Tóm tắt: Từ ngày 01082020 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam EU (EVFTA) chính thức có hiệu lực. Có thể khẳng định đây chính là một trong những nỗ lực của Việt Nam trong thời gian gần đây nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế, được mong đợi sẽ tạo ra cú hích lớn cho xuất khẩu Việt Nam sang EU. Cá ngừ chính là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, và cũng không thể tránh khỏi bị tác động từ chính Hiệp định này. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích ảnh hưởng của Hiệp định EVFTA đối với nhập khẩu cá ngừ từ Việt Nam của thị trường EU. Nhóm tác giả sử dụng mô hình SMART để đánh giá các tác động được tạo ra từ các quy định của Hiệp định EVFTA dựa trên cơ sở dữ liệu về thương mại giữa Việt Nam và EU theo kịch bản khi EVFTA có hiệu lực thì thuế quan được cắt giảm hoàn toàn về 0%. Ảnh hưởng của Hiệp định được phân tích từ hai nhóm tác động chính, đó là tác động tạo lập thương mại và tác động chuyển hướng thương mại. Nghiên cứu đã chỉ ra những cơ hội, thách thức cũng như thành công và hạn chế đối với việc xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang thị trường EU. Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị đối với xuất khẩu cá ngừ cho chính phủ, doanh nghiệp và các bên liên quan nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh của ngành.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG VIỆN KINH TẾ & KINH DOANH QUỐC TẾ
…… ***……
TIỂU LUẬN Môn: Chính sách thương mại quốc tế
Đề tài: Ảnh hưởng của Hiệp định Thương mại tự do EVFTA đối với xuất khẩu cá ngừ Việt Nam sang Liên minh châu Âu
Lớp: TMA301 Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thu Hằng
Hà Nội, ngày tháng 05 năm 2023
Trang 2Tóm tắt: Từ ngày 01/08/2020 Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA)chính thức có hiệu lực Có thể khẳng định đây chính là một trong những nỗ lực của ViệtNam trong thời gian gần đây nhằm thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế, được mong đợi sẽtạo ra cú hích lớn cho xuất khẩu Việt Nam sang EU Cá ngừ chính là một trong nhữngmặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, và cũng không thể tránh khỏi bị tác động từchính Hiệp định này Nghiên cứu này được thực hiện nhằm phân tích ảnh hưởng của Hiệpđịnh EVFTA đối với nhập khẩu cá ngừ từ Việt Nam của thị trường EU Nhóm tác giả sửdụng mô hình SMART để đánh giá các tác động được tạo ra từ các quy định của Hiệpđịnh EVFTA dựa trên cơ sở dữ liệu về thương mại giữa Việt Nam và EU theo kịch bảnkhi EVFTA có hiệu lực thì thuế quan được cắt giảm hoàn toàn về 0% Ảnh hưởng củaHiệp định được phân tích từ hai nhóm tác động chính, đó là tác động tạo lập thương mại
và tác động chuyển hướng thương mại Nghiên cứu đã chỉ ra những cơ hội, thách thứccũng như thành công và hạn chế đối với việc xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang thịtrường EU Trên cơ sở đó đề xuất một số khuyến nghị đối với xuất khẩu cá ngừ cho chínhphủ, doanh nghiệp và các bên liên quan nhằm thúc đẩy năng lực cạnh tranh của ngành
Từ khoá: xuất khẩu, cá ngừ, Việt Nam, EU, EVFTA
Trang 3MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 2
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài về đánh giá tác động của EVFTA với hoạt động
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về đánh giá tác động của EVFTA với hoạt động
1.2 Đánh giá những công trình nghiên cứu liên quan và khoảng trống nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA EVFTA ĐẾN XUẤT NHẬP
2.1 Khái quát về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) 6
2.1.2 Nội dung chính của Hiệp định thương mại tự do EVFTA 6
2.2.2 Tổng quan xuất khẩu cá ngừ Việt Nam sang EU giai đoạn 2017 – 2021 10
2.3.Hiệp định EVFTA của EU đối với xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam 13
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ SỐ LIỆU 15
CHƯƠNG 5 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC TỪ EVFTA 22
CHƯƠNG 6 MỘT SỐ HÀM Ý CHÍNH SÁCH CHO VIỆT NAM 24
