Một nền văn minh là một xã hội phức tạp, thể hiện phẩm chất tiên tiến từ một xã hội đồng nhất. Mọi cư dân sinh sống trong xã hội cùng một văn hoá, nhưng không phải tất cả mọi cư dân đều sống trong nền văn minh. Về mặt sử học, các nền văn minh có một số đặc điểm như: trình độ kĩ thuật, hình thái tổ chức xã hội..., trong đó yếu tố tôn giáo, các học thuyết. Ở bài viết này, để nghiên cứu sâu về các học thuyết mang màu sắc chính trị, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực đời sống, em xin chọn đề bài số 5 làm chủ đề bài tập lớn học kỳ của mình “Ảnh hưởng của Nho giáo trên lĩnh vực ảnh hưởng, giáo dục của văn minh Trung Quốc thời trung đại.” Trong quá trình làm bài, do hạn chế về học thuật và lí luận, bài làm còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý từ thầy cô. Em xin trân trọng cảm ơn NỘI DUNG
Trang 1MỞ ĐẦU
Một nền văn minh là một xã hội phức tạp, thể hiện phẩm chất tiên tiến từ một xã hội đồng nhất Mọi cư dân sinh sống trong xã hội cùng một văn hoá, nhưng không phải tất cả mọi cư dân đều sống trong nền văn minh Về mặt sử học, các nền văn minh có một số đặc điểm như: trình độ kĩ thuật, hình thái tổ chức xã hội , trong đó yếu tố tôn giáo, các học thuyết Ở bài viết này, để nghiên cứu sâu về các học thuyết mang màu sắc chính trị, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực đời sống, em xin chọn đề bài số 5 làm chủ đề bài tập lớn học kỳ của
mình “Ảnh hưởng của Nho giáo trên lĩnh vực ảnh hưởng, giáo dục của văn
minh Trung Quốc thời trung đại.”
Trong quá trình làm bài, do hạn chế về học thuật và lí luận, bài làm còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý từ thầy cô Em xin trân trọng cảm ơn!
NỘI DUNG
A KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO
I Khái niệm về Nho giáo
Nho giáo là một trong những học thuyết triết học và chính trị xã hội lớn nhất trong lịch sử triết học của Trung Quốc Mặc dù ra đời từ rất sớm nhưng Nho giáo đã dành sự quan tâm đặc biệt đến con người, đặc biệt là vấn đề giáo dục con người Tư tưởng giáo dục của Nho giáo chứa đựng nhiều giá trị tích cực và
đã có những ảnh hưởng to lớn đến đời sống chính trị - xã hội không chỉ của Trung Quốc mà còn với rất nhiều nước Châu Á khác, trong đó có Nhật Bản
II Nguồn gốc, cơ sở hình thành
Nho giáo bắt nguồn từ thời thái cổ ở nước Tàu Thuở đó, vua Phục Hy, là một Thánh Vương đắc đạo, trông thấy được các hiện tượng trong cõi Hư linh Ngài nhìn thấy Long Mã có bức đồ trên lưng gồm những chấm đen trắng, nổi lên giữa sông Hoàng Hà, mà biết được lẽ Âm Dương, chế ra Tiên Thiên Bát Quái, cắt nghĩa sự biến hóa của Trời Đất để làm nguyên tắc dạy người Những vạch đơn giản của Bát Quái ấy được xem là đầu mối của văn tự về sau này Đó là khởi thủy của Nho giáo, thành hình do thực tế kết hợp với huyền lý của Trời Đất Nho giáo lấy đạo Trời làm khuôn mẫu, dạy người thuận theo lẽ Trời, còn nghịch với Trời thì phải chết Tiếp theo đến đời nhà Châu, vua Văn Vương và
