17]

1.1.3.1 Định nghĩa về tai nạn đuối nước

Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa: “Đuối nước là hiện tượng mà khí quản của người lớn hay trẻ nhỏ bị một chất lỏng (thường là nước) xâm nhập vào

Trang 6

dẫn tới khó thở Hậu quả của ngạt thở lâu có thể là tử vong (chết đuối) hoặc không tử vong, nhưng gây tổn hại nghiêm trọng cho hệ thần kinh”

1.2 THỰC TRẠNG TAI NẠN GIAO THÔNG VÀ ĐUỐI NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Trên thế giới

1.2.1.1 Tai nạn giao thông

Hệ thống giao thông nói chung và hệ thống giao thông đường bộ hiện nay nói riêng đã đang trở thành một bộ phận thiết yếu của xã hội hiện đại Tốc

độ tăng trưởng nhanh của thông tin và vận chuyển người – hàng hóa đã tạo ra cuộc cách mạng trong phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP (Gross Domestic Product) và các mối quan hệ xã hội

Tuy nhiên, công nghệ càng tiên tiến thì cái giá phải trả cho nó ngày càng cao: môi trường bị hủy hoại, căng thẳng thần kinh ở đô thị lớn, ô nhiễm không khí Tất cả những vấn đề này đều có liên quan trực tiếp đến hệ thống giao thông đường bộ hiện đại Quan trọng hơn hết, giao thông vận tải liên quan ngày càng tăng với việc gia tăng tai nạn đường bộ và tỷ lệ chết trẻ làm mất đi kỳ vọng sống cũng như gây tàn tật về thể chất và tâm lý Sự mất mát không chỉ giới hạn ở việc giảm năng suất lao động của xã hội, chấn thương còn ảnh hưởng tới cuộc sống riêng của nạn nhân Một điều không kém quan trọng đó là sự gia tăng chi phí cho các dịch vụ y tế và tăng thêm gánh nặng cho tài chính quốc gia [17], [55], [66]

Theo báo cáo cáo của WHO, hàng năm có khoảng 1,3 triệu người chết

và 50 triệu người bị thương do TNGT đường bộ, gây thiệt hại về tiền của lên tới 500 triệu đô la

Tai nạn giao thông là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và tàn tật trên thế giới Theo báo cáo toàn cầu về phòng chống thương tích do giao thông đường bộ, mỗi ngày trên thế giới có hơn 3000 người chết do thương tích giao thông đường bộ, trong đó 85% số chết và 90% số năm sống khoẻ mạnh bị mất

Trang 7

đi do thương tật ở các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình Mỗi năm trên thế giới có trên 260.000 trẻ em dưới 19 tuổi tử vong do các vụ va chạm tai nạn giao thông Khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, năm 2010 chỉ số TNGT trêm 100 nghìn dân là 10,9, dự báo đến năm 2020 chỉ số này là 16,8 (trong vòng 10 năm, tăng 1,54 lần) Tính trên toàn cầu, có trên 40% trường hợp tử vong do va chạm giao thông đường bộ xảy ra trong nhóm tuổi 0-25 Thương tích giao thông đường bộ là nguyên nhân thứ hai gây tử vong trong nhóm người trẻ từ 5 - 25 tuổi [17], [70]

Ở các nước thu nhập thấp và trung bình tỷ lệ tử vong do TNGT cao hơn (lần lượt là 21,5 và 19,5% trên 100.000 dân) so với các nước có thu nhập cao (10,3% trên 100.000 dân) 91% tử vong trên thế giới do TNGT đường bộ xảy

ra ở các nước có thu nhập thấp và trung bình; trong khi các nước này chỉ chiếm 48% số xe máy đăng ký trên toàn thế giới

Bảng 1.2 Tỷ lệ tử vong do TNGT đường bộ (trên 100.000 dân)

theo khu vực và thu nhập

Trang 8

châu Á chiếm 50% trên toàn thế giới Mỗi năm, TNGT cướp đi mạng sống của hơn 600.000 người châu Á, làm 9,4 triệu người khác bị thương nặng Những con số thống kê trên cho thấy, mạng lưới giao thông đường bộ ở châu

