Các giải pháp chủ yếu tập trung tác động vào việc nâng cao kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống đuối nước, qua đó góp phần giảm nguy cơ mắc và tử vong trẻ em do đuối nước tạ
Trang 1MỞ ĐẦU
Đuối nước hiện nay là một trong những vấn đề y tế công cộng được quan tâm trên toàn thế giới Theo Tổ chức Y tế thế giới trong năm 2017 đã có 360.000 người tử vong do đuối nước, trong đó trên 45% là trẻ em và vị thành niên và trẻ 1-4 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất Ở hầu hết các quốc gia, đuối nước là một trong ba nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong do tai nạn thương tích không chủ ý, với tỷ lệ cao nhất ở trẻ em dưới 5 tuổi [34][63] [66] Gánh nặng bệnh tật và tử vong do đuối nước được tìm thấy ở tất cả các nền kinh tế và khu vực tuy nhiên: 96% trường hợp tử vong do đuối nước được thuộc các nước có thu nhập trung bình và thấp; hơn 60% trường hợp đuối nước xảy ra ở các quốc gia thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương và Đông Nam Á [5][37][64][65]
Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ trẻ em tử vong do đuối nước cao nhất khu vực và cao gấp 10 lần so với các nước phát triển [6][38] Ở nước ta, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong do tai nạn thương tích không chủ ý ở trẻ em 0-14 tuổi, đặc biệt là trẻ dưới 5 tuổi và là nguyên nhân gây tử vong thứ hai ở nhóm tuổi 15-19 tuổi [7][14][31] Trung bình mỗi năm từ năm 2005-2009, tỷ suất tử vong do đuối nước ở trẻ em là 12,96 trẻ/100.000 trẻ/năm [25] Kết quả một cuộc khảo sát ở Trường Đại học
Y tế công cộng Hà Nội được tiến hành trên toàn quốc vào năm 2001 cho thấy
tỷ lệ chết đuối ở trẻ em là 39,2/100.000 tương đương 12.500 ca chết đuối Tỷ
lệ này cao gấp 10 lần so với các nước phát triển [7] Còn theo Tổ chức liên minh vì an toàn trẻ em, thì hằng năm có 11.700 trẻ chết đuối tại Việt Nam [32] Mặc dù trong thời gian gần đây tỷ lệ đuối nước trẻ em tại Việt Nam có giảm nhưng đuối nước trẻ em vẫn là một trong những vấn đề cần phải quan tâm trong công tác phòng ngừa tai nạn thương tích trẻ em trên cả nước nói
Trang 2chung và tại một tỉnh thành nói riêng, đặc biệt là các tỉnh thuộc khu vực sông nước hằng năm phải đối mặt lũ, lụt
Theo báo cáo của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Bình Định, giai đoạn từ năm 2011 đến tháng 6 năm 2016, toàn tỉnh có 2.186 ca trẻ em mắc tai nạn thương tích trong đó có 267 em tử vong Trẻ em tử vong do đuối nước là
208 em, chiếm 77,9% [17] Vì vậy, cần được quan tâm và can thiệp đến đuối nước trẻ em để ngăn chặn đuối nước là rất quan trọng [41]
Đến nay, Tỉnh Bình Định dù có số liệu thống kê về tình hình tai nạn đuối nước, đề tài nghiên cứu vấn đề này cũng như đề xuất giải pháp can thiệp
để giảm nguy cơ mắc và tử vong trẻ em do đuối nước trong phạm vi toàn tỉnh nhưng còn ít, chưa đi vào chiều sâu Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện khảo sát trong phạm vi toàn tỉnh để xác định tỷ lệ mắc, tử vong và các yếu tố liên quan đến đuối nước trẻ em từ đó đề xuất giải pháp can thiệp Các giải pháp chủ yếu tập trung tác động vào việc nâng cao kiến thức, thực hành của người dân về phòng chống đuối nước, qua đó góp phần giảm nguy cơ mắc và tử vong trẻ em do đuối nước tại tỉnh Bình Định
Mục tiêu nghiên cứu:
d 6 ổ 2015, 2016 p p ệp
d ệ
3 ệp
d ệ
Trang 3Chương 1
TỔNG QUAN 1.1 Trẻ em
Căn cứ Điều 1 Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 11 thông qua ngày 05 tháng 4 năm 2016: Trẻ em là người dưới 16 tuổi [19]
1.2 Khái niệm Đuối nước
Đuối nước là bất kỳ một chất lỏng nào khi xâm nhập vào đường thở (mũi, mồm, khí phế quản, phổi) làm cản trở sự hô hấp Đuối nước dẫn đến thiếu oxy cung cấp lên não, nếu không được cấp cứu kịp thời nạn nhân sẽ bị bất tỉnh, chết hoặc tổn hại nghiêm trọng đến não gây ra các di chứng như rối loạn học tập, vấn đề về trí nhớ và mất chức năng cơ bản vĩnh viễn hay trạng thái thực vật vĩnh viễn [3][36]
Trẻ em có đặc điểm là tò mò, hiếu động, thích nghịch nước, trong khi bản thân trẻ chưa ý thức được sự nguy hiểm, đồng thời sức trẻ yếu nên khi bị đuối nước rất dễ bị ngạt thở trong khoảng thời gian rất ngắn Nếu không can thiệp kịp thời với kỹ thuật hô hấp chính xác thì nguy cơ tử vong rất cao [3][21]
Khi trẻ bị đuối nước, ngay lập tức trẻ ngừng thở và nhịp tim chậm lại
do phản xạ Nếu tiếp tục ngừng thở sẽ dẫn đến thiếu oxy máu gây tăng nhịp tim, tăng huyết áp và tan máu Nếu cơn ngừng thở kéo dài từ 20 giây đến 2 hoặc 5 phút, nhịp thở xuất hiện trở lại khiến nước bị hít vào qua nắp thanh quản, gây co thắt thanh quản tức thì; nước tràn vào phế nang gây rối loạn nhịp tim, ngừng tim và tử vong [3]
1.3 Tình hình đuối nước trên thế giới
Đuối nước là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ mười ba trong
Trang 4tổng số nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em dưới 15 tuổi Tỷ suất tử vong do đuối nước ở trẻ em và vị thành niên trên toàn cầu là 7,2/100.000 dân và có sự khác biệt đáng kể theo vùng, cụ thể tỷ suất tử vong ở các quốc gia có thu nhập cao (tỷ suất tương ứng là 7,8/100.000 dân so với 1,2/100.000 dân) [63] Các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương
có tỷ suất tử vong do đuối nước cao nhất (13,9/100.000 dân), tiếp đến là khu vực Châu Phi (7,2/100.000 dân), khu vực Đông Địa Trung Hải (6,8/100.000 dân) và khu vực Đông Nam Á (6,2/100.000 dân) [63]
Trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ suất tử vong do đuối nước cao nhất trong các nhóm tuổi, đặc biệt là trẻ 1-4 tuổi [63] Tỷ suất tử vong do đuối nước ở trẻ 1-4 tuổi trên thế giới là 9,8/100.000 dân [63] Ở Úc, đuối nước là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong do tai nạn thương tích không chủ ý ở trẻ 1-4 tuổi, tử vong do đuối nước chiếm hơn 30% tử vong do tai nạn thương tích không chủ
