Vì vậy, việc nghiêncứu để làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa đổimới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện năm: tổng kết những thànhcông, chỉ rõ những mâ
Trang 1Mở đầu 1.Lý do chọn đề tài.
Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là quan hệ cơ bản, tồn tại khách quantrong mọi xã hội có phân chia giai cấp và được tổ chức thành nhà nước, cómối quan hệ mật thiết với quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầnggiữa cái khách quan và cái chủ quan giữa cái tất yếu và cái có thể Theo quanđiểm của chủ nghĩa Mác Lênin, kinh tế là yếu tố cốt lõi của cơ sở hạ tầng, cònchính trị là yếu tố cốt lõi của kiến trúc thượng tầng Bởi vậy, mỗi quan hệgiữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng thực chất là mối quan hệ giữakinh tế và chính trị Nói cách khác, quan hệ giữa cơ sở hạ tầng với kiến trúcthượng tầng được thể hiện cô đọng nhất, tập trung nhất trong quan hệ giữakinh tế và chính trị, trong đó kinh tế suy đến cùng quyết định chính trị; ngượclại, chính trị định hướng cho quá trình phát triển kinh tế và điều chỉnh cácquan hệ kinh tế Kinh tế phát triển là cơ sở bảo đảm chắc chắn cho ổn địnhchính trị- xã hội và sự ổn định chính trị- xã hội là tiền đề, điều kiện để thúcđẩy phát triển kinh tế Nhận thức đúng và giải quyết thành công quan hệ giữakinh tế và chính trị (nhấn mạnh mặt khách quan của vấn đề), giữa đổi mớikinh tế và đổi mới chính trị (nhấn mạnh mặt chủ quan của vấn đề) là vấn đề
có ý nghĩa quyết định chiều hướng, nội dung, nhịp độ, hiệu quả và mức độbền vững của sự phát triển Xuất phát từ nhận thức và tư duy đổi mới, ĐảngCộng sản Việt Nam đã từng bước vận dụng đúng đắn và giải quyết sáng tạoquan hệ giữa kinh tế và chính trị trong quá trình đổi mới, nhờ đó cách mạngnước ta đã thu được những thành tựu to lớn đất nước ra khỏi tình trạng khủnghoảng kinh tế xã hội bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với pháttriển kinh tế tri thức và hội nhập sâu, rộng vào đời sống quốc tế
Ngay từ Đại hội lần thứ VI, Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàndiện đất nước; đồng thời nhấn mạnh đổi mới phải có bước đi và cách làmthích hợp Tổng kết 5 năm đầu đổi mới 1986-1991, Đại hội VII của Đảng đãrút ra những bài học kinh nghiệm: “Đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để,
Trang 2nhưng phải có bước đi, hình và cách làm phù hợp Về quan hệ giữa đổi mớikinh tế và đổi mới chính trị, phải tập trung sức làm tốt đổi mới kinh tế Đồngthời với đổi mới kinh tế, phải từng bước đổi mới tổ chức và phương thức hoạtđộng của HTCT , việc đổi mới HTCT nhất thiết phải trên cơ sở nghiên cứu
và chuẩn bị rất nghiêm túc, không cho phép gây mất ổn định chính trị, dẫnđến sự rối loạn Nhưng không vì vậy mà tiến hành chậm trễ đổi mới HTCT,nhất là về tổ chức bộ máy và cán bộ, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước vàcác đoàn thể nhân dân” Đến Đại hội VIII, trên cơ sở tổng kết 10 năm đổimới Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm: kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổimới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồngthời từng bước đổi mới chính trị Tổng kết 20 năm đổi mới, với bản lĩnh từngtrải và sự trưởng thành trong nhận thức và tư duy, Đại hội Đảng toàn quốc lầnthứ X đã khẳng định: đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hìnhthức và cách làm phù hợp Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt độngthực tiễn, từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực lửa đời sống
xã hội Thực hiện nguyên tắc gắn phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựngĐảng là then chốt với phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, Đạihội X của Đảng đã khẳng định quyết tâm sớm đưa đất nước thoát khỏi tìnhtrạng kém phát triển, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp theo hướng hiện đại Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện chủtrương đẩy mạnh hội nhập quốc tế tham gia tích cực và chủ động vào quátrình toàn cầu hóa, đặc biệt kể từ khi gia nhập WTO, chúng ta cần phải đổimới mạnh mẽ hơn nữa cả về kinh tế và chính trị để phù hợp với những chuẩnmực chung của thế giới, đồng thời giữ vững được định hướng XHCN Trênthế giới và khu vực, nhiều nước đã giải quyết khả tối vẫn đề quan hệ giữakinh tế và chính trị, nhờ đó thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Những thànhcông và cả những thất bại trong giải quyết vấn đề này ở một số nước trên thếgiới, đặc biệt là các nước Đông Á, Đông Nam Á và Trung Quốc, là những bàihọc chúng ta có thể kế thừa
Trang 3Tuy nhiên cho đến nay, công bằng mà đánh giá, chúng ta vẫn chưanhận thức thấu đáo và có hệ thống những quan điểm của chủ nghĩa Mác CallLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính làm rõ về mặt