Trang 46.1.1 Một số chính sách của Việt Nam nhằm thúc đẩy xuất khẩu thủy sản sang thị
6.1.2 Chính sách sản phẩm đáp ứng quy định của thị trường EU 25
Bảng 4.2 Tác động tạo lập thương mại theo nhóm hàng cá ngừ (trừ cá hồi đóng hộp) 18Bảng 4.3 Tác động chuyển hướng thương mại theo nhóm hàng cá ngừ (trừ cá hồi đóng
Bảng 4.4 Top 10 quốc gia ngoài EU chịu tác động chuyển hướng thương mại lớn nhất từ
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ Việt Nam sang EU 11
Trang 5DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT (XẾP THEO THỨ TỰ ALPHABET)
NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TỪ TIẾNG ANH
Từ viết tắt Từ đầy đủ Nghĩa Tiếng Việt
CGE Computable General Equibrilium Mô hình cân bằng tổng thể
C/O Certificate of Origin Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóaCPTPP
Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership
Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến
bộ Xuyên Thái Bình Dương
EU European Union Liên Minh Châu Âu
EVFTA European – Vietnam Free Trade Area Hiệp định thương mại tự do Việt Nam
– EUEVIPA Vietnam - EU Investment Protection
Agreement
Hiệp định Bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu
GPA Government Procurement Agreement Hiệp định mua sắm chính phủ
ILO International Labour Organization Tổ chức Lao động quốc tế
IUU Illegal, Unrepoted and Unregulated
Fishing
Hoạt động đánh bắt cá trái phép, không báo cáo và không được quản lýMIT Ministry of Industry and Trade Bộ Công thương
NAFIQAD The National Agro-Forestry-Fisheries
Quality Assurance Department
Cục Quản lý Chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản Quốc gia
RCA Revealed Comparative Advantage Chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu
Trang 6TBT Technical Barriers to Trade Hàng rào kĩ thuật trong thương mạiTRIPS Agreement on Trade-Related Aspect
of Intellectual Property Rights
Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệVASEP Vietnam Association of Seafood
Exporters and Producers
Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủysản Việt Nam
WITS World Intergrated Trade Solutions Giải pháp thương mại tích hợp thế
giớiWTO World Trade Organization Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Thủy sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam sang cácnước phát triển Tính đến hết tháng 12/2022, xuất khẩu thủy sản Việt Nam cán đích 11 tỷUSD, tăng 23% so với năm 2021 Các sản phẩm cá ngừ của Việt Nam đã xuất được sanghơn 100 thị trường trên thế giới Trong đó, 4 thị trường tiêu thụ nhiều nhất cá ngừ củaViệt Nam là Mỹ, EU, Trung Đông và các nước CPTPP, chiếm tỷ trọng từ 82-86% tổngkim ngạch xuất khẩu cá ngừ Việt Nam Nhờ EVFTA, mặt hàng thủy sản không chịu nhiềugánh nặng thuế quan, thay vào đó, hoạt động xuất khẩu của chúng ta gặp khó khăn khixuất sang EU do các biện pháp phi thuế quan như TBT Mặc dù có nhiều tài liệu nghiêncứu về EVFTA và ảnh hưởng của chúng đối với việc xuất khẩu các mặt hàng của ViệtNam sang EU, rất ít tài liệu đánh giá cụ thể cá ngừ của Việt Nam xuất khẩu sang EU nhưthế nào, ngoài ra các bài nghiên cứu về thuỷ hải sản đã được thực hiện từ khá lâu, khôngtránh khỏi việc số liệu thiếu tính cập nhật EU gồm 27 nước có nhiều thị trường tiềmnăng, sức mua cao, chưa kể FTA mới có hiệu lực trong 2020 Về phía chính phủ, FTA thế
hệ mới này kỳ vọng sẽ tác động tích cực đến triển vọng phát triển việc xuất khẩu cá ngừ
từ hai góc độ: tăng năng lực cạnh tranh và mở rộng dung lượng thị trường do nhu cầu vàđầu tư ngày càng tăng Về phía doanh nghiệp Bên cạnh đó, các sản phẩm cá ngừ của ViệtNam mặc dù được hưởng các ưu đãi thuế suất từ EVFTA nhưng mức giá cá ngừ EU nhậpkhẩu từ Việt Nam vẫn cao hơn so với nhập khẩu từ các nhà cung cấp khác Đồng thời, cácnhà nhập khẩu cá ngừ EU luôn ưu tiên nhập khẩu những sản phẩm cá ngừ trong nội khối