ý ở nhóm trẻ này vào năm 2009 [44] Ở Băng-la-đét, đuối nước chiếm 20% số
ca tử vong ở trẻ 1-4 tuổi [37][64]
Tuy nhiên số ca tử vong do đuối nước thực tế trên thế giới có thể cao hơn nhiều so với số ca tử vong mà báo cáo Gánh nặng bệnh tật toàn cầu đã đưa ra đặc biệt là ở một số vùng Ở khu vực Đông Nam Á, theo báo cáo từ Hệ thống giám sát quốc gia cho thấy đuối nước là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong ở trẻ 0-18 tuổi, với tỷ suất là 30/100.000 dân [47], con số này hoàn toàn đối lập với báo cáo Gánh nặng bệnh tật toàn cầu là 6,2/100.000 dân [63] Ở Băng-la-đét, số ca tử vong do đuối nước ở trẻ em 0-
14 tuổi năm 2002 theo báo cáo Gánh nặng bệnh tật toàn cầu đã ước lượng non 330% so với báo cáo từ Hệ thống giám sát quốc gia, tương tự ở Thái Lan năm
2003 là 58% và Cam-pu-chia năm 2006 là 74% [46] Lý do của sự khác biệt này có thể là do ước tính của Gánh nặng bệnh tật toàn cầu về số ca tử vong do
Trang 5đuối nước đã loại bỏ việc ngập lụt hoặc các sự cố về giao thông đường thủy [46]
Bên cạnh đó tử vong do đuối nước chỉ là phần nổi của tảng băng chìm
so với đuối nước không gây tử vong Một nghiên cứu cho thấy rằng cứ mỗi 10 trẻ tử vong vì đuối nước chỉ có 140 trẻ được điều trị tại khoa cấp cứu và 36 trẻ phải nhập viện để tiếp tục điều trị lâu dài hơn [61] Ngoài ra ở một số quốc gia, số liệu về đuối nước không gây tử vong không được báo cáo hoặc có báo cáo nhưng không đầy đủ Chính những điều này có thể đã đánh giá thấp thực trạng đuối nước và từ đó ảnh hưởng đến việc sự lựa chọn chính sách y tế ưu tiên, đặc biệt là ở các quốc gia có nhiều vùng sông nước và thường xuyên ngập lụt
Nghiên cứu của Ahmed và cộng sự được tiến hành vào năm 1999 nhằm khảo sát các yếu tố dịch tễ liên quan đến đuối nước trên 661 ca chết đuối trẻ
em từ 1-4 tuổi từ năm 1983-1995 tại Matlad, Bangladesh thì cho thấy 61% ca chết đuối thường xảy ra trước buổi trưa khi mẹ trẻ đang bận công việc nhà (nấu ăn, giặt đồ, công việc khác) và không trông chừng trẻ để trẻ đi chơi gần sông, 12% ca chết đuối xảy ra khi mẹ đang nói chuyện hoặc đang ngủ và 13%
ca chết đuối là do mẹ đang thực hiện các công việc khác [29]
Trong báo cáo điều tra dân số tại Bangladesh, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chết đuối ở trẻ em là do thiếu sự quan tâm của cha mẹ Hai phần ba các trường hợp chết đuối khi trẻ chơi một mình không có người lớn đi kèm hay đi cùng với trẻ khác không có khả năng cứu chúng Vào thời điểm trẻ bị té xuống nước, hầu hết các bà mẹ hoặc người trông trẻ đang làm việc trong gia đình hay đi ra ngoài làm việc [39]
Nghiên cứu của Li Yang, Quan-Quin Nong, Chun-li Ling và cộng sự năm 2007 tìm hiểu các yếu tố nguy cơ của người chăm sóc trẻ liên quan đến chết đuối trẻ em tại khu vực nông thôn Trung Quốc với 133 ca chết đuối và
Trang 6266 ca chứng cùng tuổi Kết quả cho thấy người chăm trẻ là ông bà chiếm tỷ
lệ khá cao ở cả hai nhóm bệnh và chứng (55,6% và 44,4%) Sức khỏe của người chăm sóc cũng được khảo sát trong đó trên 90% người chăm sóc sức khỏe tốt Người chăm sóc cũng được hỏi là có biết bơi hay không, và kết quả cho thấy 72,2% không biết bơi Về kiến thức hô hấp nhân tạo, không có người chăm sóc trẻ nào ở cả hai nhóm biết cách hô hấp nhân tạo khi ngạt nước Về giám sát trẻ khi trẻ chơi gần nước hoặc bơi trong ao hồ thì có đến 78% người chăm sóc ở nhóm chứng và chỉ có 57,9% người chăm sóc ở nhóm bệnh là có giám sát trẻ [43]
Một nghiên cứu cắt ngang được tiến hành vào năm 1998 tại Miền Tây nước Úc với đối tượng là các ca chết đuối từ năm 1987-1996 Nghiên cứu khảo sát cắt ngang các yếu tố liên quan đến chết đuối trẻ em như giới tính, tuổi, chủng tộc… trong đó có sự giám sát của người chăm sóc trẻ Khi khảo sát yếu tố này kết quả cho thấy có 4 trường hợp chết trong bồn tắm khi trẻ được để trong bồn tắm khi không có người coi sóc trong khoảng thời gian từ 2-5 phút Ba trẻ chết trong bồn khi ba mẹ bận rộn ở trong phòng khác Một trẻ
bị chết khi ba mẹ đang ngủ Trong 16 ca được khai báo chết tại khu vực ao,
hồ, đầm thì có 2 trẻ chết khi đi quanh nhà khi ba mẹ đang ngủ, 05 trẻ chết khi chơi với trẻ khác mà không có sự giám sát của ba mẹ [44]
Nghiên cứu của Pettrass L.A và cộng sự được tiến hành năm 2011 hồi cứu các ca chết đuối không chủ ý từ năm 2000 đến năm 2009 Tổng cộng có
339 trường hợp chết đuối được khảo sát và tác giả phát hiện 71,7% các trường hợp chết đuối đều do thiếu sự giám sát của người chăm sóc Nghiên cứu cũng rút ra kết luận thiếu giám sát của cha mẹ có mối liên quan chặt chẽ đến đuối nước ở trẻ em [50]
Nghiên cứu của Micheal G Landen và Ursula Bauer được tiến hành vào năm 2003 Nghiên cứu này hồi cứu các ca chết ở trẻ em ≤ 6 tuổi tại hai
Trang 7bang của Mỹ là Lousiana và Alaska Mục tiêu nghiên cứu là mô tả mối liên quan giữa các vi phạm tiêu chuẩn an toàn trẻ em (10 tiêu chuẩn) và tử vong ở
do mọi nguyên nhân tai nạn thương tích Trong các vi phạm an toàn này có vi phạm “không giám sát trẻ của người chăm sóc” Kết quả nghiên cứu như sau: Thiếu giám ở người chăm sóc chiến đến 43% các ca tử vong do mọi nguyên nhân tai nạn thương tích Thiếu giám sát trong nghiên cứu được chia ba mức
độ và tỷ lệ các ca tử vong theo 3 mức này như sau: Giám sát không đầy đủ: 45,3%; thiếu giám sát: 35,5%; thiếu giám sát nguy hiểm: 17,2% Thiếu giám sát còn liên quan đến các yếu tố sau: giới tính trẻ; nam thiếu giám sát nhiều hơn nữ; chủng tộc: người bản xứ Alaska và người da trắng lại thiếu giám sát nhiều hơn chủng tộc khác; loại tai nạn thương tích: trong đó chết đuối, chết khi đi bộ và chết cháy có mối liên quan chặt hơn so với các loại tai nạn khác [47]
