1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Ảnh hưởng của hiệp định cptpp tới hoạt động xuất khẩu chè tại việt nam

18 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ảnh hưởng của Hiệp định CPTPP tới hoạt động xuất khẩu chè tại Việt Nam
Trường học Trường Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh tế và Quản trị Nông nghiệp
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 53,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CHÈ TẠI VIỆT NAM Tóm tắt Bài nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của hiệp định CPTPP đối với hoạt động xuất khẩu chè tại Việt Nam. Các kết quả từ bài nghiên cứu này sẽ giúp định hướng cho chính sách thương mại của Việt Nam trong tương lai và cải thiện hiệu quả hoạt động xuất khẩu chè của đất nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, CPTPP có hiệu lực sau khi được phê chuẩn nội bộ giữa các bên và khi thuế xuất được cắt giảm về 0%, xuất khẩu chè Việt Nam gia tăng nhờ vào việc giá hàng hóa Việt Nam cạnh tranh hơn hàng nội địa của các quốc gia trong CPTPP. Tác động của hiệp định CPTPP cũng tạo ra lợi thế cho việc xuất khẩu chè Việt Nam, chè Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn chè xuất khẩu từ các đối thủ cạnh tranh khác vào thị trường các nước trong CPTPP. Tuy nhiên lợi thế này cần phải xem xét kĩ vì các đối thủ nhằm tạo lợi thế để cắt giảm áp lực thuế quan cho hàng hóa xuất khẩu sang các quốc gia trong CPTPP. Abstract This study focuses on assessing the impact of the CPTPP on tea exports in Vietnam. The results from this study will help guide Vietnams future trade policy and improve the countrys tea export performance. Research results show that the CPTPP comes into effect after being ratified internally between the parties and when the export tax is cut to 0%, Vietnams tea exports increase thanks to the competitive prices of Vietnamese goods. than domestic goods of countries in the CPTPP. The impact of the CPTPP agreement also creates an advantage for the export of Vietnamese tea, as Vietnamese tea becomes more competitive than tea exported from other competitors to the markets of countries in the CPTPP. However, this advantage needs to be carefully considered because these competitors are promoting the negotiation process to sign FTAs to reduce tariff pressure on their exports to countries in the CPTPP. Từ khóa: Chè ; CPTPP; Hiệp định Thương mại khu vực; Việt Nam

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA HIỆP ĐỊNH CPTPP TỚI HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU

CHÈ TẠI VIỆT NAM

Tóm tắt

Bài nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của hiệp định CPTPP đối với hoạt động xuất khẩu chè tại Việt Nam Các kết quả từ bài nghiên cứu này sẽ giúp định hướng cho chính sách thương mại của Việt Nam trong tương lai và cải thiện hiệu quả hoạt động xuất khẩu chè của đất nước

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, CPTPP có hiệu lực sau khi được phê chuẩn nội

bộ giữa các bên và khi thuế xuất được cắt giảm về 0%, xuất khẩu chè Việt Nam gia tăng nhờ vào việc giá hàng hóa Việt Nam cạnh tranh hơn hàng nội địa của các quốc gia trong CPTPP Tác động của hiệp định CPTPP cũng tạo ra lợi thế cho việc xuất khẩu chè Việt Nam, chè Việt Nam trở nên cạnh tranh hơn chè xuất khẩu từ các đối thủ cạnh tranh khác vào thị trường các nước trong CPTPP Tuy nhiên lợi thế này cần phải xem xét kĩ vì các đối thủ nhằm tạo lợi thế để cắt giảm áp lực thuế quan cho hàng hóa xuất khẩu sang các quốc gia trong CPTPP

Abstract

This study focuses on assessing the impact of the CPTPP on tea exports in Vietnam The results from this study will help guide Vietnam's future trade policy and improve the country's tea export performance

Research results show that the CPTPP comes into effect after being ratified internally between the parties and when the export tax is cut to 0%, Vietnam's tea exports increase thanks to the competitive prices of Vietnamese goods than domestic goods of countries in the CPTPP The impact of the CPTPP agreement also creates an advantage for the export of Vietnamese tea, as Vietnamese tea becomes more competitive than tea exported from other competitors to the markets of countries in the CPTPP However, this advantage needs to be carefully considered because these competitors are promoting the negotiation process to sign FTAs to reduce tariff pressure on their exports to countries in the CPTPP