EU cho dù có mức giá cao hơn Đây là những thách thức lớn trong thời gian tới khi cácdoanh nghiệp muốn đẩy mạnh thị phần cá ngừ tại thị trường EU Xuất phát từ thực tế trên,nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích chỉ ra tác động của Hiệp định EVFTA đối vớihoạt động xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang thị trường EU Nội dung nghiên cứu dựavào kết quả từ mô hình SMART, tập trung vào phân tích tác động tạo lập thương mại vàtác động chuyển hướng thương mại của EVFTA đến xuất khẩu cá ngừ sang thị trường
EU Ngoài ra, từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả còn rút ra một số hàm ý quản trị liênquan đến hành động của doanh nghiệp nhằm tận dụng cơ hội từ EVFTA và hàm ý chínhsách đối với phương hướng hỗ trợ doanh nghiệp của các cơ quan liên quan nhằm thúc đẩyhoạt động xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam sang thị trường EU trong thời gian tới
Trang 8CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Những công trình nghiên cứu liên quan
2.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài về đánh giá tác động của EVFTA với hoạt động xuất khẩu hàng hóa
Ủy ban châu Âu (2018) thực hiện nghiên cứu sử dụng mô hình cân bằng tổng thểnhằm phân tích tác động của Hiệp định EVFTA đối với EU và Việt Nam, trong đó ngànhthủy sản được đưa vào phân tích như một khía cạnh của tác động kinh tế Kết quả nghiêncứu thể hiện xuất khẩu của EU sang Việt Nam sẽ tăng lên khoảng 29%, ngược lại, xuấtkhẩu của Việt Nam sang thị trường EU dự đoán sẽ tăng lên 18% Những con số này tươngứng với lượng tăng 8 tỷ Euro trong giá trị xuất khẩu của các doanh nghiệp đến từ EU và
15 tỷ Euro trong giá trị tăng xuất khẩu dự đoán từ các doanh nghiệp Việt Nam cho đếnnăm 2035 Cụ thể, tác động lớn nhất đối với xuất khẩu của Việt Nam sang EU thuộc vềmặt hàng đồ da (leather product) với giá trị tăng lên tới 7,477 tỷ Euro, đứng thứ hai làngành hàng may mặc, trong đó có nhóm mặt hàng thủy sản, ước tính tăng 1 tỷ Euro.Umur Turksen (2020) đã đánh giá các tác động dự kiến phát sinh của Hiệp địnhEVFTA với thời gian dự báo đến năm 2025 Hiệp định EVFTA và EVIPA là chất xúc tácthúc đẩy nền kinh tế Việt Nam trở thành sân chơi toàn cầu Theo dự đoán của MUTRAP,trong quá trình thực thi, Việt Nam được dự báo sẽ tăng trưởng đáng kể nhờ dòng vốnchảy vào và tác động cải thiện năng suất lao động, với ước tính sẽ tạo ra thêm 7 - 8%GDP về tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng thêm 50% giá trị xuất khẩu sang thị trườngChâu Âu
Ngoài ra, Katharine Heyl (2020), Werner Raza và nhóm cộng sự (2018) vànhiều nghiên cứu khác cũng đã được thực hiện các nhằm đánh giá tác động của Hiệp địnhEVFTA đến nền kinh tế cũng như xã hội Việt Nam, cùng một số nghiên cứu khác cũngphân tích đến tác động tới ngành thủy hải sản Tuy nhiên những nghiên cứu này tập trungphân tích tác động tổng thể của Hiệp định EVFTA lên nền kinh tế hoặc phân tích
về ngành thủy sản mà chưa xét tới chi tiết hơn là hoạt động xuất khẩu cá ngừ tới thịtrường EU
Trang 92.1.2 Các nghiên cứu trong nước về đánh giá tác động của EVFTA với hoạt động xuất khẩu hàng hóa
Le Thi Viet Nga cùng cộng sự (2022) đã đánh giá kim ngạch xuất khẩu cá ngừ sang
EU của Việt Nam có mức tăng trưởng tốt trong các năm 2010-2013, 2015-2018 Từ năm
2015 trở về trước, EU có xu hướng nhập khẩu nhiều cá ngừ chế biến và đóng hộp củaViệt Nam Tuy nhiên, từ năm 2016, xuất khẩu cá ngừ tươi sống và đông lạnh có xu hướngtăng mạnh
Nghiên cứu đánh giá tác động theo ngành của Hiệp định EVFTA của nhóm tác giả
Vũ Thanh Hương, Vũ Thị Minh Phương (2016) sử dụng phương pháp chỉ số thương mại
là giá trị, tỷ trọng xuất nhập khẩu, chỉ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA) và chỉ số chuyênmôn hóa xuất khẩu (ES) đối với 19 nhóm ngành trong đó mặt hàng cá ngừ được xếp vàonhóm 1 (HS1-HS5): Động vật sống và các sản phẩm làm từ động vật Trong đó, trong giaiđoạn 2012-2014, sản lượng xuất khẩu của nhóm hàng này còn thấp, chiếm tỷ trọng khôngcao trong tổng giá trị xuất khẩu, trong khi lợi thế so sánh của nhóm ngành các này có xuhướng giảm trong những năm gần đây