Trong nghiên cứu của Adnant A Hyder và cộng sự được tiến hành vào năm 2008 có so sánh các đặc tính của các đuối nước tại hai nước của Mỹ, một nước có thu nhập cao, và Bangladesh, một nước có thu nhập thấp Kết quả so sánh cho thấy độ tuổi dễ bị đuối nước của cả hai nước là dưới 5 tuổi và trẻ nam luôn có tỷ lệ đuối nước cao hơn trẻ nữ Về khả năng bơi lội thì tại Bangladesh khả năng bơi lội ở mọi lứa tuổi đều thấp, trong khi đó ở Mỹ thì khả năng bơi lội nhỏ dần theo tuổi khi trẻ lớn dần Tại Bangladesh người mẹ luôn là người chăm sóc trẻ hoặc là người chăm sóc lớn hơn trẻ nhỏ hơn, trong khi tại Mỹ các ca đuối nước xảy ra khi người giám sát không quan sát theo dõi trẻ đầy đủ hoặc là đồng trang lứa cùng coi sóc nhau [28]
Một báo cáo tổng hợp của Jon Ann Nieves từ năm 1996 đã cho thấy các yếu tố liên quan đế cha mẹ, các yếu tố của trẻ và các yếu tố môi trường có mối liên hệ nhân quả với đuối nước Cụ thể các yếu tố liên quan đến cha mẹ bao gồm: để trẻ chơi một mình không giám sát, ba mẹ mệt mỏi, bệnh hoặc chỉ
Trang 8có một mình nên không có khả năng trông trẻ, trông đợi thái quá vào khả năng tự phòng ngừa của trẻ, không biết cách sơ cấp cứu đuối nước và sử dụng phao cứu hộ [40]
Nghiên cứu của Wen Jun Ma và cộng sự vào năm 2010 khảo sát các yếu tố nguy cơ liên quan đến đuối nước ở trẻ em tại Quảng Đông Trung Quốc Kết quả cho thấy trẻ trai có khả năng bị đuối nước nhiều hơn trẻ nữ Các yếu tố nguy cơ có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê đuối nước ở trẻ em là trẻ bơi ở các khu vực chứa nước tự nhiên mà không có sự giám sát của cha
mẹ (OR=3,4;KTC 95%: 1,92-6,03) và trẻ bơi kém chơi gần các khu vực chứa nước tự do (OR=2.08, 95% CI: 1.17-3.70) cà trẻ bơi kém (OR= 2.74, 95% CI: 1.14-6.62) Tuy nhiên, các yếu tố sau đây lại là yếu tố bảo vệ: người giám sát
≥30 tuổi (OR= 0.20, 95% CI: 0.09-049) và không có các hoạt động tiếp xúc với nước (OR = 0.36, 95% CI: 0.18-0.70) [60]
Nghiên cứu đuối nước ở trẻ em do Liên Minh vì Sự An toàn của trẻ em (TASC) phối hợp với UNICEF [46] thực hiện tại bốn quốc gia là Băng-la-đét, Cam-pu-chia, Việt Nam, Thái Lan cùng với hai tỉnh/thành phố của Trung quốc (Bắc Kinh, Giang Tây) năm 2001 cho thấy hầu hết các trường hợp đuối nước xảy ra ở trẻ em dưới 4 tuổi, cứ bốn trẻ em 1-4 tuổi tử vong thì có một trẻ
tử vong do nguyên nhân là đuối nước Về địa điểm xảy ra đuối nước, 80% trường hợp xảy ra tại các vùng nước không được bảo vệ trong phạm vi xung quanh ở hai mươi mét Ở tất cả các độ tuổi, 75% trường hợp đuối nước xảy ra vào thời điểm từ 8 giờ sáng đến 14 giờ và 90% trường hợp đuối nước xảy ra vào mùa khô
Nghiên cứu của Borse và cộng sự [30] được thực hiện tại Matlab, Băng-la-đét từ năm 1996 đến năm 2005 ghi nhận có tất cả 489 trẻ em dưới 5 tuổi tử vong do đuối nước, trong đó 57% là trẻ em từ 1-2 tuổi, 68% trường hợp đuối nước xảy ra vào buổi sáng, 69% trường hợp xảy ra tại ao nước và
Trang 970% trường hợp xảy ra trong lúc mẹ đang bận làm những công việc vặt trong nhà
Một nghiên cứu khác của Ralman [53] cũng được thực hiện tại la-đét cho kết quả tỷ suất tử vong do đuối nước ở trẻ 1-17 tuổi là 28,6/100.000 dân/năm, trong đó trẻ 1-4 tuổi có tỷ suất tử vong cao nhất (86,3/100.000 dân/năm) Hơn hai phần ba số trường hợp đuối nước xảy ra ở ao hồ, rãnh mương và 85% trường hợp xảy ra vào ban ngày Một phần ba số trường hợp
Băng-tử vong do đuối nước xảy ra trong tình huống là trẻ đang chơi một mình và hai phần ba là có người đi kèm, trong đó một nửa số trường hợp là đi cùng với trẻ em 10 tuổi hoặc nhỏ hơn
Nghiên cứu của Fang và cộng sự [35] phân tích đặc điểm dịch tễ học của 67 trường hợp đuối nước ở trẻ em từ 1-14 tuổi tại thành phố Hạ Môn và các vùng ngoại ô Trung Quốc từ năm 2001 đến năm 2005 kết quả ghi nhận: 56,7% trường hợp đuối nước xảy ra vào các tháng thuộc mùa hè (từ tháng 6 đến tháng 8); 62,7% trường hợp xảy ra vào thời điểm từ một giờ chiều đến sáu giờ chiều Các địa điểm trẻ bị đuối nước bao gồm: ao, rãnh nước, công trường xây dựng, giếng nước và phần lớn đuối nước xảy ra là do thiếu sự giám sát của người lớn (chiếm 88,1% trường hợp)
Nghiên cứu của Yang và cộng sự [62] cũng tiến hành trên đối tượng là trẻ em 1-14 tuổi nhưng khảo sát tại 20 huyện của tỉnh Quảng Tây từ năm
2002 đến năm 2004 Kết quả cho thấy trong các trường hợp tử vong do đuối nước thì trẻ em nam chiếm 60% trường hợp, 48% trường hợp xảy ra ở trẻ 1-4 tuổi, 62% trường hợp xảy ra trong phạm vi năm trăm mét xung quanh nhà ở hoặc trường học của trẻ Bên cạnh đó điều đáng quan tâm là không có người chăm sóc trẻ nào trong mẫu nghiên cứu biết cách hô hấp nhân tạo khi trẻ bị ngạt nước Các yếu tố nguy cơ gây đuối nước ở trẻ 1-4 tuổi là người chăm sóc trẻ có tình trạng sức khỏe kém, trẻ không được sử dụng các dụng cụ nổi
Trang 10Nghiên cứu của Hyder, Adnan A và cộng sự [27] được tiến hành vào năm 2008 trong đó có so sánh một số yếu tố nguy cơ đuối nước ở trẻ em tại Hoa Kỳ (nước có thu nhập cao) và Băng-la-đét (nước có thu nhập thấp), kết quả cho thấy trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ suất đuối nước cao nhất Ở Hoa Kỳ, trẻ
em trong độ tuổi này thường bị đuối nước tại hồ bơi và tai nạn xảy ra khi người chăm sóc trẻ không quan sát, theo dõi trẻ đầy đủ hoặc là những trẻ cùng trang lứa chăm sóc nhau Trong khi đó ở Băng-la-đét, địa điểm trẻ bị đuối nước thường là ao, sông, mương và chỉ có người mẹ là chịu trách nhiệm trong việc giám sát trẻ hoặc là anh chị ruột lớn hơn chăm sóc em
