1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Phân tích ảnh hưởng của covid 19 lên thị trường kinh tế vĩ mô việt nam (thị trường hàng hoá, lao động, vốn) điểm cộng nếu có thể dùng mô đồ đã học để giải thích sự dịch chuyển từ đó định hướng rõ hơn về các ảnh hưởng này

11 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân tích ảnh hưởng của Covid 19 lên thị trường kinh tế vĩ mô Việt Nam (thị trường hàng hoá, lao động, vốn)
Người hướng dẫn GV. Phạm Thanh Sơn
Trường học Đại học Ngoại Ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế vĩ mô
Thể loại Báo cáo cuối kỳ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 187,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NHẬT BẢN BÁO CÁO CUỐI KỲ MÔN KINH TẾ VĨ MÔ Người hướng dẫn GV Phạm Thanh Sơn Họ và tên SV Nguyễn Thị Nhung MSSV Lớp 17041185 18J9 Hà[.]

Trang 1

ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA NHẬT BẢN

BÁO CÁO CUỐI KỲ MÔN KINH TẾ VĨ MÔ

Người hướng dẫn: GV Phạm Thanh Sơn

Họ và tên SV: Nguyễn Thị Nhung

MSSV - Lớp: 17041185 - 18J9

Hà Nội, ngày 12 tháng 4 năm 2021

Trang 2

Đề bài

Câu 1: Phân tích ảnh hưởng của Covid 19 lên thị trường kinh tế vĩ mô Việt Nam (thị

trường hàng hoá, lao động, vốn) Điểm cộng nếu có thể dùng mô đồ đã học để giải thích sự dịch chuyển từ đó định hướng rõ hơn về các ảnh hưởng này

Câu 2: Chính phủ Việt Nam đã có những chính sách kinh tế vĩ mô gì để đối phó với

những ảnh hưởng này Tập trung đi sâu vào các chính sách tiền tệ và tài khoá đã học trên lớp, dùng mô đồ để đánh giá tác động của những chính sách này

Câu 3: Trình bày cơ chế ảnh hưởng của những chính sách can thiệp của chính phủ,

đánh giá tác dụng phụ có thể có trong ngắn hạn và dài hạn

Trang 3

Trả lời Câu 1:

vụ và xuất nhập khẩu Theo số liệu của TCTK , trong 9 tháng, khu vực dịch vụ đạt mức tăng thấp nhất của cùng kỳ các năm 2011-2020 Dịch vụ kho bãi giảm 4% (giảm 0,14 điểm phần trăm), dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 17,03% (giảm 0,76 điểm phần trăm) Có thể nói, Covid -19 đã ảnh hưởng, tác động nghiêm trọng đến tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, gây gián đoạn chuỗi cung ứng và lưu chuyển thương mại, làm đình trệ các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; nhiều doanh nghiệp đến phá sản, giải thể, tạm dừng hoạt động, thu hẹp quy mô, điều này ảnh hưởng trực tiếp tình hình lao động và việc làm

Hàng hoá: Mặc dù đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền

kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh Trong khi đó, các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc,

EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm, kéo theo sự sụt giảm

về cầu nhập khẩu, trong đó có hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2019

và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn, ở mức 5,3% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,5%) Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019 Những mặt hàng thiết yếu đối với cuộc sống như lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng; nhưng những mặt hàng như may mặc, phương tiện đi lại, văn hóa phẩm, giáo dục… chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội có tốc độ giảm Nhiều lĩnh vực sản xuất của Việt Nam phụ

Trang 4

thuộc nhiều vào nguồn nguyên, nhiên liệu nhập khẩu, chủ yếu là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Mỹ, EU Khi dịch Covid-19 xảy ra, việc hạn chế đi lại, thông thương đã ảnh hưởng đến nguồn nguyên, vật liệu đầu vào của DN, bao gồm các DN sản xuất hoá chất nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật; các DN dệt may,

da giầy, sản xuất giấy, sản phẩm từ gỗ, sản xuất kinh doanh thép; các DN khai khoáng xây dựng Các DN này thiếu hụt nguồn nguyên liệu đầu vào đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, hoàn thành các đơn hàng đã đặt trước, từ đó ảnh hưởng đến doanh thu và uy tín của DN Đối với nhu cầu bên ngoài cũng có sự suy giảm, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu giảm 1,1% so với cùng kỳ năm

2019, trong đó khu vực kinh tế trong nước có kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 11,7%; khu vực FDI (kể cả dầu thô) giảm 6,7% Điểm đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8% và khu vực FDI (kể cả dầu thô) tăng 5,9% Như vậy, khu vực kinh tế trong nước vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu tăng trên 10%; khu vực FDI có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020 giảm và năm 2019 tăng, do