Trang 2con của Ngài là Châu Công Đán, tiếp tục khuếch trương Nho giáo, diễn giải Kinh Dịch do Phục Hy truyền lại, hệ thống hóa lễ nghi và sự tế tự.1
Và Đức Khổng Tử được xem là Giáo Chủ Nho giáo Đạo Nho, kể từ khi Đức Khổng Tử phục hưng, nối tiếp về sau được các vị Thánh nhân như Tử Tư, Mạnh
Tử, phát huy đến độ rực rỡ, rồi sau đó dần dần suy tàn theo thời gian, vì không
có bậc tài giỏi nối tiếp xiển dương, cuối cùng trở thành một môn học từ chương dành cho sĩ tử leo lên đường hoạn lộ Cái tinh túy của Nho giáo đã bị vùi lấp và Nho giáo được sử dụng một cách lệch lạc theo ý riêng của kẻ phàm trần
B ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC, GIÁO DỤC CỦA VĂN MINH TRUNG QUỐC THỜI TRUNG ĐẠI
I Ảnh hưởng tích cực đến lĩnh vực văn học, giáo dục
1 Trong lĩnh vực văn học
1.1 Văn học mang tư tưởng Nho giáo là thước đo tài năng, tiêu chí tuyển chọn
Có thể thấy trong lịch sử, nội dung khoa cử, chọn quan lại của Trung Quốc thời trung đại đều lấy nội dung thi từ các cuốn sách kinh điển của Nho giáo như: Kinh thi, kinh dược, Sau đây là một số dẫn chứng mà em sưu tầm được.2:
Thời Tây Hán tư tưởng Nho giáo được đề cao Nho gia là trường phái rất coi trọng việc học tập, vì vậy từ Hán về sau những người có thể cầm bút viết văn trong xã hội Trung Quốc rất nhiều Ngoài ra ở thời Tây Hán, còn thi hành chế độ tuyển chọn nhân dài bằng kinh, dó đó truyện kinh và chú kinh là những môn học được thịnh hành thời đó Ở Thời Đường và thời Hán có khoa thi là Khoa Minh Kinh Minh Kinh với hàm nghĩa: thông hiểu về kinh sách Nho giáo
Và đến thời Tống Thần Tông, nội dung thi bao gồm: Kinh dịch, kinh thi, kinh thư tuyển một trong các kinh đó kiêm Luận ngữ của Mạnh Tử, các bài thi đòi hỏi sự thông hiểu kinh nghĩa và có tính văn học mới được lấy đỗ
1.2 Văn học phục vụ giáo dục chính trị
Nho giáo đề cao Tam Cương trong đó có Quân thần cương, tức là Quan
hệ vua tôi, tức là Trung: Trung với nước, trung với dân Không nên quan niệm hẹp hòi là trung với một cá nhân ông vua hay một dòng họ vua, vì đó là ngu
1 http://hahoangkiem.com/van-hoa-xa-hoi/tim-hieu-ve-nho-giao-khong-giao-1440.htm l , truy cập ngày 10/6/2020
https://phebinhvanhoc.com.vn/nho-giao-anh-huong-cua-no-van-de-ngay-xua-va-ngay-nay-o-nuoc-ta/
Trang 3trung Chỉ trung với vua khi nào gặp được vị vua sáng suốt (Quân minh thần trung), chúa Thánh tôi hiền Có thể nhắc tới Kinh Thi được coi là phát ngôn bảo
vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Kinh thi là một nghệ thuật có thể giúp việc
“thờ Cha” “thờ Vua”, củng cố “trung hiếu” vốn là hạt nhân của ngũ luân Ông
còn yêu cầu thơ phải “ôn, nhu, đôn, hậu” (Lễ ký, Kinh giải).
