3.1 QUAN ĐIỂM VỀ NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT HÀI HOÀ QUAN HỆ GIỮA ĐỔI MỚI KINH TẾ VÀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM
3.1.1. Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện thực tiễn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, phù hợp với yêu cầu phát triển của thời đại Sự nghiệp đổi mới diễn ra gần 25 năm đã thu được những kết quả to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nguyên nhân có nhiều, song trong sâu thẳm của những thẳng lợi ấy, trầm tĩnh ngẫm suy, chúng ta nhận thấy, nguyên nhân cơ bản là nhờ Đảng và nhân dân ta tiến hành công cuộc đổi mới trên cơ sở kiên trì chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, xuất phát từ điều kiện thực tiễn của đất nước và sự phát triển của thời đại, từ nhận thức đúng và phát triển sáng tạo lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN.
Đại hội VI, Đại hội mở ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước đã xác định, sự nghiệp đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới tư duy, song muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của đồng chí Lê Duẩn và các đồng chí lãnh đạo khác của Đảng, tiếp thu những thành tựu lý luận, những kinh nghiệm mới phong phú của các đảng anh em, những kiến thức khoa học của thời đại. Trải qua 20 năm tiến hành đổi mới, Đại hội X của Đảng một lần nữa khẳng định vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho công cuộc đổi mới, trong đó có nội dung giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị: “Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải từ bỏ mục tiêu CNXH mà là làm cho CNXH được nhận thức đúng đắn hơn và được xây
dựng có hiệu quả hơn. Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng ". Sinh thời, khi khẳng định vai trò nền tảng của lý luận, Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: Đảng của chúng ta có một ưu điểm rất lớn đó là một quan điểm khoa học mới với tư cách là nền tảng lý luận. Lênin cũng nhấn mạnh vai trò của lý luận, rằng không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng.
Chỉ có đảng nào có được lý luận tiền phong dẫn đường thì đảng đó mới có thể hoàn thành vai trò cách mạng tiền phong. Trên cơ sở thấm nhuần nguyên lý của chủ nghĩa Mác- Lênin về vai trò của lý luận tiên phong, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi. Vai trò của lý luận không chỉ ở chỗ trực tiếp định hướng cho hoạt động thực tiễn, trở thành lực lượng vật chất khi thâm nhập vào quần chúng nhân dân, mà hơn thế nữa, nó có thể dự báo tương lai một cách khoa học, tạo lý tưởng, niềm tin và định hướng giá trị cho đảng cầm quyền, tạo cơ sở cho đảng nắm bắt và hành động theo qui luật khách quan, nâng cao năng lực cầm quyền, tiến cùng thời đại. êm cơ A dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn đất nước trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã từng bước tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta. Từ nhận thức và tư duy lý luận về KTTT định hướng XHCN, về Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, về chế độ dân chủ XHCN, về xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội và tư duy lý luận về sự gắn kết giữa phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là khâu then chốt với phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội..., Đảng ta đã từng bước xây dựng và hoàn chỉnh lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN ở Việt Nam.