Trong bài báo “Xuất khẩu nông sản ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực từ EVFTA”(2020), Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cho biết, dưới tác động của hiệp địnhEVFTA nếu cố gắng cao và không có biến động lớn của tình hình thế giới, khả năng caotrị giá xuất khẩu nông, lâm, thủy sản cả năm 2020 sẽ đạt kế hoạch trên 40 tỷ USD (40- 41
tỷ USD) và toàn ngành phấn đấu tổng trị giá xuất khẩu “cán đích” khoảng 41 tỷ USD Bên cạnh đó, còn một số nghiên cứu tiêu biểu khác về tác động của Hiệp địnhEVFTA đối với nền kinh tế của Việt Nam như nghiên cứu của Nguyễn Bình Dương vànhóm cộng sự (2015) sử dụng mô hình trọng lực để phân tích tác động của Hiệp định đốivới hiệu quả thương mại và chuyển hướng thương mại giữa Việt Nam và EU, kết luậnrằng giảm thuế quan là một trong số những yếu tố chính thúc đẩy giao thương giữa ViệtNam và liên minh Châu Âu EU Theo mô hình này, thuế nhập khẩu đối với EU giảm 1%dẫn đến mức tăng 0,51% trong giá trị xuất khẩu từ Việt Nam, ngược lại, thuế nhập khẩuđối với Việt Nam giảm 1% dẫn đến mức tăng 0,95% trong giá trị xuất khẩu từ EU
Trang 10Vũ Thanh Hương (2017) đã sử dụng kết hợp các phương pháp định tính, định lượng(mô hình SMART và mô hình trọng lực), các công cụ nghiên cứu khác nhau để chẩn đoán
và đánh giá tác động tĩnh cũng như tác động động tiềm tàng của EVFTA đến tổng giá trịxuất nhập khẩu cả nước và giá trị xuất nhập khẩu trong 18 nhóm ngành cùng 2 nhóm hànghoá (dệt may và dược phẩm) giữa Việt Nam và EU Từ đó, luận án đã chỉ ra các các lợiích, cơ hội và khó khăn, thách thức của EVFTA đến Việt Nam, trong đó nhấn mạnh vào
cơ hội và thách thức theo thị trường, theo ngành và đưa ra các hàm chính sách cho cảChính phủ cũng như doanh nghiệp Việt Nam
2.2 Đánh giá những công trình nghiên cứu liên quan và khoảng trống nghiên cứu
Các nghiên cứu trên dự báo trước được ảnh hưởng của Hiệp định EVFTA đến nềnkinh tế Việt Nam cũng như chi tiết tác động đến sản lượng xuất khẩu sang EU của từngnhóm ngành Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng việc ký kết các FTA đem đến cho Việt Namnhiều thuận lợi: Tăng trưởng kinh tế, tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh hơn chodoanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư nước ngoài và quá trình chuyên môn hóa… Từ đó, đưa ragiải pháp cho doanh nghiệp Việt Nam về cách tận dụng các ưu đãi mà FTA mang lại Các bài nghiên cứu về tác động của hiệp định thương mại tự do EVFTA đến việcxuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU còn rất hạn chế và phần lớn là các nghiên cứunước ngoài, trong đó chỉ tập trung đánh giá tác động của FTA đến dòng chảy thương mạigiữa các quốc gia và phúc lợi xã hội Phần nhiều các bài nghiên cứu trong nước chỉ tậptrung đánh giá tác động của EVFTA lên tổng thể giá trị xuất khẩu nói chung và giá trịxuất khẩu thủy sản nói riêng, không đề cập đến cụ thể đến nhóm hàng cá ngừ do các sảnphẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam tới EU là các mặt hàng đồ da, may mặc và vải dệtnên các nghiên cứu hiện tại vẫn chủ yếu phân tích những nhóm hàng này Bên cạnh đó,các bài nghiên cứu về mặt hàng thủy sản đã được thực hiện từ khá lâu, không tránh khỏi
số liệu thiếu tính cập nhật
Một số bài nghiên cứu khác lại chỉ sử dụng phương pháp định tính để đưa ra nhữngđánh giá về thuận lợi, khó khăn doanh nghiệp Việt Nam gặp phải và đưa ra hàm ý chínhsách cho Nhà nước Những phân tích này chưa đủ khách quan để đánh giá chính xác vềtác động của FTA đến tình hình xuất khẩu các nhóm hàng khác nhau
Trang 11Nhận thấy những khoảng trống nghiên cứu trên và nhận thức được thử thách và cơhội mới từ EVFTA, một bài nghiên cứu mới phân tích tác động của EVFTA đối với xuấtkhẩu mặt hàng cá ngừ Việt Nam với số liệu cập nhật được nhóm tác giả đánh giả là cầnthiết
Trang 12CHƯƠNG 3 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA EVFTA ĐẾN
XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
3.1 Khái quát về Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA)
3.1.1 Quá trình đàm phán EVFTA
Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) là một FTA thế hệ mới giữaViệt Nam và 27 nước thành viên EU EVFTA, cùng với Hiệp định Đối tác Toàn diện vàTiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), là hai FTA có phạm vi cam kết rộng và mức
độ cam kết cao nhất của Việt Nam từ trước tới nay
Ngày 01/12/2015, EVFTA đã chính thức kết thúc đàm phán và đến ngày01/02/2016, văn bản hiệp định được công bố Ngày 26/06/2018, một bước đi mới củaEVFTA được thống nhất Theo đó, EVFTA được tách làm hai Hiệp định, một là Hiệpđịnh Thương mại (EVFTA), và một là Hiệp định Bảo hộ Đầu tư (EVIPA); đồng thờichính thức kết thúc quá trình rà soát pháp lý đối với Hiệp định EVFTA Tháng 08/2018,quá trình rà soát pháp lý đối với EVIPA cũng được hoàn tất
Hai Hiệp định được ký kết ngày 30/06/2019 EVFTA và EVIPA được phê chuẩn bởiNghị viện châu Âu vào ngày 12/02/2020, và được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn vàongày 08/06/2020 Ngày 30/03/2020, Hội đồng châu Âu cũng đã thông qua EVFTA Đốivới EVFTA, do đã hoàn tất thủ tục phê chuẩn, Hiệp định này đã chính thức có hiệu lực từngày 01/08/2020
3.1.2 Nội dung chính của Hiệp định thương mại tự do EVFTA
Mục tiêu chung của Hiệp định thương mại tự do EVFTA là “tự do hoá và tạo thuậnlợi cho thương mại và đầu tư giữa các bên phù hợp với các quy định của hiệp định này”(Điều 1.2 Hiệp định EVFTA) Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biênbản ghi nhớ ở các lĩnh vực:
Thương mại hàng hóa
Sau khi được ký kết, EVFTA đã xoá bỏ phần lớn thuế quan cho các sản phẩm nhậpkhẩu từ Việt Nam vào thị trường EU Các rào cản thuế quan được cắt giảm theo lộ trình,nếu thoả mãn điều kiện đối với các quy tắc xuất xứ, hàng hoá xuất khẩu từ Việt Nam vàothị trường EU sẽ được giảm tới 99,2% số dòng thuế nhập khẩu
Thương mại dịch vụ và đầu tư
Trang 13Cam kết của Việt Nam và EU về thương mại dịch vụ đầu tư nhằm tạo ra một môitrường đầu tư cởi mở, thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp hai bên Cam kết củaViệt Nam có đi xa hơn cam kết trong WTO Cam kết của EU cao hơn trong cam kết trongWTO và tương đương với mức cam kết cao nhất của EU trong những Hiệp định FTA gầnđây của EU
Ngoài ra, hai bên còn đưa ra cam kết về đối xử quốc gia trong lĩnh vực đầu tư, đồngthời thảo luận về nội dung giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư và nhà nước Đây là nộidung mới chưa hề tồn tại trong cơ chế giải quyết các tranh chấp trong WTO hay các FTAtrước đây, bởi đầu tư không trong phạm vi điều chỉnh của WTO Hiệp định bảo hộ đầu tưViệt Nam - EU (EVIPA) với quy định về cơ chế giải quyết các tranh chấp tại Tòa Đầu tưhiện được xem là cơ chế tham vọng nhất hiện nay
Mua sắm của Chính phủ
Việt Nam và EU thống nhất các nội dung tương đương với Hiệp định mua sắm củaChính phủ (GPA) của WTO Với một số nghĩa vụ như đấu thầu qua mạng, thiết lập cổngthông tin điện tử để đăng tải thông tin đấu thầu, v.v, Việt Nam có lộ trình để thực hiện
EU cũng cam kết dành hỗ trợ kỹ thuật cho Việt Nam để thực thi các nghĩa vụ này
Việt Nam bảo lưu có thời hạn quyền dành riêng một tỷ lệ nhất định giá trị các góithầu cho nhà thầu, hàng hóa, dịch vụ và lao động trong nước trong vòng 18 năm kể từ khiHiệp định có hiệu lực
Đối với dược phẩm, Việt Nam cam kết cho phép các doanh nghiệp EU được thamgia đấu thầu mua sắm dược phẩm của Bộ Y tế và bệnh viện công trực thuộc Bộ Y tế vớimột số điều kiện và lộ trình nhất định
Sở hữu trí tuệ
Cam kết về sở hữu trí tuệ gồm cam kết về bản quyền, phát minh, sáng chế, cam kếtliên quan tới dược phẩm và chỉ dẫn địa lý, v.v Về cơ bản, các cam kết về sở hữu trí tuệcủa Việt Nam là phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành Trong các Hiệp địnhthương mại tự do thế hệ mới như EVFTA cam kết về sở hữu trí tuệ có mức độ sâu rộnghơn các cam kết tương ứng trong khuôn khổ Hiệp định về các Khía cạnh thương mại liênquan đến Quyền Sở hữu trí tuệ (WTO-TRIPS), được xem là TRIP+ hoặc TRIP-X Một
Trang 14trong những biểu hiện cụ thể cho nhận định này chính là việc EVFTA đã đưa ra yêu cầuthực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt hơn.