lý luận quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị trong điều kiện cụthể ở Việt Nam Còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau xoay quanh vấn đềquan hệ giữa kinh tế và chính trị Có ý kiến cho rằng, KTTT và CNXH khôngthể dung hợp, tương ứng với nền kinh tế có nhiều thành phần phải là nềnchính trị đa nguyên Có ý kiến quá đề cao KTTT, coi đó là “liều thuốc vạnnăng” có thể giải quyết được mọi vấn đề chính trị - xã hội, không đánh giáđúng vai trò lãnh đạo, định hướng của chính trị (vai trò của Đảng) trong giảiquyết các vấn đề kinh tế Loại ý kiến khác lại quá đề cao vai trò của chính trịtrọng giải quyết các vấn đề kinh tế, tách rời chính trị khỏi kinh tế, tuyệt đốihoá sức mạnh của các quyết sách chính ty làm cho nó mất cơ sở khách quantrên nền tảng kinh tế Vì vậy, có tình trạng ở nơi này, nơi khác, lúc này, lúckhác muốn đẩy nhanh quá trình tự do hóa kinh tế hoặc gia tăng sự can thiệpcủa chính trị vào kinh tế, làm cho hai quá trình đổi mới kinh tế và đổi mớichính trị bị tách rời nhau, thậm chí mâu thuẫn với nhau gây ra hậu quả xấucho cả kinh tế lẫn chính trị Ở nước ta hiện nay không khó để nhận ra mộtthực tế: kinh tế đổi mới nhanh hơn chính trị, các yếu tố của KTTT phát triểnmạnh mẽ và hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, trong khi đó, đổi mới chínhtrị còn tồn tại khá nhiều vấn đề chưa phù hợp, thậm chí còn bất cập so với đổimới kinh tế, đặc biệt là hệ thống pháp luật Do vậy, có lúc chính trị cản trởkinh tế và làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực (tham nhũng, quan liêu) Một sốcải cách chính trị chưa theo kịp tốc độ phát triển của KTTT Nghị quyết Đạihội Đảng lần thứ X chỉ rõ: Bên cạnh những thành tựu to lớn, cho đến naynước ta vẫn đang trong tình trạng kém phát triển Các lĩnh vực văn hóa, xãhội, xây dựng HTCT, còn nhiều yếu kém Lý luận chưa giải đáp được một sốvấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng CNXH ở nước ta, đặc biệt là trongviệc giải quyết các mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng và chất lượng phát
Trang 4triển; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội; giữa đổi mớikinh tế và đổi mới chính trị; giữa đổi mới với ổn định và phát triển; giữa độclập tự chủ chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế Vì vậy, việc nghiêncứu để làm rõ cơ sở khoa học và thực tiễn giải quyết mối quan hệ giữa đổimới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta hiện năm: tổng kết những thànhcông, chỉ rõ những mâu thuẫn, cản trở để rút ra bài học kinh nghiệm và đềxuất những giải pháp hữu hiệu trong giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế vàchính trị là vấn đề cấp bách, là đòi của chính công cuộc đổi mới vì mục tiêudân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Vấn đề quan hệ giữa kinh tế và chính trị nói chung, quan hệ giữa đổimới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam nói riêng là một trong những vấn
đề lớn, phức tạp, nhạy cảm nhưng vô cùng quan trọng thu hút sự quan tâmnghiên cứu của nhiều nhà chính trị, nhà khoa học Cho đến nay, đã có khánhiều công trình liên quan đến vấn đề này Có thể chia thành bốn nhóm nhưsau: Nhóm thứ nhất: Các tác phẩm của C.Mác, Ph.ăngghen, V.Lênin, Hồ ChíMinh và các văn kiện của Đảng ta về quan hệ giữa kinh tế và chính trị - Thứnhất, chủ nghĩa Mác- Lênin về quan hệ giữa kinh tế và chính trị Trong các tácphẩm của mình, các nhà kinh điển làm rõ phạm trù kinh tế, phạm trù chính trị,quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, trong đó kinh tế giữ vai tròquyết định; chính trị tác động trở lại bằng cách lãnh đạo, định hướng, tạođộng lực cho phát triển kinh tế Kinh tế là cơ sở của đời sống xã hội; sản xuấtvật chất là cơ sở của nhà nước, pháp quyền và ý thức xã hội; sở hữu tư nhân
là cơ sở của xã hội đối kháng giai cấp; sở hữu xã hội là cơ sở của xã hộiXHCN Các nhà kinh điển cũng phân tích bản chất của chính trị, cấu trúcchính trị; nhà nước với tư cách là hạt nhân của thượng tầng kiến trúc Khiphân tích quan hệ biện chứng giữa kinh tế với chính trị, chủ nghĩa Mác- Lêninkhẳng định, quan hệ giữa kinh tế và chính trị là quan hệ biện chứng, chi phốicác quan hệ khác trong đời sống xã hội quyết định suy đến cùng của kinh tế
Trang 5đối với chính thể hiện vai trò của cơ sở kinh tế, nguyên nhân, điều kiện và cácquan hệ giữa kinh tế đối với các hiện tượng chính trị Vai trò tích cực củachính trị đối với kinh tế thể hiện tập trung nhất vai trò của kiến trúc thượngtầng đối với cơ sở hạ tầng; vai trò của đảng chính trị đối với đời sống xã hội Những nội dung trên được phản ánh trong các tác phẩm: C.Mác vàPh.Ăngghen Toàn tập: T.1, 2, 3, 4, 6, 7, 11, 13, 14, 16, 17, 19, 20, 21, 23, 24,
25, 26, 35, 36, 39, 41, 42, 46 (trong đó, tiêu biểu là các công trình Tuyên ngôncủa Đảng cộng sản, Tư bản, Phê phán cương lĩnh Göta, Chống Đuyrinh,Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước ); VI LêninToàn tập: T 1, 2, 3, 11, 16, 33, 35, 36, 39, 42, 43, 44, 45 (trong đó tiêu biểu làcác công trình: Những nhiệm vụ trước mắt của chính quyền xô viết; Kinh tếchính trị trong thời đại chuyên chính vô sản, Thà it mà tốt ) kinh tế và chínhtrị - Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về quan hệgiữa kinh tế và chính trị