1.3 Sử dụng hình mẫu con trai, con gái: chính quân, quân tử, trinh tiết người phụ nữ
Nho giáo chia những người trong xã hội làm 2 hạng: Quân tử và Tiểu
nhân Quân tử là người có đức hạnh hoàn toàn, nhân phẩm cao quí, chăm lo
Đạo Thánh Hiền để sửa mình, dẫu nghèo khó cũng không làm điều trái đạo Người Quân tử bao giờ cũng tòng Thiên lý, cho nên tâm tính quang minh, thích làm việc nghĩa, càng ngày càng cao thượng Bên cạnh đó, nữ nhi thì phải tam tong và tứ đức, đề cao trinh tiết người phụ nữ
Ví dụ: ở tác phẩm kinh điển Tam Quốc diễn nghĩa La Quán Trung khắc họa từng nhân vật lịch sử, dù là anh hùng hay gian hùng đều nuôi chí lớn, thống nhất thiên hạ, tạo nên một thời kỳ nơi những trí tuệ xuất sắc nhất tranh đấu và khẳng định bản thân: Tào Tháo gian hùng, Lưu Bị nhân từ, Quan Công trượng nghĩa, Trương Phi nóng nảy
Hay Thủy Hử - áng văn chương tuyệt bút cũng sử dụng nhiều hình tượng anh hùng Đọc Thủy Hử giống như ta đang nghe một bản nhạc với giai điệu hùng hồn, dồn dập, làm bùng lên chí khí làm trai, một tay nắng cả sơn hà của một trăm lẻ tám bị anh hùng lương sơn bạ Đến nay, bản nhạc ấy vẫn ngân vang theo suốt chiều dài của lịch sử, vọng vào lòng người, lòng núi sông và vẫn là một bức tượng đài bằng chữ sừng sững giữa đời tượng trưng cho một trăm lẻ tám con người sinh ra vì nghĩa
1.4 Nội dung : quân tử, thiên mệnh (trung với vua, văn dĩ tải đạo, tình yêu )
Nho giáo đề cấp các mối quan hệ xã hội cơ bản và đạo đức quân tử, trung với vua, tình cảm vợ chồng Trong hôn nhân, tình nghĩa vợ chồng, không cho phép ngoại tình sau khi kết hôn Người vợ phải biết Tam tòng, tứ đức, ngược lại người chồng cũng không được lạm dụng uy quyền để hành hạ vợ (bởi như thế là hành vi "Bất nhân, bất nghĩa").Tam Quốc diễn nghĩa được xem là tác phẩm có giá trị nhất thuộc loại tiểu thuyết của văn học cổ Trung Quốc, hướng trọng tâm khắc họa theo tinh thần trung, hiếu nghĩa của người xưa Ta có thể liệt kê một
Trang 4bài thơ của Vương Xương Linh về tâm can của người chinh phụ như: Khuê Oán hay bài thơ Nỗi nhớ đầu xuân của Lý Bạch nói về người phụ nữ:
“ Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu Hốt kiến mạch đầu dưỡng liễu sắc Hối giao phu tế mịch phong hầu” (Khuê oán)
2 Trong lĩnh vực giáo dục
2.1 Quan niệm và mục tiêu của giáo dục 3
- Khổng Tử “hữu giáo vô loại” (việc dạy dỗ không phân biệt loại người) nên ai cũng có cơ hội được học tập và giáo dục là biện pháp để hướng con người tới những phẩm chất cao quý như Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín
- Mục tiêu giáo dục: hình thành nhân cách lý tưởng, đào tạo ngũ quan lại nhằm giúp ích cho nước nhà và để tỏ cái đức sáng, đạt tới chỗ chí thiện Tóm lại nhằm đào tạo ra những con người lý tưởng, có sự hoàn thiện cả về đạo đức, nhân cách cũng như tri thức, lỗi sống
2.2 Nho giáo trở thành nội dung, tư tưởng chủ đạo của nền giáo dục
Trừ nạn “đốt sách Nho” ở thời nhà Tần Ở giai đoạn lịch sử mà xã hội Trung Quốc cổ đại có nhiều biến động với nhiều sự đảo lộn lớn, nhất là về mặt đạo đức con người Trước thực trạng đó, các nhà Nho đã chủ trương giáo dục
"đạo làm người" – tức là thông qua giáo dục mà đào tạo ra những con người cần
có và phù hợp với yêu cầu của giai cấp thống trị, những con người luôn luôn suy nghĩ và hành động theo những chuẩn mực, quy phạm đạo đức Nếu Khổng
Tử chú trọng đến việc giáo dục: nhân, trí, dũng, lễ… thì Tuân Tử - một nhà Nho sống chủ yếu ở thời kỳ Chiến quốc đã đề cao vai trò của lễ, nhạc trong việc giáo dục con người, trong đó chữ nhân có nội hàm sâu rộng nhất Đây là nội dung sâu sắc, có tác dụng giáo hóa cho con người, giúp con người hướng đến những giá trị tốt đẹp