Nghiên cứu của Petrass, Lauren A [49] về việc thiếu sự giám sát của người chăm sóc trẻ - một yếu tố góp phần dẫn đến tử vong do đuối nước không chủ ý ở trẻ em Úc được thực hiện từ tháng 01 năm 2000 đến tháng 6 năm 2009 Nghiên cứu ghi nhận số ca tử vong do đuối nước dựa vào số liệu của NCIS (National Coroners Information system), kết quả có 339 trẻ em 0-14 tuổi tử vong do đuối nước, trong đó trẻ em 1-4 tuổi chiếm 51,9% và sự bất cẩn của người chăm sóc trẻ đã đóng góp 71,7% số trường hợp tử vong
Nghiên cứu tại một khu vực thủ đô Mê-hi-cô [33] ghi nhận trẻ em sống trong gia đình có giếng nước thì nguy cơ bị đuối nước cao gấp bảy lần so với những trẻ sống ở gia đình không có giếng, còn đối với gia đình có sử dụng bể nước thì nguy cơ đuối nước ở trẻ là gấp đôi
Nghiên cứu của Ruth A.Brenner và cộng sự tiến hành vào năm 2009 khảo sát bệnh chứng các ca đuối nước và các ca chứng không bị đuối nước Kết quả nghiên cứu cho thấy việc can thiệp cho trẻ học bơi chính thức có mối quan hệ với trẻ từ 1-4 tuổi khỏi nguy cơ đuối nước [55]
1.4 Tại Việt Nam
Đuối nước là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong
Trang 11ở trẻ em tại các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp, Việt Nam cũng không ngoại lệ Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ đuối nước cao nhất khu vực, cao gấp 10 lần các nước phát triển [6] Ở nước ta, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong do tai nạn thương tích không chủ ý ở trẻ 0-14 tuổi, còn đối với nhóm trẻ 15-19 tuổi thì đuối nước là nguyên nhân thứ hai dẫn đến tử vong sau tai nạn giao thông [7] Tỷ suất tử vong do đuối
nước cao nhất ở nhóm 0-4 tuổi với trung bình 22 trẻ/100.000 trẻ/năm [25]
Theo kết quả giám sát của Bộ Y tế, trong sáu năm từ 2005-2010, trung bình mỗi năm có gần 3.400 trẻ 0-18 tuổi tử vong do đuối nước, điều này có ý nghĩa là trung bình mỗi ngày có gần 10 trẻ tử vong vì đuối nước Tỷ suất tử vong trẻ em do đuối nước trong những năm qua có giảm tuy nhiên vẫn còn ở mức cao: năm 2005 là 13,3/100.000 trẻ, chiếm một nửa tỷ suất tử vong chung
ở trẻ em và năm 2010 là 8,1/100.000 trẻ, chiếm một phần ba tỷ suất tử vong chung ở trẻ em [4]
Nghiên cứu của Huỳnh Thiện Sĩ và Nguyễn Đỗ Nguyên [15] phân tích đặc điểm dịch tễ học của 272 trường hợp tử vong do đuối nước ở trẻ em dưới
16 tuổi tại tỉnh Đồng Tháp từ năm 2003 đến 8 tháng đầu năm 2006 ghi nhận những đặc tính phổ biến bao gồm: trẻ em dưới 5 tuổi (nhiều nhất là ở trẻ em 2 tuổi), trẻ em nam, cao điểm trong tháng 8, ngoài lũ nhiều hơn, xảy ra ngoài nhà do té sông, rạch, mương, ao Bên cạnh đó, có 5 trường hợp trẻ em tử vong
do đuối nước xảy ra tại nhà và đều là do ngã vào lu chứa nước
Nghiên cứu của Đặng Văn Chính và cộng sự [8] tiến hành năm 2003 ghi nhận trong thời gian 2002-2003, trên địa bàn huyện Châu Thành, Đồng Tháp và huyện Châu Phú, An Giang có tất cả 52 trường hợp trẻ bị đuối nước, trong đó 65,4% xảy ra ở trẻ em nam, 80,8% trường hợp đuối nước là ở trẻ em dưới 5 tuổi (trẻ em 2-3 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất) và 80,8% nguyên nhân là do
sự bất cẩn của người lớn Bên cạnh đó, nghiên cứu còn khảo sát kiến thức,
Trang 12thực hành về đuối nước tại 200 hộ gia đình có trẻ em dưới 10 tuổi ở hai xã có
tỷ lệ đuối nước cao là xã Phú Hựu, huyện Châu Thành và xã Thạnh Mỹ Tây, huyện Châu Phú Kết quả ghi nhận đuối nước là vấn đề được người dân quan tâm hàng đầu trong mùa lũ, 79,5% đối tượng cho rằng nguyên nhân dẫn đến đuối nước là do sự bất cẩn của người lớn, 23,8% hộ gia đình có trẻ dưới 5 tuổi
có lập hàng rào bảo vệ và 90% trường hợp để trẻ ở nhà cho người lớn trông khi bận đi làm trong mùa lũ Điểm hạn chế của nghiên cứu là chỉ khảo sát kiến thức về nguyên nhân dẫn đến đuối nước ở trẻ, thực hành lập hàng rào và việc trông giữ trẻ khi người chăm sóc trẻ vắng nhà Trong khi đó, kiến thức về biện pháp phòng ngừa cũng như thực hành phòng ngừa nhiều yếu tố nguy cơ khác chưa được quan tâm
Nghiên cứu của Nguyễn Phương Hoa về tình hình tử vong do đuối nước tại một số tỉnh ở Việt Nam năm 2008 cho thấy trong số 9.293 trường hợp tử vong, tỷ lệ tử vong do đuối nước chiếm 1.7% Tỷ lệ tử vong do đuối nước cao nhất ở trẻ em từ 5-14 tuổi chiếm 36.5%, tiếp theo trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 17.8% Khu vực ven biển, nơi có nhiều ao hồ có tỷ lệ tử vong do đuối nước cao hơn các vùng khác [12]
Nghiên cứu của Lê Thanh Hải và Khu Thị Khánh Dung [11] hồi cứu 47 bệnh án của các bệnh nhi đuối nước nằm điều trị cấp cứu tại bệnh viện Nhi Trung ương từ năm 2003 đến năm 2009 cho thấy: Tuổi trung bình của trẻ vào điều trị là 5,7±4,5 tuổi, phần lớn đuối nước xảy ra vào các tháng mùa hè (từ tháng 5 đến tháng 9), 63,8% trường hợp xảy ra trong khoảng thời gian từ 12 giờ trưa đến 14 giờ chiều, 72,3% trường hợp xảy ra tại ao, hồ
Nghiên cứu của Phan Thanh Hòa và Phạm Việt Cường [52] nhằm mục đích mô tả tình huống và các yếu tố nguy cơ dẫn đến đuối nước ở trẻ em dưới
18 tuổi ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long dựa vào điều tra Quốc gia về tai nạn thương tích năm 2010 Tổng số trẻ tử vong do đuối nước là 405 trẻ, tỷ
Trang 13suất tử vong là 28,3/100.000 trẻ Tất cả các trường hợp tử vong đều xảy ra bên ngoài nhà (ao hồ, sông, suối) vào 100% trẻ tử vong đều không biết bơi
Tỷ suất tử vong cao nhất là ở nhóm trẻ 0-4 tuổi (100,5/100.000 trẻ) Hầu hết các trường hợp đuối nước (87%) xảy ra vào buổi sáng, thời điểm xảy ra đuối nước nhiều nhất là vào tháng 9 (33,7%), tháng 10 (28,4%) Hơn một nửa số trường hợp đuối nước xảy ra trong phạm vi xung quanh nhà 20m (66,4%) và 28% xảy ra trong phạm vi 50m, 97% trường hợp trẻ bị đuối nước tại nơi không có biển báo hoặc rào chắn bảo vệ