Khi xét quan hệ giữa kinh tế và chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳngđịnh tính chất quyết định của kinh tế đối với chế độ chính trị, đồng thời đánhgiá cao sự tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế Vấn đề kinh tế, chínhtrị, quan hệ giữa kinh tế và chính trị được Người đề cập đến trong nhiều tácphẩm của mình: Hồ Chí Minh Toàn tập: T.1, 2, 4, 5, 6, 7, 10, 11, trong đó tiêubiểu là các tác phẩm: Đường cách mệnh, Đời sống mới, Thường thức chínhtrị, Dân vận, Sửa đổi lối làm việc Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về quan hệ giữa kinh tế và chính trị được cụ thể hoá trong các văn kiện củaĐảng, đặc biệt là thời kỳ đổi mới - từ năm 1986 đến nay Nhận thức về quan
hệ giữa kinh tế và chính trị được phát triển, sáng tỏ hơn qua các kỳ Đại hội,các hội (nghị trung ương: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI,VII, VIII, IX, X; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ươngkhóa VI, Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị khóa VII, Nghị quyết Trung ương 5khóa IX, Nghị quyết Trung ương 6 khóa X Trong đó, quan hệ giữa đổi mới
Trang 6kinh tế với đổi mới chính trị được khắc họa cụ thể nhất trong Nghị quyết Đạihội Đảng lần thứ VIII Thành tựu phát triển kinh tế - xã hội sau gần 25 nămđổi mới chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong giải quyết quan hệcốt yếu này - Thứ ba, các công trình nghiên cứu quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị nhiều côngtrình phân tích quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin về quan hệ giữa kinh tế
và chính qua thực tiễn xây dựng CNXH ở nước Nga và Việt Nam Tiêu biểu
là các công trình của Nguyễn Ngọc Cường (2006): Lý luận học thuyết kinhtế- xã hội của Mác - phương pháp tiếp cận khoa học cho việc định hướng pháttriển ở nước ta, Trần Kim Cúc (2006): Tư tưởng của C.Mác về vai trò của nhànước đối với sự phát triển kinh tế và thực tế hiện nay ở nước ta Các côngtrình này trình bày tư tưởng của C.Mác về vai trò của nhà nước đối với sựphát triển kinh tế, cho rằng, mọi chính quyền nhà nước đều là phương tiệnchính trị phục vụ lợi ích kinh tế của giai cấp cầm quyền Một số công trình đã
đi sâu phân tích vai trò của Nhà nước ta hiện nay đối với phát triển kinh tế
Tư tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị được phân tíchtrong các công trình: Ngô Văn Minh (2006): Quan niệm của Hồ Chí Minh vềnhững trở lực trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam; Trần Sỹ Phán(2007): tưởng Hồ Chí Minh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị Các tác giảtrình bày tư tưởng Hồ Chí Minh về kinh tế, về đặc điểm các thành phần kinh
tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta; vai trò lãnh đạo của Đảng trong lãnh đạo,định hướng, tạo động lực phát triển kinh tế; chỉ rõ sự kết hợp chặt chẽ giữaphát triển kinh tế, chính trị, văn hoá Nhờ vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ ChíMinh về quan hệ giữa kinh tế và chính trị, Đảng ta đã giải quyết đúng đắnquan hệ cơ bản này, nhờ đó chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong pháttriển kinh tế - xã hội đất nước Nhóm thứ hai: Lý luận chung về quan hệ giữakinh tế và chính trị Những vấn đề chung mang tính lý luận về quan hệ giữađổi mới kinh tế và đổi mới chính trị được phản ánh trong các công trình sau:Đào Hữu Hải (2000): Quan hệ giữa nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
Trang 7với nhất nguyên chính trị nước ta; Phạm Ngọc Quang (2004): Sự phát triểnquan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phương hướng xây dựng CNXHtrong quá trình đổi mới; Lê Xuân Tùng (2004): Những đột phá tư duy lý luận
về kinh tế thị trường ở nước ta, Hà Đăng (2005): Nhìn lại 20 năm đổi mới:Đổi mới bắt đầu từ đâu ? Lê Cần Tĩnh (2005): Mấy suy nghĩ về tăng trưởngkinh tế và công bằng xã hội; Lê Hữu Nghĩa (2006); Hệ thống quan điểm lýluận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam; Nhân Đăng (2006):Đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới Dựa trên quan điểm chủ nghĩa Mác
- Lênin, các tác giả phân tích quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng - kinh tế
và kiến trúc thượng tầng - chính trị mọi sự phát triển xã hội đều bắt nguồn từkinh tế và đều trên cơ sở của sự phát triển kinh tế, nhưng chính trị là yếu tốhiệu nghiệm nhất để phát triển kinh tế Thực tế Việt Nam chỉ rõ, việc pháttriển theo định hướng XHCN của nền KTTT chỉ có thể thực hiện được khi cóđịnh hướng chính trị đúng đắn Nhưng một nền chính trị thực sự vững vàngnếu trước hết nó phù hợp với cơ sở kinh tế và đáp ứng yêu cầu phát triển kinh
tế Nhiệm vụ đặt ra hiện nay là phải tìm mọi cách để đổi mới chính trị, làmcho nó phù hợp với yêu cầu của sự phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thànhphần, làm cho chính trị vừa phản ánh được nhu cầu phát triển của kinh tế vừađịnh hướng được cho sự phát triển kinh tế Khẳng định đổi mới ở Việt Namkhông chấp nhận đa nguyên chính trị, các nhà nghiên cứu chứng minh thựctiễn giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị: trên cơ sở đổi mới kinh