Từ khóa: Chè ; CPTPP; Hiệp định Thương mại khu vực; Việt Nam

1 Giới thiệu

Nghề trồng chè ở Việt Nam đã có lịch sử hơn 3 nghìn năm và đem lại nhiều lợi ích kinh tế, được hưởng nhiều nhất là nông dân và người dân vùng nông thôn Thưởng chè được coi là phong tục truyền thống đầy ý nghĩa của người Việt Ngành chè Việt Nam hướng đến xuất khẩu với khoảng 80% tổng sản lượng hàng năm cung cấp cho thị trường nước ngoài Đến nay, sản phẩm chè đã có mặt trên 100 quốc gia trên toàn thế giới với giá trị xuất khẩu hàng năm đạt 200 triệu USD Là một trong những ngành sản xuất nông nghiệp quan trọng của đất nước, với diện tích trồng chè trên toàn quốc

Trang 2

khoảng 137.000 ha và sản lượng chè đạt khoảng 1,5 triệu tấn/năm Chè được trồng chủ yếu ở các vùng núi cao, như Tây Bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đà Lạt…

Có hai loại chè chính được trồng ở Việt Nam là chè xanh và chè đen Chè xanh được chế biến từ lá chè tươi, còn chè đen được chế biến từ lá chè đã lên men Chè Việt Nam có hương vị đặc trưng, thơm ngon và được nhiều người yêu thích

Chè của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Liên Xô cũ và các nước Đông

Âu, Thị trường Châu Á: bao gồm các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Iran, Irắc, Cooet, Ả Rập Thống Nhất… các nước này chủ yếu nhập chè xanh và chè đen Thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ có nhu cầu nhập khẩu chè đen với khối lượng lớn Chè là cây trồng không tranh chấp về đất đai với cây lương thực, trồng chè có tác dụng phủ đất trống, đồi trọc, chống xói mòn Phát triển mạnh cây chè ở vùng trung du miền núi có tác dụng thu hút và điều hòa lao động trong phạm vi cả nước Hơn nữa, góp phần công nghiệp hóa sản xuất nông nghiệp ở vùng cao, giúp cho trung du miền núi tiến kịp miền xuôi về kinh tế – xã hội

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu

2.1 Các lý thuyết liên quan đến đánh giá tác động của CPTPP

Ảnh hưởng kinh tế chung: CPTPP sẽ tạo ra một số lợi ích kinh tế chung như tăng trưởng kinh tế, tăng cường sức mạnh cạnh tranh và sự chuyển đổi kinh tế Tuy nhiên, cũng có thể có những hạn chế và rủi ro như tăng giá cả, đối mặt với sự cạnh tranh khắc nghiệt và tăng sự bất đồng về phân chia lợi ích

Tác động của hiệp định CPTPP đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thu được 234 doanh nghiệp phản hồi

CPTPP đối với nền kinh tế và một số ngành sản phẩm, nghiên cứu cũng đã đưa ra một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp và người lao động nhằm tận dụng tốt nhất cơ hội và hạn chế những tác động tiêu cực của Hiệp định này

Bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn cho môn “Kinh tế học” về tác động của việc cắt giảm thuế quan theo các cam kết trong các hiệp định thương mại thế hệ mới nói chung

và CPTPP nói riêng đến kinh tế xã hội của Việt Nam

2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm về đánh giá tác động của CPTPP

Một số nghiên cứu về ngành chè Việt Nam đã được thực hiện trong “Cây chè Việt Nam: Năng lực cạnh tranh xuất khẩu và phát triển” (Khải, N H., 2005), đưa tới giá trị

và công khai về nguồn gốc và quá trình phát triển của ngành chè Việt Nam; đồng thời đưa ra cái nhìn tổng quan về thị trường chè trên thế giới để rút ra những bài học, kinh nghiệm cho Việt Nam (Hao, 2011) Nghiên cứu cũng đề cập đến các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm chè trên thị trường xuất khẩu khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất chè của nông dân và đề cập đến các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ gia đình trong thời kỳ hội nhập kinh tế

Trang 3

(Nguyễn, 2010) đã tập trung phân tích thực trạng, thành tựu và thách thức của ngành chè Thái Nguyên và khả năng phát triển sản xuất chè xuất khẩu của tỉnh này Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội về sản lượng chè