Việc giáo dục của Nho giáo lấy Đức dục làm gốc và lấy Trí dục làm
ngọn Cái gốc có bền chặt thì cái ngọn mới tươi tốt Có Đức dục thì nghĩa lý
gia-tri-tich-cuc-trong-tu-tuong-giao-duc-cua-nho-giao-va-su-van-dung-cua-nguoi-nhat-ban-ths-truong-
Trang 5nu-van-thi-ths-lam-ngoc-nhu-truc-thấm thía vào lòng người ta, làm cho tự mình bỏ được cái bụng gian tà Người
có học hạnh thường phải bó mình trong cái phạm vi danh giáo, thành thử cái Tà tâm mà có sinh ra thì cũng không trưởng thành lên được Ấy thật là cái công của Nho giáo, dẫu người ta không thực hành hoàn toàn được cái đạo của Thánh Hiền, nhưng cũng gây được cái phong khí rất hay ở trong xã hội vậy
Cái nền Đức dục của ta là Nho giáo, đã được xây đắp lên hằng mấy ngàn năm nay rồi, và đã có hiệu quả mỹ mãn, thì ta cứ giữ lấy mà lưu truyền để làm cái sản nghiệp riêng của dân tộc ta Ta lại thu lấy những điều Trí dục mà ta còn khiếm khuyết, bồi bổ thêm vào cái sản nghiệp ấy, làm cho Tâm với Trí điều hòa với nhau mà tiến hóa Như thế, cái học của ta có căn bản, nên dầu có thay đổi điều gì ắt cũng ít có sự lầm lỗi vậy
2.3 Phương pháp giáo dục của Nho giáo
- Phương pháp kết hợp học đi đôi với hành, Quân tử bác học ư văn; ước chi dĩ lễ; diệc khả dĩ phất bạn hỹ phù" (Người quân tử trước học văn chương (như
Kinh Thi, Kinh Thư) đặng mở rộng trí thức của mình; kế đó, người nương theo
lễ giáo mà kiềm giữ lấy nết mình; nhờ vậy mà khỏi trái đạo lý
- Phương pháp coi trọng tinh thần tự giác của người học, sự nỗ lực của người học
- Phương pháp nêu gương ngoài học Thầy, học trong sách vở còn học cả trong
cuộc sống "ba người cùng đi, tất có người làm thầy; lựa cái hay của người này
mà học, xét cái quấy của người kia mà tự sửa mình" Chính từ phương pháp này
mà hiều triều đình còn cho dựng bia đá, chép sách lưu danh Tiến sĩ để nêu gương muôn thuở.Những người đố đạt được triều đình ban thưởng rất hậu và cho làm quan, gia đình dòng họ thì tự hào vì đã làm rạng rỡ tông môn Người không đỗ đạt thì ở nhà dạy học, bốc thuốc, trở thành những người truyền bá văn hoá, tạo thành một xã hội có phong tục tốt đẹp và truyền thống hiếu học ở thời Trung Quốc trung đại
2.4 Vị trí vai trò của người thầy
Theo quan điểm của Nho giáo, người thầy là người hướng dẫn cho học trò tự học Quá trình dạy và học là quá trình trao đổi giữa thầy và trò, giúp cho học trò
có kiến thức, chủ động để có thể ứng phó trong mọi hoàn cảnh Cũng theo các nhà Nho, người thầy không chỉ có kiến thức cao thâm để dạy học trò mà muốn trò giỏi, người thầy cần phải có tư cách, phẩm chất đạo đức tốt đẹp để làm gương cho học trò noi theo Nhân cách của người thầy có sức thuyết phục mạnh
Trang 6mẽ với người học, người học sẽ nhìn vào tấm gương là thầy mà tin rằng những điều thầy giảng dạy chính là chân lý, là những điều đúng đắn, tốt đẹp Địa vị của người thầy rất cao, dân gian có nhiều cách nói về tôn trọng người thầy, ví
dụ như “Tôn sư bất luận quý tiện bần phú” (bất kể giàu nghèo sang hèn đều phải tôn trọng người thầy), “nhất nhật vi sư, chung thân vi phụ” (Một ngày làm
thầy, cả đời làm cha) Từ thường dân đến hoàng đế đều rất tôn trọng người thầy, thể hiện trong mọi mặt cuộc sống xã hội Học cổ nhập quan, quan hệ thầy trò (thầy trò đánh nhau sẽ bị xử trảm)
II Ảnh hưởng tiêu cực đến lĩnh vực văn học, giáo dục
Vì ra đời trong bối cảnh lịch sử đầy biến động của xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu – Chiến Quốc nên tư tưởng giáo dục của Nho giáo không thể tránh khỏi những nhược điểm hạn chế nhất định như sau:
Những việc đề cao văn hoá đó lại theo một hướng không hay là khoa cử, học để làm quan, học viết văn chương, không chú trọng kỹ thuật, khoa học, học thuật Khi trong nước, qua con đường thi cử mà chọn người làm quan thì nhiều cố gắng cho con đi học, nhiều thanh niên đua nhau đi học, mong kiếm được một cuộc sống sung sướng, thanh nhàn và vinh quan hơn là đi cày Từ sáu tuổi đã bắt đầu đi học, học cho đến thi đỗ hay nửa chừng bỏ cuộc Có người cứ học như thế cho đến đầu bạc răng long! Học nhằm thi đỗ và làm quan nên suốt cả cuộc đời đi học chỉ học có kinh truyện, bắc sử và tập viết thơ, phú, tứ lục, văn sách
Họ học thuộc lòng hết sách vở và những bài văn mẫu, mong thành hay chữ và viết văn nhanh Học như thế dù đỗ đạt cao, tri thức cũng không nhiều Nhất là tri thức của họ chỉ liên quan đến văn và sử, không hướng vào giới tự nhiên, vào
xã hội hay con người trước mắt Cho nên đặc tính của loại trí thức đó là kinh viện và từ chương Mở miệng ra nói năng là chữ nghĩa, điển tích và suy nghĩ gì
thì chủ yếu cũng ở cạnh khía câu chữ Tư duy thiếu thực tế và không sáng tạo Tuy nói ra lời thì thường khiêm tốn và cao thượng nhưng trong thâm tâm lại đầy
óc danh vị và cao ngạo, cao ngạo ở chỗ mình là kẻ sĩ tiêu biểu cho thế đạo nhân tâm, ảo tưởng đỗ đạt, làm quan được thì lập nên sự nghiệp “tri quân trạch dân” làm cho dân đen được nhờ.4
KẾT LUẬN
https://phebinhvanhoc.com.vn/nho-giao-anh-huong-cua-no-van-de-ngay-xua-va-ngay-nay-o-nuoc-ta/
Trang 7Nho giáo đã trở thành một hệ tư tưởng, truyền thống văn hóa in đậm dấu
ấn của mình lên lịch sử không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở nhiều nước châu á trong suốt mấy nghìn năm qua Cho đến tận hôm nay, dù tự giác hay không tự giác, đậm hay nhạt, thì những ảnh hưởng học thuyết Nho giáo vẫn còn in đậm, trong đó những giá trị tích cực, những ánh sáng trong tư tưởng của bậc tiền nhân đã được thế hệ ngày nay chắt lọc, tiếp thu và phát triển
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Vũ Dương Ninh, Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2010.
2 Nguyễn Văn Ánh, Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục, 2016.
3 Hoàng Tâm Xuyên, Mười tôn giáo lớn trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 1999
4 Almanach - Những nền văn minh thế giới, Nxb Văn hoá-thông tin, 1999
5 Nguyễn Hiến Lê (1996), Khổng Tử, Nxb Văn hoá, Hà Nội.
6 Phạm Khang – Lê Minh, Tìm hiểu Văn hóa Trung Quốc, Nxb Thanh niên,
Hà Nội
7 PGS TS Nguyễn Văn Hồng – TS Nguyễn Văn Hiệp, Văn hóa Trung Quốc,
Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh
8 http://hahoangkiem.com/van-hoa-xa-hoi/tim-hieu-ve-nho-giao-khong-giao- 1440.html, truy cập ngày 10/6/2020
9.https://vi.wikipedia.org/wiki/Nho_gi%C3%A1o, truy cập này 10/6/2020
MỞ ĐẦU
Một nền văn minh là một xã hội phức tạp, thể hiện phẩm chất tiên tiến từ một xã hội đồng nhất Mọi cư dân sinh sống trong xã hội cùng một văn hoá, nhưng không phải tất cả mọi cư dân đều sống trong nền văn minh Về mặt sử học, các nền văn minh có một số đặc điểm như: trình độ kĩ thuật, hình thái tổ chức xã hội , trong đó yếu tố tôn giáo, các học thuyết Ở bài viết này, để nghiên cứu sâu về các học thuyết mang màu sắc chính trị, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều lĩnh vực đời sống, em xin chọn đề bài số 5 làm chủ đề bài tập lớn học kỳ của
mình “Ảnh hưởng của Nho giáo trên lĩnh vực ảnh hưởng, giáo dục của văn
minh Trung Quốc thời trung đại.”