“Con đường đi lên của nước ta là sự phát triển quá độ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, tức là bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và
kiến trúc thượng tầng TBCN, nhưng tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ TBCN, đặc biệt về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại " " Và trên thực tế, lý luận ấy ngày càng thâm nhập, “hoá thân” thiết thực và hiệu quả vào cuộc sống tạo nên tính tự giác và sáng tạo cao trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, đem lại những thắng lợi to lớn cho công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN. Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chúng ta phải giải quyết nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ. Trong tổng hoà các mối quan hệ của đời sống xã hội, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là quan trọng, cơ bản, chủ yếu nhất. Việc nhận thức đúng và giải quyết thành công mối quan hệ này đóng vai trò quyết định trong việc giải quyết các mối quan hệ khác. Điều đó cũng có nghĩa rằng sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước chủ yếu dựa vào việc nhận thức và giải quyết mối quan hệ này. Vấn đề đặt ra là, từ thực tiễn của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, để có thể nhận thức ngày càng sâu sắc hơn, bản chất hơn và giải quyết ngày càng hiệu quả hơn, hài hoà hơn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị, đòi hỏi chúng ta nhất thiết phải kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận về CNXH và CNXH đã được Đảng ta khái quát trong quá trình lãnh đạo cách mạng. lên Kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh có nghĩa là chúng ta phải vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam đổi mới và hội nhập, từ đó xác lập tư duy lý luận mới và phương pháp tiếp cận đa chiều, tổng hợp và thực tế hơn để nhận thức “cái chính trị”, “cái kinh tế”; quan hệ giữa chính trị và kinh tế cũng như quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Rằng, kinh tế, hoạt động kinh tế không phải chỉ xuất phát từ nhu cầu kinh tế, xã hội của con người (ăn, mặc, ở...) mà bản thân kinh tế, hoạt động kinh tế cũng có nhu cầu chính trị- ổn định chính trị, tử ở 5 nhìn nhận đổi mới kinh tế không chỉ do nhu cầu giải
quyết những mục tiêu xã hội, phát triển kinh tế, mà còn xuất phát từ nhu cầu chính trị- hoàn thiện thể chế chính trị để từng bước xác lập và hoàn thiện nền chính trị dân chủ XHCN, giữ vững ổn định chính trị một cách tích cực cho phát triển, trước hết là phát triển kinh tế. Phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, chính trị, tư duy chính trị và hoạt động chính trị, thực chất là hoạt động tổ chức, phân chia quyền lực và phân bổ lợi ích, tập trung ở lợi ích kinh tế, không chỉ do nhu cầu chính trị mà trước hết xuất phát từ nhu cầu của cộng đồng (nhu cầu xã hội), nhu cầu phát triển kinh tế, nâng cao đời sống ngày càng tốt hơn cho nhân dân, Do đó, đổi mới chính trị phải vì mục đích phát triển kinh tế và để “trả” chính trị về với nhu cầu của đời sống cộng đồng, nhu cầu quản lý cộng đồng, điều hoà lợi ích cộng đồng vì sự phát triển của cộng đồng, mục đích mà thoạt đầu là lý do cho sự xuất hiện của chính trị, song cùng với sự phát triển, chính trị ngày càng có xu hướng thoát ra khỏi đời sống cộng đồng, đúng trên cộng đồng. Trong vô vàn sự phức tạp giữa tư duy cũ và tư duy mới, chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là thế giới quan, phương pháp luận, thậm chí là lý luận để nhận thức và giải quyết những vấn đề vốn đã phức tạp song trở nên phức tạp hơn trong điều kiện phát triển KTTT, Đảng Cộng sản duy nhất cầm quyền thực hiện sự nghiệp đổi mới, hội nhập. Bởi thế, kiên trì chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là vấn đề có tính nguyên tắc Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới để nhận thức và giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn, vấn đề đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị.
3.1.2. Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải trên cơ sở thực hiện đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị một cách đồng bộ, triệt để, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm thích hợp Từ khi xuất hiện chính trị, biểu hiện tập trung nhất là sự ra đời của nhà nước,
kết quả của sự phát triển kinh tế - xã hội, mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị luôn là mối quan hệ cơ bản nhất chi phối toàn thể các mối quan hệ khác của đời sống xã hội. Kinh tế là yếu tố quyết định suy đến cùng đối với chính trị và chính trị chỉ là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại. Trong mỗi thời đại lịch sử, sự vận động của các chế độ chính trị- xã hội, suy cho cùng, đều phụ thuộc vào sự vận động của chế độ kinh tế- xã hội, trong đó phương thức sản xuất có vai trò, vị trí hàng đầu. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là kinh tế là nhân tố duy nhất chủ quan đề đặt ra trong quá trình giải quyết mối quan hệ này... Cần nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về thực chất giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị chính là sự giải phóng, “cởi trói” đem lại tự do cho người dân trong thực hiện các quyền sản xuất, kinh doanh, quyền tự do chính trị hướng tới thiết lập và hoàn thiện thể chế kinh tế- chính trị thống nhất hài hòa: KTTT định hướng XHCN hội nhập quốc tế, Đảng cầm quyền khoa học, dân chủ và theo pháp luật; Nhà nước pháp quyền XHCN quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật và chịu sự kiểm soát của nhân dân; XHDS thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội theo pháp luật, đồng thời theo những quy tắc, chuẩn mực của cộng đồng bảo đảm cho kinh tế phát triển, chính trị ổn định tích cực, đổi mới được tiếp tục đẩy mạnh vì phát triển bền vững, tiến bộ, công bằng và văn minh. ta l Tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta bắt đầu từ đổi mới tư duy lý luận về chính trị để hoạch định đường lối đối nội, đối ngoại.