(Nguyễn Thị, 2007) hệ thống hóa các xu hướng phát triển của thị trường chè thế giới, chiến lược marketing xuất khẩu chè của một số nước xuất khẩu chè và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Nguyễn (2011) đã đề cập đến nguy cơ mất thị trường của sản phẩm chè Việt Nam

và đề xuất các chiến lược dài hạn và khả thi để sản phẩm chè Việt Nam có thể tiếp cận thị trường thế giới

Trần (2004), với dự án: The Value Chain for Tea in Viet Nam: Prospects for Participation of the Poor, đã nghiên cứu sâu về chuỗi giá trị chè ở Việt Nam và các cơ hội tiềm năng để người nghèo tham gia vào chuỗi giá trị đó Tuy nhiên, báo cáo được thực hiện vào năm 2004 và dựa trên cấu trúc chuỗi giá trị truyền thống Đến nay, cơ cấu chuỗi giá trị chè đã có sự thay đổi và có sự liên kết giữa các tác nhân trong chuỗi chè

3 Khái quát về nông sản chè của Việt Nam

3.1 Giới thiệu về sản phẩm chè của Việt Nam

Đây là một ngành quan trọng đang đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam Tạo ra vô số công ăn việc làm cho người dân địa phương, xóa đói giảm nghèo cũng như mang lại thu nhập ổn định cho hàng triệu hộ nông dân trên cả nước (VietnamCredit, 2021)

3.1.1 Lịch sử phát triển

Việt Nam được biết đến là một trong những cái nôi chè lâu đời nhất với cây chè có niên đại 3.000 năm Đồn điền chè đầu tiên ở Việt Nam được thành lập vào năm 1890 tại Phú Thọ bởi người Pháp (Zeiss, M., & den Braber, K., 2001) Kể từ khi bắt đầu công cuộc Đổi mới và khi chính phủ tập trung coi chè là mặt hàng chiến lược để phát triển kinh tế, sản xuất chè đã tăng trưởng đáng kể

Năm 1990, Việt Nam không sản xuất nhiều cà phê, hạt điều hay hạt tiêu đen Tính đến năm 2012, nó là nhà xuất khẩu lớn nhất hoặc lớn thứ hai trên thế giới của cả ba mặt hàng Sản xuất chè xuất khẩu cũng đã chuyển sang thành một ngành công nghiệp lớn (UN/FAOSTAT, 2013)

3.1.2 Thực trạng về sản xuất và tiêu thụ chè

Ở Việt Nam, chè chủ yếu tiêu thụ cho thị trường trong nước và xuất khẩu Tại thị trường trong nước, nhu cầu tiêu thụ chè của người Việt Nam luôn ở mức cao,Đặc biệt, Chè không chỉ được uống hàng ngày mà còn được dùng làm quà biếu thay lời chúc, lời chúc đến người thân Thị trường tiêu thụ nội địa chủ yếu là chè xanh, trong khi thị trường xuất khẩu chủ yếu là chè đen (51%) Trong những năm gần đây, bên cạnh những người trung niên và cao tuổi, mức tiêu thụ trà của giới trẻ cũng tăng lên Ngoài

ra, nó đặt ra những yêu cầu cao hơn về sự thoải mái, tốc độ và vẻ đẹp Những hương

Trang 4

vị này đã tạo ra không gian cho các loại trà hòa tan, trà túi lọc, v.v (Đỗ Thị Bích Thủy, n.d)

Theo thống kê của Hiệp hội Chè Việt Nam, tính đến năm 2020, ở nước ta có 34 tỉnh, thành phố trồng chè Chè chủ yếu được trồng ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc, chiếm khoảng 70% diện tích chè cả nước.Sau đó là Tây Nguyên với khoảng 19% Diện tích trồng chè chiếm 7,0% khu vực Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung, còn lại 4,0% ở vùng đồng bằng Bắc Bộ Một số nơi có diện tích chè lớn như: Thái Nguyên (22,3 nghìn ha), Hà Giang (21,5 nghìn ha), Phú Thọ (16,1 nghìn ha), Lâm Đồng (10,8 nghìn ha) và nhiều tỉnh khác

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, năm 2022, diện tích trồng chè cả nước hiện đạt 123.000ha, năng suất bình quân đạt gần 95 tạ/ha, sản lượng đạt 1,02 triệu tấn chè búp tươi Việt Nam đứng thứ 7 trên thế giới về sản xuất chè Sản phẩm chè của Việt Nam xuất khẩu tới 74 quốc gia Các thị trường chính của chè Việt Nam

là: Pakistan, Trung Quốc, Nga, Indonesia… Trong đó, thị trường Trung Quốc chiếm 12-15% lượng chè xuất khẩu của nước ta.