Á đã trở nên nguy hiểm nhất thế giới Tại Thái Lan, theo số liệu của Bộ Y tế cho biết, TNGT là nguyên nhân gây tử vong lớn thứ 3, chỉ xếp sau bệnh AIDS

và bệnh tim Còn ở Trung Quốc và Ấn Độ, nơi những người thuộc tầng lớp có thu nhập trung bình đổ xô đi mua sắm phương tiện giao thông mới, số lượng các vụ đụng độ trên đường đã tăng đột biến, ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ Trong 3 năm từ 1999 đến 2002, số ô-tô, xe máy ở Trung Quốc tăng 41%, trong khi số TNGT cùng kỳ tăng nhanh hơn hai lần, lên tới 83% TNGT đường bộ cũng là nguyên nhân gây tử vong thứ 3 ở Ấn Độ, xếp sau động đất

và gió xoáy, nhưng khác với hai nguyên nhân trên, TNGT xảy ra đều đặn và hầu như không lúc nào ngừng Hằng năm có 80.000 người Ấn Độ bị TNGT cướp đi mạng sống [17], [71], [72]

Ở các nước thu nhập thấp và trung bình, chi phí cho va chạm giao thông đường bộ ước tính là 100 tỉ đô la Mỹ, vượt quá tổng viện trợ mà các nước này nhận được Thiệt hại do va chạm giao thông đường bộ chiếm 1-5% tổng sản phẩm quốc nội ở các nước thu nhập thấp và trung bình, và chiếm 2% tổng sản phẩm quốc nội ở các nước thu nhập cao

Về vấn đề an toàn giao thông (ATGT), Hiệp hội An toàn Đường bộ toàn cầu cho biết: số người chết và bị thương vì TNGT sẽ tăng 65% trong vòng 20 năm tới và chủ yếu xảy ra ở các nước đang phát triển TNGT sẽ là nguyên nhân thứ 3 dẫn đến gánh nặng bệnh tật và thương tích toàn cầu vào năm 2020 nếu không có cam kết mới để phòng tránh TNGT [19]

1.2.1.2 Đuối nước

Một báo cáo mới đây cho biết, mặc dù đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong cho trẻ em ở nhiều khu vực thuộc Châu Á, nhưng các chương trình có hiệu quả cao với chi phí thấp nhằm giảm tỉ lệ tử vong do đuối nước

Trang 9

vẫn chưa được quan tâm đúng mức Nghiên cứu Đuối Nước ở Trẻ Em được thực hiện tại bốn quốc gia là Băng-la-đét, Cam-pu-chia, Việt Nam và Thái Lan, cùng với hai tỉnh/thành phố của Trung Quốc là Tp Bắc Kinh và tỉnh Giang Tây Nghiên cứu này do Liên Minh vì Sự An Toàn của Trẻ Em (TASC), có trụ sở tại Florence, Italy, phối hợp của Văn Phòng Nghiên Cứu của UNICEF thực hiện Nghiên cứu chỉ ra rằng tại các quốc gia kể trên, cứ bốn trẻ em tử vong (1 đến 4 tuổi) thì có một trẻ bị tử vong do nguyên nhân đuối nước Con số này cao hơn số trẻ em tử vong do sởi, bại liệt, ho gà, uốn ván, bạch hầu và lao kết hợp lại Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng chi phí phòng chống đuối nước ở trẻ em không hề đắt hơn so với các can thiệp phòng chống các bệnh kể trên

“Lâu nay, đuối nước vẫn là một nguyên nhân gây tử vong dấu mặt”, ông Gordon Alexander, Giám Đốc Văn Phòng Nghiên Cứu của UNICEF cho biết “Trong ba thập kỷ qua, các quốc gia đã có những tiến bộ mạnh mẽ không ngừng trong việc giảm thiểu các bệnh truyền nhiễm Tuy nhiên, không có tiến

bộ nào đạt được trong việc giảm tỉ lệ tử vong do đuối nước Vì vậy, đuối nước nổi lên là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới tử vong ở trẻ em sau sơ sinh (sau một năm tuổi) ở các quốc gia được khảo sát Và đuối nước vẫn không nhận được

sự quan tâm thích đáng của các chính phủ.”

Báo cáo này cũng chỉ ra rằng đa số các ca tử vong do đuối nước đều có thể ngăn chặn được Trẻ thường bị chết đuối trong phạm vi bán kính cách nhà 20m và đều do trẻ không được người lớn trông nom, đi lang thang và sa vào những chỗ nước nguy hiểm Báo cáo cũng đưa ra minh chứng mới về các can thiệp phòng chống trong một chương trình nghiên cứu ở Băng-la-đét và Việt Nam, trong đó chỉ ra rằng:

- Tỉ lệ đuối nước ở trẻ em đi mẫu giáo làng giảm xuống hơn 80% do được trông nom, giám sát trực tiếp

Trang 10

- Tỉ lệ tử vong do đuối nước ở trẻ 4 tuổi và trẻ lớn hơn tham gia chương trình Bơi An Toàn (tập huấn bơi và cứu hộ an toàn) giảm xuống hơn 90%