Trong quá trình tiến hành đổi mới, từ những bài học thành công và chưa thành công, có tham khảo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, chúng ta từng bước đã thấy được vai trò của đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế và ngày càng nhận ra yêu cầu đổi mới toàn diện, đồng bộ, nhưng phải có bước đi, hình thức và cách làm thích hợp. Nhận thức này có được sau gần 25 năm đổi mới.
Tại Đại hội X, đồng thời với việc tiếp tục định đổi mới toàn diện, đồng bộ, Đảng ta còn chỉ rõ cách làm và bước đi của đổi mới: Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả
các lĩnh vực của đời sống xã hội; từ hoạt động lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến hoạt động cụ thể trong từng bộ phận của HTCT. Có thể nói rằng với cách làm thận trọng, có trọng tâm, trọng điểm, nhưng không bảo thủ, trì trệ, sự nghiệp đổi mới đã thu được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Quan trong hơn là trên cơ sở những thành công và chưa thành công ấy, nhận thức, tư duy lý luận về đổi mới, đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị đã có bước phát triển. Nếu như ở vào thời kỳ bắt đầu đổi mới, chúng ta chủ trương giữ vững ổn định chính trị làm tiền để cho đổi mới, thì nay, sau gần 25 năm đổi mới, khi mà ổn định chính trị đã được bảo đảm, thì tư duy mới lại là đổi mới để phát triển, đổi mới lại trở thành tiền đề, điều kiện cho ổn định chính trị một cách tích cực.
3.1.3. Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải n cơ sở đổi mới toàn diện, đồng bộ, triệt để các mối quan hệ, trong đó trọng tâm là quan hệ giữa xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN với xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị dân chủ XHCN Trong quá trình đổi mới từ năm 1986 đến nay, đã xuất hiện hàng loạt các mối quan hệ phức tạp, đòi hỏi phải được nhận thức và xử lý một cách phù hợp với quy luật khách quan và tình hình, đặc điểm cụ thể của đất nước.
Trong đó, nổi lên một số mối quan hệ chủ yếu: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị (trong giai đoạn vừa qua là đổi mới HTCT); quan hệ giữa KTTT và định hướng XHCN;
quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; quan hệ giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN; quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ. Trong các mối
quan hệ đó, quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong những mối quan hệ cơ bản và quan trọng nhất
3.1.4. Nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải trên cơ sở đáp ứng tốt yêu cầu chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã trở thành xu thế khách quan mà không có bất kỳ một quốc gia nào có thể tồn tại ngoài “quĩ đạo " này. Là thành viên của WTO, không cho phép chúng ta quay lưng lại với xu hướng khách quan của thời đại, trái lại sự nghiệp đổi mới đã tạo ra thời cơ và vận hội cho phép khai thác các tiềm năng, nguồn lực cho phát triển
3.2.1. Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, trình độ tư duy lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị, về mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị Là một chương trình đổi mới toàn diện các mặt của đời sống xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ Đại VI (1986), công cuộc đổi mới thực chất là giải phóng và phát triển bền vững vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. vực Công bằng mà đánh giá, đổi mới là yêu cầu khách quan, là mệnh lệnh của cuộc sống, đồng thời cũng là kết quả của sự tìm tòi, thử nghiệm, thậm chí có cả sự trả giá. i mới là một quyết sách chiến lược kịp thời, đúng lúc, đáp ứng nguyện vọng sâu xa và những đòi hỏi bức xúc của toàn dân, là sự gặp gỡ, thống nhất giữa ý Đảng, lòng dân, giữa thực tiễn với lý luận. Đổi mới không chỉ là cải cách mà thực sự là một quá trình cách mạng, cải biến cách mạng sâu xa, triệt để mọi lĩnh của đời sống xã hội, liên quan tới những thay đổi về tâm lý, tư duy, ý thức xã hội, lựa chọn giá trị, thay đổi mô hình phát triển, thay đổi cái cũ, tạo lập cái mới trên các phương diện: thể chế kinh tế, thể chế chính trị, thể chế văn hoá, thể chế xã