3.2 Tình hình xuất khẩu chè Việt Nam

Đối với thị trường xuất khẩu, từ những tháng đầu năm 2020, chè đã trở thành một trong những mặt hàng có khả năng dự trữ và không bị ảnh hưởng bất chấp diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 Sự tăng trưởng xuất khẩu chè Việt Nam sang những thị trường lớn được đảm bảo ổn định ngay cả khi quá trình xuất khẩu bị gián đoạn Theo Tổng cục Hải quan, xuất khẩu ngành chè năm 2020 ước đạt 134.964 tấn, trị giá 217,7 triệu USD, giá 1.613 USD/tấn, giảm 1,8% về lượng, thứ 7 về doanh thu và giảm 6,2% về giá trị So sánh giá với 2019 Cơ cấu xuất khẩu mặt hàng chè chủ yếu là: Chè đen chiếm 51%, 48% là chè xanh (bao gồm chè ướp hương và chè ô long) Còn lại là các loại chè khác Giá chè trung bình là 1.350 USD/tấn Giá chè xanh là 1.880 USD/tấn Sản phẩm chè của Việt Nam hiện đã xuất khẩu sang 74 quốc gia và vùng lãnh thổ Trong khi đó, Pakistan, Đài Loan, Nga, Indonesia và Trung Quốc vẫn là 5 thị trường lớn nhất của chè Việt Nam, chiếm gần 70% về lượng và hơn 70% về giá trị xuất khẩu Pakistan là thị trường tiêu thụ chè lớn nhất của Việt Nam năm 2020 với lượng đạt 43.357 tấn, trị giá 82,59 triệu USD giá trung bình là 1.905 USD/tấn, giảm 11,2% về lượng, giảm 14,4% về doanh thu và giảm 3,5% về trị giá Giá so với năm

2019 Con số này chiếm 32% tổng lượng và 37,9% tổng kim ngạch xuất khẩu chè của

cả nước Thị trường lớn thứ hai là Đài Loan, với lượng 17.290 tấn (tương đương 26,68 triệu USD), chiếm gần 13% trong tổng lượng và tổng xuất khẩu chè của cả nước, giảm hơn 9,5% về lượng và giảm hơn 10,5% về kim ngạch Ngoài ra, thị trường Nga đạt 14.071 tấn (tương đương 21,52 triệu USD), chiếm hơn 10% trong tổng lượng và doanh thu, giảm 7,1% về lượng và giảm 3,9% về doanh thu

Bảng 1 Danh sách các thị trường nhập khẩu chè Việt Nam năm 2020

Xuất khẩu chè năm 2020

Trang 5

Thị trường Năm 2020 So với năm 2019 (%) Tỷ trọng (%)

Lượng (tấn)

Trị giá (USD) Lượng Trị giá Lượng Trị giá

Trang 6

Tổng cộng 134.964 217.703.040 -1,75 -7,82 100 100

Pakistan 43.357 82.590.610 -11,21 -14,35 32,12 37,94 Đài Loan (TQ) 17.290 26.677.262 -9,52 -10,49 12,81 12,25

Saudi Arabia 1.676 4.115.640 -23,22 -25,04 1,24 1,89

Nguồn: Theo tính toán từ số liệu công bố ngày 13/1/2021 của Tổng Cục Hải quan

4 Khái quát về hiệp định CPTPP

4.1.Định Nghĩa

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương gọi tắt là Hiệp định CPTPP, là một hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, gồm 11 nước thành viên là: Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam

Hiệp định đã được ký kết ngày 08 tháng 3 năm 2018 tại thành phố Santiago, Chile,

và chính thức có hiệu lực từ ngày 30 tháng 12 năm 2018 đối với nhóm 6 nước đầu tiên hoàn tất thủ tục phê chuẩn Hiệp định gồm Mexico, Nhật Bản, Singapore, New Zealand, Canada và Australia Đối với Việt Nam, Hiệp định có hiệu lực từ ngày 14 tháng 01 năm 2019

Trang 7

4.2.Nội Dung

Hiệp định CPTPP gồm 07 Điều và 01 Phụ lục quy định về mối quan hệ với Hiệp định TPP đã được 12 nước gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam ký ngày 06 tháng 2 năm

2016 tại New Zealand; cũng như xử lý các vấn đề khác liên quan đến tính hiệu lực, rút khỏi hay gia nhập Hiệp định CPTPP

CPTPP giữ nguyên nội dung của Hiệp định TPP (gồm 30 chương và 9 phụ lục) nhưng cho phép các nước thành viên tạm hoãn 20 nhóm nghĩa vụ để bảo đảm sự cân bằng về quyền lợi và nghĩa vụ của các nước thành viên trong bối cảnh Hoa Kỳ rút khỏi Hiệp định TPP 20 nhóm nghĩa vụ tạm hoãn này bao gồm 11 nghĩa vụ liên quan tới Chương Sở hữu trí tuệ, 2 nghĩa vụ liên quan đến Chương Mua sắm của Chính phủ và 7 nghĩa vụ còn lại liên quan tới 7 Chương là Quản lý hải quan và Tạo thuận lợi Thương mại, Đầu tư, Thương mại dịch vụ xuyên biên giới, Dịch vụ Tài chính, Viễn thông, Môi trường, Minh bạch hóa và Chống tham nhũng

4.3.Những cơ hội khi tham gia CPTPP

4.3.1.Lợi ích về xuất khẩu

Việc các nước, trong đó có các thị trường lớn như Nhật Bản và Canada giảm thuế nhập khẩu về 0% cho hàng hóa của ta sẽ tạo ra những tác động tích cực trong việc thúc đẩy kim ngạch xuất khẩu Theo đó, doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa sang thị trường các nước thành viên Hiệp định CPTPP sẽ được hưởng cam kết cắt giảm thuế quan rất ưu đãi

4.3.2.Lợi ích về việc tham gia chuỗi cung ứng khu vực và toàn cầu

Các nước CPTPP chiếm 13,5% GDP toàn cầu với tổng kim ngạch thương mại hơn 10.000 tỷ USD, bao gồm các thị trường lớn như Nhật Bản, Canada, Australia sẽ mở ra nhiều cơ hội khi chuỗi cung ứng mới hình thành Tham gia CPTPP sẽ giúp xu hướng này phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn, là điều kiện quan trọng để nâng tầm trình độ phát triển của nền kinh tế, tăng năng suất lao động, giảm dần việc gia công lắp ráp, tham gia vào các công đoạn sản xuất có giá trị gia tăng cao hơn, từ đó bước sang giai đoạn phát triển các ngành điện tử, công nghệ cao, sản phẩm nông nghiệp xanh Đây

là cơ hội rất lớn để nâng tầm nền kinh tế Việt Nam trong 5 - 10 năm tới

4.3.3.Lợi ích đối với các ngành

Các ngành dự kiến có mức tăng trưởng lớn sẽ là thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, dệt may, một số phân ngành sản xuất và dịch vụ Trong đó, mức tăng trưởng lớn nhất là ở các ngành thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, dệt may, hóa chất, sản phẩm nhựa và đồ da, trang thiết bị vận tải, máy móc và các trang thiết bị khác Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với các ngành công nghiệp nhẹ và thâm dụng lao động khác, CPTPP

có thể tạo ra mức tăng trưởng bình quân từ 4% - 5% và mức tăng xuất khẩu có thể đạt

từ 8,7% - 9,6%

Trang 8

● Về cải cách thể chế

Đây sẽ là cơ hội để ta tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật kinh tế, trong đó có thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một trong ba đột phá chiến lược

mà Đảng ta đã xác định; hỗ trợ cho tiến trình đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế của ta, đồng thời giúp ta có thêm cơ hội để hoàn thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng, minh bạch và dễ dự đoán hơn, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế tiên tiến, từ đó thúc đẩy cả đầu tư trong nước lẫn đầu tư nước ngoài