tế chúng ta đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước,vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội Các tác giả phân tích những bướcphát triển tư duy lý luận về KTTT của Đảng ta qua các kỳ Đại hội, bắt đầu từĐại hội VI và nhấn mạnh sự cần thiết xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNgắn với phát triển nền KTTT định hướng XHCN, kết hợp đổi mới kinh tế vớiđổi mới chính trị trong từng bước phát triển Nhóm thứ ba: Về quan hệ giữađổi mới kinh tế và đổi mới chính trị - Thứ nhất, các công trình của các tác giảnước ngoài bằng tiếng Việt Đề cập đến quan hệ giữa kinh tế và chính trị: 1) Ở
Trang 8Liên Xô có: Bôgôn rốp (1974): Chủ nghĩa Lênin và vấn đề quan hệ hàng hoá
- tiền tệ trong thời kỳ xây dựng CNXH ở Liên Xô; 2) Ở Trung Quốc có:Wang Mao Lin (1994): Coi trọng cao độ vấn đề địa vị cầm quyền của Đảngtrong điều kiện kinh tế thị trường; Mã Hồng (chủ biên) (1995): Kinh tế thịtrường XHCN; Cung Kim Quốc (1996): CNH cũng có thể áp dụng kinh tế thịtrường; Tăng Ngọc Thành- Chu La Canh (1997): Mốc thúc đẩy cải cách tiếnlên phía trước; Giang Trạch Dân (2002): Mục tiêu phấn đấu xây dựng toàndiện xã hội khá giả; Lý Thiết Ánh (2002): Về cải cách mở cửa ở Trung Quốc;
Lý Cảnh Nguyên (2005): Tiêu chuẩn lực lượng sản xuất - hòn đá tảng của lýluận Đặng Tiểu Bình 3) Ở Nhật Bản và các nước Đông Nam Á có:M.Y.Yoshino (1988): Hệ thống quản lý của Nhật Bản: truyền thống và sự đổimới; Yoshihara K (1991): Sự phát triển kinh tế Nhật Bản; Nhật Bản – bướcchuyển biến tới thế kỷ XXI (1996); Bruno Amoroso (1998): Phân tích đánhgiá tình hình khủng hoảng kinh tế ở Đông Nam Á; Azizul Islam- SyedM.Naseem (1999): Những bài học từ kinh nghiệm tăng trưởng của khu vựcĐông và Đông Nam Á; Kinh tế Đông Ả, nền tảng của sự thành công (1995);
Sự thần kỳ Đông Á – Tăng trưởng kinh tế và chính sách công cộng (2001);Trần Văn Thắng (2007): Cải cách hành chính ở một số nước châu Á; NguyễnPhương Nam (2007): Một số kinh nghiệm cải cách hành chính của NhậtBản Các công trình này phân tích những thành công, thất bại trong giảiquyết quan hệ giữa kinh tế và chính trị ở các nước trong những thời kỳ khácnhau, đặc biệt những kinh nghiệm, Nhật Bản rất có giá trị đối với nước ta.Ngoài ra, một số công trình đề cập đến những quan điểm khác nhau về kinh tế
và về chính trị, như: M.Gillis và các tác giả (1990): Kinh tế học của sự pháttriển; A.Toffler (1991): Thăng trầm quyền lực; G.Lukas (1991): Chênh lệchcủa sự phát triển; Paul Kennedy (1992): Hưng thịnh và suy vong của cáccường quốc; H.Kurth - A.Romulo, H.Elsenhans (1993): Tăng trưởng kinh tế
và phân phối thu nhập; Adam Forde và Stefan de Vylder 1997): Từ kế hoạchđến thị trường - sự chuyển đổi kinh tế ở Việt Nam Douglass C.North (1998):
Trang 9Các thể chế, sự thay đổi thể chế và hoạt động kinh tế; E.Wayne Nafziger(1998): Kinh tế học của các nước đang phát triển; Harry Shutt (2002): Chủnghĩa tư bản, những bất ổn tiềm tàng; Ngân hàng thế giới (năm 2003): Tăngtrưởng kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội; Henrik Hansen, John Rand vàFinn Tarp (2005): Tăng trưởng và tồn tại của doanh nghiệp: vai trò hỗ trợ củanhà nước da bom Thứ hai, các công trình của các tác giả nước ngoài bằngtiếng Anh Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nhận được sựquan tâm nghiên cứu của nhiều học giả nước ngoài, biểu hiện qua số lượnglớn các công trình với sự phong phú về vấn đề, đối tượng, thời gian, phươngpháp được lựa chọn để nghiên cứu, phân tích Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trungtìm hiểu những lĩnh vực, những quốc gia có nhiều nét tương đồng về bối cảnhlịch sử, trình độ phát triển và chế độ chính trị với Việt Nam Có thể phân loạicác nghiên cứu vào một số hướng chủ yếu sau: + Trước hết, những vấn đề lýluận chung về quan hệ giữa kinh tế và chính trị luôn được nhiều nhà nghiêncứu quan tâm xem xét, tìm hiểu Các tác giả tập trung phân tích quan hệ và sựtác động qua lại chặt chẽ giữa chính trị và kinh tế, cũng như trình bày về quan
hệ giữa phát triển nền KTTT và chế độ dân chủ trong chính Trong số đó đángnhững công trình của Anthony Downs (1997); An Economic Theory ofDemocracy Một học thuyết kinh tế của nền dân chủ) Đặc biệt là cuốn sáchcủa John O'Neill (1998): The Market Ethics, Knowledge and Politics -Economics As Social Theory (Thị trường: đạo đức, hiểu biết và chính trị Mộthọc thuyết mang tính xã hội về kinh tế) cung cấp những đánh giá còn gâynhiều tranh cãi về hạn chế của thị trường, sự phồn thịnh trong tương lai vànền kinh tế phi thị trường Cuốn Politics and Development: A CriticalIntroduction (Chính trị và sự phát triển: Lời giới thiệu mang tính phê bình)của Olle Torquist (2002) chỉ ra cách thức nghiên cứu về chính trị và sự pháttriển, những khó khăn trong việc tiếp cận nghiên cứu các vấn đề về sự pháttriển trong bối cảnh chính trị thay đổi + Nhiều tác giả phân tích quan hệ đặcbiệt giữa kinh tế và chính trị trong những giai đoạn chuyển đổi của nền kinh
Trang 10tế cũng như khi có sự thay đổi lớn về chính trị trong nước cũng như quốc tế.Trong số đó đáng chú ý là cuốn sách của Gérard Roland (2000): Transitionand Economics: Politics, Markets and Firms (Thời kỳ chuyển đổi và nền kinhtế: chính trị, thị trường và các nhà máy) cung cấp cách nhìn nhận về CNTBnhư một hệ thống kinh tế và đánh giá sự năng động trong thay đổi thể chếtrong giai đoạn chuyển đổi nền kinh tế.