Thành công của việc phòng chống đuối nước ở trẻ em cần phải có sự hợp tác giữa các ngành và điều quan trọng mang tính quyết định là xây dựng năng lực cho các cán bộ chính phủ và cộng đồng trong việc thực hiện và theo dõi các chương trình phòng chống đuối nước

Nghiên cứu Đuối nước ở trẻ em khẳng định rằng, đuối nước không phải

là một nguyên nhân gây tử vong mới, mà nó chỉ không được coi như một vấn

đề sức khỏe quan trọng trong các phương pháp tính toán, đánh giá Các số liệu trước đây chủ yếu dựa vào các con số báo cáo từ các bệnh viện và các cơ

sở y tế khác Tuy nhiên, hầu hết trẻ em chết do đuối nước không được đưa đến cơ sở y tế vì tử vong xảy ra tức thời, hoặc do các cơ sở y tế nằm quá xa cộng đồng, hoặc do những người có trách nhiệm báo cáo lại sợ các trách nhiệm về tài chính Do vậy, Báo cáo tranh luận rằng rõ ràng con số tử vong

do đuối nước được báo cáo thấp hơn nhiều so với thực tế

Theo tác giả Gordon Alexander, các chính phủ và các cơ quan phát triển có thể làm nhiều hơn nữa để hỗ trợ các can thiệp phòng chống đuối nước thông qua việc nhân rộng chương trình giáo dục mầm non/nhà trẻ, và tăng cường lồng ghép vào các chương trình phòng chống rủi ro thiên tai, giáo dục

và y tế công hiện có, cùng với việc cải thiện công tác lập bản đồ tỉ lệ đuối nước thực tế Báo cáo này chỉ rõ rằng đuối nước là một vấn đề nghiêm trọng, đến nay vẫn chưa hiện hình rõ ràng ở các quốc gia được khảo sát Báo cáo cũng cung cấp các bằng chứng cho thấy có các can thiệp có thể thực hiện được để cứu sống hàng ngàn sinh mạng trẻ em Giờ đây, chúng ta cần phải hành động ở những nơi chúng ta đã biết rõ về tình trạng đuối nước, và điều tra xem liệu tình trạng báo cáo chưa sát thực tế và các ca tử vong có thể ngăn chặn được này còn xảy ra ở những nơi nào khác nữa.”

Trang 11

Để ứng phó với tỉ lệ đuối nước ngày càng tăng, trong những năm qua UNICEF Việt Nam đã hộ trợ Chính phủ Việt Nam trong các hoạt động phòng chống đuối nươc trẻ em bao gồm xây dựng và thực hiện các chính sách an toàn giao thông đường thủy, nâng cao nhận thức về nguy cơ đuối nước và các biện pháp phòng chống hiệu quả; sửa sang nâng cấp nhà cửa và môi trường nhằm giảm thiểu nguy cơ đuối nước, đặc biệt cho trẻ em và quan trọng hơn cả

là dạy bơi cho trẻ em

“Vào cuối năm 2011, những trận lũ lụt lớn ở miền nam Việt Nam đã gây tử vong cho nhiều trẻ em, phần lớn là do đuối nước Điều này cho thấy cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng chống đuối nước”, bà Lotta Sylwander, Đại diện UNICEF Việt Nam nói “Chúng tôi vui mừng khi thấy rằng Chính phủ và các tổ chức quần chúng ở Việt Nam đã thấy được tầm quan trọng của phòng chống đuối nước ở Việt Nam và việc cần phải tăng cường hơn nữa các nỗ lực phòng chống đuối nước Chính phủ đã xây dựng Chương trình Quốc gia về phòng chống tai nạn thương tích 2011-2015, trong

đó một phần quan trọng liên quan đến việc phòng chống đuối nước trẻ em Tháng 4 năm 2012, Chính phủ cũng công bố Kế hoạch liên ngành trong việc phòng chống đuối nước trong cùng thời kỳ Chúng tôi tin tường rằng, với các

kế hoạch này, chúng ta có thể ngăn chặn được nhiều trẻ em bị tử vong do đuối nước” Báo cáo về đuối Nước ở trẻ em đã minh chứng về một nguyên nhân tử vong ở trẻ em mới được ghi nhận ở các quốc gia Châu Á thu nhập thấp và trung bình

1.2.2 Ở Việt Nam

1.2.2.1 Tình hình mắc và tử vong do tai nạn thương tích

* Tình hình mắc tai nạn thương tích chung:

Tai nạn thương tích là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam với

tỷ lệ tử vong và thương tích cao so với các bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm Thời gian qua, công tác phòng, chống TNTT đã có nhiều chuyển biến

Trang 12

tích cực về mọi mặt, đã có nhiều thành công trong kiểm soát TNTT Tuy nhiên, TNTT vẫn là một thách thức lớn đối với Việt Nam trước thực trạng số trường hợp TNTT vẫn còn cao Bộ Y tế - Báo cáo Tổng quan ngành Y tế Việt Nam năm 2010, 2011 cho biết, TNTT là gánh nặng bệnh tật lớn, đăc biệt đối với nam giới (22%) và được xếp vào các vấn đề sức khoẻ ưu tiên; năm 2008

có 7.370 người bị thương và 10.506 người tử vong do tai nạn giao thông đường bộ Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai là ba tỉnh/thành phố có số người bị TNGT và tử vong cao nhất trong cả nước (số ca

là 411.358 và 322, số tử vong là 954.437 và 441) [10], [15]

Theo kết quả khảo sát về TNTT tại Việt Nam năm 2010 (VNIS 2010) công bố cho biết TNTT vẫn, đã và đang là một trong những nguyên nhân quan trọng gây tử vong ở Việt Nam, đặc biệt là nhóm tuổi dưới 20 Với tỷ suất tử vong là 38,6/100.000 dân, ước tính mỗi năm Việt Nam có khoảng trên 35.000 trường hợp tử vong do các nguyên nhân TNTT khác nhau Tử vong do các nguyên nhân TNTT chiếm 12,8% trong tổng số nguyên nhân tử vong hàng đầu trên quần thể Trong tổng số 20 nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thì TNTT chiếm 5 nguyên nhân [66]

Cũng theo VNIS 2010, tỷ suất chấn thương không gây tử vong ở mức 2.092/100.000 dân cho thấy mỗi ngày nước ta có khoảng 5.000 người bị thương và trong số đó có đến gần 1.800 trường hợp phải nhập viện điều trị Với tỷ lệ 36% nạn nhân bị thương phải nhập viện và nằm điều trị tối thiểu 1 ngày và trung bình là 10 ngày thì mỗi năm hệ thống bệnh viện Việt Nam cần phải có khoảng 17.000 giường để đón tiếp bệnh nhân bị TNTT Có đến 51% nạn nhân TNTT là người có thu nhập chính trong gia đình, số còn lại là trẻ nhỏ và người có thu nhập phụ [66]

Các nguyên nhân hàng đầu TNTT gây tử vong là TNGT, ngã, vật sắc nhọn, động vật tấn công và vật tù/vật rơi; trong khi đó, các nguyên nhân TNGT, ngã, đuối nước, điện giật, bạo lực cá nhân là những nguyên nhân lớn

Trang 13

nhất gây TNTT không tử vong ở Việt Nam Theo kết quả phân tích các nguyên nhân tử vong tại các khu vực sống thì tỷ suất tử vong ở khu vực nông thôn đều cao hơn khu vực thành thị, trừ vật sắc nhọn Đặc biệt, 3 nguyên nhân hàng đầu là TNGT, ngã và đuối nước

Tai nạn thương tích đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới cuộc sống của mọi người dân trong xã hội Mỗi năm, TNTT đã cướp nhiều sinh mạng, trong đó phần lớn các nạn nhân đều trong độ tuổi lao động TNTT còn để lại hậu quả nặng nề cho bản thân nạn nhân, những người phải chịu di chứng tàn tật vĩnh viễn, cho những gia đình phải chịu đựng nỗi đau tinh thần và trở nên nghèo túng khi mất đi trụ cột lao động hoặc phải gánh chịu những chi phí chữa bệnh Chỉ tính riêng TNGT, với tỷ lệ tàn tật vĩnh viễn là 5% (trong số các nạn nhân nhập viện) thì mỗi năm sẽ có khoảng trên 15.000 nạn nhân tai nạn giao thông tàn tật và con số này sẽ còn tích lũy từng năm Xã hội cũng phải gánh chịu những hậu quả nặng nề cho các chi phí liên quan đến điều trị, trợ cấp, trợ giúp cho nạn nhân và gia đình nạn nhân do hậu quả mà TNTT để lại Theo VNIS

2010, có khoảng 6% nạn nhân bị tàn tật vĩnh viễn do các loại TNTT và 29%

để lại di chứng Gánh nặng về kinh tế, xã hội, y tế và phúc lợi xã hội cho nhóm này là rất lớn [66]