Doanh nghiệp Nhà nước (DNNN)
Quy định về DNNN trong Hiệp định EVFTA nhằm tạo lập môi trường cạnh tranhbình đẳng giữa các thành phần kinh tế Cam kết cũng tính đến vai trò quan trọng của cácDNNN trong việc thực hiện các mục tiêu chính sách công, ổn định kinh tế vĩ mô và đảmbảo an ninh – quốc phòng Bởi vậy, Hiệp định EVFTA chỉ điều chỉnh hoạt động thươngmại của các doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu hoặc kiểm soát và doanh nghiệp độcquyền có quy mô hoạt động thương mại đủ lớn đến mức có ý nghĩa trong cạnh tranh
Thương mại điện tử
Hai bên cam kết không đánh thuế nhập khẩu đối với giao dịch điện tử nhằm pháttriển thương mại điện tử giữa Việt Nam và EU Hai bên cũng cam kết hợp tác thông quaviệc duy trì đối thoại về các vấn đề quản lý được đặt ra trong thương mại điện tử, và cũng
sẽ hợp tác trao đổi thông tin về quy định pháp luật trong nước và các vấn đề thực thi liênquan
Thương mại và phát triển bền vững
Hai bên khẳng định cam kết theo đuổi phát triển bền vững, bao gồm phát triển kinh
tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường Đối với vấn đề lao động, với tư cách là thànhviên của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), hai bên cam kết tôn trọng, thúc đẩy và thựchiện Tuyên bố 1998 của ILO về những nguyên tắc và quyền cơ bản trong lao động Ngoài
ra, hai bên cũng nhất trí tăng cường hợp tác thông qua cơ chế chia sẻ thông tin và kinhnghiệm về thúc đẩy việc phê chuẩn và thực thi các công ước về lao động và môi trường
Các nội dung khác của Hiệp định EVFTA
Hiệp định EVFTA cũng bao gồm các Chương liên quan tới hợp tác và xây dựngnăng lực, pháp lý – thể chế, chính sách cạnh tranh và trợ cấp Các nội dung này phù hợpvới hệ thống pháp luật của Việt Nam, tạo khuôn khổ pháp lý để hai bên tăng cường hợptác, thúc đẩy sự phát triển của thương mại và đầu tư giữa hai bên
Trang 153.2 Khái quát về xuất khẩu cá ngừ Việt Nam
3.2.1 Tổng quan về xuất khẩu cá ngừ Việt Nam
Cá ngừ được coi là một trong những mặt hàng thủy sản xuất khẩu trọng điểm củanước ta, có trữ lượng và tiềm năng khai thác lớn, và được tiêu thụ trên nhiều quốc gia trênthế giới, với giá trị kim ngạch xuất khẩu chiếm 9,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu củaViệt Nam (số liệu tính đến năm 2022) và có giá trị lớn đứng thứ 3 (chỉ sau tôm và cá tra).Xét trên vùng biển Việt Nam, nước ta hiện đang có khoảng 9 loài cá ngừ phân bố dọctheo miền Trung và trung tâm Biển Đông, với tổng trữ lượng ước tính vào khoảng600.000 tấn, trong đó loại cá ngừ vằn là loài khai thác chính và chiếm hơn 50% tổngnguồn lợi khai thác cá ngừ; tỉnh khai thác lớn nhất về cá ngừ lần lượt là Bình Định,Khánh Hòa, Phú Yên Sản lượng khai thác cá ngừ hằng năm đạt vào khoảng 200.000 tấn.Với chủ trương chính sách hòa nhập quốc tế, chính phủ đã liên tiếp đẩy mạnh các ký kếtcác Hệp định Thương mại tự do như, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho việc khai tháccũng như xuất khẩu ngành cá ngừ Việt Nam
Từ năm 2017 đến năm 2022, xuất khẩu cá ngừ luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trongkim ngạch xuất khẩu hải sản, và đứng thứ ba trong tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu thủysản của Việt Nam Từ 7,1% tỷ trọng giá trị xuất khẩu cá ngừ trong tổng giá trị kim ngạchxuất khẩu thủy sản năm 2017, đến năm 2022 đã tăng lên 9,5%
Trong vòng 5 năm từ 2017 – 2021, xuất khẩu cá ngừ Việt Nam có nhiều bước tiếnlớn, từ 593 triệu USD năm 2017, đến năm 2022 đạt mốc 1 tỷ USD giá trị xuất khẩu (tăng28%) Giá trị xuất khẩu cá ngừ trong 5 năm này tăng trung bình 9%/năm Các loài xuấtkhẩu cá ngừ chủ yếu gồm cá ngừ vây vàng, cá ngừ mắt to, cá ngừ vằn, cá ngừ sọc…
Hiện cá ngừ và các sản phẩm từ cá ngừ của Việt Nam đã xuất khẩu ở 108 quốc gia