3 Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu tổng quát:
Trên cơ sở tư duy lý luận và thực tiễn nhận thức, giải quyết mối quan
hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam sau gần 25 năm đổimới, có tham khảo kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, đề tài đề xuấtquan điểm và giải pháp nhằm giải quyết hài hoà quan hệ giữa đổi mới kinh tế
và đổi mới chính trị nhằm bảo đảm phát triển kinh tế, giữ vững định hướngXHCN, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển đất nước theo mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Mục tiêu cụ thể:
- Luận giải những nội dung mới dưới góc độ lý luận chính trị về quan
hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, góp phần giải quyết những vấn
đề bức chin xúc nảy sinh trong thực tiễn, thúc đẩy đổi mới đất nước toàn diện,mạnh mẽ theo XHCN giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2030.THANH định hướng
- Cung cấp những luận cứ khoa học mới dưới góc độ lý luận chính trị
về ohn, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phục vụ trực tiếp bổsung, phát hộ të va triển Cương lĩnh năm 1991, Chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội 2011-2020 và; soạn thảo văn kiện Đại hội XI của Đảng, t.Làm - Làm
cơ sở cho việc chỉ đạo thực tiễn của các cấp, các ngành
- Làm cơ sở cho việc nghiên cứu và giảng dạy những vấn đề về quan hệgiữa đổi mới A mới kinh kinh trị tế và đổi mới chính tế Got mot cand a Cung
Trang 11cấp những cơ 50 cơ sở lý luận và thực tiễn đấu tranh phản bác các quan gđiểm, tư tưởng sai trái về vấn đề này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài có đối tượng nghiên cứu là làm rõ về lý luận và tổng kết thựctiễn giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở ViệtNam Phạm vi nghiên cứu: chủ yếu trong thời kỳ đổi mới, từ năm 1986 đếnnay Địa bàn nghiên cứu: trên cả nước, bao gồm các vùng, miền tiêu biểu chocác thành phố lớn, đồng bằng, đồng bằng ven biển, miền núi, trung du; đạidiện cho ba miền: Bắc, Trung, Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu K
- Cơ sở lý luận của đề tài là những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác
- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về kinh tế, về chính về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chínhtrị đề tài là thực trạng giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới rement kinh tế vàđổi mới chính trị ở Việt Nam từ năm 1986 đến nay trị, ng,
- Cơ sở thực tiễn của - Đề tài sử dụng các phương pháp chung trongnghiên cứu khoa học xã hội nhân văn theo quan điểm mắc - xít, kết hợp chặtchẽ lịch sử và lôgic, lý luận và thực tiễn, phân tích và tổng hợp
Trang 12Nội dung Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu
Quan hệ giữa kinh tế và chính trị là quan hệ cơ bản, tồn tại kháchquan.Theo quan điểm đời sống xã hội của mọi chế độ xã hội có phân chia giaicấp và được tổ chức thành nhà nước của chủ nghĩa Mác - Lênin, quan hệgiữa cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng được thể hiện cô đọng nhất trongquan hệ giữa kinh tế và chính trị, trong đó kinh tế quy định nội dung, kết cấucủa chính trị; ngược lại chính trị định hướng cho quá trình phát triển kinh tế
và điều chỉnh các quan hệ kinh tế Một cách tổng quát, kinh tế phát triển là cơ
sở, điều kiện bảo đảm chắc chắn cho ổn định chính trị một cách tích cực và sự
ổn định chính trị tích cực là tiền đề cho đổi mới, phát triển kinh tế Nhận thứcđúng và giải quyết thành công quan nhệ giữa kinh tế và chính trị (nhấn mạnhmặt khách quan của vấn đề), giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị (nhấnmạnh mặt chủ quan của vấn đề) có ý nghĩa quyết ichinh tri to As định chiềuhướng, nội dung, nhịp độ, hiệu quả và mức độ bền vững của sự phát triển.Xuất phát từ nhận thức và tư duy đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng bướcvận dụng và giải quyết đúng đắn, sáng tạo quan hệ giữa kinh tế và chính trịtrong mow quá trình đổi mới, nhờ đó cách mạng nước ta đã thu được nhữngthành tựu to lớn: đất nước ra khỏi tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hộibước vào giai đoạn đầy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức
và hội nhập quốc tế THU HONG Trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt từ khinước ta chủ động, tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế và làthành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) (11-2006), ởnước ta, một nền KTTT định hướng XHCN hội nhập quốc tế từng bước hìnhthành và được vận hành theo những qui luật vốn có của nó Thích ứng với nềnkinh tế như vậy, một nền chính trị dân chủ XHCN mà trụ cột là Nhà nướcpháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng đã,đang hình thành và ngày càng phát huy vai trò bảo đảm, thực thi quyền làm
Trang 13chủ của nhân dân Nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mớichính trị ở Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hiện nay, là công việc hết sứcphức tạp, trước hết bởi sự đa dạng, phức tạp và tính thường xuyên biến đổicủa kinh tế và chính trị trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế Hơn nữa,
do sự không tương thích giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị nên mụctiêu của việc nghiên cứu là cần tìm 1 nguyên nhân của thực trạng và chỉ rathực chất, nội dung, những quan điểm có tính nguyên tắc giải quyết mối quan
hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Đây là việc làm không dễ dàng,bởi vậy, yêu cầu trước hết cần đứng vững trên lập Lương trường thế giới quan
và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đầymình, 7 mạnh công tác tổng kết thực tiễn cá nhân nă 1.1 Phương pháp luận
và phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mớichính trị theo chủ nghĩa duy vật biện tạo thực tiễn chứng Cho đến nay tuy vẫncòn nhiều ý kiến khác nhau, song về cơ bản có thể xem: Phương pháp luận làmột hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát, những cách thứcchung để thực hiện hoạt động nhận thức và thực tiễn Phương pháp luận Mác-Lênin trang bị cho chúng ta thế giới quan khoa học và phương pháp luận duyvật biện chứng, những quan điểm, nguyên tắc, cách thức chung đúng đắn đểnghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác Lênin, học thuyếtđược xây dựng trên nền tảng của chủ và chủ nghĩa duy vật lịch sử, hoạt độngnhận thức và cải gười Nói cách khác, học thuyết Mác- Lênin, tư tưởng HồChí Minh chính là lý luận, phương pháp luận cho việc nhận thức và cải tạothế giới Sự thống nhất giữa thế giới quan khoa học và phương pháp luậnđúng đắn, theo Lênin, đã làm cho triết học của Mác là một “chủ nghĩa duy vậttriết học hoàn bị, đồng thời là “công cụ nhận thức vĩ đại " Hơn thế nữa, vớithế giới quan và phương pháp luận khoa học, khi nghiên cứu mối quan hệgiữa kinh tế và chính trị sẽ góp phần phát triển lý luận và những nguyên lýđược xây dựng bởi các nhà kinh điển cho phù hợp với điều kiện mới.A.Anhxtanh đã nhận xét: “Các khái quát hoá triết học cần phải dựa trên các
Trang 14kết quả khoa học Tuy nhiên, một khi đã xuất hiện và được truyền bá rộng rãi,chúng thường ảnh hưởng đến sự phát triển của các tư tưởng khoa học khichúng chỉ ra một trong rất nhiều phương pháp phát triển có thể có " Cần thiếtphải nhắc lại một cách khái quát thực chất của phương pháp biện chứng mácxít và của chủ nghĩa duy vật mác xít trong nghiên cứu quan hệ giữa đổi mớikinh tế và đổi mới chính trị ở ở nước ớc ta được thể hiện ở bốn đặc trưng cơbản: a) Các sự vật, hiện tượng trong thế giới đều có mối liên hệ và tác độngqua lại với nhau; b) các sự vật, hiện tượng luôn vận động và chuyển hoákhông ngừng; e) sự phát triển không phải là sự tăng trưởng giản đơn mà đượcdiễn ra từ sự thay đổi về lượng đến thay đổi về chất; 1 d) đấu tranh giữa cácmặt đối lập là nguồn gốc của sự vận động phát triển của sự vật Thực chất củachủ nghĩa duy vật mácxít được thể hiện ở ba đặc trưng cơ bản: a) thế giớithống nhất ở tính vật chất và luôn vận động biến đổi không n ngủng; b); aydad www th var la car vật chất là cải có trước, ý thức, tư duy là cái có đượcthế giới và các qui luật của nó Đây sau c) con người có thể nhận thức ó thấchính là nội dung căn cốt của chủ nghĩa cun www.gior va cac 10 Day 3 coiTrong 0 30 cod và kiến trúc va truc duy vật biện chứng do Mác- Ănghen vàsau đó là V.Lênin xây dựng Vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vàonghiên cứu đời sống xã hội mà trực tiếp là chủ nghĩa ma tư bản, các nhà kinhđiển đã phát hiện ra chủ nghĩa duy vật lịch sử mà nội kì dung cơ bản của nólà: sản xuất vật chất là cơ sở của sự tồn tại xã hội và phát triển xã hội, răngcùng với lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cơ sở hạ thượng tầng lànhững yếu tố hợp thành không thể thiếu được của hình thái kinh tế xã hội vàmối quan hệ biện chúng trong quá trình vận động của các yếu tố đó là nhữngqui luật của sự phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội với tư cách là quátrình lịch sử tự 7 nhiên Ph.Ăngghen viết: “Trong mỗi thời đại lịch sử, phươngthức chủ yếu của sản xuất kinh tế và trao đổi, cùng với cơ cấu xã hội dophương thức c quyết định, đã cấu thành cơ sở cho lịch sử chính trị của thờiđại và lịch sử của sự phát triển trí tuệ của thời đại, cải cơ sở mà chỉ có xuất
Trang 15phát từ đó mới cắt nghĩa Parmen In te được lịch sử đónê: đó i Vận dụngphương pháp luận Mác- Lênin đòi hỏi khi nghiên cứu mối quan hệ giữa đổimới kinh tế và đổi mới chính trị phải quán triệt nguyên tắc: Lý luận phải gắnvới thực tiễn Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Thống nhất giữa lý luận và thựctiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mác- Lênin Thực tiễn không có
lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng Lý luận mà không liên hệ vớithực tiễn là lý luận suông” Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin rấtcoi trọng vai trò của phương pháp, nhất là trong hoạt động cách mạng Theocác ông, vấn đề không phải B chỉ là chân lý mà còn là con đường (phươngpháp) đến chân lý và chính phương tính pháp cũng phải có tính chân lý Hiệnnay, có nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về phương pháp, song, mộtcách chung nhất, phổ quát nhất có thể xem phương pháp là hệ thống nhữngnguyên tắc được đúc rút từ những tri thức về các qui luật khách quan để điềuchỉnh nhận thức và hoạt động thực tiễn nhằm thực hiện mục tiêu nhất định
Có rất nhiều phương pháp khác nhau tùy theo cách tiếp cận, mục nghiên cứu
và phân loại Tuy nhiên, trong nghiên cứu mối quan hệ giữa đổi mới đích 3kinh tế và đổi mới chính trị cần sử dụng một số phương pháp cơ bản sau:
Phương pháp phân tích và tổng hợp
Phương pháp phân tích và tổng hợp xuất phát từ cơ sở khách quan củachính cấu tạo của sự vật và trong tính quy luật của bản thân sự vật, hiện tượngcũng như trong hoạt động thực tiễn của con người Hiện thực khách quan luôntồn tại cái aging toàn bộ và cái bộ phận, yếu tố và hệ thống, phân tán và kếthợp Trong hoạt động thực tiễn của con người cũng bao gồm hai quá trình:quá trình chia tách các đối tượng và quá trình hợp nhất các đối tượng bị chiatách để thành cái thống nhất mới Những quá trình h đó 5 được thể hiện trong
tư duy bởi những thao tác tư duy, phương pháp tư duy,
Phương pháp phân tích tổng hợp của tư duy chỉ là sự phản ánh nhữngquá trình hoạt động thực tiễn của con người
Trang 16Phân tích và tổng hợp + là hai phương pháp nhận thức khác nhaunhưng lại thống nhất biện chứng với nhau Không phân tích thì không nhậnthức cái bộ phận, còn không tổng hợp thì không thể nhận thức cái toàn bộ nhưmột chinh thể Phân tích đi liền với tổng hợp, chuẩn bị cho tổng hợp, được bổsung bởi tổng hợp và tổng hợp giúp cho phân tích đi sâu vào cái bản chất của
sự vật, hiện tượng
- Phương pháp từ trừu tượng đến cụ thể
Cơ sở khách quan của phương pháp này xuất phát từ sự tồn tại kháchquan 05 dưới dạng cái cụ thể của các sự vật hiện tượng của thế giới kháchquan Song cái cụ thể khách ở lại được được phản ánh vào nhận thức dưới haihình thức: cái cụ thể khách quan lại cảm tính và cái cụ thể trong tư duy, trong
đó, cái cụ thể cảm tính là điểm bắt đầu của nhận thức, cái cụ thể trong trong