đó làm cho kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế tăng vào năm 2019 và giảm vào năm

2020 Thực trạng này cho thấy kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI và đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến đầu tư và chuỗi giá trị toàn cầu cũng đang tác động đến xuất khẩu của nền kinh tế nước ta Dịch Covid-19 xảy ra và nhanh chóng lan rộng trên toàn thế giới làm sức mua của nền kinh

tế toàn cầu giảm, hoạt động giao thương hạn chế, dẫn đến việc giãn, huỷ, hoãn các đơn đặt hàng, gây sụt giảm kim ngạch xuất khẩu và làm giảm sản lượng, doanh thu của DN Điều này ảnh hưởng đến nhiều DN ở nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau

Lao động:

Đại dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 1 năm 2020 đã ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình lao động và việc làm trong các ngành và tại tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Trong đó, ảnh hưởng rõ rệt nhất vào quý II năm

2020 khi tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhiều ca lây nhiễm trong cộng đồng xuất hiện và đặc biệt là việc áp dụng các quy định về giãn cách xã hội được thực

Trang 5

hiện triệt để trong tháng 4 năm 2020 Tính đến tháng 9 năm 2020, cả nước có 31,8 triệu người từ 15 tuổi trở lên bị ảnh hưởng tiêu cực bởi dịch Covid-19, trong đó gồm người bị mất việc làm, người phải nghỉ giãn việc/nghỉ việc luân phiên, bị giảm giờ làm hay giảm thu nhập… Có tới 68,9% người lao động bị giảm thu nhập (ở mức nhẹ), số người bị giảm giờ làm/nghỉ giãn cách/nghỉ luân phiên chiếm tới 40% người tham gia lao động, và số người buộc phải tạm nghỉ hoặc tạm ngừng sản xuất kinh doanh chiếm tới 14% (Tổng cục Thống kê Trong các khu vực kinh tế thì khu vực dịch vụ là chịu ảnh hưởng nặng nề nhất bởi dịch Covid-19 với 68,9% số lao động trong khu vực này

bị ảnh hưởng Ngoài ra trong các khu vực công nghiệp, xây dựng và khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cũng bị ảnh hưởng

Tác động của dịch COVID-19 đến lao động có việc làm: đại dịch Covid -19 đã làm cho đa số người lao động, trong số lao động có việc làm đã bị mất việc phải tạm thời rời khỏi thị trường lao động trong thời gian dịch bệnh lây lan, đặc biệt là trong tháng 4 năm 2020 khi các biện pháp giãn cách xã hội được áp dụng nghiêm túc và triệt

để Lực lượng lao động tăng trở lại sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II năm 2020 nhưng vẫn chưa thể khôi phục về trạng thái của cùng kỳ năm trước sau khi ghi nhận mức giảm sâu kỷ lục vào quý II năm 2020, thị trường lao động đang có dấu hiệu phục hồi, tuy nhiên vẫn chưa thể khôi phục về trạng thái của cùng kỳ năm trước

Một số ngành có số lao động giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (giảm 324,6 nghìn người); ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống (giảm 156,9 nghìn người); ngành giáo dục và đào tạo (giảm 122,7 nghìn người); ngành bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy (giảm 120 nghìn người) Nếu lực lượng lao động 9 tháng năm 2020 duy trì tốc độ tăng như giai đoạn 2016-2019 và không có dịch Covid-19, nền kinh tế Việt Nam sẽ có thêm 1,8 triệu lao động Nói cách khác, dịch Covid-19 có thể đã tước đi cơ hội tham gia thị trường lao động của 1,8 triệu người Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài

và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh

Trang 6

nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút

Vốn:

Dịch Covid-19 tác động đến dòng tiền của doanh nghiệp Các DN chịu ảnh hưởng mạnh của đại dịch do gặp khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm nên DN chịu căng thẳng về dòng tiền Nhiều DN chỉ quan tâm đến các biện pháp cắt giảm dòng tiền chi

ra trong bối cảnh doanh thu hạn chế Đối với cầu đầu tư, 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016 - 2020, trong đó khu vực nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài nhà nước tăng 4,6% và khu vực FDI giảm 3,8% Trong 6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực nhà nước tăng 3%, khu vực ngoài nhà nước tăng 16,4% và khu vực FDI tăng 9,7% Như vậy, nhu cầu đầu tư của 2 khu vực: khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI sụt giảm trong 6 tháng đầu năm

2020 so với cùng kỳ năm trước Vốn đầu tư khu vực FDI giảm mạnh nhất, từ tăng trưởng 9,7% 6 tháng đầu năm 2019 xuống tăng trưởng âm 3,8% so với cùng kỳ năm 2020; tăng trưởng vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước sụt giảm từ 16,4% 6 tháng đầu năm 2019 xuống còn 7,4% năm so với cùng kỳ năm 2020