Nghiên cứu về các tình huống dẫn đến đuối nước ở trẻ em tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long năm 2010 [52] cho thấy tỷ suất tử vong do đuối nước ở trẻ em dưới 18 tuổi là 28,3/100.000 trẻ, điều này tương đương với mỗi ngày có 4 trẻ tử vong và mỗi năm có khoảng 1.440 trẻ tử vong do đuối nước
Nguyên nhân, độ tuổi và tình huống tử vong do đuối nước có sự khác biệt giữa các vùng: ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, hầu hết trẻ bị đuối nước là dưới 5 tuổi và thường là do ngã xuống nước từ trên nhà, thuyền hoặc cầu tàu Ở các tỉnh miền Trung như Quảng Trị và Huế, hầu hết trẻ đuối nước trên 6 tuổi, tai nạn xảy ra khi trẻ đang chơi gần hoặc trong hồ hoặc các con suối sâu khi đi chăn trâu, bò Ở Hải Phòng, đuối nước ở trẻ em 0-4 tuổi xảy ra quanh năm, trong khi đuối nước ở trẻ 6-13 tuổi xảy ra chủ yếu vào mùa hè khi trẻ được nghỉ hè và chơi ở các ao, hồ gần nhà [16]
Trong một báo cáo của tổ chức Save The Children năm 2003 [57] về đuối nước trẻ em tại khu vực miền trung và đồng bằng sông Cửu Long cũng
đề cập đến đặc điểm của các ca đuối nước Cụ thể, các ca đuối nước thường thuộc các gia đình chỉ có 4 thành viên trong đó gồm cha mẹ và hai trẻ, không
có ông bà Nhưng thường có nguy cơ ca đuối nước khi cha mẹ đi vắng nhà Hầu hết nhà của trẻ đuối nước thường mang các yếu tố nguy cơ cao như không rào quanh nhà, có cầu thang dốc, thiếu bảng báo nguy hiểm giữa khu
Trang 14vực chứa nước và đất liền Có đến 84% trẻ chết đuối không biết bơi, còn 32% trẻ được phỏng vấn nói rằng tự học bơi, và khi đi chơi với trẻ đồng lứa học với anh chị lớn hơn Điều này cho thấy sự thiếu giám sát của cha mẹ khi trẻ chơi gần khu vực chứa nước [19]
Một số nghiên cứu can thiệp:
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Duy [9] được tiến hành tại huyện An Phú, An Giang năm 2011 về hành vi phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc trẻ dưới 11 tuổi Kết quả ghi nhận 27% làm rào chắn; 87,1% đậy nắp dụng cụ chứa nước; 94% đi theo và quan sát trẻ khi trẻ chơi gần bờ sông; 92%
đi theo và quan sát trẻ khi trẻ chơi gần các dụng cụ chứa nước; 84,5% gửi trẻ cho người lớn trông hoặc gửi trẻ và nhà trẻ khi đối tượng vắng nhà; 28,3% đối tượng gửi trẻ cho người thân hoặc hành xóm trông hộ khi bận việc nhà và 39% mặc áo phao cho trẻ khi đi ghe, xuồng Trong nghiên cứu, tác giả đã mô
tả khá đầy đủ các hành vi phòng ngừa đuối nước ở trẻ, tuy nhiên chỉ khảo sát đối tượng chăm sóc một trẻ duy nhất, đây là điểm hạn chế của đề tài vì việc chăm sóc nhiều trẻ cùng một lúc có thể ảnh hưởng đến hành vi phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc trẻ nhất là trong trường hợp người chăm sóc trẻ bận việc nhà hoặc vắng nhà
Nghiên cứu kiến thức, thực hành về phòng ngừa đuối nước của người chăm sóc trẻ cũng được thực hiện tại một địa phương khác thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ Nghiên cứu cắt ngang mô tả của Doãn Ngọc Định [10] thực hiện trên 216 người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi tại xã Đoàn Đào, Phù Cừ, Hưng Yên Kết quả ghi nhận có 66,7% đối tượng biết nguyên nhân dẫn đến đuối nước ở trẻ là người lớn thiếu cẩn thận; 69,4% đối tượng cho rằng nên lập hàng rào xung quanh ao, hồ để phòng ngừa đuối nước cho trẻ và 58,3% cho rằng cần đậy nắp dụng cụ chứa nước Về thực hành phòng ngừa đuối nước có 73,1% đối tượng để trẻ trong tầm quan sát khi bận việc khác; 69,4% đậy nắp
Trang 15các dụng cụ chứa nước; 66,7% làm nắp đậy an toàn cho bể nước/giếng khơi; 57,9% làm rào chắn ao, hồ; 32,9% đặt biển cảnh báo ở những nơi nước sâu, nguy hiểm và 21,3% lấp ao, hồ, hố vôi Điểm không phù hợp của nghiên cứu
là khảo sát thực hành đặt biển cảnh báo ở những nơi nước sâu, nguy hiểm vì trẻ em trong độ tuổi này chưa nhận thức được ý nghĩa của việc đặt biển báo, việc làm này chỉ mang lại hiệu quả trong trường hợp có người lớn đi kèm Vì vậy nếu không có biện pháp phòng ngừa khác, an toàn thì đuối nước ở trẻ em vẫn xảy ra
1.5 Tỉnh Bình Định
Bình Định là tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam Lãnh thổ của tỉnh trải dài 110 km theo hướng Bắc-Nam, diện tích tự nhiên: 6.025 km², diện tích vùng lãnh hải: 36.000 km²; có khá nhiều sông Các sông ngòi không lớn, độ dốc cao, ngắn Có 4 sông lớn là: Lại Giang, Kôn, La Tinh và Hà Thanh Nhiều hồ nhân tạo được xây dựng để phục vụ cho việc phát triển nông nghiệp
và nuôi trồng thủy hải sản Đặc biệt, đầm Thị Nại là đầm lớn, rất thuận lợi cho việc phát triển cảng biển tầm cỡ quốc gia và góp phần phát triển khu kinh tế Nhơn Hội [26] Đồng thời, tạo tỉnh Bình Định có nhiều danh lam thắng cảnh
và những tiềm năng lợi thế mà những nơi khác ít có được nhưng cũng lại là vùng chịu nhiều thử thách khắc nghiệt của mưa, bão, lũ lụt,… nên hàng năm gây thiệt hại về người trong đó có mắc, tử vong do đuối nước và hư hỏng tài sản…
Theo báo cáo của Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Bình Định, giai đoạn từ năm 2011 đến tháng 6/2016, toàn tỉnh có 2.186 ca trẻ em mắc tai nạn thương tích trong đó có 267 em tử vong Trẻ em tử vong do đuối nước là 208
em, chiếm 77.9% [17]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Bình, Lê Quang Hùng và cộng sự về Tử vong trẻ em dưới 16 tuổi tại tỉnh Bình Định năm 2002-2003 cho thấy trong 5 nguyên nhân gây tử vong ở trẻ thì đuối nước chiếm tỷ lệ cao
Trang 16nhất 16,2% Tuy nhiên đề tài chỉ có giải pháp can thiệp chung làm giảm tử vong trẻ chưa có can thiệp sâu về đuối nước [2]
Kết quả nghiên cứu trên cho thấy tai nạn thương tích trẻ em đang là vấn
đề rất đáng quan tâm, nhất là tai nạn đuối nước, đây là vấn đề sức khỏe ưu tiên cần phải có những giải pháp can thiệp kịp thời tại địa phương
Trang 17Chương 2
ĐỐI TƯỢNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
N ứ ồ
- Trẻ em dưới 16 tuổi bị mắc đuối nước