tư duy là kết quả của tư duy lý luận, kết quả của sự nghiên cứu khoa học phảnánh cái cụ thể khách quan bằng hệ thống những khái niệm, phạm trù, quy luật
1.2 Cách tiếp cận đề tài nghiên cứu
Trong đời sống hiện thực, mỗi sự vật, hiện tượng đều tồn tại trongnhiều dạng thức với nhiều mối quan hệ khác nhau Bởi vậy, để hiểu sâu sắc,thấu đáo bản chất, nội dung, xu hướng phát triển của sự vật, hiện tượng cầnthiết phải có những cách tiếp cận, những " lát cắt” tiếp cận khác nhau Nghiêncứu mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở nước ta cũng đòihỏi phải kết hợp tổng hòa những cách tiếp cận khác nhau:
- Tiếp cận hệ thống
Cách tiếp cận này cho phép nhận diện quan hệ giữa đổi mới kinh tế vàđổi mới chính trị trong một chính thể thống nhất của quá trình đổi mới toàndiện đất đổi mới cả thi chính sách lối,, A nước: đổi mới kinh tế, chính trị, vănhóa, xã hội, trong đó, đổi mới kinh tế là trong tâm, đổi mới chính trị là quyếtđịnh Trong từng lĩnh vực, cần thiết phải nhận thức, tư duy, lý luận (khoahọc); đổi mới cả tổ chức, đường (chính trị) và đổi mới hoạt động thực tiễn
Trang 17Với cách tiếp cận hệ thống, vấn đề nghiên cứu được đặt trong quan hệ đốichứng với kinh nghiệm của các nước trên thế giới; trong quan hệ biện chứngvới sự tác động của nhiều yếu tố: yếu tố truyền thống, yếu tố thời đại, yếu tốtrong nước, yếu tố quốc tế, yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan Hơn nữa,với cách tiếp cận này, vấn đề quan hệ giữa đổi mới kinh tế bị 3 và đổi mớichính trị được xem xét trong quá trình phát triển trên nền tảng của triết lý pháttriển tổng quát Việt Nam: Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; phát triển kinh
tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng đảng là khâu then chốt, xây dựng và pháttriển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
Tiếp cận theo lý luận về hình thái kinh tế- xã hội của chủ nghĩa Lênin, trong mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng won toKinh tế là tổng hòa các quan hệ sản xuất tạo nên kết cấu kinh tế- xã hội, làhoạt động sáng tạo ra của cải vật chất, thuộc cơ sở hạ tầng; còn chính trị làtổng hòa các quan hệ giai cấp, dân tộc trong việc giành, giữ, tổ chức, sử dụngquyền lực nhà nước, quản lý các quá trình kinh tế- xã hội, thuộc kiến trúcthượng tầng Trong mối quan hệ này thì kinh tế quyết định chính trị, chính trị
Mác-ra đời từ kinh tế Tuy nhiên, chính trị có tính độc lập tương đối, tác động trởlại cả theo hướng tích cực và tiêu cực
2.THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐÔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY
2.1 Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị - những thành tựu và hạn chế
2.2.1 Đổi mới kinh tế- những thành tựu và hạn chế
Nhờ đường lối đổi mới đúng đắn của Đảng và việc thực hiện đường lối
đó đã đem lại những thay đổi căn bản trong kinh tế Việt Nam:
- Từ chỗ nền kinh tế chỉ tồn tại phổ biến là hai thành phần quốc doanh
và tập thể, dựa trên chế độ sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể chuyển sang
Trang 18nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần dựa trên cơ sở nhiều hình thức sởhữu khác nhau về tư liệu sản xuất.
- Từ nền kinh tế mang nặng tính chất hiện vật (quan hệ hàng hoá - tiền
tệ chỉ được thừa nhận về mặt hình thức, còn trên thực tế là thực hiện chế độcấp phát, giao nộp, phân phối theo kế hoạch đến tận tay người tiêu dùng), cácđơn vị kinh tế không có quyền tự chủ trong sản xuất
- kinh doanh, chuyển sang nền kinh tế hàng hóa, các đơn vị kinh tế cóquyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động sản xuất kinh doanh
- Từ một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, thống nhất cao độ chuyểnsang KTTT định hướng XHCN Hơn thế nữa, chúng ta đã dần dần xóa bỏ cơchế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp; tách quản lý nhà nước về kinh tế vàquản sản xuất kinh doanh, bảo đảm quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp; từng bước xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế,chính sách, tạo hành lang pháp lý cho hoạt động tự chủ, cạnh tranh bình đẳngcủa mọi thành phần kinh tế; dần dần hình thành và phát triển đồng bộ các thịtrường cơ bản Nền KTTT từng bước được hình thành, phát triển, huy độngđược các nguồn lực trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế - xã hội, tạo rađược tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, giữ vững định hướng XHCN
- Trong kinh tế đối ngoại, từ chỗ chủ yếu trao đổi ngoại thương với cácnước XHCN dưới hình thức các nghị định thư, hợp tác kinh tế, Nhà nước độcquyền ngoại thương, chuyển sang nền kinh mở, thực hiện đa phương hóa và
đa dạng hóa các quan hệ và các hình thức kinh tế đối ngoại; từ nền kinh tếkhép kín, kinh tế Việt Nam đã chuyển sang nền kinh tế mở, hội nhập sâu,rộng với kinh tế quốc tế, và đã là một bộ phận của nền kinh tế thế giới Đánhgiá về thành tựu đổi mới kinh tế đất nước, Đảng ta khẳng định: “Sau hơn 20năm đổi mới, nước ta đã chuyển đổi thành công từ thể chế kinh tế kế hoạchhóa tập trung quan liêu, bao cấp sang thể chế KTTT định hướng XHCN.Đường lối đổi mới của Đảng đã được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luậttạo hành lang pháp lý cho nền KTTT định hướng XHCN hình thành và phát
Trang 19triển Chế độ sở hữu cấu các thành phần kinh tế được đổi mới cơ bản từ sởhữu toàn dân, sở hữu tập thể, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể là chủ yếusang nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế đan xen hỗn hợp, trong
đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, tạo động lực và điều kiện thuận lợicho khai thác tiềm năng trong và ngoài nước vào phát triển kinh tế - xã hội.Các loại thị trường cơ bản đã ra đời và từng bước phát triển thống nhất trong
cả nước, gắn với thị trường khu vực và thế giới Cơ chế thị trường có sự quản
lý của Nhà nước đã đi vào cuộc sống, doanh nghiệp và doanh nhân được tựchủ kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh để phát triển Quản lý nhà nước vềkinh tế được đổi mới từ can thiệp trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vàohoạt động sản xuất kinh doanh chuyển sang quản lý bằng luật pháp, chínhsách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các công