và vùng lãnh thổ trên thế giới, và 10 thị trường xuất khẩu cá ngừ lớn nhất là Mỹ, EU,Trung Quốc và Hồng Kông, CPTPP, Hàn Quốc, Thái Lan, Anh, Nga, Philippines, ĐàiLoan
Mặc dù giai đoạn Covid 19, tình hình xuất khẩu chung của Việt Nam chịu nhiều khókhăn và thách thức, nhưng xuất khẩu cá ngừ vẫn có những kết quả tích cực Theo Hiệphội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu cá ngừ đạthơn 410 triệu USD (7 tháng đầu năm 2021) và tăng 21% so với cùng kỳ năm 2020 (Bảng
Trang 162.1) Trong đó, Mỹ vẫn tiếp tục duy trì vị trí thị trường số một về số lượng nhập khẩu cángừ chế biến của Việt Nam, theo sau đó là EU, Nhật Bản
Có thể nói, bên cạnh xuất khẩu cá tra, xuất khẩu cá ngừ là một trong những tiềmnăng xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam Không chỉ tạo ra doanh thu ngoại tệ chođất nước mà còn giúp tạo nhiều công ăn việc làm hơn cho người dân Phát triển được tiềmlực đánh bắt và khai thác thủy – hải sản xa bờ, góp phần giảm thiểu áp lực cho đánh bắt
và khai thác thủy – hải sản ven bờ vốn đang trong tình trạng báo động về trữ lượng và sảnlượng; thúc đẩy phát triển đánh bắt và khai thác thủy – hải sản xa bờ trong tương lai đồngthời giúp khẳng định chủ quyền biển đảo của Tổ Quốc
Bảng 2.1 Sản phẩm cá xuất khẩu của Việt Nam, năm 2021
Sản phẩm Kim ngạch 2021
(triệu USD )
Tăng so với năm 2020 (%)
Tỷ trọng trong tổng lượng xuất khẩu (%)
Nguồn: VASEP (theo số liệu của Hải quan Việt Nam
3.2.2 Tổng quan xuất khẩu cá ngừ Việt Nam sang EU giai đoạn 2017 – 2021
Việt Nam là quốc gia có thế mạnh về khai thác và xuất khẩu thủy sản Những nămgần đây, thủy sản là một trong 10 nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất cả nước
Do dịch Covid -19, các doanh nghiệp thủy sản gặp nhiều khó khăn trong xuất khẩu; tuynhiên, thị trường hải sản được cho là sẽ sớm mở rộng Trong số các quốc gia nhập khẩucủa ta, EU đạt kim ngạch xuất khẩu 1,076 tỷ USD năm 2021 sau tác động của dịch Covid-
19, đưa EU trở thành quốc gia nhập khẩu thủy sản lớn thứ ba của Việt Nam, trong đó thịphần cá ngừ xuất khẩu đứng thứ hai (sau tôm), chiếm khoảng 14,2%
Trang 17Xét về kim ngạch và giá trị xuất khẩu, theo Báo cáo Tác động hoạt động xuất nhậpkhẩu, năm 2017, EU là thị trường lớn thứ hai về nhập khẩu thủy sản của Việt Nam vớikim ngạch xuất khẩu đạt 8,31 tỷ USD, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái của năm 2016.Trong số các mặt hàng xuất khẩu, cá ngừ thường đứng vị trí thứ hai hoặc thứ ba về mức
độ thị hiếu và ưa chuộng
Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ Việt Nam sang EU
Tổng kim ngạch xuất khẩu Kim ngạch xuất khẩu sang EU
Hình 2.1 Tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản từ Việt Nam sang EU
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Tuy nhiên, trái ngược với sự gia tăng về số lượng xuất khẩu thủy sản trong năm
2017 và 2018, 2 năm tiếp theo liên tục ghi nhận xu hướng giảm về số lượng xuất khẩuthủy sản sang EU, kéo theo xuất khẩu cá ngừ cũng chịu ảnh hưởng Tỷ trọng xuất khẩuthủy sản của Việt Nam sang EU giảm và chạm đáy vào năm 2020 ở mức 11,4%, khiến
EU tụt xuống thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 4 của Việt Nam (sau Mỹ, Nhật Bản
và Trung Quốc) với kim ngạch xuất khẩu là 0,96 tỷ USD Nguyên nhân được cho là dodịch Covid-19 tác động đến nền kinh tế toàn cầu, dẫn đến hoạt động xuất nhập khẩu gặpnhiều thách thức
Năm 2021, theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), nhờhiệu quả của công tác kiểm soát và phòng chống dịch bệnh COVID-19, ngành xuất khẩu
cá ngừ Việt Nam có lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ khác vốn vẫn đang gặp khókhăn ứng phó với dịch bệnh và chưa thể trở lại hoạt động bình thường Theo Tổng cục
Trang 18Hải quan, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 8,88 tỷ USD, tăng 5,65% so với năm 2020.