Tuy nhiên, điểm sáng duy nhất là vốn đầu tư của khu vực nhà nước tăng từ 3%

6 tháng đầu năm 2019 lên 7,4% so với cùng kỳ năm 2020 Trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn và tổng cầu suy giảm, Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế sự suy giảm của tổng cầu

Câu 2:

Các gói hỗ trợ cho các chủ thể trong nền kinh tế đang được triển khai và chưa thể đánh giá đầy đủ hiệu quả ngay được Nền kinh tế chưa kịp hồi phục từ đợt sóng COVID-19 lần thứ nhất khi cả nước thực hiện giãn cách toàn xã hội vào tháng 4-2020 thì vào cuối tháng 7-2020 và đầu năm 2021 những ca lây nhiễm vi-rút trong cộng đồng bùng phát mạnh trở lại đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế Mục tiêu vừa

Trang 7

phát triển kinh tế, vừa phòng chống dịch tốt đang trở nên khó khăn, thách thức hơn bao giờ hết Tuy nhiên, mục tiêu này không phải là bất khả thi với sự quyết tâm của Chính phủ, sự vào cuộc của các bộ, ban, ngành, địa phương và sự chung tay, góp sức của toàn thể người dân cả nước trong cuộc chiến chống sự lây lan của vi-rút SARS-CoV-2

Về chính sách tiền tệ, năm 2020, NHNN đã ba lần liên tiếp điều chỉnh giảm các lãi suất điều hành, đồng thời ban hành Thông tư 01 quy định về cơ cấu lại thời hạn trả

nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng do COVID-19 Bên cạnh việc duy trì được tăng trưởng tín dụng ở mức khá cao so với các năm trước, các điều chỉnh chính sách tiền tệ ở trên trong năm 2020 còn giúp hạ các mức lãi suất thị trường, khoảng 1,3 điểm phần trăm đối với lãi suất huy động và khoảng 0,2 điểm phần trăm đối với lãi suất cho vay

Chính sách giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 cho các doanh nghiệp, hợp tác xã và tổ chức khác có tổng doanh thu không quá 200 tỷ đồng Chính sách này bị cho là chưa thật sự hiệu quả Về gói hỗ trợ lần một an sinh xã hội, hỗ trợ người bị giãn, mất việc, các chuyên gia cho rằng, những người được hỗ trợ đa phần là các nhóm lao động thuộc khối bảo trợ xã hội, người có công, hộ nghèo Trong khi đó, nhóm lao động chịu tác động mạnh nhất là nhóm lao động tự do, nhóm yếu thế thuộc khối phi chính thức lại không tiếp cận được với khoản hỗ trợ này Còn gói chính sách

16 nghìn tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp vay với lãi suất 0% để trả lương cho người lao động, thủ tục vay rất phức tạp với các điều kiện khá ngặt nghèo Các chuyên gia cho rằng, cần đơn giản hóa thủ tục đăng ký và tiếp nhận hỗ trợ để hỗ trợ kịp thời cho những đối tượng được hưởng hỗ trợ và tránh gây thất thoát

Các chính sách hỗ trợ thông qua giảm mức thu các loại phí, lệ phí nếu dàn trải sẽ ảnh hưởng đến ngân sách, cần thu hẹp đối tượng thụ hưởng dựa trên mức độ chịu tác động bởi đại dịch Bên cạnh đó, do dịch diễn biến khó lường, các các gói an sinh xã hội cho các đối tượng bị ảnh hưởng cần được tiếp tục duy trì và tháo gỡ, đẩy nhanh tiến độ giải ngân các gói hỗ trợ

Trang 8

Câu 3:

CHÍNH SÁCH

HỖ TRỢ

NGÂN SÁCH

(tỷ đồng)

LOẠI HÌNH HỖ TRỢ VÀ ĐỐI TƯỢNG

THỤ HƯỞNG

Gói tài chính hỗ

trợ doanh

nghiệp

180.000 Hoãn nộp thuế sử dụng đất và tiền thuê nhà, đối

với các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trong hơn 30 tiểu ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ,…

Các khoản vay

với lãi suất 0

đồng để trả

lương cho công

nhân

236-1000 -Doanh nghiệp có 100 lao động trở lên, ít nhất

30% lao động phải nghỉ luân phiên cộng dồn từ 1 tháng trở lên

- Doanh nghiệp giải thể và phá sản cần vay vốn

để trả lương cho người lao động

- Doanh nghiệp có từ 50 lao động trở lên và ít nhất 10% nghỉ việc, hoặc không có nguồn tài chính để trả lương cho người lao động và phải chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động