Năm 2011 tại 55 tỉnh/thành phố có 1.247.209 trường hợp mắc TNTT với tỉ suất là 1.645/100.000 người, tăng 0,16% so với năm 2010 Nhóm tuổi 15-19 có tỉ suất mắc TNTT cao nhất là 2.402/100.000 người; tiếp theo là nhóm 20-60 tuổi với tỉ suất 1.840/100.000; thấp nhất là nhóm 0-4 với tỉ suất 949/100.000 người Tổn thương chi có tỉ lệ mắc cao nhất 33,52% Địa điểm tai nạn: Tỉ lệ mắc TNTT trên đường đi chiếm tỉ lệ cao nhất (44,27%), chiếm tỉ

lệ cao thứ hai là TNTT tại nhà với 23,65% TNTT tại trường học có tỉ lệ mắc thấp nhất (3,39%) Tỉ lệ thương tích do TNGT đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây TNTT chiếm 40,06%, tiếp theo là tai nạn lao động 13,42%, ngã 18,16%, bạo lực 7,92% So với năm 2010, tỉ lệ mắc TNGT tăng 13%

Trang 14

Số liệu ghi nhận được trong năm 2010 cho thấy toàn quốc có 36.869 trường hợp tử vong do TNTT, chiếm tới 10,84% tổng số tử vong nói chung So với năm 2009, số tử vong năm 2010 tăng 6,8% Tỷ suất tử vong trung bình một năm do TNTT trong giai đoạn 2005-2010 là 44,3/100.000 dân Nam giới có nguy cơ tử vong do TNTT cao hơn nữ giới 3 lần Nguyên nhân tử vong chính

là TNGT (17,91/100.00 dân), tiếp đến là đuối nước (7,12/100.00) và tự tử (4,78/100.000) Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai sau TNGT, chiếm 10% tổng số tử vong nói chung [5], [60]

Báo cáo mắc TNTT trong các cơ sở y tế được thực hiện định kỳ 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng và một năm theo Quyết định 25/QĐ-BYT ngày 2/8/2006 của Bộ trưởng Bộ y tế Trong giai đoạn 2011-2013, trên 50/63 tỉnh thường xuyên có báo cáo về TNTT định kỳ theo quý Thống kê số liệu TNTT cho thấy:

Trung bình (TB) mỗi năm có khoảng 1.150.000 trường hợp mắc TNTT với tỷ suất là 1.557/100.000 người 6 tháng đầu năm 2012 có 584.983 trường hợp TNTT Nhóm tuổi 15-19 có tỷ suất mắc TNTT TB năm cao nhất 2.400/100.000 người, tiếp theo là nhóm 20-60 tuổi với tỷ suất 1.835/100.000; thấp là nhóm 0-4 với tỷ suất 921/100.000 người Tổn thương chi có tỷ lệ mắc cao nhất 33,5% Địa điểm tai nạn: tỷ lệ mắc TNTT trên đường đi là cao nhất (44,3%), TNTT tại nhà (23,7%), tại trường học (3,5%) [18], [26]

Các số liệu thống kê về tình hình TNTT của Bộ Y tế từ 2006 – 2012 đã cho thấy tỷ lệ thương tích do TNGT đứng hàng đầu trong các nguyên nhân gây TNTT chiếm trên 40%, tiếp theo là tai nạn lao động, ngã chiếm tỷ lệ trên 10%; bạo lực chiếm tỷ lệ trên dưới 10% [17], [18], [25]

* Tình hình tử vong do tại nạn thương tích chung:

Theo kết quả Điều tra y tế quốc gia 2001-2002 cho thấy: TNTT đang là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở Việt Nam, tai nạn đứng thứ 4 trong các nguyên nhân gây tử vong ở nước ta [31], [32]

Trang 15

Trong thống kê tử vong do TNTT tại cộng đồng được thu thập liên tục

từ năm 2005 đến nay, theo sổ A6/YTCS theo Quyết định số 25/QĐ-BYT ngày 22/8/2006 của Bộ trưởng Bộ y tế Số liệu ghi nhận được trong năm 2010-2012 cho thấy toàn quốc

Bảng 1.3 Tình hình tử vong do TNTT giai đoạn 2005-2012

do TNTT trong giai đoạn 2005-2012 là 44,24/100.000 dân

Nam giới có nguy cơ tử vong do TNTT cao hơn nữ giới 3 lần Mô hình nguyên nhân tử vong tương tự nhau, trong đó nguyên nhân tử vong cao nhất

là TNGT (20,14/100.000 dân), tiếp đến là đuối nước (7,82/100.000 dân) và tự

tử (5,18/100.000) Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 2 sau TNGT, chiếm 10% tổng số tử vong do TNTT nói chung [22], [25]