EU trở thành thị trường nhập khẩu thủy sản lớn thứ 3 của Việt Nam, chiếm 12,1% tổngkim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam Về nhóm ngành cá ngừ, nửa đầu năm 2021 tổnggiá trị xuất khẩu đạt mốc hơn 74 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ năm 2020 Điều nàygiúp cho EU đứng ở vị trí thứ hai về thị trường nhập khẩu cá ngừ từ Việt Nam, và ViệtNam đứng vị trí thứ bốn về nguồn cung cá ngừ ngoài khối EU Tác động của đại dịchCovid 19, cùng với đó là bối cảnh phí vận chuyển tăng cao, kết hợp với việc các sản phẩm
cá ngừ của Việt Nam được hưởng các ưu đãi thuế theo Hiệp định EVFTA, điều đó khiếncho nhiều nhà cung cấp đã lựa chọn nhập khẩu nguồn cá ngừ từ Việt Nam
Một năm sau khi Hiệp định EVFTA giữa Việt Nam và EU có hiệu lực, xuất khẩu cángừ của Việt Nam sang thị trường EU tăng trưởng khá Ông Nguyễn Hoài Nam, PhóTổng thư ký VASEP cho biết, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường châu Âu
bị cản trở bởi cả dịch COVID-19 và thẻ vàng IUU của EC, nhưng 6 tháng qua đã tăngđược nhờ tận dụng tối đa các biện pháp hạn chế EVFTA Đó là chiếc phao cứu sinh choViệt Nam, đất nước đang chịu khó khăn kép từ thẻ vàng của EC và đại dịch đang diễn ra.”Xét về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, cá ngừ xuất khẩu của Việt Nam có kim ngạchxuất khẩu chiếm thị phần khá cao trong thị trường xuất khẩu thủy sản sang EU Mặc dùkim ngạch xuất khẩu của cá ngừ năm 2020 ghi nhận giá trị xuất khẩu thấp, khoảng 97.38triệu USD, nhưng nhìn chung giá trị xuất khẩu cá ngừ trong giai đoạn này đã tăng lên144.42 triệu USD vào năm 2021, kéo theo kim ngạch xuất khẩu cá ngừ sang EU tăng từ9.2% lên 14.2% trong tổng XK thủy sản
Trang 1961.46 97.38
258.1 23.56
Hình 2.2 Cơ cấu xuất khẩu thủy sản sang EU năm 2020
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
5.7 84.74
60.63
144.42
106.19 15.13 613.14
Cơ cấu xuất khẩu thủy sản sang EU năm 2021
Hình 2.3 Cơ cấu xuất khẩu thủy sản sang EU năm 2021
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến mối quan hệ thương mạithủy sản giữa Việt Nam và EU là tác động của thẻ vàng mà Ủy ban châu Âu áp đặt đốivới thủy sản xuất khẩu của Việt Nam do đánh bắt bất hợp pháp, không báo cáo và khôngtheo quy định (IUU) vào tháng 10/2017 Sau bị EU áp thẻ vàng, mọi thông tin liên quanđến hải sản nhập khẩu vào EU từ Việt Nam đều phải được kiểm tra kỹ lưỡng theo IUU,
do đó Việt Nam phải cải thiện hoạt động khai thác thủy sản vừa tốn thời gian, chi phí vừa
Trang 20mất nhiều thời gian hơn thời gian kiểm tra sản phẩm, chất lượng hải sản có thể bị ảnhhưởng.
Một yếu tố quan trọng khác tác động đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và EU
và khuyến khích xuất khẩu thủy sản sang EU là EVFTA Liên minh Châu Âu và ViệtNam đã ký kết Hiệp định Thương mại và Hiệp định Bảo hộ Đầu tư vào ngày 30/06/2019
và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/08/2020 Đối với sản phẩm thăn/phi lê cá ngừ đônglạnh, EU xóa bỏ thuế quan cho Việt Nam theo lộ trình 3 năm với mức thuế cơ bản là 18%.Trong khi đó, đối với sản phẩm thăn/phi lê cá ngừ hấp lại được hưởng mức xóa bỏ thuếquan theo lộ trình 7 năm với mức thuế cư bản là 24%
3.3 Hiệp định EVFTA của EU đối với xuất khẩu cá ngừ của Việt Nam
Ngày 12/02/2020, Nghị viện châu Âu (EP) đã thông qua Hiệp định thương mại tự do
EU – Việt Nam (EVFTA), đây chính là cơ hội cho Việt Nam khi ngay lập tức các mứcthuế quan áp cho sản phẩm cá ngừ nhập khẩu từ Việt Nam vào EU sẽ được gỡ bỏ, hoặcsau từ 3-7 năm sẽ cắt giảm dần dần về 0%, hoặc miễn thuế theo hạn ngạch
Cụ thể, khi EVFTA được chấp thuận và hoàn thành, mức thuế đối với các loại sảnphẩm cá ngừ tươi và đông lạnh sẽ nhanh chóng được loại bỏ Mức thuế cho sản phẩm cángừ phi lê hoặc lon đông lạnh sẽ được loại bỏ trong khoảng thời gian 3 năm từ mức 18%
Ưu đãi thuế quan từ EVFTA là yếu tố quan trọng tạo nên lợi thế cạnh tranh cho xuấtkhẩu của Việt Nam Ngay sau khi EVFTA có hiệu lực đã cho phép xóa bỏ thuế quan đốivới các sản phẩm cá ngừ tươi sống, đông lạnh (trừ fillet cá ngừ đông lạnh) và 11.500 tấn
cá ngừ đóng hộp của Việt Nam
Trong 4 tháng đầu năm 2021, Việt Nam là thị trường ngoại khối cung cấp cá ngừlớn thứ 8 của EU, chiếm 4,9% về lượng và chiếm 5,8% về trị giá, đạt 10,7 nghìn tấn với