- Bố mẹ hoặc người chăm sóc trẻ bị mắc đuối nước tại các hộ gia đình được điều tra
(Đối với trẻ dưới 12 tuổi thì phỏng vấn bố mẹ hoặc người chăm sóc trẻ, phỏng vấn trực tiếp các trẻ từ 12 tuổi trở lên mắc đuối nước)
- Cán bộ y tế cơ sở, người dân được chọn nghiên cứu
* ể ờ ứ
- Địa điểm nghiên cứu: 11 huyện/thị xã/thành phố của tỉnh Bình Định
- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2015 đến tháng 12/2018
2.2.2.2 Cỡ mẫu nghiên cứu can thiệp cộng đồng: toàn bộ trẻ dưới 16
tuổi mắc đuối nước tại 3 huyện với 20 xã của tỉnh Bình Định
2.2.2.3 Phương pháp chọn mẫu can thiệp:
- G 1: Lập danh sách 09 huyện để bốc thăm ngẫu nhiên chọn ra
03 huyện đưa vào nghiên cứu Kết quả chọn huyện Tuy Phước, Tây Sơn và Hoài Nhơn thuộc tỉnh Bình Định
Trang 18- G 2:
+ Lập danh sách xã/thị trấn của 03 huyện đã được chọn bốc thăm ngẫu nhiên để chọn ra 20 xã/thị trấn đưa vào nghiên cứu Kết quả:
º Huyện Tuy Phước: thị trấn Tuy Phước và các xã: Phước Sơn, Phước
An, Phước Thuận, Phước Hiệp, Phước Lộc, Phước Hưng
º Huyện Tây Sơn: thị trấn Phú Phong và các xã: Bình Nghi, Tây Phú, Bình Thành, Tây Xuân, Vĩnh An
º Huyện Hoài Nhơn gồm các xã: Hoài Thanh Tây, Hoài Tân, Hoài Hương, Hoài Châu, Hoài Châu Bắc, Hoài Xuân, Tam Quan nam
+ Một số đặc điểm địa lý, kinh tế xã hội của 03 huyện nghiên cứu:
º Huyện Tuy Phước:
α Vị trí địa lý: là huyện đồng bằng lớn ở phía nam tỉnh Bình Định,
có nhiều sông ngòi, kênh mương, ao hồ
α Về địa hình: phía bắc và tây bắc Tuy Phước giáp huyện Phù Cát,
An Nhơn; Đông giáp biển; nam giáp thành phố Quy Nhơn; Tây giáp huyện Vân Canh
α Diện tích đất đai : 217,12 km2
α Số xã/thị trấn : 13
α Trạm y tế : 13
α Trung tâm y tế huyện : 01
α Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản
º Huyện Tây Sơn:
α Vị trí địa lý: là một huyện trung du, không giáp biển, có sông côn chảy qua địa bàn huyện theo hướng Đông nam
α Về địa hình: giáp với huyện Vĩnh Thạnh ở phía Tây Bắc, huyện Phù Cát ở phía Đông Bắc, thị xã An Nhơn ở phía Đông Nam, huyện Vân Canh ở phía Nam, thị xã An Khê và các huyện Đắk Pơ, Koong Chro (tỉnh Gia Lai) ở phía Tây
α Diện tích đất đai : 692,96 km2
Trang 19α Số xã/thị trấn : 15
α Trạm y tế : 15
α Trung tâm y tế huyện : 01
α Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, kinh doanh nhỏ lẻ
º Huyện Hoài Nhơn:
α Vị trí địa lý: nằm ở phía bắc tỉnh Bình Định, là huyện đồng bằng ven biển, có nhiều sông, kênh mương, ao hồ
α Về địa hình: phía bắc giáp huyện Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi), phía nam giáp huyện Phù Mỹ, phía tây giáp huyện Hoài Ân và An Lão (tỉnh Bình Định) và phía đông giáp Biển đông
α Diện tích đất đai : 412,95 km2
α Số xã/thị trấn : 17
α Trạm y tế : 17
α Trung tâm y tế huyện : 01
α Kinh tế: nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong kinh tế của huyện, nuôi trồng đánh bắt thủy sản, một số nghề thủ công nghiệp như dệt thảm dừa, dệt chiếu và các sản phẩm thủ công từ dừa…
+ Các xã còn lại của 3 huyện Tuy Phước, Tây Sơn và Hoài Nhơn sẽ
- G 3:
+ Chọn đối tượng nghiên cứu là trẻ em dưới 16 tuổi đủ các tiêu chuẩn nghiên cứu
Trang 20+ Lập danh sách và điều tra toàn bộ số trẻ dưới 16 tuổi tại các xã, thị trấn được chọn nghiên cứu
+ Chọn 600 người dân trong 20 xã của 3 huyện vùng can thiệp để truyền thông về phòng chống đuối nước trẻ em và hướng dẫn cách xử trí cấp cứu đuối nước khi xảy ra
Số trẻ của 3 huyện trên đủ lớn để làm nghiên cứu và qua thu thập số liệu tại UBND huyện, trung tâm y tế huyện, UBND và trạm y tế xã nghiên cứu cho thấy giữa 3 vùng không có sự khác biệt về đặc điểm địa lý, hành chính, kinh tế, mạng lưới y tế
2.3 Các bước tiến hành
3 C ọ b ứ ồ :
Chọn địa bàn nghiên cứu
Điều tra cơ bản ban đầu Điều tra cơ bản ban đầu
Áp dụng các biện pháp can thiệp
Điều tra lại sau 1 năm Không can thiệp
So sánh giữa 2 vùng
Điều tra lại sau 1 năm
So sánh trước
và sau can thiệp
Chọn địa bàn nghiên cứu
Trang 213 â d p :
- Xây dựng phiếu điều tra đuối nước Trẻ dưới 16 tuổi trong cộng đồng
- Phiếu điều tra hồi cứu trẻ dưới 16 tuổi mắc đuối nước điều trị tại bệnh viện/TTYT
- Phiếu điều tra kiến thức cán bộ y tế cơ sở về biện pháp cấp cứu và phòng chống đuối nước trẻ em
- Phiếu điều tra kiến thức, thực hành của người dân về biện pháp cấp cứu và phòng chống đuối nước trẻ em
2.4 Nội dung nghiên cứu
N d : Thực trạng và các yếu tố liên quan đến đuối nước trẻ
em dưới 16 tuổi tại tỉnh Bình Định
- Tập huấn cán bộ nghiên cứu về phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp nghiên cứu và thu thập thông tin:
+ Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang
+ Phương pháp thu thập thông tin:
° Thu thập thông tin về số trẻ em đang sinh sống năm 2015, 2016: thông tin từ sổ theo dõi của các Trạm Y tế, TTYT huyện, phòng Lao động-Thương binh và xã hội các huyện/thị xã/thành phố của Tỉnh
° Thu thập thông tin về số trẻ mắc và tử vong do đuối nước từ các nguồn sau:
Sổ khám bệnh (A1), sổ theo dõi tử vong (A6) tại các Trạm y tế Hồ sơ, bệnh án trẻ mắc hoặc tử vong (hoặc nặng xin về) tại các TTYT huyện/thị xã/thành phố, Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn, Phú Phong và Bệnh viện đa khoa tỉnh
Báo cáo hoặc phản ánh của nhân viên y tế thôn về các trường hợp
tử vong trẻ em dưới 16 tuổi do đuối nước trên địa bàn y tế thôn quản lý
Trang 22 Thông tin về mỗi trẻ mắc hoặc tử vong được lập 01 phiếu thu thập thông tin bao gồm các thông tin chính: họ tên trẻ, địa chỉ, ngày sinh, giới, thời gian tử vong, nơi tử vong, nguyên nhân tử vong…
số trẻ tử vong do đuối nước x 1000
Tỷ suất tử vong trẻ em do đuối nước =
Tổng số trẻ sinh sống trong năm
° Thu thập thông tin về nguyên nhân mắc và tử vong của trẻ dưới 16 tuổi do đuối nước:
Đối với trẻ dưới 16 tuổi mắc hoặc tử vong tại cơ sở y tế: nguyên nhân mắc hoặc tử vong được xác định là chẩn đoán mắc hoặc tử vong của cơ
sở y tế
Đối với trẻ dưới 16 tuổi mắc hoặc tử vong tại nhà hoặc tại nơi xảy
ra tai nạn: điều tra viên tuyến tỉnh/huyện tiến hành thu thập thông tin về quá trình sơ cấp cứu, mắc hoặc tử vong của trẻ
° Thu thập thông tin về kiến thức và thực hành người dân, cán bộ y tế
cơ sở về phòng chống đuối nước trẻ em dưới 16 tuổi
Xác định tỷ suất, nguyên nhân mắc hoặc tử vong trẻ em do đuối nước: nếu trẻ mắc hoặc tử vong ở cơ sở y tế thì nguyên nhân mắc hoặc tử vong của trẻ là chẩn đoán mắc hoặc tử vong đuối nước do cơ sở y tế xác định trên hồ sơ bệnh án và kết hợp phỏng vấn tại hộ gia đình Nếu trẻ mắc hoặc tử vong tại nhà thì sẽ tiến hành điều tra tại hộ gia đình để thu thập thông tin quá trình đuối nước, sơ cấp cứu, mắc hoặc tử vong của trẻ
Năm 2017, nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra các trường hợp trẻ mắc hoặc tử vong do đuối nước của năm 2015, 2016 với số phiếu điều tra 300 phiếu, từ tháng 01/2017 đến 31/12/2017 các trường hợp mắc hoặc tử vong sẽ được ghi nhận và điều tra ngay sau khi có thông tin với số phiếu điều tra 200
phiếu
Trang 23- Báo cáo Chuyên đề 1: Thực trạng và các yếu tố liên quan đến đuối nước trẻ em dưới 16 tuổi tại tỉnh Bình Định năm 2015, 2016
N d : Đ u t các gi i pháp can thiệp nh m gi m nguy cơ m c
và t vong trẻ em dưới 16 tuổi do đuối nước tại một số huyện tỉnh Bình Định
- Đối tượng can thiệp: nhân viên y tế Trạm y tế xã/thị trấn, cha mẹ trẻ và trẻ học tại các trường tiểu học, trung học cơ sở, thầy cô giáo
+ Địa điểm can thiệp: tại 3 huyện mà địa hình có nhiều lòng hồ, sông,
suối và tỷ suất trẻ em dưới 16 tuổi đuối nước cao hơn các địa phương khác là Tuy Phước, Tây Sơn và Hoài Nhơn
+ Thời gian can thiệp: tháng 4/2017 đến tháng 10/2018
- Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng: Các hoạt động can thiệp: (1) Tuyên truyền trực tiếp:
+ Hoạt động 1: Hội nghị vận động nhằm tạo sự ủng hộ của Cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, hội đoàn thể, Ban giám hiệu các trường về phòng chống đuối nước trẻ em
Thời gian: 01 ngày/lớp
Thời gian thực hiện: tháng 4/2017
Số hội nghị: 03 (1 huyện/1 lớp x 3 huyện)
Báo cáo viên: Trường Cao đẳng Y tế và nhóm nghiên cứu
Thành phần tham dự: Lãnh đạo Huyện ủy, Hội đồng Nhân dân, UBND huyện, các ban ngành hội đoàn thể có liên quan, TTYT huyện, UBND xã, Trạm y tế xã, Ban Giám hiệu, học sinh tiêu biểu, cha mẹ và những người uy tín trong cộng đồng
Số lượng người tham dự: 210 người (3 huyện x 70 người/huyện)
Địa điểm: Hội trường UBND các huyện Tuy Phước, Tây Sơn, Hoài Nhơn
Trang 24+ Hoạt động 2: Truyền thông nhóm nhỏ về phòng chống đuối nước ở trẻ em dưới 16 tuổi cho các hộ gia đình tại cộng đồng
Thời gian: 01 buổi/lần truyền thông
Số buổi truyền thông: 40 buổi (mỗi xã/thị trấn 01 buổi x 2 lần x 20 xã/thị trấn)
Thời gian thực hiện: Quý II năm 2017 và Quý IV năm 2018
Thực hiện truyền thông: Nhóm nghiên cứu, Nhân viên Trạm y tế xã Địa điểm: Nhà trẻ/nhà sinh hoạt cộng đồng
(2) Truyền thông trực quan:
+ Hoạt động 3: Thiết kế, xây dựng tờ rơi tuyên truyền về phòng chống đuối nước
Kết quả đầu ra: Tờ rơi về phòng chống đuối nước được thiết kế dễ hiểu, dễ áp dụng
Số lượng tờ rơi: 3.000 tờ rơi
Thời gian thực hiện: Quý II năm 2017
+ Hoạt động 4: Xây dựng thông điệp trên sóng truyền thanh, truyền hình về phòng chống đuối nước ở trẻ em dưới 16 tuổi (dạng video clip)
Kết quả đầu ra: Xây dựng 01 thông điệp tuyên truyền về phòng chống đuối nước trẻ em để cấp cho đài truyền thanh xã, thị trấn và Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội các huyện, thị xã, thành phố
Tần suất đề nghị phát thông điệp trên đài phát thanh xã, thị trấn: 01 lần/tháng
Thời gian thực hiện biên tập thông điệp: Quý II năm 2017
(3) Tập huấn nâng cao năng lực:
+ Hoạt động 5: Tập huấn cho cán bộ y tế tuyến huyện, xã, cán bộ làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em cấp huyện về kỹ năng truyền thông phòng chống đuối nước; nhận biết và cách xử trí trường hợp đuối nước ở trẻ em
Thời gian: 01 ngày/lớp
Trang 25Thời gian thực hiện: tháng 05/2017
Số lớp: 03 lớp (1 huyện/1 lớp x 3 huyện)
Số người tham dự: 29 (09 tuyến huyện và 20 tuyến xã của 3 huyện) Giảng viên: Trường CĐYT, Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội
Địa điểm: Hội trường TTYT huyện Tuy Phước, Tây Sơn, Hoài Nhơn
+ Hoạt động 6: Tập huấn cho nhân viên y tế, học sinh là hội viên Hội chữ thập đỏ của các trường tiểu học, trung học cơ sở về phòng chống đuối nước; nhận biết và cách xử trí trường hợp đuối nước
Thời gian: 01 ngày/lớp
Thời gian thực hiện: năm 2017-2018
Số lớp: 20 lớp (3 huyện, mỗi xã/thị trấn 1 lớp)
Số lượt người tham dự (dự kiến): 600 người (mỗi lớp 30 người x 20 lớp)
Giảng viên: Nhóm nghiên cứu, cán bộ TTYT huyện, Trạm y tế xã, cán
bộ làm công tác chăm sóc sức khỏe cấp huyện
Địa điểm: Hội trường các trường tiểu học, trung học cơ sở của huyện được chọn can thiệp
(4) Trang bị kỹ năng phòng chống đuối nước cho trẻ em dưới 16 tuổi:
+ Hoạt động 7: Tổ chức các hoạt động dạy bơi cho trẻ
Thời gian: 20 buổi/lớp
Thời gian thực hiện: Tháng 6-7 năm 2017-2018
Số lớp: 3 lớp (1 huyện 1 lớp)
Số người tham dự (dự kiến): 90 em (mỗi lớp 30 em)
Giảng viên: Nhóm nghiên cứu, Trung tâm văn hóa, thông tin – thể thao huyện
Địa điểm: Tại Hồ bơi huyện
+ Hoạt động 8: Trang bị cặp phao cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
Trang 26(5) Kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả
+ Hoạt động 9: Giám sát hỗ trợ của cán bộ tuyến Tỉnh, tuyến huyện đối với hoạt động tập huấn, truyền thông cho nhân viên y tế xã, y tế thôn