1.2.2.2 Tình hình tai nạn giao thông

Tình TNGT đến cấp cứu tại bệnh viện được thực hiện theo Quyết định

số 1356/QĐ-BYT ngày 18/4/2008 của Bộ trưởng Bộ y tế [3]

Năm 2011, tổng số trường hợp mắc TNGT đến cấp cứu của 49 bệnh viện

là 135.224, chiếm 40,9% tổng số các trường hợp TNTT Số trường hợp tử vong và nặng xin về là 2.444 chiếm 1,8%, tỉ lệ này giảm so với năm 2010 với 2,2 % Về chấn thương sọ não (CTSN) do tai nạn giao thông (TNGT): 23.426

Trang 16

trường hợp bị CTSN do TNGT chiếm 17,3% giảm so với cùng kỳ năm 2010, trong đó 79,4% là nam giới Tỉ lệ dưới 14 tuổi bị CTSN là 6,6%, tỉ lệ này giảm so với 6,9% của năm 2010; Tỉ lệ chấn thương sọ não không đội mũ bảo hiểm chiếm 12,0% trong số bị CTSN, trong đó nhóm tuổi 0-4 chiếm tỉ lệ cao nhất 25,9%; Tỉ lệ bị CTCS cổ chiếm 0,5% trên tổng số TNGT Tỉ lệ đội mũ bảo hiểm không cài quai bị TNGT 3,1%, tỉ lệ mũ bảo hiểm không rõ nguồn gốc bị TNGT 21,9%; Tỉ lệ TNGT do mô tô, xe máy 77%, tỉ lệ tự gây tai nạn chiếm 9,7% số trường hợp bị TNGT [15]

Báo cáo chung tổng quan ngành y tế Việt Nam năm 2011 của Bộ Y tế đã cho biết ở nam giới, TNGT (8,0%) là nguyên nhân thứ 2 sau đột quỵ (10,0%) của gánh nặng bệnh tật Đây là 2 chỉ số quan trọng góp phần làm cho tỷ lệ gánh nặng bệnh tật ở nam giới chiếm 56% trong tổng số gánh nặng bệnh tật ở Việt Nam năm 2008 là 12,3 triệu DALYs Gánh nặng bệnh tật do tử vong sớm của các bệnh và chấn thương ở nam giới năm 2008 là 4,1 triệu YLL (Years of life lost due to premature mortality - Số năm mất đi do tử vong sớm) và ở nữ là 2,7 triệu YLL Có 6 nguyên nhân chính gây tử vong ở nam giới, trong đó có nguyên nhân TNGT chiếm tỷ lệ 9,0% [15]

Nghiên cứu “Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam năm 2008 của Trường Đại học Y tế công cộng - Viện Chiến lược và chính sách y tế (Bộ

Y tế) cho thấy: Số lượng ước tính tử vong ở Việt Nam năm 2008 là 541.229 người, trong đó tử vong nam chiếm 54% và nữ là 46% Có 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong theo giới, TNGT là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 3 ở nam giới (17 330/290.624 = 6%) sau đột quỵ (18%) và ung thư gan (7%) Trong khi nguyên nhân này ở nữ giới lại đứng hàng thứ 9 (5.750/250.605 = 2%) sau đột quỵ (23%); COPD (6%); viêm phổi (4%); bệnh mạch vành (4%); đái tháo đường (4%); ung thư gan (3%); ung thư phổi (3%); lao (3,0%) [53]

Trang 17

Báo cáo chung tổng quan ngành y tế Việt Nam năm 2012 của Bộ Y tế đã cho biết số vụ tai nạn, số người bị thương và tử vong do tai nạn, đặc biệt là tai nạn giao thông ngày càng gia tăng trong 10 năm qua Tử vong do chấn thương các loại và TNGT đứng hàng đầu trong các nguyên nhân tử vong ở các bệnh viện hiện nay Nước ta bình quân mỗi ngày có khoảng 30 người tử vong và 70 người bị thương gây tàn tật Theo niên giám thống kê năm 2010 của Bộ Y tế,

tỷ suất tử vong do TNGT năm 2010 là 17,9/100.000 dân (nam cao gấp hơn 3 lần nữ: 28.3/1000.000 và nữ là 7,7/100.000 dân) [11], [12]