cụ điều tiết vĩ mô khác Việc gắn phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề
xã hội, xóa đói, giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực "
- Về tốc độ tăng trưởng, trong những năm khởi đầu đổi mới 1991) tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng chậm Nhưng khi quá trình đổimới diễn ra rộng khắp và đi vào thực chất thì tốc độ tăng trưởng GDP luônđạt mức cao và ổn định kéo dài, mặc dù có lúc bị giảm sút do dự báo chủquan và ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu GDP/người/nămcũng tăng lên đáng kể, từ 289 USD (năm 1995) lên 1.024 USD (năm 2008),cho thấy Việt Nam đang từng bước vượt qua ranh giới của quốc gia đang pháttriển có thu nhập thấp và đang vươn lên nước đang phát triển có thu nhậptrung bình thấp - Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướngphát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sởhữu Khu vực kinh tế nhà nước được tổ chức lại, đổi mới và chiếm 38,4%GDP (năm 2005) Kinh tế dân doanh phát triển khá nhanh, hoạt động có hiệuquả trên nhiều lĩnh vực, chiếm 45,7% GDP, đóng góp quan trọng cho pháttriển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và cải thiện đời sống nhân dân; kinh
(1986-tế hợp tác và hợp tác xã phát triển khá đa dạng (đóng góp 6,8% GDP) Kinh (1986-tế
Trang 20có vốn đầu tư nước ngoài có tốc độ tăng trường tương đối cao, chiếm 15,9%GDP, là cầu nối quan trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thôngquốc tế Phúc lợi xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của người dân cũngđược cải thiện rõ rệt đánh giá của hiệp quốc, Việt Nam về đích trước 10 nămvới mục tiêu “xóa đói giảm nghèo " trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ.Thành tựu đổi mới trong nước kết hợp với thực hiện chính sách mở cửa, tíchcực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã mở ra không gian phát triển mớicho nền kinh tế Việt Nam t mang lại cho Việt Nam một vị thế quốc tế mới Từmột quốc gia bị phong tỏa, cấm vận; từ một nền kinh tế kém phát triển và
“đóng cửa ", sau gần 25 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn mạnh ra thế giới.Đến nay Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với gần 170 nước và vùng lãnhthổ; mở rộng quan hệ kinh tế thương mại với 221 quốc gia và vùng lãnh thổ
Về hạn chế của đổi mới kinh tế, Đảng ta đã thẳng thắn chỉ rõ: “Quá
trình xây dụng thể chế KTTT định hướng XHCN còn chậm, chưa theo kịpyêu cầu của công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước Hệthống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa đầy đủ, đồng bộ và thống nhất Việc
xử lý các vấn đề liên quan đến đất đai còn nhiều vướng mắc Vấn đề sở hữu,quản lý và phân phối trong các doanh nghiệp nhà nước chưa giải quyết tốt,gây khó khăn cho sự phát triển và làm thất thoát tài sản nhà nước, nhất là khitiến hành cổ phần hóa Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác còn
bị phân biệt đối xử Các yếu tố thị trường và các loại thị trường hình thành,phát triển chậm, thiếu đồng bộ, vận hành chưa thông suốt Tình trạng cạnhtranh không lành mạnh, gian lận thương mại, trốn, lậu thuế còn nhiều, chậmđược khắc phục Phân bổ nguồn lực quốc gia chưa hợp lý Chính sách tiềnlương còn mang tính bình quân, chưa bảo đảm đời sống của người hưởnglương, chưa khuyến khích, thu hút và sử dụng được người tài Hệ thống thuếchưa thực hiện tốt chức năng điều tiết và bảo đảm công bằng xã hội, thúc đẩyđầu tư, đổi mới công nghệ, nuôi dưỡng và phát triển nguồn thu Cơ cấu tổchức, cơ chế vận hành của bộ máy nhà nước còn nhiều bất cập, hiệu lực, hiệu
Trang 21quả quản lý còn thấp Cải cách hành chính chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu
đề ra Tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí vẫn nghiêm trọng Cơ chế, chínhsách phát triển các lĩnh vực văn hóa, xã hội đổi mới chậm, chất lượng dịch vụ
y tế, giáo dục - đào tạo còn thấp Khoảng cách giàu nghèo giữa các tầng lớpdân cư, giữa các vùng ngày càng lớn Hệ thống an sinh xã hội còn sơ khai Tỷ
lệ người tham gia bảo hiểm xã hội thấp Nhiều vấn đề bất cập, bức xúc trong
xã hội và bảo vệ môi trường chưa được giải quyết tốt Nhìn chung, chất lượngphát triển kinh tế - xã hội và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn kém.Tốc độ tăng trưởng kinh tế 5 năm (2001-2005) vẫn thấp hơn so với khả năng
và thấp hơn nhiều nước trong khu vực ở thời kỳ đầu CNH Tăng trưởng kinh
tế chủ yếu dựa vào nhân tố phát triển theo bề rộng, vào những ngành vànhững sản phẩm truyền thống, công nghệ thấp, tiêu hao vật chất cao, sử dụngnhiều tài nguyên, vốn và lao động Tỷ lệ đầu tư so với GDP năm 2008 là41,3%, năm 2009 là 42,8%, nhưng tốc độ tăng GDP 2 năm chỉ đạt 6,18% và5,32% là chưa tương xứng Năng suất lao động xã hội tăng chậm và khôngcao, chỉ khoảng 4-5%/năm, trong khi đó các nước trong khu vực là10-15%/năm Cơ cấu kinh tế của nước ta tuy bước đầu đã có sự chuyển dịchtheo hướng tiến bộ và tích cực, nhưng vẫn chưa ra khỏi cơ cấu ngành truyềnthống với tỷ trọng tương đối cao của khu vực sản xuất vật chất nói chung vàkhu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản nói riêng Bên cạnh đó, cơ cấu ngành
và cơ cấu sản phẩm còn bất hợp lý, chưa phát huy khả năng thế mạnh của mỗiđịa phương, mỗi vùng và cả nước Các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vữngchắc Mức thâm hụt ngân sách tuy đã được khống chế nhưng vẫn lên tới 7%GDP, nhập siêu hàng hoá năm 2009 đã giảm 32,1% so với năm 2008 songvẫn bằng 21,6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá, nhập siêu dịch vụ bằng18,6% kim ngạch xuất khẩu dịch vụ và tăng 17% so với năm 2008 Mặt khác,lạm phát trong năm tuy được khống chế ở mức hợp lý, nhưng nhìn chung giá
cả ngày càng tăng và đang tiềm ẩn nhiều yếu tố có thể gây tái lạm phát cao.Nền kinh tế Việt Nam trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua (1986-2008) đã