5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu K
2.1. Đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị - những thành tựu và hạn chế
2.2.2. Đổi mới chính trị - những thành tựu và hạn chế
Dù còn chậm hơn so với kinh tế, nhưng đổi mới chính trị trong những năm qua cơ bản đáp ứng yêu cầu phát triển KTTT, nhờ đó, nền chính trị luôn
giữ được ổn định tạo môi trường chính trị thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế. Chúng ta đang tiến hành xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; xây dựng nền dân chủ XHCN, nhấn mạnh quan điểm “dân là gốc”, tạo mọi điều kiện thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; thực hiện chính sách đối ngoại hòa bình, hữu nghị, hợp tác; đồng thời kiên quyết chuyên chính đối với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc. Toàn bộ tổ chức và hoạt động của các tổ chức thuộc HTCT có chuyển biến tích cực theo hướng xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân và giữ vững ổn định chính trị. Hoạt động của HTCT ngày càng hướng vào phát triển kinh tế, đổi mới theo hướng lành mạnh hóa các quan hệ xã hội, củng cố vững chắc HTCT cơ sở, đấu tranh chống tiêu cực và các thủ đoạn phá hoại từ bên ngoài và từ trong nội bộ. Nhờ đó tổ chức đàng ngày càng được chỉnh đốn, gọn nhẹ hơn, phương thức lãnh đạo của Đảng được đổi mới khoa học, dân chủ và thực chất hơn. Các cấp ủy đảng xây dựng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc, thể hiện tinh thần dân chủ, Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp đã đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động, gắn bó mật thiết với nhân dân. Nội dung của nền dân chủ XHCN bước đầu được lượng hóa và thể chế hóa thành pháp luật, pháp lệnh, nghị định và tổ chức thực hiện, (điển hình là Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (từ năm 2007 là Pháp lệnh)). Vai trò, vị trí lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội tiếp tục được thể chế hóa trong Hiến pháp bổ sung, sửa đổi năm 2001; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có bước phát triển mới, tạo động lực thực hành dân chủ và tăng cường đoàn kết trong Đảng; nhiều quy định về chức năng, nhiệm vụ của các loại hình tổ chức cơ sở đảng đã được xây dựng; Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với HTCT, sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan nhà nước có nhiều đổi mới, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân. Bên cạnh đó, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước được phân định rõ hơn giữa quản lý nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh; bộ máy nhà nước ngày càng được kiện toàn, từ cơ cấu tổ chức đến cơ chế hoạt động trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể nhân dân được xác định rõ hơn và được thể chế hóa nhiều hơn. Về mức độ đổi mới chính trị Việt Nam từ 1986 đến nay, kết quả khảo sát thực tế cho thấy: có tới 59% số người được hỏi cho rằng sự chuyển biến này nhanh và rõ rệt, 5,5% - rất nhanh, 5,4% - không rõ rệt, 2,9% về cơ bản không có sự chuyển biến.
Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới chính trị, chúng ta cũng có những hạn chế là:
- Lý luận về đảng cầm quyền trong điều kiện phát triển KTTT, xây dựng Nhà nước pháp quyền, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế chưa được làm sáng tỏ; cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ “chưa được thể chế hóa và cụ thể hoá. Nội hàm các nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân chưa được làm rõ;
- Năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước, hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội chưa đáp ứng được yêu cầu của đối mới kinh tế. Các cơ quan của Đảng, Nhà nước, đoàn thể còn cồng kềnh, chưa được tinh giản, còn nhiều biểu hiện quan liêu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân;
- Chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong tổ chức nhà nước chưa được xác định rành mạch, trách nhiệm không rõ, nội dung và phương thức hoạt động chậm đổi mới, còn nhiều biểu hiện của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Bộ máy nhà nước cổng kềnh và kém hiệu lực, việc tổ chức triển khai các quyết sách của Đảng thường chậm trễ, kém hiệu quả. Các cơ quan dân cử chưa thực hiện đầy đủ quyền giám sát;
- Cơ quan hành pháp vẫn nắm giữ vai trò chủ chốt trong việc soạn thảo các văn bản luật và dưới luật. Mặc dù Quốc hội đã được trao thêm nhiều
quyền lực để giám sát việc Chính phủ thực hiện các chính sách, nhưng đến nay các đảng viên vẫn chiếm đa số trong số lượng đại biểu Quốc hội nên khó thực hiện đại diện cho các lợi ích đa dạng và đôi khi mâu thuẫn của các cử tri;
- Quá trình xây dựng một nhà nước hiệu quả vẫn chưa hoàn thành; chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, các cấp chính quyền vẫn chưa đủ rõ, còn nhiều trùng lắp, chồng chéo. Việc thực hiện phân cấp theo ngành và lĩnh vực giữa các cấp chính quyền vẫn còn chậm, mặt khác, việc phân cấp cũng chưa đi liền với việc tăng cường quản lý thống nhất và nâng cao năng lực cho cơ quan được phân cấp và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện;
- HTCT ở cơ sở hiện nay còn nhiều mặt yếu kém, bất cập trong công tác lãnh đạo, quản lý, tổ chức thực hiện và vận động quần chúng. Chính quyền ở không ít địa phương chưa thật sự của dân, do dân, vì dân.
Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của dân, vừa không giữ đúng kỷ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng:
- Nền hành chính nhà nước thiếu một hệ thống tôn ti trật tự rõ ràng, trong nhiều trường hợp “phép vua” vẫn thua “lệ làng”. Còn tồn tại những mối quan hệ ngầm giữa các quan chức và giới kinh doanh. Trong nhiều trường hợp, các quan hệ này đã tự biểu lộ thành hiện tượng tham nhũng. Dư luận cho rằng “sân chơi” nhà nước đã trở thành một “thị trường” lớn cho các hoạt động kinh tế “phi thị trường”,
- Năng lực và phẩm chất của đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị chưa tương xứng với yêu cầu của nhiệm vụ. Một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng cách mạng, tha hoá về phẩm chất đạo đức, sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở Đảng chưa cao. Đội ngũ cán bộ cơ sở ít được đào tạo, bồi dưỡng, chính sách đối với cán bộ cơ sở còn chấp vá.
Về những tồn tại hạn chế của HTCT, Đảng ta chỉ rõ: “Hệ thống thể chế, pháp luật, nhất là thể chế KTTT định hướng XHCN vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc. Chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan trong hệ thống hành
chính nhà nước chưa đủ rõ, còn trùng lặp và chưa bao quát hết các lĩnh vực quản lí nhà nước; cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chưa phù hợp. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng kịp yêu cầu; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Thể chế, luật pháp về quản lí tài chính công tuy có nhiều đổi mới, nhưng còn bất cập. Thủ tục hành chính còn nhiều vướng mắc, gây phiền hà cho tổ chức và công dân; kỉ luật, kỉ cương cán bộ, công chức chưa nghiêm; hiệu lực, hiệu quả của quản lí nhà nước còn nhiều yếu kém 2.2.2. Quan hệ giữa xây dựng và hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN với xây dựng và hoàn thiện thể chế chính trị dân chủ XHCN Cùng với những thành tựu đạt được trong phát triển kinh tế, thời gian qua, Việt Nam đã chủ trương đổi mới và hoàn thiện hệ thống thể chế KTTT định hướng XHCN. Nhờ đó, nhiều thành tựu và tiến bộ đáng kể đã được ghi nhận cả trong tư duy lý luận về thể chế KTTT, về định hướng XHCN, và trong những nỗ lực thực tế nhằm hoàn thiện khuôn khổ luật pháp kinh tế và hoàn thiện các cơ chế, chính sách thực thi thể chế kinh tế thị trường. Trong quá trình đổi mới, có thể nói, quá trình hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định: - Định hướng XHCN của nền KTTT đã từng bước được xác định: Các thiết chế, công cụ và nguyên tắc vận hành kinh tế thị trường được c giác tạo lập và sử dụng để giải phóng triệt để sức sản xuất, từng bước cải thiện đời sống của nhân dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đối với xóa đói, giảm nghèo; từng bước làm cho mọi thành viên xã hội đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ
phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.