Nhóm cán bộ giám sát của Trường Cao đẳng Y tế, Sở Y tế, Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Bình Định sẽ thực hiện giám sát hỗ trợ các hoạt động tập huấn, truyền thông cho cán bộ y tế tuyến huyện, xã nhằm đảm bảo tiến độ và chất lượng các hoạt động
N d 3: Đánh giá kết qu can thiệp nh m gi m nguy cơ m c và
t vong trẻ em dưới 16 tuổi do đuối nước tại một số huyện tỉnh Bình Định
- Đánh giá các hoạt động can thiệp tại huyện Tuy Phước, Tây Sơn, Hoài Nhơn:
+ Đối tượng nghiên cứu: cán bộ y tế trạm y tế xã; cha mẹ trẻ
+ Phương pháp nghiên cứu:
° Phỏng vấn kiến thức và thực hành cán bộ y tế cơ sở về biện pháp cấp cứu và phòng chống đuối nước ở trẻ em dưới 16 tuổi: 400 cán bộ (trước và sau can thiệp)
° Phỏng vấn kiến thức và thực hành người về biện pháp cấp cứu và phòng chống đuối nước ở trẻ em dưới 16 tuổi: 600 người
- Thực trạng và các yếu tố liên quan đến đuối nước trẻ em dưới 16 tuổi sau can thiệp:
+ Đối tượng nghiên cứu: Tất cả trẻ em dưới 16 tuổi mắc hoặc tử vong
do đuối nước tại 11 huyện/thị xã/thành phố của tỉnh Bình Định trong năm
2017
° Địa điểm: 11 huyện/thị xã/thành phố gồm: Quy Nhơn, An Nhơn, Vân
Canh, Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ, Hoài Nhơn, Tây Sơn, Vĩnh Thạnh, Hoài
Ân, An Lão của tỉnh Bình Định
° Cỡ mẫu: Toàn bộ
Trang 27 Số lượng trẻ dưới 16 tuổi mắc hoặc tử vong do đuối nước tại cộng đồng là 100 trẻ
Trẻ dưới 16 tuổi mắc hoặc đuối nước tại bệnh viện là 100 trẻ
° Thời gian thực hiện: trong quá trình thực hiện đề tài (2017-2018)
- Phương pháp nghiên cứu và thu thập thông tin:
+ Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang
+ Phương pháp thu thập thông tin:
° Thu thập thông tin về số trẻ em dưới 16 tuổi đang sinh sống năm 2017-2018: thông tin từ sổ theo dõi của các Trạm Y tế, TTYT huyện, phòng Lao động-Thương binh và xã hội các huyện/thị xã/thành phố của Tỉnh
° Thu thập thông tin về số trẻ mắc hoặc tử vong do đuối nước từ các nguồn sau:
Sổ khám bệnh (A1), sổ theo dõi tử vong (A6) tại các Trạm y tế Hồ sơ, bệnh án trẻ mắc hoặc tử vong (hoặc nặng xin về) tại các TTYT huyện/thị xã/thành phố, Bệnh viện ĐKKV Bồng Sơn, Phú Phong và Bệnh viện đa khoa tỉnh
Báo cáo hoặc phản ánh của nhân viên y tế thôn về các trường hợp mắc hoặc tử vong trẻ em do đuối nước trên địa bàn y tế thôn quản lý
Thông tin về mỗi trẻ mắc hoặc tử vong được lập 01 phiếu thu thập thông tin bao gồm các thông tin chính: họ tên trẻ, địa chỉ, ngày sinh, giới, thời gian tử vong, nơi tử vong, nguyên nhân tử vong…
số trẻ tử vong do đuối nước x 1000
Tỷ suất tử vong trẻ em do đuối nước =
Tổng số trẻ sinh sống trong năm
° Thu thập thông tin về nguyên nhân mắc hoặc tử vong của trẻ dưới 16 tuổi:
Đối với trẻ mắc hoặc tử vong tại cơ sở y tế: nguyên nhân mắc hoặc
tử vong được xác định là chẩn đoán mắc hoặc tử vong của cơ sở y tế
Trang 28 Đối với trẻ mắc hoặc tử vong tại nhà hoặc tại nơi xảy ra tai nạn: điều tra viên tuyến tỉnh/huyện tiến hành thu thập thông tin về quá trình sơ cấp cứu, mắc hoặc tử vong của trẻ
° Thu thập thông tin về kiến thức và thực hành người dân, cán bộ y tế
cơ sở về phòng chống đuối nước trẻ em
Để thực hiện các nội dung trên, nhóm nghiên cứu cần cán bộ triển khai như sau:
Một nhóm cán bộ nghiên cứu tuyến tỉnh có kinh nghiệm trong điều tra cộng đồng và phòng chống tai nạn thương tích trẻ em sẽ được tuyển chọn, thành lập và tập huấn về phương pháp thu thập thông tin, phương pháp phỏng vấn, phương pháp can thiệp dựa vào cộng đồng Các cán bộ này sẽ phối hợp với các cơ sở y tế, phòng Lao động-Thương binh và Xã hội huyện/thị xã/thành phố để thu thập thông tin, tham gia thực hiện và giám sát các biện pháp can thiệp tại cộng đồng
Tại mỗi cơ sở được chọn tham gia nghiên cứu sẽ chọn 02 cộng tác viên (là nhân viên của TTYT huyện/thị xã/thành phố và Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội) để tham gia thu thập số liệu Các cán bộ này sẽ được tập huấn
để nắm được phương pháp, quy trình thu thập thông tin vào phiếu điều tra; tham gia thực hiện các giải pháp can thiệp tại cộng đồng
Mỗi Trạm Y tế, Phòng Lao động-Thương binh và Xã hội được chọn tham gia nghiên cứu sẽ chọn 02 cán bộ (01 Trạm y tế, 01 Phòng), các cán bộ này sẽ thực hiện việc báo cáo hàng tháng về trẻ tử vong do đuối nước, tham gia thực hiện các giải pháp can thiệp tại cộng đồng
- Báo cáo Chuyên đề 2: Đề xuất các giải pháp can thiệp và đánh giá kết quả can thiệp nhằm giảm nguy cơ mắc và tử vong trẻ em dưới 16 tuổi do đuối nước tại một số huyện tỉnh Bình Định
2.5 X lý số liệu: Các số liệu thu thập được phân tích và tính toán
bằng phần mềm thống kê y học SPSS 20.0
Trang 292.6.Sai số và cách khống chế sai số: Áp dụng các biện pháp sai số sau:
- Thiết kế bộ câu hỏi, thử nghiệm bộ câu hỏi phỏng vấn
- Tập huấn kỹ năng phỏng vấn cho nhóm nghiên cứu và điều tra viên
- Giám sát chặt chẽ quá trình điều tra
- Kiểm tra từng phiếu, làm sạch trước khi xử lý
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu
- Được sự chấp thuận và tạo điều kiện thuận lợi của các cấp, các ngành địa phương
- Đảm bảo các thông tin thu được chính xác, trung thực, đầy đủ và giữ
bí mật thông tin không gây ảnh hưởng có hại đến đối tượng nghiên cứu
- Kết quả điều tra chỉ sử dụng vào mục đích nghiên cứu, học tập
- Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi tới các tổ chức, đơn vị liên quan làm cơ sở để có chiến lược phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả can thiệp cải thiện vấn đề phòng chống đuối nước cho trẻ em trong tương lai
Trang 30Chương 3
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 3.1 Thực trạng và các yếu tố liên quan đến đuối nước ở trẻ em dưới 16 tuổi tại tỉnh Bình Định năm 2015, 2016
Trang 31Bảng 3.2 Số trẻ chết đuối trong số trẻ mắc đuối nước