Trong quá trình làm bài, do hạn chế về học thuật và lí luận, bài làm còn nhiều thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý từ thầy cô Em xin trân trọng cảm ơn!
NỘI DUNG
Trang 8C KHÁI QUÁT VỀ NHO GIÁO VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO III Khái niệm về Nho giáo
Nho giáo là một trong những học thuyết triết học và chính trị xã hội lớn nhất trong lịch sử triết học của Trung Quốc Mặc dù ra đời từ rất sớm nhưng Nho giáo đã dành sự quan tâm đặc biệt đến con người, đặc biệt là vấn đề giáo dục con người Tư tưởng giáo dục của Nho giáo chứa đựng nhiều giá trị tích cực và
đã có những ảnh hưởng to lớn đến đời sống chính trị - xã hội không chỉ của Trung Quốc mà còn với rất nhiều nước Châu Á khác, trong đó có Nhật Bản
IV Nguồn gốc, cơ sở hình thành
Nho giáo bắt nguồn từ thời thái cổ ở nước Tàu Thuở đó, vua Phục Hy, là một Thánh Vương đắc đạo, trông thấy được các hiện tượng trong cõi Hư linh Ngài nhìn thấy Long Mã có bức đồ trên lưng gồm những chấm đen trắng, nổi lên giữa sông Hoàng Hà, mà biết được lẽ Âm Dương, chế ra Tiên Thiên Bát Quái, cắt nghĩa sự biến hóa của Trời Đất để làm nguyên tắc dạy người Những vạch đơn giản của Bát Quái ấy được xem là đầu mối của văn tự về sau này Đó là khởi thủy của Nho giáo, thành hình do thực tế kết hợp với huyền lý của Trời Đất Nho giáo lấy đạo Trời làm khuôn mẫu, dạy người thuận theo lẽ Trời, còn nghịch với Trời thì phải chết Tiếp theo đến đời nhà Châu, vua Văn Vương và
Trang 9con của Ngài là Châu Công Đán, tiếp tục khuếch trương Nho giáo, diễn giải Kinh Dịch do Phục Hy truyền lại, hệ thống hóa lễ nghi và sự tế tự.1
Và Đức Khổng Tử được xem là Giáo Chủ Nho giáo Đạo Nho, kể từ khi Đức Khổng Tử phục hưng, nối tiếp về sau được các vị Thánh nhân như Tử Tư, Mạnh
Tử, phát huy đến độ rực rỡ, rồi sau đó dần dần suy tàn theo thời gian, vì không
có bậc tài giỏi nối tiếp xiển dương, cuối cùng trở thành một môn học từ chương dành cho sĩ tử leo lên đường hoạn lộ Cái tinh túy của Nho giáo đã bị vùi lấp và Nho giáo được sử dụng một cách lệch lạc theo ý riêng của kẻ phàm trần
D ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO TRÊN LĨNH VỰC VĂN HỌC, GIÁO DỤC CỦA VĂN MINH TRUNG QUỐC THỜI TRUNG ĐẠI
II Ảnh hưởng tích cực đến lĩnh vực văn học, giáo dục
1 Trong lĩnh vực văn học
1.1 Văn học mang tư tưởng Nho giáo là thước đo tài năng, tiêu chí tuyển chọn
Có thể thấy trong lịch sử, nội dung khoa cử, chọn quan lại của Trung Quốc thời trung đại đều lấy nội dung thi từ các cuốn sách kinh điển của Nho giáo như: Kinh thi, kinh dược, Sau đây là một số dẫn chứng mà em sưu tầm được.2:
Thời Tây Hán tư tưởng Nho giáo được đề cao Nho gia là trường phái rất coi trọng việc học tập, vì vậy từ Hán về sau những người có thể cầm bút viết văn trong xã hội Trung Quốc rất nhiều Ngoài ra ở thời Tây Hán, còn thi hành chế độ tuyển chọn nhân dài bằng kinh, dó đó truyện kinh và chú kinh là những môn học được thịnh hành thời đó Ở Thời Đường và thời Hán có khoa thi là Khoa Minh Kinh Minh Kinh với hàm nghĩa: thông hiểu về kinh sách Nho giáo