1.2.2.3 Tình hình đuối nước

Đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây ra tai nạn thương tích dẫn đến

tử vong ở trẻ em, chiếm khoảng 50% tỷ lệ tai nạn thương tích Năm 2008, tính trung bình tại 15 tỉnh/thành phố được điều tra, số tử vong do đuối nước cao nhất, đã có tới 106 trẻ em từ 0-19 tuổi bị tử vong do đuối nước Con số này tương đương với tỷ lệ tử vong là 10,4 trường hợp/100.000 trẻ, cao gấp 10 lần tỉ lệ tử vong đuối nước ở các nước phát triển và có nguy cơ tiếp tục gia tăng Điều này phản ánh thực trạng đáng báo động về vấn đề đuối nước trẻ em

ở Việt Nam

Theo thống kê mới nhất của Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, tỷ lệ tai nạn chết đuối nước ở trẻ em Việt Nam rất cao, chiếm 22,6% (trong đó, trẻ dưới 15 tuổi là 70%), chỉ đứng sau tỷ lệ tử vong do tai nạn giao thông, chiếm 26,7%

So với các nước phát triển, tỷ lệ chết đuối nước ở trẻ em Việt Nam cao gấp 10 lần Cũng theo thống kê này, trên 50% các trường hợp chết đuối xảy ra ngoài trời khi trẻ tắm sông, hồ và tắm biển

Tai nạn đuối nước đang gia tăng và thực sự là một vấn đề gây nhiều bức xúc trong cộng đồng, nó gây ảnh hưởng đến tâm lý của mỗi người dân và nghiêm trọng hơn là đến sự sống còn và phát triển của trẻ em Theo kết quả điều tra của Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNICEF) công bố: Trung bình mỗi năm, ở Việt Nam có khoảng trên 7.000 trẻ em bị

Trang 18

chết đuối nước Đặc biệt là trong những tháng nghỉ hè và những dịp nghỉ lễ,

tỷ lệ chết đuối nước càng tăng cao

Qua số liệu thống kê cho thấy, chỉ trong vòng từ sau Tết Nguyên đán năm 2014 đến tháng 7/2014, trên địa bàn các tỉnh, thành trong cả nước đã xảy

ra hàng chục vụ chết đuối nước mà nạn nhân phần lớn là các cháu học sinh Các nguyên nhân dẫn đến đuối nước cho trẻ em Có rất nhiều nguyên nhân, trong đó có việc mất an toàn tại các bến khách ngang sông cũng như thiếu các phương tiện giao thông đường thuỷ bảo đảm an toàn đi lại cho người dân trong đó có trẻ em

Việt Nam có hơn 3260 km bờ biển chạy qua 28 Tỉnh, Thành phố ven biển với hơn 2.360 sông, kênh lớn nhỏ dài khoảng 220.000km Bộ GTVT hiện đang quản lý trên cả nước hơn 2.300 bến khách ngang sông, dọc tuyến với hơn 5.000 phương tiện hoạt động (Việt Nam hiện có 737 tuyến vận tải với tổng số 806.770 phương tiện thủy các loại); hàng năm vận chuyển khoảng hơn 80 triệu lượt hành khách, chiếm khoảng hơn 25% khối lượng vận tải của

cả nước Luật Giao thông đường thủy nội địa được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 Tuy nhiên, việc thực thi Luật trong thực tế vẫn còn nhiều bất cập như: vẫn còn người điều khiển phương tiện ở một số bến chưa có bằng, chứng chỉ chuyên môn; chất lượng của phương tiện giao thông đường thủy không được đảm bảo, thiếu thiết bị an toàn nhất là phao cứu sinh; chở quá tải theo qui định… đặc biệt hay gặp ở một số phương tiện chở khách ngang sông (đò ngang), việc quản lý, điều hành hoạt động của bến khách ngang sông của chính quyền ở một số địa phương còn chưa được quan tâm đúng mức

“Vào cuối năm 2011, những trận lũ lụt lớn ở miền nam Việt Nam đã gây

tử vong cho nhiều trẻ em, phần lớn là do đuối nước Điều này cho thấy cần phải đẩy mạnh hơn nữa công tác phòng chống đuối nước”, bà Lotta Sylwander, Đại diện UNICEF Việt Nam nói “Chúng tôi vui mừng khi thấy rằng Chính phủ và các tổ chức quần chúng ở Việt Nam đã thấy được tầm

Trang 19

quan trọng của phòng chống đuối nước ở Việt Nam và việc cần phải tăng cường hơn nữa các nỗ lực phòng chống đuối nước Chính phủ đã xây dựng Chương trình Quốc gia về phòng chống tai nạn thương tích 2011-2015, trong