● Về việc làm, thu nhập

Tham gia CPTPP sẽ tạo ra các cơ hội giúp nâng cao tốc độ tăng trưởng Về mặt xã hội, hệ quả là sẽ tạo thêm nhiều việc làm, nâng cao thu nhập và góp phần xóa đói giảm nghèo Theo kết quả nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, CPTPP có thể giúp tổng số việc làm tăng bình quân mỗi năm khoảng 20.000 - 26.000 lao động Đối với lợi ích về xóa đói giảm nghèo, theo nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới, đến năm

2030, CPTPP dự kiến sẽ giúp giảm 0,6 triệu người nghèo ở mức chuẩn nghèo 5,5

đô-la Mỹ/ngày

Tăng trưởng kinh tế cũng giúp ta có thêm nguồn lực để cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và chăm sóc sức khỏe cộng đồng Do các nền kinh tế của các nước thành viên CPTPP đều phát triển ở trình độ cao hơn Việt Nam và mang tính bổ sung đối với nền kinh tế Việt Nam Đặc biệt, do Hiệp định bao gồm các cam kết về bảo vệ môi trường nên tiến trình mở cửa, tự do hóa thương mại và thu hút đầu tư sẽ được thực hiện theo cách thân thiện với môi trường hơn, giúp kinh tế Việt Nam tăng trưởng bền vững hơn

4.4 Việt Nam trong khuôn khổ CPTPP

Các hiệp định thương mại tự do (FTA) là nét chủ đạo trong hội nhập kinh tế quốc tế

và xuất nhập khẩu của Việt Nam Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) đã có đóng góp tích cực trong việc hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như thêm nguồn cung nhập khẩu

Thông tin này được ông Trần Thanh Hải – Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương) nhấn mạnh tại Tọa đàm Hiệp định CPTPP

CPTPP tạo ra xung lực rất lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu Cụ thể, trong năm

2021, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 680 tỷ USD, mức tăng trưởng đạt 19%, là mức tăng trưởng hết sức ấn tượng trong bối cảnh dịch COVID-19 đã tác động sâu sắc đến kinh tế thế giới

Thực tế , sau khi CPTPP có hiệu lực và hàng hóa Việt Nam được hưởng ưu đãi thuế quan, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng sang các quốc gia trong CPTPP ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng này Điều này đã khẳng định nhu cầu và dư địa thị trường hấp dẫn cho hàng xuất khẩu trong nước

Trang 9

5 Phương pháp nghiên cứu / Mô hình và dữ liệu sử dụng

5.1 Mô hình

Để phân tích tác động của hiệp định CPTPP tới hoạt động xuất khẩu chè tại Việt Nam, nghiên cứu được tiến hành thông qua mô hình mô phỏng SMART Đây là mô hình cân bằng cục bộ do WITS - Cơ sở Dữ liệu và Phần mềm về thương mại của Ngân hàng Thế giới tạo lập SMART tập trung vào một thị trường nhập khẩu với một ngành xác định và các quốc gia xuất khẩu đối tác của thị trường đó; đồng thời SMART đánh giá tác động của các kịch bản thay đổi thuế quan nhập khẩu thông qua ước tính các giá trị mới cho một tập hợp các biến số Từ đó, SMART định lượng tác động của các hiệp định lên việc tạo lập thương mại, chuyển hướng thương mại, lợi nhuận thuế quan và phúc lợi xã hội

Mô hình SMART có ưu điểm do dữ liệu đầu vào đơn giản, có thể cho phép đánh giá tác động của thay đổi thuế quan lên một sản phẩm ở cấp độ 6 chữ số HS Tuy nhiên, do là mô hình cân bằng cục bộ nên SMART vẫn có rào cản trong phân tích tổng quát, đặt trong mối liên quan giữa các ngành khác và trong tổng thể nền kinh tế nói chung

Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu sử dụng mô hình SMART để đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do Nguyễn và Phạm (2020) đã định lượng tác động của hiệp định EVFTA đến xuất khẩu mặt hàng thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU qua mô hình này Nguyễn và Trần (2021) sau đó cũng đã sử dụng SMART