Và đến thời Tống Thần Tông, nội dung thi bao gồm: Kinh dịch, kinh thi, kinh thư tuyển một trong các kinh đó kiêm Luận ngữ của Mạnh Tử, các bài thi đòi hỏi sự thông hiểu kinh nghĩa và có tính văn học mới được lấy đỗ
1.2 Văn học phục vụ giáo dục chính trị
Nho giáo đề cao Tam Cương trong đó có Quân thần cương, tức là Quan
hệ vua tôi, tức là Trung: Trung với nước, trung với dân Không nên quan niệm hẹp hòi là trung với một cá nhân ông vua hay một dòng họ vua, vì đó là ngu
1 http://hahoangkiem.com/van-hoa-xa-hoi/tim-hieu-ve-nho-giao-khong-giao-1440.htm l , truy cập ngày 10/6/2020
https://phebinhvanhoc.com.vn/nho-giao-anh-huong-cua-no-van-de-ngay-xua-va-ngay-nay-o-nuoc-ta/
Trang 10trung Chỉ trung với vua khi nào gặp được vị vua sáng suốt (Quân minh thần trung), chúa Thánh tôi hiền Có thể nhắc tới Kinh Thi được coi là phát ngôn bảo
vệ quyền lợi của giai cấp thống trị Kinh thi là một nghệ thuật có thể giúp việc
“thờ Cha” “thờ Vua”, củng cố “trung hiếu” vốn là hạt nhân của ngũ luân Ông
còn yêu cầu thơ phải “ôn, nhu, đôn, hậu” (Lễ ký, Kinh giải).
1.3 Sử dụng hình mẫu con trai, con gái: chính quân, quân tử, trinh tiết người phụ nữ
Nho giáo chia những người trong xã hội làm 2 hạng: Quân tử và Tiểu
nhân Quân tử là người có đức hạnh hoàn toàn, nhân phẩm cao quí, chăm lo
Đạo Thánh Hiền để sửa mình, dẫu nghèo khó cũng không làm điều trái đạo Người Quân tử bao giờ cũng tòng Thiên lý, cho nên tâm tính quang minh, thích làm việc nghĩa, càng ngày càng cao thượng Bên cạnh đó, nữ nhi thì phải tam tong và tứ đức, đề cao trinh tiết người phụ nữ
Ví dụ: ở tác phẩm kinh điển Tam Quốc diễn nghĩa La Quán Trung khắc họa từng nhân vật lịch sử, dù là anh hùng hay gian hùng đều nuôi chí lớn, thống nhất thiên hạ, tạo nên một thời kỳ nơi những trí tuệ xuất sắc nhất tranh đấu và khẳng định bản thân: Tào Tháo gian hùng, Lưu Bị nhân từ, Quan Công trượng nghĩa, Trương Phi nóng nảy
Hay Thủy Hử - áng văn chương tuyệt bút cũng sử dụng nhiều hình tượng anh hùng Đọc Thủy Hử giống như ta đang nghe một bản nhạc với giai điệu hùng hồn, dồn dập, làm bùng lên chí khí làm trai, một tay nắng cả sơn hà của một trăm lẻ tám bị anh hùng lương sơn bạ Đến nay, bản nhạc ấy vẫn ngân vang theo suốt chiều dài của lịch sử, vọng vào lòng người, lòng núi sông và vẫn là một bức tượng đài bằng chữ sừng sững giữa đời tượng trưng cho một trăm lẻ tám con người sinh ra vì nghĩa
1.4 Nội dung : quân tử, thiên mệnh (trung với vua, văn dĩ tải đạo, tình yêu )
Nho giáo đề cấp các mối quan hệ xã hội cơ bản và đạo đức quân tử, trung với vua, tình cảm vợ chồng Trong hôn nhân, tình nghĩa vợ chồng, không cho phép ngoại tình sau khi kết hôn Người vợ phải biết Tam tòng, tứ đức, ngược lại người chồng cũng không được lạm dụng uy quyền để hành hạ vợ (bởi như thế là hành vi "Bất nhân, bất nghĩa").Tam Quốc diễn nghĩa được xem là tác phẩm có giá trị nhất thuộc loại tiểu thuyết của văn học cổ Trung Quốc, hướng trọng tâm khắc họa theo tinh thần trung, hiếu nghĩa của người xưa Ta có thể liệt kê một