đó một phần quan trọng liên quan đến việc phòng chống đuối nước trẻ em Tháng 4 năm 2012, Chính phủ cũng công bố Kế hoạch liên ngành trong việc phòng chống đuối nước trong cùng thời kỳ Chúng tôi tin tường rằng, với các

kế hoạch này, chúng ta có thể ngăn chặn được nhiều trẻ em bị tử vong do đuối nước” Báo cáo về đuối Nước ở trẻ em đã minh chứng về một nguyên nhân

tử vong ở trẻ em mới được ghi nhận ở các quốc gia Châu Á thu nhập thấp và trung bình

1.3 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ BỆNH NHÂN TAI NẠN GIAO THÔNG Ở VIỆT NAM

- Số liệu thống kê 100 bệnh viện trên toàn quốc về tình hình TNGT trong

3 năm (2010 – 2012) như sau (bảng 1.4):

Bảng 1.4 Tỷ lệ bệnh nhân nhập viện do TNGT trong tổng số nhập

viện do TNTT (2010-2012)

Thời gian

Tổng số

BN TNTT nhập viện

BN TNGT nhập viện Nặng và

xin về

Số bệnh viện báo cáo

Số trường hợp tử vong và nặng xin về là 2.311 chiếm 1,8% Về CTSN do

Trang 20

TNGT: 22.426 trường hợp bị CTSN do TNGT chiếm 17,3% trong đó 79,1%

là nam giới Tỷ lệ dưới 14 tuổi bị CTSN là 6,2%, tỷ lệ này giảm so với 6,9% của năm 2010; tỷ lệ CTSN không đội mũ bảo hiểm chiếm 12,0% trong số CTSN, trong đó nhóm 0-4 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất 24,2%; Tỷ lệ bị chấn thương cột sống cổ chiếm 0,5% trên tổng số TNGT Tỷ lệ đội mũ bảo hiểm không cài quai bị TNGT 2,8%, tỷ lệ mũ bảo hiểm không rõ nguồn gốc bị TNGT 21,4%; Tỷ lệ TNGT do mô tô, xe máy 76%, tỷ lệ tự gây tai nạn chiếm 9,51% số trường hợp bị TNGT [11], [19], [20], [21], [26]

- Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thái và cộng sự về “Bệnh nhân bị tai

nạn giao thông tại bệnh viện Trung ương Huế năm 2003” cho thấy: Đ ặc điểm

(46,4%); độ tuổi từ 16 – 50 chiếm tỷ lệ 66,4%; nguyên nhân xảy ra tại nạn do

xe máy chiếm tỷ lệ cao nhất (57,0%) [53]

- Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Chỉnh về “Đặc điểm dịch tễ học ở 400 bệnh nhân tai nạn giao thông đường bộ tại Hải Phòng năm 1995” cho thấy:

+ Về đặc điểm của bệnh nhân TNGT: Nam giới chiếm tỷ lệ (66,1%)

cao hơn nữ giới (33,9%); độ tuổi từ 20 – 59 chiếm tỷ lệ 71,8%; Nguyên nhân gây tai nạn do xe máy chiếm tỷ lệ cao nhất (42,7%) [38]

+ Về cơ cấu thương tích và công tác sơ cấp cứu trước bệnh viện đối với bệnh nhân TNGT: Tổn thương phần mềm chiếm tỷ lệ 72,5%; thời gian nạn

nhân được đưa đến bệnh viện từ 30 phút đến 1 giờ là 57,9%; phương tiện vận chuyển bệnh nhân tới viện: Ô tô các loại 45,7%; xích lô 36,4%, các loại xe khác 33%, xe máy 13,6% và xe cứu thương chỉ vận chuyển được 12,7% [28]

- Nghiên cứu của Nguyễn Mạnh Nhâm về “Cấp cứu tai nạn giao thông tại bệnh viện Việt Đức năm 1998” cho thấy: bệnh nhân TNGT chủ yếu xảy ra

ở nam giới (65,3%), độ tuổi trung bình là 31,5, xe máy là phương tiện gây tai nạn giao thông chiếm tỷ lệ cao nhất (64,7%) Bệnh nhân bị CTSN chiếm tỷ lệ 28% và tỷ lệ bệnh nhân tử vong tại bệnh viện là 3% [49]

Ngày đăng: 01/07/2023, 23:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Tỷ lệ tử vong do TNGT đường bộ (trên 100.000 dân) - ghiên cứu thực trạng tai nạn thương tích cộng đồng thành phố Hà Nội (2013-2015) và hiệu quả giải pháp can thiệp phòng chống tai nạn giao thông, đuối nước tại một số xã
Bảng 1.2. Tỷ lệ tử vong do TNGT đường bộ (trên 100.000 dân) (Trang 7)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w