để nghiên cứu tác động của hiệp định EVFTA đến nhập khẩu dược phẩm từ thị trường

EU vào Việt Nam Và gần đây nhất, Nguyễn & cộng sự (2022) đã phân tích ảnh hưởng tiềm năng của CPTPP đến xuất khẩu đồ gỗ của Việt Nam sang các nước thành viên,… và nhiều nghiên cứu khác Mặc dù vậy nhưng vẫn chưa có nghiên cứu nào nghiên cứu ảnh hưởng của hiệp định SMART đến hoạt động xuất khẩu chè của Việt Nam

Trong khuôn khổ bài nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình SMART

để đánh giá tác động của hiệp định CPTPP lên giá trị nhập khẩu chè từ Việt Nam vào các nước thành viên khác dựa trên hai tác động chính và tạo lập thương mại và chuyển hướng thương mại với thuế quan nhập khẩu là 0 %

Với chỉ số tác động tạo lập thương mại được sử dụng để dự đoán giá trị thương mại xuất khẩu chè của Việt Nam và các nước thành viên CPTPP tăng thêm khi hiệp định này có hiệu lực Công thức được mô tả như sau:

TC ijk =M ijk xη x ∆ t ijk

(1+t ijk )(1− η β)

Trong đó:

TC ijk : tác động tạo lập thương mại đối với hàng hóa i nhập khẩu từ nước k vào nước j

M ijk : giá trị nhập khẩu hàng hóa i của nước xuất khẩu k đến nước j

η : độ co giãn cầu nhập khẩu

Trang 10

t ijk : biểu thuế hàng hóa i của nước xuất khẩu k đến nước j

β : độ co giãn cung xuất khẩu

Tương tự chỉ số tác động thương mại, chỉ số tác động chuyển hướng thương mại

mô tả sự thay đổi giá trị nhập khẩu chè của các nước thành viên CPTPP từ Việt Nam thay vì các quốc gia khác Công thức tính như sau:

TD ijk=

M ijk x M ijK x(1+t1

M ijk +M ijK +M ijK x¿¿

Trong đó:

TD ijk : tác động chuyển hướng thương mại với hàng hóa i nhập khẩu từ nước k vào nước j

M ijk : giá trị nhập khẩu hàng hóa i của nước xuất khẩu k đến nước j

M ijK : giá trị nhập khẩu hàng hóa i đến nước j từ các quốc gia xuất khẩu khác ngoài nước k

t0 : biểu thuế hàng hóa trước hội nhập

t1 : biểu thuế hàng hóa sau hội nhập

λ : độ co giãn thay thế

5.2 Mô tả dữ liệu

5.2.1 Thu thập dữ liệu

SMART và các công cụ mô phỏng của nó là một phần của cơ sở dữ liệu và phần mềm World Integrated Trade Solution (WITS), được phát triển bởi Ngân hàng Thế giới kết hợp với Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) để truy cập và truy xuất thông tin về dữ liệu thương mại hàng hóa và thuế quan được duy trì bởi các tổ chức quốc tế khác nhau: Cơ sở dữ liệu Bản đồ Thương mại do Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC) duy trì; Cơ sở dữ liệu Thương mại Hàng hóa (UN Comtrade) do Cục Thống kê Liên hợp quốc (UNSD) duy trì; Hệ thống thông tin phân tích thương mại (TRAINS) do UNCTAD duy trì; Cơ sở dữ liệu tích hợp (IDB) và Cơ

sở dữ liệu biểu thuế hợp nhất (CTS) do Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) duy trì

5.2.2 Nhập dữ liệu

SMART yêu cầu các dữ liệu sau, có thể được trích xuất từ cơ sở dữ liệu WITS hoặc các nguồn đáng tin cậy khác, để mô phỏng FTA: giá trị nhập khẩu của mỗi đối tác nước ngoài, thuế quan đánh vào mỗi đối tác nước ngoài, độ co giãn nhu cầu nhập khẩu đối với hàng hóa, độ co giãn cung xuất khẩu cho hàng hóa và độ co giãn thay thế giữa các loại hàng hóa

Thuế quan áp dụng đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam bởi mỗi đối tác nước ngoài được trích xuất từ TRAINS và IDB Trong nghiên cứu này, tất cả dữ liệu về giá trị xuất nhập khẩu chè được lấy từ cơ sở dữ liệu Comtrade và Trade Map của Liên Hợp Quốc

Ngày đăng: 02/06/2023, 22:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w