Gói bảo trợ xã

hội

61.580 Trợ giúp tiền mặt trong 3 tháng ( tháng 4,5,6

năm 2020) người có công với cách mạng, hộ nghèo, cận nghèo, lao động chính thức bị mất việc nhưng không đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp, lao động phi chính thức( đối với một

số loại việc làm phi nông nghiệp) bị mất việc làm, hộ kinh doanh có doanh thu hàng năm dưới

Trang 9

100 triệu đồng ngừng hoạt động…

Giảm giá điện 11.000 Giảm 10% giá điện ( tháng 4-6 năm 2020) với tất

cả các hộ gia đình và doanh nghiệp

Giảm lãi suất

vay ngân hàng

Các ngân hàng giảm lãi suất, miễn và giảm phí dịch vụ giao dịch Các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa và dịch vụ thiết yếu đủ điều kiện vay với lãi suất 4,5%-5%/năm ( thấp hơn lãi suât huy động tiền gửi)

Gói tín dụng

của các ngân

hàng thương

mại

285.000 Các khoản vay đối với các doanh nghiệp ít bị

ảnh hưởng hoặc ít bị ảnh hưởng nhất nhưng cần vốn để phát triển sau đại dịch COVID19, trong các khu vực: nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp, dịch vụ, chăm sóc sức khỏe, điện,… các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng cũng có thể vay nếu chứng minh được khả năng trả nợ

Theo một khảo sát tính đến đầu tháng 10-2020 của VCCI, có khoảng 80% DN cho biết, không nhận được gói hỗ trợ Covid-19 lần 1 của Chính phủ Lý do chủ yếu do

DN không đáp ứng đủ điều kiện, gặp phải những rào cản, thủ tục phức tạp, nên không

“mặn mà” Vì vậy, nhằm hỗ trợ cho các DN vượt qua khó khăn, tiếp cận tốt với các gói hỗ trợ, cần rà soát, giải quyết các vướng mắc, bất cập trong triển khai để có được

những chính sách tốt

Trong dài hạn, Việt Nam nên xây dựng cơ sở dữ liệu và cập nhật hằng năm các thông tin về người lao động để các gói hỗ trợ tương tự trong tương lai (nếu có) sẽ được

Trang 10

triển khai nhanh chóng, đúng đối tượng và ít tốn kém nguồn lực.Số lượng các doanh nghiệp tiếp cận được với các gói hỗ trợ còn chưa như kỳ vọng và chính sách còn có nhiều bất cập trong việc thực thi bao gồm: Thủ tục phức tạp, khó chứng minh và đáp ứng các điều kiện Do vậy, các rào cản không cần thiết cần được gỡ bỏ Trước tiên, ở cấp độ định hướng vĩ mô, TS Tô Trung Thành cho rằng, Việt Nam có rất ít dư địa tiền

tệ và tài khóa Các chính sách hỗ trợ lợi nhuận hoặc hàng hóa xa xỉ là chưa phù hợp, cần được thiết kế lại

Theo đại diện VCCI, trên thực tế, việc hỗ trợ chỉ được coi là thành công, có hiệu quả khi DN nhận được những chính sách bằng các tác động trực tiếp và cụ thể Nếu chính sách được xây dựng khó thực hiện thì không có tác động tốt đến DN Ngược lại, còn làm xói mòn niềm tin của DN về việc đồng hành của Nhà nước đối với cộng đồng DN trong lúc khó khăn Vì vậy, cần có những hướng dẫn cụ thể, chi tiết và đầy đủ về các thủ tục, quy trình thực hiện nhận hỗ trợ theo hướng đơn giản, dễ thực hiện đối với các DN Cùng với đó là cải thiện hệ thống pháp luật và tháo gỡ các nút thắt về thủ tục hành chính để tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh

Chúng ta cần thẳng thắn nhìn vào kết quả hoạt động hỗ trợ DN và chủ động nắm bắt tình hình triển khai các chính sách đã ban hành, xác định DN đang vướng gì, cần gì để kịp thời điều chỉnh, tháo gỡ Bên cạnh các giải pháp trước mắt đã được Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền địa phương ban hành, cần có giải pháp mang tính dài hạn như tăng cường đầu tư công, hoàn thiện các công trình hạ tầng, thực hiện các gói kích cầu cần thiết trong giai đoạn nền kinh tế phục hồi Các DN cũng cần thay đổi tư duy, quan tâm hơn đến phát triển thị trường trong nước, thúc đẩy sự kết nối với người tiêu dùng để hình thành các chuỗi cung ứng nội địa

Ngày đăng: 25/02/2023, 10:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w